1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thiếu máu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình năm 2016

92 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng thiếu máu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016
Tác giả Lê Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa, Th.s Phạm Phương Liên
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y học cộng đồng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 4,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Thiếu máu ở phụ nữ mang thai PNMT là một vấn đề quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.. Phân tích mố

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ THÙY TRANG

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN

TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

Hà Nô ̣i - 2016

HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ THÙY TRANG

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN

TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

PGS.TS ĐINH THỊ PHƯƠNG HÒA TH.S PHẠM PHƯƠNG LIÊN

Hà Nô ̣i - 2016

HUPH

Trang 3

Em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa và Th.s Phạm Phương Liên đã tận tâm góp nhiều ý kiến, hướng dẫn, hỗ trợ em hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn TTYT huyện Lệ Thủy và các phụ nữ mang thai tại địa bàn nghiên cứu huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình tham gia, giúp đỡ tôi trong khi triển khai đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, bạn bè trong lớp Cao học Y tế Công cộng 18 đã giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đã động viên, khuyến khích tôi, cùng tôi chia sẻ những khó khăn và dành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong suốt thời gian qua

Trân trọng!

Hà Nội, ngày 3 tháng 10 năm 2016

Học viên Cao học YTCC 18

LÊ THỊ THÙY TRANG

HUPH

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC HÌNH vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Khái niê ̣m thiếu máu 4

1.2 Tiêu chuẩn đánh giá và cách phân loại thiếu máu 4

1.3 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai 5

1.4 Nguyên nhân thiếu máu ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai 7

1.5 Hậu quả của thiếu máu đối với phụ nữ mang thai và sự phát triển của thai 10

1.6 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phụ nữ mang thai 10

1.7 Một số hoạt động phòng chống thiếu máu dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai 17

1.8 Một số đă ̣c điểm của đi ̣a bàn nghiên cứu 18

KHUNG LÝ THUYẾT 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Thời gian và đi ̣a điểm nghiên cứu 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 22

2.5 Phương pháp chọn mẫu 23

2.6 Phương pháp thu thâ ̣p số liê ̣u 25

2.7 Các biến số nghiên cứu 27

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 29

HUPH

Trang 6

2.9 Xử lý số liệu 29

2.10 Đạo đức nghiên cứu 30

2.11 Khó khăn, hạn chế và biện pháp khắc phục 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 32

3.2 Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai trong địa bàn nghiên cứu 36

3.3 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phu ̣ nữ mang thai 39

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 46

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 46

4.2 Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai trong địa bàn nghiên cứu 46

4.3 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phu ̣ nữ mang thai 47

KẾT LUẬN 55

KHUYẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC 1 BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 63

PHỤ LỤC 2 GIẤY MỜI PNMT THAM GIA LẤY MẪU XÉT NGHIỆM 66

PHỤ LỤC 3: GIẤY ĐỒNG THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU 67

PHỤ LỤC 4 PHIẾU ĐIỀU TRA VÀ PHỎNG VẤN BÀ MẸ CÓ THAI 69

PHỤ LỤC 5 HƯỚNG DẪN LẤY VÀ LÀM XÉT NGHIỆM MÁU 72

PHỤ LỤC 6 HƯỚNG DẪN LẤY VÀ LÀM XÉT NGHIỆM PHÂN 74

PHỤ LỤC 7 KINH PHÍ NGHIÊN CỨU 76

BIÊN BẢN HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN 77 BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH SAU BẢO VỆ LUẬN VĂN 82 HUPH

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Tình hình thiếu máu ở phụ nữ không mang thai và PNMT 6

theo vùng sinh thái (2008) 6

Bảng 2.1 Số lượng PNMT trong danh sách quản lý TYT tại 8 xã nghiên cứu 24

Bảng 2.2 Số lượng PNMT tại 8 xã nghiên cứu tham gia vào nghiên cứu 24

Bảng 2.3 Thời gian thu thập số liệu tại 8 xã nghiên cứu 26

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC (n=536) 32

Bảng 3.2 Đặc điểm gia đình của ĐTNC (n=536) 33

Bảng 3.3 Tiền sử sản khoa và bệnh tật của ĐTNC 33

Bảng 3.4 Tình trạng mang thai lần này của ĐTNC (n=536) 34

Bảng 3.5 Thời gian bổ sung viên sắt theo tuổi thai (n=337) 35

Bảng 3.6 Thông tin về sử dụng dịch vụ khám thai của ĐTNC 35

Bảng 3.7 Phân loại thiếu máu ở PNMT 36

Bảng 3.8 Tỷ lệ thiếu máu theo đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC (n=536) 37

