TỔNG QUAN
Hệ thống bệnh viện
Trước đây, bệnh viện chỉ được coi là “Nhà tế bần" hay “Nhà thương" với chức năng khám chữa bệnh thông thường Ngày nay, bệnh viện đã trở thành nơi điều trị, chăm sóc sức khỏe và nghiên cứu y học, được xem là bộ mặt của ngành y tế Khi nhắc đến hệ thống y tế, hình ảnh đầu tiên mà mọi người nghĩ đến thường là bệnh viện, cho thấy sự quan tâm và đánh giá của xã hội đối với ngành y tế chủ yếu bắt nguồn từ công tác bệnh viện.
1.1.1 Khái ni ệm về bệnh viện
Bệnh viện là cơ sở y tế trong cộng đồng, bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý, cùng trang thiết bị phục vụ người bệnh Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện được xem như một hệ thống phức hợp và tổ chức động vì nhiều lý do.
- Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm ban giám đốc, các phòng chức năng, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng [18]
- Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ việc người bệnh vào viện, khám bệnh, điều trị, chăm sóc [18]
Bệnh viện là một tổ chức năng động, nơi tiếp nhận đầu vào từ người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị và thuốc điều trị Đầu ra của bệnh viện phản ánh tình trạng sức khỏe của người bệnh, bao gồm phục hồi sức khỏe, khỏi bệnh hoặc tử vong.
1.1.2 Phân lo ại bệnh viện
Theo quy chế của Bộ Y tế bệnh viện được chia làm 4 hạng [8]:
Bệnh viện hạng đặc biệt là cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y tế, sở hữu các chuyên khoa hàng đầu và trang bị thiết bị y tế hiện đại Đội ngũ cán bộ chuyên khoa tại đây có trình độ chuyên sâu, đủ khả năng hỗ trợ cho bệnh viện hạng 1.
Bệnh viện hạng 1 là cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y tế hoặc UBND tỉnh, thành phố, với đội ngũ cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn sâu Những bệnh viện này được trang bị đầy đủ để hỗ trợ cho bệnh viện hạng 2 trong việc khám chữa bệnh.
Bệnh viện hạng 2 là cơ sở y tế quan trọng tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc khu vực huyện, với đội ngũ cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn cao Bệnh viện này được trang bị đầy đủ để hỗ trợ cho các bệnh viện hạng 3 trong việc khám chữa bệnh.
- Bệnh viện hạng 3 là cơ sở khám chữa bệnh của quận, huyện trực thuộc Sở
Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
1.1.3 Ch ức năng v à nhi ệm vụ của bệnh viện
Bệnh viện thực hiện 7 chức năng và nhiệm vụ chính, bao gồm khám và chữa bệnh, đào tạo cán bộ y tế, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, phòng bệnh, hợp tác quốc tế, và quản lý kinh tế trong bệnh viện.
(1) Công tác khám, chữa bệnh:
Tiếp nhận mọi trường hợp bệnh nhân từ bên ngoài hoặc từ các bệnh viện tuyến dưới chuyển đến để thực hiện cấp cứu, khám bệnh, và điều trị nội trú hoặc ngoại trú.
- Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước
- Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật của các bệnh viện tuyến dưới chuyển đến
Tham gia tích cực vào công tác phòng chống dịch bệnh như H1N1, H5N1 và tả, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ tuyến đầu Đồng thời, chúng tôi chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, hóa chất, thuốc và vật tư tiêu hao cần thiết cho công tác phòng chống dịch tại bệnh viện.
(3) Công tác chỉ đạo tuyến:
- Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dưới thực hiện việc phát triển kỹ thuật chuyên môn
- Kết hợp với bệnh viện tuyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu trong địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành
- Bệnh viện là cơ sở thực hành đào tạo cán bộ y tế
- Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dưới để nâng cao trình độ chuyên môn
Tổ chức nghiên cứu và hợp tác trong các đề tài y học ở cấp nhà nước, bộ và cơ sở, với trọng tâm là nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc.
Nghiên cứu triển khai dịch tễ học cộng đồng là một phần quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, giúp xác định và lựa chọn các ưu tiên phù hợp cho từng địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành liên quan.
- Kết hợp các bệnh viện bạn và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật bệnh viện
Hợp tác với các bệnh viện, các tổ chức hoặc cá nhân ở nước ngoài theo quy định của Nhà nước
Kế hoạch sử dụng ngân sách Nhà nước cần được thực hiện một cách hiệu quả, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thu chi tài chính Đồng thời, cần từng bước triển khai hạch toán chi phí khám bệnh và chữa bệnh.
Nhà nước khuyến khích các bệnh viện thực hiện xã hội hóa công tác y tế theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP để tạo thêm nguồn kinh phí từ viện phí, bảo hiểm y tế (BHYT) và đầu tư vào các tổ chức kinh tế khác, nhằm giảm dần ngân sách Nhà nước.
BHYT là một chính sách xã hội quan trọng, thể hiện tính nhân văn và sự chia sẻ cộng đồng, được Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng trong hệ thống an sinh xã hội Người làm công tác xã hội cần nắm vững các luật và quy định liên quan đến các đối tượng như hộ nghèo, cận nghèo và trẻ em dưới.
Trẻ em 6 tuổi là nhóm yếu thế nhất trong xã hội, vì vậy, người làm công tác xã hội trong bệnh viện cần đồng hành cùng người nghèo để yêu cầu địa phương cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho họ Khi bệnh nhân đến bệnh viện, việc có thẻ BHYT không đảm bảo rằng họ sẽ nhận được sự chăm sóc cần thiết.
Chức năng và nhiệm vụ của phòng công tác xã hội
1.2.1 D ự th ảo chức năng v à nhi ệm vụ của ph òng công tác xã h ội l ần I
Theo dự thảo thông tư của Bộ Y tế tháng 12/2012, phòng Công tác xã hội trong bệnh viện có chức năng cung cấp dịch vụ CTXH nhằm hỗ trợ người bệnh và gia đình trong việc tiếp cận đầy đủ dịch vụ chăm sóc y tế và tâm lý – xã hội trong quá trình điều trị Đối với các bệnh viện có từ 500 giường kế hoạch trở lên, việc thành lập phòng CTXH là bắt buộc với ba nhiệm vụ chính.
(1) Tiếp nhận thông tin và đánh giá nhu cầu giúp đỡ tâm lý – xã hội:
- Phối hợp với bác sĩ, điều dưỡng để tiếp cận và thu thập thông tin về người bệnh và gia đình người bệnh
- Phối hợp với bác sĩ, điều dưỡng để để đánh giá vấn đề và nhu cầu về người bệnh và gia đình về giúp đỡ tâm lý – xã hội
(2) Cung cấp các dịch vụ giúp đỡ tâm lý xã hội:
Giúp các bác sĩ và điều dưỡng viên nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc y tế thân thiện cho bệnh nhân bằng cách phản ánh nhu cầu của bệnh nhân một cách hiệu quả.
