ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mô tả nghiên cứu gốc
Mô tả thực trạng sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành và thực hiện Luật phòng chống tác hại thuốc lá năm 2020
1 Mô tả thực trạng sử dụng thuốc lá (bao gồm cả hút thuốc lá thụ động) ở người trưởng thành và một số yếu tố liên quan năm 2020
2 Mô tả tình hình thực hiện môi trường không khói thuốc năm 2020
3 Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện Luật Phòng chống tác hại thuốc lá
2.1.2 Thời gian và phạm vi nghiên cứu
- Thời gian thực hiện: từ tháng 6 – 12/2020
- Địa bàn nghiên cứu: 33 tỉnh, thành phố
2.1.3 Thiết kế nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu
Bảng 2.1 Thiết kế nghiên cứu theo mục tiêu
Thiết kế và cách tiếp cận Mục tiêu 1 Mục tiêu 2 Mục tiêu 3
Nghiên cứu định lượng dựa trên phỏng vấn trực tiếp (PGATS 2020)
Nghiên cứu định lượng dựa trên tự điền phiếu X
Nghiên cứu định lượng dựa trên quan sát địa điểm công cộng và công sở X
Thiết kế và cách tiếp cận Mục tiêu 1 Mục tiêu 2 Mục tiêu 3
Nghiên cứu định tính dựa trên phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
- Người dân trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên
Những người đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm:
- Người đủ 15 tuổi trở lên tại thời điểm lập danh sách mẫu
- Những người không mắc bệnh tâm thần, sức khỏe đảm bảo để cung cấp thông tin cho nghiên cứu
Những người trưởng thành từ 15 tuổi trở lên bị loại trừ khỏi nghiên cứu này là những người:
Đến thăm tỉnh/thành nghiên cứu trong ngắn hạn (chẳng hạn như khách du lịch)
Những người sống chủ yếu tại doanh trại quân đội, công an hoặc các khu cư trú tập trung như ký túc xá.
Những người sống trong các cơ sở như bệnh viện, nhà tù, nhà điều dưỡng và các cơ sở khác
Không đồng ý tham gia nghiên cứu
Công thức tính cỡ mẫu cho mỗi tỉnh, thành phố để xác định 1 tỷ lệ trong quần thể được áp dụng:
Trong đó: o n là cỡ mẫu tối thiểu o p là tỷ lệ hút thuốc ở nam giớiE,3% (4) o 𝑍 1−
2 =1,96 (Mức ý nghĩa thống kê % và kiểm định 2 phía) o 𝜀 là mức sai số tương đối chấp nhận=8%
Cỡ mẫu ban đầu được tính toán là 725 nam, nhưng sau khi điều chỉnh theo tỷ lệ không trả lời 10% và hệ số thiết kế do chọn mẫu cụm 1,5, cỡ mẫu cần thiết là 1196 nam, làm tròn thành 1200 Để đảm bảo tính toàn diện, cần điều tra thêm ở nữ, do đó cỡ mẫu nghiên cứu cuối cùng là 2400 người mỗi tỉnh, bao gồm 1200 nam và 1200 nữ từ 15 tuổi trở lên.
Cỡ mẫu cho tổng thể nghiên cứu: 2400 x 33 tỉnh= 79.200 người Trên thực tế, nghiên cứu đã thu thập số liệu được 79.198 người trưởng thành
Nhóm nghiên cứu đã lập danh sách các đơn vị hành chính tại mỗi tỉnh dựa trên điều kiện kinh tế, sau đó chọn ngẫu nhiên một thành phố hoặc thị xã, một huyện có điều kiện kinh tế trung bình và một huyện có điều kiện kinh tế kém phát triển so với mặt bằng chung của tỉnh.
Tại các thành phố hoặc thị xã, nhóm nghiên cứu đã lập danh sách các khu phố/tổ dân phố và chọn ngẫu nhiên 3 khu phố/tổ dân phố Từ danh sách này, họ tiếp tục lập danh sách các hộ gia đình và chọn ngẫu nhiên 200 hộ theo phương pháp nhà liền kề, đảm bảo có 100 hộ gia đình có nam giới và 100 hộ có nữ giới Trong trường hợp hộ được chọn không có nam hoặc nữ, hộ gia đình liền kề sẽ được chọn thay thế Tổng cộng, mỗi thành phố hoặc thị xã có 600 hộ gia đình được lựa chọn.
- Tại huyện có điều kiện kinh tế trung bình và kém
Chọn ngẫu nhiên một thị trấn bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn Từ danh sách các khu phố trong thị trấn được chọn, nhóm nghiên cứu đã tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên.
Trong nghiên cứu này, ba khu phố được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên đơn Từ mỗi khu phố, 50 hộ gia đình có nam giới và 50 hộ gia đình có nữ giới được lựa chọn ngẫu nhiên Nếu hộ gia đình được chọn không có nam hoặc nữ, hộ liền kề sẽ được chọn thay thế Tổng cộng, 300 hộ gia đình đã được khảo sát.