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC với thiếu máu (n=536) 39

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa đặc điểm gia đình của ĐTNC với thiếu máu (n=536) 40

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tiền sử sản khoa của ĐTNC với thiếu máu (n=536) 40

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tiền sử bệnh của ĐTNC với thiếu máu (n=536) 41

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tình trạng mang thai lần này của ĐTNC với thiếu máu (n=536) 42

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa ăn uống khi mang thai của ĐTNC với thiếu máu (n=536) 43

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa sử dụng dịch vụ khám thai của ĐTNC với thiếu máu 43

Bảng 3.16 Mô hình hồi quy đa biến về mối liên quan với thiếu máu (n=536) 44

HUPH

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT 36

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ thiếu máu theo đặc điểm gia đình của ĐTNC 38

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ thiếu máu theo số lần mang thai và số con hiện có của ĐTNC 38

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ thiếu máu theo từng giai đoạn thai kỳ của ĐTNC 39

DANH MỤC HÌNH Trang Hình 1.1 Tình hình thiếu máu ở PNMT tại các khu vực trên thế giới 5

Hình 1.2 Bản đồ hành chính huyện Lệ Thủy 18

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thu thập số liệu 27

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Thiếu máu ở phụ nữ mang thai (PNMT) là một vấn đề quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Thiếu máu ở PNMT không những ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ mà còn là nguy

cơ bệnh tật, tử vong đối với trẻ Vì vậy, phát hiện tình trạng thiếu máu ở PNMT và xác định được các yếu tố liên quan sẽ giúp đưa ra các giải pháp phù hợp làm giảm

tỷ lệ thiếu máu, cải thiện sức khỏe bà mẹ, trẻ em một cách hiệu quả Đề tài nghiên

cứu “Thực trạng thiếu máu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016” được tiến hành với 2 mục tiêu: 1 Mô tả thực

tra ̣ng thiếu máu và 2 Xác định một số yếu tố liên quan đến thiếu máu của PNMT tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016

Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là 536 PNMT tại 8 xã của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình đại diện cho 3 vùng: ven biển, đồng bằng và miền núi Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, thu thập số liệu bằng việc thực hiện xét nghiệm máu, phân và phỏng vấn PNMT

Kết quả cho thấy, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT là 27,2%, trong đó 80,1% là thiếu máu nhẹ và 19,9% thiếu máu trung bình Phân tích mối liên quan giữa 2 biến số cho thấy PNMT người dân tộc, có trình độ học vấn thấp, lớn tuổi (>35 tuổi), làm nghề nông hoặc làm rẫy, sống ở miền núi, kinh tế gia đình nghèo, mang thai từ 3 lần trở lên,

có tiền sử bệnh sốt rét, không uống bổ sung viên sắt/acid folic, có nhiễm giun và có bị nghén trong thời gian mang thai là những yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng thiếu máu Tuy nhiên, khi đưa vào mô hình phân tích hồi quy đa biến, chỉ có 3 yếu tố có liên quan độc lập, có ý nghĩa thống kê là tuổi, nhiễm giun và tình trạng nghén PNMT trên 35 tuổi có nguy cơ thiếu máu cao gấp 1,9 lần so với PNMT tuổi dưới 35 PNMT bị nghén có nguy cơ thiếu máu gấp 1,7 lần so với những PNMT không

bị nghén PNMT nhiễm giun mức độ vừa, mức độ nặng có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2,1 lần PNMT không nhiễm giun/nhiễm mức độ nhẹ

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị các can thiệp phòng chống thiếu máu cần tập trung ưu tiên cho nhóm phụ nữ trên 35 tuổi, PNMT bị nhiễm giun mức độ vừa/nặng và những phụ nữ bị nghén khi mang thai Đẩy mạnh truyền thông,

tư vấn về phòng chống thiếu máu cho PNMT trong địa bàn, chú trọng thông điệp về phòng nhiễm giun và thực hiện tẩy giun cho PNMT Cần đặc biệt tư vấn, hướng dẫn PNMT cách giảm nhẹ triệu chứng và đảm bảo dinh dưỡng khi bị nghén

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiếu máu ở PNMT là một vấn đề quan trọng đối với sức khoẻ cộng đồng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có tới 50% PNMT trên thế giới bị thiếu máu, trong đó các nước công nghiệp phát triển chiếm khoảng 18% và các nước đang phát triển chiếm tỷ lệ từ 35 - 75%[38]