- Cung cấp dịch vụ tham vấn tâm lý cho bác sĩ, điều dưỡng, bệnh nhân và gia đình;
- Vận động nguồn lực nhằm tăng cường giúp đỡ vật chất cho bệnh nhân và gia đình để đảm bảo quá trình điều trị hiệu quả;
- Cung cấp thông tin và hướng dẫn cho bệnh nhân và gia đình người bệnh tiếp cận đến các dịch vụ điều trị và chăm sóc tại bệnh viện
(3) Giúp đỡ tái hòa nhập:
- Giúp đỡ gia đình và bệnh nhân xây dựng kế hoạch xuất viện và tái hòa nhập gia đình
Kết nối bệnh nhân với trung tâm CTXH và các cơ sở y tế địa phương là rất quan trọng để đảm bảo họ nhận được sự hỗ trợ cần thiết về chăm sóc y tế và tâm lý - xã hội trong quá trình phục hồi và tái hòa nhập.
1.2.2 D ự thảo chức năng v à nhi ệm vụ của ph òng công tác xã h ội lần II
Theo dự thảo thông tư của Bộ Y tế tháng 01/2014, phòng Công tác xã hội trong bệnh viện được quy định là phòng chức năng với 4 nhiệm vụ chính.
(1) Giải quyết các vấn đề về tâm lý, xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh
- Chủ động thăm hỏi người bệnh và người nhà người bệnh để tìm hiểu mức độ cần giúp đỡ của người bệnh về tâm lý, xã hội;
Bệnh viện cung cấp thông tin và tư vấn về dịch vụ khám chữa bệnh cho bệnh nhân và người nhà ngay từ khi vào khoa Khám bệnh, đồng thời hỗ trợ trong suốt quá trình điều trị Ngoài ra, bệnh viện cũng tư vấn về các chương trình chính sách xã hội như bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội và hỗ trợ khẩn cấp.
Chúng tôi cung cấp dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp và công tác xã hội cho nạn nhân của bạo hành và xâm hại tình dục Dịch vụ bao gồm đảm bảo an toàn cho nạn nhân, hỗ trợ tâm lý và xã hội, trị liệu tâm lý, tư vấn pháp lý, hỗ trợ thực hiện pháp y, cùng với các dịch vụ phù hợp khác Chúng tôi cũng có trách nhiệm báo cáo cho các cơ quan chức năng liên quan.
Phối hợp chặt chẽ với bác sĩ điều trị và nhân viên y tế tại khoa để nắm bắt thông tin chi tiết về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Tham gia vào quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh nhân, đồng thời báo cáo tình trạng sức khỏe tâm lý của họ cho bác sĩ điều trị, nhằm hỗ trợ quyết định xuất viện cho bệnh nhân.
Cung cấp thông tin và tư vấn cho bệnh nhân cùng gia đình khi có chỉ định chuyển viện hoặc ra viện; lập kế hoạch hỗ trợ xuất viện cho bệnh nhân và kết nối với các dịch vụ hỗ trợ ngoài cộng đồng nhằm giúp họ hòa nhập tốt hơn.
- Tham gia thực hiện và phát triển chương trình, chính sách an sinh xã hội
(2) Hoạt động giúp đỡ người bệnh có khó khăn tìm nguồn lực giúp đỡ
Đầu mối trong bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền và vận động sự tham gia, ủng hộ từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.
Vận động tài trợ cho bệnh viện bao gồm việc gây quỹ cho trang thiết bị, hỗ trợ nghiên cứu khoa học và đào tạo.
(3).Truyền thông và quan hệ công chúng
Đóng vai trò là đầu mối của bệnh viện trong công tác truyền thông và quan hệ công chúng, nhiệm vụ chính là tuyên truyền và giới thiệu các hoạt động của bệnh viện đến với xã hội và cộng đồng.
- Hướng dẫn các tổ chức, nhóm tình nguyện viên tới phối hợp về công tác xã hội trong bệnh viện
Tổ chức các hoạt động văn hóa và nghệ thuật nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho nhân viên y tế và bệnh nhân, đồng thời tổ chức các sự kiện, hội nghị, hội thảo và chương trình gây quỹ cho bệnh viện.
Phối hợp với các trường đại học, cao đẳng và cơ sở dạy nghề nhằm đào tạo nghề công tác xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực bệnh viện, thông qua chương trình thực tập dành cho sinh viên công tác xã hội.
Đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về công tác xã hội cho thầy thuốc và nhân viên bệnh viện là rất quan trọng Đồng thời, cần phối hợp để cung cấp kiến thức cơ bản về y tế cho những người làm việc trong lĩnh vực công tác xã hội.
- Phối hợp, trợ giúp các đơn vị quan tâm đến việc phát triển công tác xã hội
1.2.3 Ch ức năng v à nhi ệm vụ của đơn vị Y X ã h ội, BVCR
- Theo quyết định số 1691/QĐ-BVCR năm 2007 của Giám đốc bệnh viện thành lập tổ Y Xã hội thuộc phòng Kế hoạch tổng hợp
Một số chính sách liên quan đến Giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn 15 1 Luật BHYT
BHYT là chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện tính nhân đạo và chia sẻ cộng đồng, góp phần vào công bằng xã hội trong bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân Luật BHYT được thông qua vào ngày 14 tháng 11 năm 2008 tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá XII, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện chính sách này.
HUPH được thành lập để đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân Đồng thời, HUPH tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác bảo hiểm y tế trong giai đoạn tới, góp phần tích cực vào việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
Chương II Luật BHYT quy định đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng BHYT gồm 4 điều (từ Điều 12 đến Điều 15) quy định về đối tượng tham gia BHYT; mức đóng và trách nhiệm đóng BHYT; tiền lương, tiền công, tiền trợ cấp làm căn cứ đóng BHYT và phương thức đóng BHYT
Chương này được xây dựng trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các quy định của pháp luật hiện hành về BHYT, trong đó đáng chú ý là:
Luật đã quy định cụ thể 24 nhóm đối tượng tham gia BHYT, trong 24 nhóm đối tượng đã được xác định cụ thể là:
Ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ một phần mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) cho các đối tượng như hộ gia đình cận nghèo, học sinh, sinh viên, và những người làm trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, cũng như người làm muối có mức sống trung bình.
Năm nhóm đối tượng sẽ được tổ chức bảo hiểm xã hội đóng 100% tiền mua bảo hiểm y tế (BHYT), bao gồm: người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; người đã ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động nhưng vẫn nhận trợ cấp hàng tháng từ ngân sách nhà nước; cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc và đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng; và người đang nhận trợ cấp thất nghiệp.