Chọn ngẫu nhiên 02 xã từ danh sách các xã trong địa bàn bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn Đối với các xã có dưới 5 thôn/ấp/bản, lập danh sách và lựa chọn 60 hộ gia đình (30 hộ gia đình nam và 30 hộ gia đình nữ) tại mỗi thôn/ấp/bản theo phương pháp hộ liền.
Trong nghiên cứu này, tổng cộng 300 hộ gia đình sẽ được lựa chọn Nếu xã có trên 5 thôn/ấp/bản, nhóm nghiên cứu sẽ chọn ngẫu nhiên 5 thôn/ấp/bản từ danh sách cung cấp Tại mỗi thôn/ấp/bản được chọn, 60 hộ gia đình sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên theo phương pháp nhà liền kề, với 30 hộ nam và 30 hộ nữ Trong trường hợp hộ được chọn không có nam hoặc nữ, hộ gia đình liền kề sẽ được chọn để thay thế.
Thông tin chung: Giới tính, tuổi, trình độ học vấn, công việc chính, dân tộc
Tình trạng sử dụng thuốc lá bao gồm các mô hình như hút hàng ngày, không thường xuyên (thỉnh thoảng) và không sử dụng Bên cạnh đó, cần xem xét tiền sử sử dụng thuốc lá, mức độ tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá khác nhau như thuốc lá điếu, tẩu, xì gà và các sản phẩm thuốc lá có khói khác Đặc biệt, mức độ nghiện thuốc lá, cũng như việc sử dụng thuốc lào, thuốc lá điện tử, thuốc lá hâm nóng và thuốc lá không khói cũng rất quan trọng trong việc đánh giá tình trạng sức khỏe liên quan đến thuốc lá.
Hút thuốc lá thụ động là vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt khi quy định về việc hút thuốc lá trong nhà và các không gian công cộng như nơi làm việc, cơ quan nhà nước, cơ sở y tế, phương tiện giao thông công cộng, trường học, trường đại học, khách sạn, cơ sở lưu trú và quán cà phê không được tuân thủ Phơi nhiễm với khói thuốc lá tại những địa điểm này có thể gây hại cho sức khỏe của những người xung quanh, đặc biệt là trẻ em và người có bệnh lý nền.
Cai thuốc lá là một quá trình quan trọng bao gồm việc tìm hiểu tiền sử cai thuốc lá, xác định thời gian bỏ thuốc lá, áp dụng các biện pháp cai thuốc hiệu quả, và tìm kiếm động lực mạnh mẽ để duy trì quyết tâm Lời khuyên và tư vấn từ bác sĩ hoặc nhân viên y tế tại cơ sở y tế có thể cung cấp hỗ trợ cần thiết Để thành công, người cai thuốc cần xây dựng một kế hoạch bỏ thuốc lá rõ ràng cho tương lai.
Kiến thức, thái độ và nhận thức về tác hại của thuốc lá có khói và thuốc lá không khói là rất quan trọng Việc hiểu rõ các ảnh hưởng đến sức khỏe từ việc sử dụng thuốc lá giúp nâng cao ý thức cộng đồng Ngoài ra, nhận thức về Luật Phòng chống tác hại thuốc lá và các quy định xử phạt liên quan cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng sử dụng thuốc lá.
Kinh tế thuốc lá bao gồm các yếu tố như nhãn hiệu thuốc lá phổ biến, giá cả thuốc lá hiện tại, địa điểm mua thuốc lá, và mức chi tiêu trung bình hàng tháng hoặc hàng năm của người tiêu dùng.
Truyền thông: Sự tiếp cận của người dân đối với các thông tin liên quan đến
Luật PCTH thuốc lá, tác hại của thuốc lá, vấn đề về quảng cáo, khuyến mại thuốc lá
2.1.6 Bộ công cụ trong nghiên cứu gốc
Bộ công cụ nghiên cứu được phát triển từ Bộ công cụ gốc của GATS do WHO và CDC Hoa Kỳ thực hiện, đã được chuẩn hóa qua 3 vòng GATS tại Việt Nam Trong bộ công cụ này, các câu hỏi chi tiết về hành vi sử dụng thuốc lá điện tử đã được bổ sung, với các bước nhảy phù hợp để đảm bảo tính logic của nghiên cứu Cụ thể, câu hỏi về việc sử dụng thuốc lá điện tử chỉ được đặt ra cho những người đã từng nghe về sản phẩm này Đối với lý do sử dụng thuốc lá điện tử, lựa chọn “Để cai thuốc” chỉ áp dụng cho những người đang sử dụng thuốc lá điện tử và thuốc lá thông thường, trong khi “Để tránh quay lại hút thuốc lá” chỉ hỏi những người đã từng sử dụng thuốc lá thông thường và hiện đang sử dụng thuốc lá điện tử.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn
2.2.1 Giả thuyết nghiên cứu/ câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng sử dụng thuốc lá điện tử ở người trưởng thành Việt Nam hiện nay đang gia tăng đáng kể Nhiều yếu tố liên quan đến việc sử dụng thuốc lá điện tử, bao gồm sự thay đổi trong thói quen tiêu dùng, nhận thức về sức khỏe, và ảnh hưởng từ bạn bè cũng như truyền thông Việc hiểu rõ những yếu tố này có thể giúp xây dựng các chiến lược hiệu quả nhằm giảm thiểu tình trạng sử dụng thuốc lá điện tử trong cộng đồng.