Ngân sách nhà nước chi trả 100% tiền mua bảo hiểm y tế (BHYT) cho mười một nhóm đối tượng, bao gồm trẻ em dưới 6 tuổi, người có công với cách mạng, cựu chiến binh, đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp đang đương nhiệm Ngoài ra, những người nghèo, người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, cũng như các đối tượng bảo trợ xã hội như trẻ em dưới 16 tuổi không có người nuôi dưỡng, người từ 80 tuổi trở lên và người khuyết tật, đều được hưởng chính sách này Bên cạnh đó, những người đã hiến bộ phận cơ thể theo quy định pháp luật cũng được hỗ trợ mua BHYT.
1.3.2 Lu ật khám bệnh, chữa bệnh
Ngày 23 tháng 11 năm 2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 đã chính thức thông qua Luật khám bệnh, chữa bệnh và công bố ngày 04 tháng 12 năm 2009 Luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, đây là đạo luật đầu tiên về khám bệnh, chữa bệnh - một vấn đề then chốt trong hoạt động y tế Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát để phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ
Để đạt được mục tiêu bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho mọi người dân, cần thực hiện nhất quán quan điểm “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế” theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển Điều này nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho người dân được chăm sóc sức khỏe với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đảng và Nhà nước ta nhất quán khẳng định mục tiêu nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh để đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân Quan điểm này cần được thể chế hóa bằng pháp luật, bao gồm cả Luật khám bệnh, chữa bệnh.
Quốc hội đã ban hành Luật Bảo hiểm y tế và Luật Khám bệnh, chữa bệnh, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho những người làm công tác xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bệnh nhân nghèo.
1.3.3 Quy ết định Thủ tướng Chính phủ phê duy ệt Đề án công tác xã h ội giai đoạn 2010 - 2020 Để CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an
Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010, nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghề công tác xã hội trong bối cảnh xã hội tiên tiến.
Ngày 25/8/2010, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư 08/2010/TT - BNV ban hành chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH
Ngày 08/11/2010, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 34/2010/TT - BLĐTBXH quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH [5]
Để phát triển nghề công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện, cần có điều kiện cần là nhân sự cho hoạt động này không bị ảnh hưởng bởi thông tư 08 của Bộ Y tế về quy định số lượng và cơ cấu nhân sự Điều kiện đủ là Ban Giám đốc nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động CTXH trong bệnh viện.
Đề án CTXH tập trung vào việc xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác xã hội, củng cố và phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội, cũng như đội ngũ cán bộ, viên chức và nhân viên công tác xã hội Ngoài ra, đề án còn chú trọng vào việc hoàn thiện chương trình khung và nội dung đào tạo nghề công tác xã hội, đồng thời thực hiện các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức và nhân dân về nghề này.
Chính phủ và các Bộ đã ban hành quy định nhằm phát triển nghề Công tác xã hội (CTXH) Bộ Y tế đã triển khai Đề án “Phát triển nghề CTXH ngành Y tế giai đoạn 2011 – 2020”, cụ thể hóa Quyết định số 32 của Thủ tướng Chính phủ Đề án này góp phần giải quyết các vấn đề bức thiết trong khám chữa bệnh và nâng cao sự hài lòng của người bệnh.
1.3.4 Quy ết định Thủ tướng Chính ph ủ ban hành chu ẩn hộ ngh èo
Ngày 30/01/2011 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ - TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015
- Hộ nghèo nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống;
- Hộ nghèo thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống;
- Hộ cận nghèo nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 520.000 đồng/người/tháng;
- Hộ cận nghèo thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng
Những nghiên cứu và thông tin về hoạt động giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn ở những bệnh viện có triển khai CTXH
Phòng Trợ giúp xã hội tại Bệnh viện Nhi Đồng I, được thành lập vào năm 1998, đã hỗ trợ tâm lý và tài chính cho bệnh nhi và gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong việc chi trả chi phí điều trị Phòng còn tổ chức các hoạt động như vườn chơi trẻ em và trang trí tranh vui mắt, tạo không khí vui tươi cho trẻ em tại phòng khám và khoa lâm sàng Những hoạt động này đã mang lại thành công nhất định trong việc hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhi, giúp đỡ nhiều phụ huynh và trẻ em ở các khoa như Phỏng, Tim mạch, và Phòng chờ mổ.
1.4.2 B ệnh viện Đa khoa Long An
Tổ Công tác xã hội tại Bệnh viện Đa khoa Long An được thành lập vào năm 2010, ban đầu gồm 5 thành viên, trong đó có 3 cử nhân Xã hội học và 2 nhân viên hướng dẫn Nhiệm vụ của tổ là hỗ trợ và tư vấn cho bệnh nhân cũng như gia đình họ.
- Giúp đỡ vật chất cho bệnh nhân nghèo: Năm 2012 giúp 16 bệnh nhân với số tiền 102.255.064 đồng; Năm 2013 giúp 17 bệnh nhân với số tiền 92.429.676 đồng [10][11]
- Tinh thần; hồi gia (giúp người bệnh tìm lại gia đình sau khi điều trị );
- Phòng ngừa (tuyên truyền & giáo dục sức khỏe);
1.4.3 B ệnh viện Nhi Trung ương
Bệnh viện Nhi Trung ương đã thành lập phòng Công tác xã hội vào ngày 01/05/2011, với nhiệm vụ hỗ trợ bệnh nhân và nhân viên y tế, tổ chức các hoạt động gây quỹ, sự kiện, quan hệ công chúng, giúp đỡ cộng đồng, cũng như đào tạo và huấn luyện.
Phòng CTXH Bệnh viện Nhi Trung ương được thành lập nhằm giải quyết các vấn đề như giảm tình trạng quá tải, hỗ trợ bệnh nhân nhi mắc bệnh hiểm nghèo, kết nối các dịch vụ y tế, cải thiện giao tiếp và ứng xử, đồng thời giúp phụ huynh hiểu biết hơn về bệnh tật cũng như các chế độ chính sách liên quan đến con em họ.
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu tổng quan về hoạt động hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn Mặc dù có một số bài báo riêng lẻ đề cập đến các hoạt động tại bệnh viện, nhưng vẫn thiếu một cái nhìn tổng kết và nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này.
Khung lý thuyết
Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng với các văn bản pháp quy liên quan, đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người nghèo và chuẩn hộ nghèo, ảnh hưởng đến các chương trình giúp đỡ bệnh nhân khó khăn tại BVCR Nhu cầu của bệnh nhân và khoa lâm sàng là yếu tố quyết định cho các hoạt động hàng năm của đơn vị Y Xã hội Khi bệnh nhân có nhu cầu chính đáng, Giám đốc bệnh viện sẽ phân bổ nguồn lực phù hợp Đơn vị Y Xã hội sẽ xây dựng chương trình hợp lý để đáp ứng nhu cầu và nhiệm vụ được giao, với kết quả hỗ trợ bệnh nhân phụ thuộc vào các chủ trương và kế hoạch mà BVCR và đơn vị Y Xã hội thực hiện.
HUPH Đầu vào Hoạt động giúp đỡ Kết quả thực hiện
Khung lý thuyết đánh giá hoạt động giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại Bệnh viện Chợ Rẫy
1.5.1 Các y ếu tố đầu v ào
Trong từng giai đoạn, Đảng và Nhà nước đã đưa ra các chủ trương nhằm chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 139 về khám chữa bệnh cho người nghèo Đến năm 2012, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành các quyết định quan trọng khác liên quan đến lĩnh vực này.
Biến độc lập Biến phụ thuộc
- Quyết định của Chính phủ
- Thông tư của Bộ Y tế, cơ quan ngang Bộ
YXH và nguồn lực của đơn vị này
YXH tại các khoa lâm sàng
- Tiếp cận, vận động NHT giúp đỡ tiền, hiện vật…tri ân
- Tiếp nhận và chuyển giao đến người bệnh
- Lắng nghe người bệnh và lập kế hoạch giúp đỡ họ:
Thực hiện các thủ tục hành chánh;
Thực hiện bảo vệ quyền lợi người bệnh;
Chuẩn bị giúp đỡ phương tiện ra viện
- Quy trình vận động NHT giúp đỡ
- Sự tin tưởng; cam kết Giúp đỡ của NHT
- Quy trình giúp đỡ người bệnh
- Các hình thức và mức dộ giúp đỡ người bệnh
- Số lượng được Giúp đỡ KCB trong từng năm và 5 năm
- Số tiền/vật chất huy động được trong từng năm và 5 năm
- Số lượng suất ăn miễn phí/ ngày
HUPH định 14 sửa đổi Quyết định 139 và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) nhằm hướng tới BHYT toàn dân Để thực hiện chủ trương này, Bộ Y tế và các cơ quan liên quan cần ban hành thông tư hướng dẫn cho Sở Y tế và bệnh viện Bệnh viện cần điều chỉnh quy định để bảo đảm quyền lợi cho người bệnh và người tham gia BHYT Tại BVCR, Giám đốc bệnh viện chịu trách nhiệm về hoạt động tài chính theo Nghị định 43, bao gồm việc thành lập đơn vị Y Xã hội Nguồn lực của đơn vị này được điều chỉnh theo nhu cầu để hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn, với số nhân sự tăng từ 3 vào năm 2008 lên 5 vào năm 2013.
- Trang thiết bị: Phòng làm việc, phương tiện…
- Nhân lực: Có trình độ chuyên môn về y khoa, xã hội và đặc biệt là có
“TÂM” Có khả năng lắng nghe, vận động, thuyết phục, đồng cảm và chia sẻ
- Y khoa: Để hiểu, để đọc hồ sơ bệnh án
- Xã hội: Hiểu biết về tôn giáo, tín ngưỡng,…
Đạo đức trong y tế đòi hỏi sự tận tâm với bệnh nhân, coi họ như người thân và làm việc với tâm huyết Việc lắng nghe để hiểu rõ những lo lắng và khó khăn của bệnh nhân là rất quan trọng Khi nắm vững tình hình y khoa và hoàn cảnh của bệnh nhân, việc vận động, thuyết phục các bên liên quan và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
“lắng nghe” để đáp ứng nguyện vọng chính đáng của NHT
- Thu nhập của nhân viên đơn vị Y Xã hội theo ngạch/bậc của Bộ Nội vụ
Có ba nhóm hoạt động giúp đỡ, như sau:
- Tiếp cận, vận động NHT giúp đỡ tiền, hiện vật…tri ân
- Tiếp nhận và chuyển giao đến người bệnh
- Lắng nghe người bệnh và lập kế hoạch giúp đỡ họ: Chi phí điều trị; thủ tục hành chánh; bảo vệ quyền lợi; phương tiện ra viện…
Các hoạt động cần được thực hiện một cách khách quan và đúng người để tạo niềm tin nơi NHT Việc kiểm tra và giám sát từng hoạt động là cần thiết nhằm đảm bảo tính minh bạch của các chương trình Mạng lưới YXH tại các khoa lâm sàng cần triển khai các hoạt động này, trong khi đơn vị YXH xây dựng các chương trình cụ thể cho từng hoạt động Nghiên cứu này mô tả các chương trình đã và đang được triển khai tại BVCR trong giai đoạn 2009 - 2013, đồng thời đánh giá kết quả thực hiện và những thuận lợi cũng như khó khăn trong quá trình triển khai các chương trình.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghi ên c ứu
- Cán bộ quản lý của bệnh viện (Giám đốc, Trưởng khoa lâm sàng)
- NVYT của bệnh viện (bác sĩ điều trị, nhân viên mạng lưới YXH tại khoa lâm sàng và nhân viên đơn vị YXH)
- Người bệnh và thân nhân người bệnh nội trú đã được giúp đỡ
- Nhà báo chuyên trang y tế - sức khỏe
- Số liệu thứ cấp: các báo cáo hoạt động của đơn vị YXH giai đoạn 2009 –
Các văn bản pháp quy liên quan đến việc hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn bao gồm Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật bảo hiểm y tế (BHYT), Quyết định về chuẩn hộ nghèo, và các quy định của Bệnh viện Chỉnh hình và Phục hồi chức năng (BVCR).
2.1.2 Tiêu chu ẩn loại trừ
- Cán bộ quản lý và NVYT làm việc tại các khoa Điều trị theo yêu cầu và khoa Khám bệnh
- Cán bộ quản lý và NVYT làm việc dưới 5 năm
- Người bệnh ở các khoa Điều trị theo yêu cầu, người bệnh và thân nhân chưa được đơn vị Y Xã hội giúp đỡ.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 8 năm 2014
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả sử dụng phương pháp định lượng và định tính
- Phần định lượng tiến hành thu thập thông tin dựa vào số liệu thứ cấp
Sau khi nhận được kết quả sơ bộ, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu định tính thông qua TLN và PVS đối tượng nghiên cứu nhằm hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu nghiên cứu.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Rà soát những văn bản liên quan đến chế độ chính sách cho người nghèo do Quốc hội và Chính phủ ban hành
- Những quy định của Bộ Y tế và cơ quan ngang Bộ liên quan đến CTXH
- Những quy định và báo cáo tổng kết hoạt động của BVCR giai đoạn 2009 – 2013
Hồi cứu số liệu thứ cấp từ giai đoạn 2009 đến 2013 liên quan đến hoạt động hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại đơn vị Y Xã hội và phòng TCKT, nhằm chọn lọc thông tin phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
2.4.2 Định tính : Chọn mẫu có chủ đích
- Nhóm nhân viên y tế (8 người) trực tiếp làm công việc giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại các khoa lâm sàng
- Nhóm điều dưỡng trưởng (6 người) tại các khoa lâm sàng
Chọn mẫu có chủ đích bằng cách lựa chọn những người đã bắt đầu làm việc tại BVCR trước năm 2009, có kiến thức vững về công tác YXH và sẵn sàng phát biểu một cách thẳng thắn.