Trong nghiên cứu gốc, tất cả người trưởng thành từ 15 tuổi trở lên đã tham gia phỏng vấn Luận văn này chỉ sử dụng một phần dữ liệu định lượng về thuốc lá điện tử từ bộ số liệu của nghiên cứu gốc, với cỡ mẫu thực tế là 79.198 đối tượng.
Nghiên cứu này phân tích số liệu thứ cấp từ 33 tỉnh, thành phố về "Thực trạng sử dụng thuốc lá và thực hiện Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá năm 2020" Mặc dù nghiên cứu gốc chỉ mô tả tỷ lệ sử dụng thuốc lá chung, bao gồm thuốc lá truyền thống, shisha, thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, nhưng chưa có phân tích sâu về yếu tố liên quan đến thuốc lá điện tử Luận văn này đi sâu vào phân tích tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử theo từng yếu tố nhân khẩu học và các yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng thuốc lá điện tử Học viên cũng đã thu thập thêm số liệu cấp tỉnh về thu nhập bình quân.
HUPH đầu người) để sử dụng trong phân tích đa tầng, đây là các biến số trong nghiên cứu gốc chưa có và cũng không thực hiện phân tích
2.2.4 Vai trò của học viên trong nghiên cứu
Học viên đã tích cực tham gia vào quá trình xây dựng ý tưởng và bộ công cụ nghiên cứu, bao gồm tổ chức tập huấn và giám sát điều tra Sau khi thu thập số liệu, họ cũng tham gia vào việc kiểm soát, làm sạch và phân tích dữ liệu Để thực hiện phân tích đa tầng trong luận văn, học viên đã thu thập thêm thông tin ở cấp tỉnh, sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê và kết quả Tổng điều tra dân số năm 2019.
2.2.5 Các biến số nghiên cứu
Nhóm biến số được chúng tôi sử dụng bao gồm:
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các thông tin chung như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, nơi cư trú, nghề nghiệp chính, tài sản sở hữu, thói quen sử dụng thuốc lá thông thường, và nhận thức về tác hại của thuốc lá điện tử.
Tình hình sử dụng thuốc lá hiện nay cho thấy tỷ lệ người đang sử dụng và đã từng sử dụng thuốc lá điện tử ngày càng gia tăng Người dùng thường xuyên sử dụng nhiều loại thuốc lá điện tử khác nhau, kèm theo đó là các loại thuốc lá truyền thống Lý do chính để người dùng chọn thuốc lá điện tử bao gồm sự tiện lợi và cảm giác thỏa mãn Chi phí hàng tháng cho thuốc lá điện tử cũng là một yếu tố quan trọng mà người tiêu dùng cân nhắc Mặc dù có tỷ lệ người cố gắng bỏ thuốc lá điện tử, nhưng nhiều người vẫn gặp khó khăn trong việc từ bỏ do các lý do cá nhân và thói quen Địa điểm mua thuốc lá điện tử cũng đa dạng, từ cửa hàng chuyên dụng đến các trang thương mại điện tử.
Mối liên quan đến việc sử dụng thuốc lá điện tử bao gồm các yếu tố như giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, nơi cư trú, nghề nghiệp chính, nhận thức về tác hại của thuốc lá điện tử, tài sản sở hữu và thu nhập bình quân đầu người.
2.2.6 Phương pháp phân tích số liệu
Nhóm nghiên cứu đã thu thập và tổng hợp số liệu thứ cấp từ khảo sát tại 33 tỉnh/thành phố, lựa chọn các biến cần phân tích cho báo cáo Số liệu này được kết hợp với dữ liệu cấp tỉnh và được phân tích bằng phần mềm STATA 16.
Tỷ lệ phần trăm được sử dụng để mô tả các đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu và thực trạng sử dụng thuốc lá điện tử của đối tượng này.
Mô hình hồi quy logistic đơn biến và đa biến được áp dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc lá điện tử Biến phụ thuộc trong mô hình là tỷ lệ sử dụng thuốc lá điện tử, trong khi các biến độc lập bao gồm giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tôn giáo, nơi cư trú, nghề nghiệp chính, tài sản sở hữu và nhận thức về tác hại của thuốc lá điện tử.
Nhóm nghiên cứu đã áp dụng phân tích đa tầng với các biến số cấp tỉnh như thu nhập bình quân đầu người và các biến cá nhân để đánh giá ảnh hưởng ngẫu nhiên và cố định đến tình trạng sử dụng TLĐT Trong các phân tích này, giá trị p