- PVS 3 nhà quản lý của BVCR gồm: Giám đốc, Trưởng khoa ngoại và Trưởng khoa nội
- PVS 5 nhân viên gồm: 4 nhân viên đơn vị Y Xã hội, 1 bác sĩ điều trị thường xuyên phối hợp công việc
PVS bao gồm ba đơn vị phối hợp hoạt động: một Chi hội từ thiện, một Hội bảo trợ bệnh nhân nghèo và một nhà báo chuyên về sức khỏe - nhân ái, thường xuyên thực hiện các tác nghiệp.
- PVS 3 người bệnh và 9 thân nhân người bệnh đã được giúp đỡ.
Phương tháp thu thập và quản lý số liệu
Dữ liệu từ sổ sách, báo cáo và quyết định của bệnh viện cùng với đơn vị Y Xã hội đã được tổng hợp để tạo thành bảng kiểm thu thập số liệu cho nghiên cứu.
TLN và PVS được thực hiện để thu thập thông tin đánh giá kết quả 5 năm hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn Nội dung của TLN và PVS được ghi âm và ghi chép lại để phản ánh diễn biến của quá trình này.
Nghiên cứu viên (NCV) sẽ lên lịch mời đối tượng nghiên cứu tham gia buổi thảo luận nhóm, trong đó đối tượng sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích của buổi thảo luận và cam kết tham gia tự nguyện Trước khi tiến hành thảo luận, NCV cần chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung và phương tiện cần thiết Nội dung thảo luận sẽ được thực hiện theo bộ câu hỏi đã được thiết lập và sẽ được bổ sung vào phần phỏng vấn sâu (PVS).
Phỏng vấn sâu sẽ được thực hiện với các đối tượng nghiên cứu bao gồm cán bộ lãnh đạo bệnh viện, nhà báo qua hình thức hỏi đáp qua email, và những nội dung chưa rõ sẽ được phỏng vấn trực tiếp Ngoài ra, phỏng vấn cũng sẽ được tiến hành với nhân viên đơn vị Y Xã hội tại bệnh viện theo thời gian đã hẹn Đặc biệt, PVS sẽ phỏng vấn người bệnh và thân nhân đã nhận được sự hỗ trợ khi chuẩn bị xuất viện hoặc đi tái khám tại BVCR Đối tượng nghiên cứu sẽ được cung cấp số liệu hoạt động trong giai đoạn 2009 – hiện tại.
Cách chọn đối tượng Nội dung thu thập Số lượng
Nhà quản lý (Giám đốc, lãnh đạo khoa nội và khoa ngoại)
- Đánh giá họat động Y Xã hội sau 5 năm
- Những thuận lợi và khó khăn
- Những nguyên nhân, lý do tương ứng
Nhân viên trực tiếp tham gia họat động (nhân viên đơn vị
- Kết quả họat động Y Xã hội, những chương trình cần phát huy và khắc phục
- Những thuận lợi, khó khăn (cơ sở vật chất, thu nhập, đào tạo )
- Những nguyên nhân, lý do tương ứng
Phối hợp họat động (lãnh đạo Chi hội bảo trợ BNN,
NHT, nhà báo chuyên mục sức khỏe - nhân ái)
- Đánh giá thực trạng họat động Y Xã hội, những chương trình phối hợp thực hiện như thế nào?
- Những thuận lợi, khó khăn?
- Những nguyên nhân, lý do tương ứng
Người bệnh và thân nhân người bệnh được giúp đỡ trong 5 năm
- Nhận định về kết quả họat động giúp đỡ BNN, cần phát huy và khắc phục những gì?
- Những quy trình cần thay đổi
- Sự cần thiết của họat động?
- Những nguyên nhân, lý do tương ứng
Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu thu thập từ sổ sách lưu trữ tại phòng Tài chính kế toán và đơn vị Y Xã hội sẽ được kiểm tra để đảm bảo tính đầy đủ và chính xác Các số liệu tuyệt đối, tần suất và tỷ lệ sẽ được tính toán nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu.
Thông tin từ các cuộc TLN và PVS được gỡ băng và mã hóa theo từng chủ đề Kết quả phân tích các chủ đề này sẽ hỗ trợ trong việc phiên giải và thảo luận về các kết quả định lượng, đồng thời chỉ ra những thuận lợi và khó khăn gặp phải.
Các biến số nghiên cứu
Mô tả hoạt động, kết quả giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2009 – 2013
STT Biến số Định nghĩa Phân loại biến
1 Số lượng NHT Số tập thể, cá nhân giúp đỡ người bệnh tiền mặt, hiện vật…
Số tiền do các NHT giúp đỡ người bệnh
3 Số hiện vật Số lượng vật chất như: Sữa, đường…do NHT giúp đỡ
4 Số lượng suất ăn miễn phí
Phát miễn phí phục vụ thân nhân bao gồm: ăn sáng, ăn chiều, ăn tối
5 Người bệnh được giúp chi phí điều trị
Người bệnh có hoàn cảnh khó khăn đã được đơn vị Y Xã hội giúp đỡ 1 phần (hoặc toàn phần) chi phí điều trị
6 Những giúp đỡ ngoài chi phí điều trị và hiện vật
Ngoài tiền viện phí, sữa, bánh đơn vị Y Xã hội còn giúp người bệnh: thủ tục hành chính, phương tiện ra viện, dinh dưỡng đặc hiệu, áo quan
7 Kiểm tra Xem xét thực tế hoàn cảnh người bệnh Định danh
8 Giám sát Hoạt động theo dõi quá trình chuyển giao tiền, quà cho người bệnh Định danh
Ngoài những biến số trên, thực trạng họat động đơn vị Y Xã hội còn đuợc mô tả qua các thông qua TLN và PVS
Phân tích một số thuận lợi, khó khăn của hoạt động giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2009 - 2013
STT Câu hỏi chính Phương pháp thu thập
1 Nhận định về thực trạng công việc giúp đỡ người bệnh khó khăn tại đơn vị Y Xã hội, BVCR?
2 Giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn có ý nghĩa như thế nào?
3 Những thuận lợi và khó khăn trong thời gian qua?
Nguyên nhân; lý do tương ứng?
4 Những điều cần phát huy, điều chỉnh
-Ý kiến trong BVCR -Ý kiến ngoài BVCR -Ý kiến người bệnh được giúp đỡ
- Vì sao phải làm như vậy?
5 So sánh công việc giúp đỡ người bệnh của đơn vị
Y Xã hội, BVCR với những bệnh viện khác? Vì sao phải làm như vậy? Vì sao như vậy?
6 Sự cần thiết của hoạt động giúp đỡ người bệnh tại bệnh viện? Vì sao?
7 Những ý kiến khác có liên quan PVS, TLN
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Ban Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy phê duyệt và được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng cho phép thực hiện Đối tượng nghiên cứu đã được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và đã đồng ý hợp tác cung cấp số liệu, TLN và PVS Tất cả thông tin thu thập sẽ được bảo mật hoàn toàn và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
Kết quả nghiên cứu được báo cáo tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho các bên có liên quan với hoạt động giúp đỡ người bệnh.
Hạn chế của nghiên cứu
Mặc dù thiết kế nghiên cứu đã được cân nhắc kỹ lưỡng nhằm đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy của số liệu, nhưng vẫn tồn tại một số hạn chế cần lưu ý.
NCV làm việc tại nơi nghiên cứu có thể dẫn đến việc thông tin thu thập trong quá trình TLN và PVS thiếu khách quan Nghiên cứu định lượng hồi cứu dựa vào số liệu thứ cấp, do đó, độ chính xác của kết quả phụ thuộc vào tính chính xác của các số liệu có sẵn.
- Tài liệu tham khảo ít
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng và kết quả vận động giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại
3.1.1 Th ực trạng các ho ạt động Đơn vị YXH Bệnh viện Chợ Rẫy thành lập từ tháng 10 năm 2008, với nhiệm vụ giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn Trong giai đoạn 2009 – 2013 đơn vị YXH đã triển khai những chương trình như sau:
B ảng 3.1: Các chương tr ình được đơn vị YXH triển khai trong giai đoạn 2009 – 2013
Năm 2009 - Giúp đỡ chi phí điều trị người bệnh khoa Hồi sức – PTT
- Thăm và tặng quà nhân ngày lễ, tết,…
- Vận động – chuyển đến thân nhân người bệnh 1500 suất ăn miễn phí/ngày
- Đấu tranh, bảo vệ quyền lợi của người bệnh
Năm 2010 - Tiếp tục chương trình năm 2009
- Giúp đỡ chi phí điều trị người bệnh khoa Huyết học
- Chương trình “giờ vàng” giúp đỡ người bệnh cơ nhỡ cần chi phí cấp cứu
- Bổ sung 1000 suất ăn sáng miễn phí/ ngày
- Giúp đỡ phương tiện cho người bệnh xuất viện
Năm 2011 - Tiếp tục chương trình năm 2010
- Giúp đỡ chi phí điều trị người bệnh khoa U gan
- Bổ sung 1000 suất ăn chiều miễn phí/ ngày
(bắt đầu từ 5g, kết thúc 17g)
Năm 2012 - Tiếp tục chương trình năm 2011
- Trợ giúp dinh dưỡng cho người bệnh phẫu thuật cần dinh dưỡng đặc hiệu
- Bổ sung 400 suất ăn miễn phí/ ngày
(bắt đầu từ 5g, kết thúc 17g)
Năm 2013 - Tiếp tục chương trình năm 2012
- Bổ sung 350 suất ăn miễn phí/ ngày
(bắt đầu từ 5g, kết thúc 17g)
- Giúp đỡ áo quan và phương tiện vận chuyển về gia đình
Sau 5 năm thành lập, đơn vị YXH đã đáp ứng yêu cầu của Giám đốc và nhu cầu của người bệnh
3.1.1.1 Quy trình vận động tiếp nhận giúp đỡ từ NHT
Sơ đồ 3 1 Quy trình v ận động tiếp nhận giúp đỡ từ NHT
Nộp tiền vào phòng TCKT
TIẾP ĐÓN NHÀ HẢO TÂM (thời gian và địa điểm theo yêu cầu của NHT)
Lắng nghe mục đích, yêu cầu
Báo cáo Ban Giám đốc
Lập kế hoạch tặng quà
Trình hoàn cảnh khó khăn cho NHT
Mời người bệnh (hoặc thân nhân) đến để NHT động viên, chia sẻ
Tổng hợp chi phí điều trị
Đề xuất chuyển phiếu thu thành viện phí
Lưu hồ sơ tại đơn vị Y Xã hội
Nộp hồ sơ viện phí về phòng TCKT Báo cáo Ban Giám đốc kết quả thực hiện
Các bước thực hiện quy trình vận động tiếp nhận giúp đỡ từ NHT
- Bước 1: Nhân viên đơn vị Y Xã hội tiếp cận NHT, lắng nghe yêu cầu, mục đích và tiêu chí giúp đỡ
+ Nếu NHT ủng hộ vào quỹ giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn thì nộp tiền vào phòng TCKT của bệnh viện
+ Nếu tặng quà thì lập kế hoạch trình Ban Giám đốc, tiến hành tiếp nhận và tặng quà theo kế hoạch đã dự định
Khi nhân viên của đơn vị Y Xã hội tiếp cận NHT, họ sẽ lắng nghe yêu cầu và mục đích của NHT trong việc gặp gỡ người bệnh để trao tiền trực tiếp và động viên họ Đồng thời, nhân viên cũng sẽ tổng hợp danh sách những người bệnh có hoàn cảnh khó khăn theo mẫu tờ trình của khoa lâm sàng để trình bày cho NHT.
Bước 3: Mời người bệnh đến đơn vị Y Xã hội để nhận sự hỗ trợ từ NHT Số tiền mà người bệnh nhận được sẽ được gửi vào phòng TCKT, nhằm đảm bảo an ninh cho cả người bệnh và bệnh viện.
Bước 4: Đơn vị Y Xã hội thông báo số tiền hỗ trợ cho bệnh nhân đến mạng lưới nhân viên Y Xã hội tại các khoa lâm sàng Chi phí điều trị của bệnh nhân sẽ được chuyển về đơn vị Y Xã hội để trình Ban Giám đốc, từ đó chuyển tiền từ NHT sang viện phí cho bệnh nhân.
Đơn vị Y Xã hội tri ân NHT, thực hiện việc lưu trữ thông tin và nộp hồ sơ theo quy chế phối hợp với phòng TCKT, đồng thời tuân thủ các quy định của Giám đốc bệnh viện.
Bước 6: Định kỳ báo cáo Ban Giám đốc là một phần quan trọng trong quy trình tiếp nhận của đơn vị YXH Để đảm bảo tính công khai, minh bạch và tuân thủ các quy định về kiểm toán cũng như an ninh trong bệnh viện, đơn vị đã tham khảo ý kiến từ phòng TCKT nhiều lần.
Kết quả TLN Điều dưỡng cho thấy rằng “Đơn vị YXH đã bổ sung một bước ngoài quy trình, đó là cung cấp thông tin kết quả NHT, giúp khoa dễ dàng theo dõi viện phí của bệnh nhân.”
3.1.1.2 Quy trình giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn
Quy trình giúp đỡ n gười bệnh có ho àn c ảnh khó khăn
KHOA KHÁM BỆNH & CẤP CỨU
Có chỉ định nhập viện điều trị Điều trị ngoại trú Xuất viện
Bác sĩ điều trị chẩn đoán
Trưởng khoa – BS điều trị: Dự kiến chi phí
BS điều trị và Nhân viên Y Xã hội: tư vấn và thông tin dự kiến chi phí cho người bệnh
Người bệnh lo đủ chi phí
Người bệnh không có khả năng thanh toán (có xác nhận của chính quyền địa phương)
Nhân viên Y Xã hội (khoa lâm sàng)
Tổng hợp thông tin ĐƠN VỊ Y XÃ HỘI
Tổng hợp hoàn cảnh kinh tế và chuyên môn
Lập kế hoạch giúp đỡ
Trình Ban Giám đốc bệnh viện phương án chi trả chi phí điều trị
Báo cáo tổng kết theo định kỳ
Nộp hồ sơ theo quy định phòng TCKT
Lưu hồ sơ tại đơn vị
Các bước thực hiện quy trình giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn
Người bệnh nhập viện tại các khoa lâm sàng sẽ được áp dụng phác đồ điều trị Nếu gặp khó khăn về chi phí, bệnh nhân cần trình bày và nộp giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn tại khoa điều trị.
Nhân viên mạng lưới Y xã hội tại các khoa có nhiệm vụ tìm hiểu hoàn cảnh và tổng hợp thông tin về chuyên môn cũng như những khó khăn của người bệnh, sau đó gửi về đơn vị Y Xã hội.
- Nhân viên đơn vị Y Xã hội tiếp nhận hồ sơ, tiếp xúc người bệnh, lắng nghe hoàn cảnh để lập kế hoạch giúp đỡ
- Trình kế hoạch giúp đỡ lên Ban Giám đốc
Thông tin về phương án hỗ trợ người bệnh tiếp cận mạng lưới Y tế xã hội tại các khoa lâm sàng rất quan trọng Người bệnh sẽ được điều trị kịp thời, và chi phí điều trị sẽ được chuyển về đơn vị liên quan.
Y Xã hội và hoàn tất trước khi người bệnh ra viện một ngày
- Đơn vị Y Xã hội tổng kết báo cáo theo định kỳ
- Lưu trữ thông tin và nộp hồ sơ theo quy chế phối hợp với phòng TCKT và quy định của Giám đốc bệnh viện
Hai quy trình trên do giám đốc BVCR phê chuẩn, có hiệu lực chính thức từ ngày 23/12/2010, đến tháng 07/2011 đã điều chỉnh và bổ sung
3.1.2 K ết quả vận động và giúp đỡ
3.1.2.1 Kết quả vận động NHT
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Bi ểu đồ 3.1 S ố lượt nh à h ảo tâm giúp đỡ chi phí điều trị
Giai đoạn 2009 - 2013, Bệnh viện Chợ Rẫy đã vận động 930 lượt NHT hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân khó khăn, trung bình gần 200 lượt mỗi năm, với năm 2013 ghi nhận số lượt cao nhất là 207.
Trong giai đoạn 2011 và 2012, do tác động của khủng hoảng kinh tế, hoạt động giảm sút, với mức thấp nhất vào năm 2012 chỉ đạt 170 lượt Thành phần kinh tế, địa vị xã hội và tôn giáo của NHT đã góp phần hỗ trợ người nghèo tại đơn vị YXH một cách đa dạng.
“Có người là bác sĩ, kỹ sư nhưng cũng có anh thợ hồ và bác xe ôm” (PVS chuyên viên đơn vị YXH)
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Bi ểu đồ 3 2 K ết quả vận động chi phí điều trị
Giai đoạn 2009 – 2013, số tiền vận động các NHT giúp đỡ chi phí KCB gần
21 tỷ đồng Số tiền tăng theo từng năm, năm 2009 vận động hơn 2 tỷ đồng đến năm
Năm 2013, số tiền quyên góp đã tăng 2,5 lần, đạt trên 5 tỷ đồng Đã có 10 tập thể và 25 cá nhân thường xuyên hỗ trợ người bệnh, cả theo định kỳ lẫn đột xuất khi cần Nhân viên đơn vị YXH chia sẻ: “Cô bác đến giúp rất nhẹ nhàng, không cầu kỳ.”
"Chúng tôi có thể hỗ trợ từ 50 triệu đến 100 triệu đồng mà không yêu cầu gì, chỉ cần để lại số điện thoại để liên lạc khi có người bệnh cần giúp."
B ảng 3 2: S ố lượt NHT giúp đỡ qu à t ặng nhân ngày l ễ, tết…
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Trong những năm đầu thành lập, đơn vị YXH gặp nhiều khó khăn trong việc vận động NHT tặng quà dịp lễ, tết Để có đủ quà tặng như bánh mức, đường, sữa, đơn vị phải kêu gọi sự hỗ trợ từ hơn 10 NHT Tuy nhiên, vào năm 2012 và 2013, số lượng và chất lượng quà tặng đã tăng lên đáng kể Ngoài các sản phẩm truyền thống, NHT còn tặng bao lì xì cho người bệnh, mang lại niềm vui và may mắn trong năm mới Sự gia tăng về số lượng và chất lượng quà tặng cho thấy hoạt động của đơn vị YXH nhận được sự đồng thuận và ủng hộ mạnh mẽ từ NHT.
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Bi ểu đồ 3.3 S ố lượt người bệnh nhận qu à nhân ngày l ễ, tết…
Những thuận lợi và khó khăn của hoạt động giúp đỡ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại BVCR giai đoạn 2009 - 2013
3.3.1 Nh ận định về nh ững chương tr ình đ ã tri ển khai giai đoạn 2009 - 2013
Vào ngày 30/10/2008, Giám đốc BVCR đã ký quyết định thành lập đơn vị YXH với nhiệm vụ hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn Kể từ khi thành lập, đơn vị YXH đã thực hiện nhiều chương trình nhằm giúp đỡ người bệnh.
Năm 2009, chúng tôi đã hỗ trợ chi phí điều trị cho bệnh nhân khoa Hồi sức – Phẫu thuật tim, thăm và tặng quà trong các dịp lễ, tết Đồng thời, chúng tôi đã vận động và chuyển đến thân nhân bệnh nhân 1500 suất ăn miễn phí mỗi ngày, cũng như đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho người bệnh.
Năm 2010, chương trình tiếp tục từ năm 2009 với các hoạt động bổ sung nhằm giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân khoa Huyết học Đặc biệt, chương trình “giờ vàng” được triển khai để hỗ trợ bệnh nhân cơ nhỡ trong các tình huống cấp cứu Ngoài ra, 1000 suất ăn sáng miễn phí mỗi ngày cũng được cung cấp, cùng với việc hỗ trợ phương tiện cho bệnh nhân khi xuất viện.
Vào năm 2011, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 2514/QĐ-BYT ngày 15/07/2011, phê duyệt Đề án “Phát triển nghề Công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011 - 2020” Từ thời điểm này, hoạt động công tác xã hội trong bệnh viện đã được Bộ Y tế chỉ đạo và triển khai Trong các năm 2011, 2012 và 2013, đơn vị Công tác xã hội tiếp tục duy trì và phát triển các hoạt động của mình.
HUPH những chương trình cũ, đồng thời phát triển thêm các chương trình mới đáp ứng nhu cầu người bệnh
- Năm 2011: Tiếp tục chương trình năm 2010; Bổ sung các chương trình giúp đỡ chi phí điều trị người bệnh khoa U gan; Bổ sung 1000 suất ăn chiều miễn phí/ ngày
- Năm 2012: Tiếp tục chương trình năm 2011; Bổ sung các chương trình trợ giúp dinh dưỡng cho người bệnh phẫu thuật cần dinh dưỡng đặc hiệu;
Bổ sung 400 suất ăn miễn phí/ ngày
- Năm 2013: Tiếp tục chương trình năm 2012; Bổ sung 350 suất ăn miễn phí/ ngày; Giúp đỡ áo quan và phương tiện vận chuyển về gia
Mặc dù BVCR đã thành lập đơn vị YXH trước khi Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quyết định số 2514 phê duyệt Đề án “Phát triển nghề CTXH trong ngành Y tế giai đoạn 2011 - 2020”, nhưng các chương trình hoạt động của đơn vị YXH đều tập trung vào việc hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn, giúp họ vượt qua nghịch cảnh và an tâm điều trị.
“Nhờ có đơn vị YXH mà nhiều bệnh nhân được điều trị, nhân viên y tế an tâm điều trị cho bệnh nhân” (TLN điều dưỡng)
BVCR là một trong ba bệnh viện hạng đặc biệt tại Việt Nam, được Bộ Y tế trang bị nhiều thiết bị chuyên sâu và quy tụ đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn cao Bệnh nhân tại BVCR thường có tình trạng sức khỏe nặng, vượt quá khả năng điều trị của các bệnh viện ở tỉnh, do đó họ được chuyển đến đây để nhận được sự chăm sóc tốt nhất.
“Bệnh nhân cũng đặc biệt vì hoàn cảnh nghèo khó” (PVS nhà báo)
Là tuyến cuối cùng ở phía Nam, đơn vị Y tế xã hội (YXH) ra đời nhằm hỗ trợ bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, quyết tâm không để ai phải ra về vì lý do tài chính Bác sĩ điều trị tại khoa Hồi sức – Phẫu thuật tim cho biết nhiều bệnh nhân và gia đình họ đang gặp khó khăn Một trường hợp điển hình là mẹ của bệnh nhân T.H.N (sinh năm 1993), người đã bị tai nạn giao thông, chia sẻ: “Tìm đến đơn vị YXH, tôi nuôi hy vọng vào chỗ cuối cùng có thể bấu víu để giữ sinh mạng cho con.”
Để thực hiện nhiệm vụ được Giám đốc giao, phương châm hoạt động của đơn vị YXH là trở thành "cầu nối" giữa các mạnh thường quân, ngân hàng thực phẩm và những người có tấm lòng với bệnh nhân cần được giúp đỡ.
Không những là cầu nối, đơn vị YXH là địa chỉ để những tấm lòng vàng, các NHT tìm đến khi họ muốn chia sẻ
“Là nơi mà những tấm lòng hảo tâm tin tưởng làm điểm đến khi muốn chia sẻ tấm lòng vàng” (PVS chuyên viên đơn vị YXH)
Người bệnh, thân nhân và nhân viên y tế cần có một địa chỉ tin cậy để đáp ứng nhu cầu điều trị.
Sau khi thành lập đơn vị YXH, công tác tổ chức hành chính đã được ổn định, tiếp theo là việc tham mưu cho Ban Giám đốc ban hành quy định và quy trình nội bộ nhằm hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn Đơn vị YXH đã lập phương án cụ thể để xác định đúng đối tượng cần giúp đỡ và từ chối những trường hợp không phù hợp với quy định Lãnh đạo khoa U gan nhận xét rằng công việc này rất quan trọng trong việc hỗ trợ người bệnh gặp khó khăn.
Giai đoạn 2009 - 2013 đã đạt được những tiến bộ quan trọng, hướng tới mục tiêu giúp đỡ đúng người, đúng bệnh, đúng thời điểm, đúng mức độ cần thiết và phù hợp với khả năng của bệnh viện.
Triển khai hoạt động y tế đúng người, đúng bệnh, đúng thời điểm, đúng mức độ và đúng khả năng của bệnh viện sẽ tạo niềm tin vững chắc từ người bệnh Trong 5 năm qua, gần 1000 lượt người bệnh đã được hỗ trợ, giúp họ tiết kiệm hơn 18,6 tỷ đồng cho chi phí điều trị mà không phải trả tiền.
“Công tác vận động NHT giúp đỡ hàng năm đạt kết quả tăng về vật chất và số lượt” (PVS chuyên viên đơn vị YXH)
Nhận xét về hoạt động của đơn vị YXH giai đoạn 2009 - 2013 ĐTNC cho biết: “Hiệu quả ngày càng cao” (PVS chuyên viên đơn vị YXH)
“Công việc hiệu quả theo nhu cầu của người bệnh” (PVS chuyên viên đơn vị YXH)
Giai đoạn 2009 - 2013, đơn vị YXH đã triển khai nhiều chương trình hoạt động, bắt đầu với 1500 suất ăn cho bệnh nhân khoa Hồi sức – Phẫu thuật tim Hiện nay, đơn vị đã mở rộng các chương trình hỗ trợ như viện phí, dinh dưỡng và phương tiện xuất viện, mang lại hy vọng và nụ cười ấm áp cho bệnh nhân khi họ hồi phục.
Đơn vị YXH đã khởi đầu nhiệm vụ hỗ trợ chi phí phẫu thuật cho bệnh nhân khoa phẫu thuật tim mạch, cung cấp 1500 suất ăn miễn phí.
Trong 5 năm hoạt động, đơn vị đã không ngừng mở rộng hỗ trợ cho bệnh nhân tại khoa Huyết học và U gan, cung cấp dinh dưỡng cho bệnh nhân phẫu thuật, và hỗ trợ phương tiện vận chuyển cho bệnh nhân cũng như áo quan cho người quá cố Đơn vị còn cung cấp hàng nghìn suất ăn miễn phí mỗi ngày cho bệnh nhân và người thân Hoạt động của đơn vị YXH tại BVCR là những chuyến xe chở tình nhân ái, xứng đáng được ghi nhận và tôn vinh.