Thiếu máu ở PNMT có thể gây nhiều hậu quả nặng nề về sức khỏe cho cả mẹ

và con Người mẹ bị thiếu máu trong thời gian mang thai sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh

và các tai biến trong và sau khi đẻ, trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong Thiếu máu ở PNMT có thể làm chậm phát triển thai nhi, đẻ non, nhẹ cân, thai chết lưu hoặc tử vong khi đẻ Những đứa con của các bà mẹ thiếu máu ở giai đoạn sớm của thai kỳ có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn trẻ khác hoặc làm giảm sự phát triển trí tuệ của trẻ sau này[40]

Như vậy, thiếu máu ở PNMT không chỉ là vấn đề của ngành y tế mà còn là ảnh hưởng đến nguồn lực và sự phát triển của xã hội Can thiệp làm giảm tình trạng thiếu máu ở phụ nữ nói chung và PNMT nói riêng là một nhu cầu cấp bách của nhiều nước trên thế giới Xác định rõ về tình hình thiếu máu và các yếu tố ảnh hưởng sẽ giúp cho việc đưa ra các giải pháp phù hợp làm giảm tỷ lệ thiếu máu ở PNMT, cải thiện sức khỏe bà mẹ, trẻ em một cách hiêu quả

Ở nước ta, số liệu điều tra năm 2014 của Viện Dinh dưỡng quốc gia cho thấy

tỷ lệ thiếu máu ở PNMT là 32,8%[34] Với tỷ lệ này, nước ta nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ thiếu máu cao ở các nước đang phát triển Điều cần nhấn mạnh là tỷ lệ thiếu máu ở PNMT nước ta rất khác nhau theo vùng sinh thái Số liệu của Viện Dinh dưỡng cho thấy rằng, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT cao nhất là tại vùng núi phía Bắc (45,7%), tiếp đến là khu vực Bắc và ven biển miền Trung với tỷ lệ là 44,1% và thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (24%)[33] Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ thiếu máu đặc biệt cao ở các phụ nữ dân tộc thiểu số như PNMT dân tộc thiểu số Đắk Lắk là 50,1%[16], PNMT 6 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên là 34%[14], PNMT tỉnh Kon Tum, Lai Châu là 31,8% và 38,6%[19]

HUPH

Trang 11

Đã có nhiều chương trình can thiệp phòng chống thiếu máu dinh dưỡng được triển khai rộng khắp ở tất cả các địa phương trong cả nước Tuy nhiên, các can thiệp này vẫn khó tiếp cận được đến vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi

mà đời sống kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, thường kèm theo các bệnh ký sinh trùng, sốt rét, nhiễm giun là những nguyên nhân chính gây thiếu máu[6]

Lệ Thủy là một huyện của tỉnh Quảng Bình với địa hình đa dạng gồm miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển Có khoảng 20% người dân là đồng bào dân tộc Vân Kiều chủ yếu sống bằng nghề nương rẫy ở vùng núi và chài lưới ở vùng ven biển Trình độ văn hóa, điều kiện kinh tế, xã hội của người dân trong huyện thấp hơn các nơi khác Các dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ em còn có nhiều hạn chế Các chương trình can thiệp phòng chống thiếu máu cho bà mẹ mang thai và trẻ em chưa đạt hiệu quả mong muốn và chưa được duy trì bền vững[22] Lệ Thủy cũng là nơi có bê ̣nh sốt rét lưu hành[29] và tình trạng nhiễm giun chiếm tỷ lệ cao[30] Nhằm đánh giá tình thiếu máu ở PNMT trong địa bàn huyện và đề xuất các biện

pháp can thiệp phù hợp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực tra ̣ng thiếu máu và mô ̣t số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại huyện Lệ thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016”

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1) Mô tả thực tra ̣ng thiếu máu của phụ nữ mang thai tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016

2) Xác định một số yếu tố liên quan đến thiếu máu của phụ nữ mang thai tại

huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016

HUPH

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Kha ́ i niê ̣m thiếu máu

Thiếu máu: Theo WHO, thiếu máu là tình trạng giảm số lượng hồng cầu (HC),

giảm hàm lượng Hemoglobin (Hb) trong một đơn vị thể tích máu, gây tình trạng thiếu oxy tổ chức, trong đó sự thiếu hụt Hb là quan trọng nhất[48]

Thiếu máu thai kỳ: Là hiện tượng bệnh lý hay gặp trong thai nghén, xảy ra khi

mất cân bằng giữa hai quá trình sản xuất HC với nhu cầu tăng về số lượng HC và khối lượng máu[48]

1.2 Tiêu chuẩn đánh giá và cách phân loại thiếu máu

1.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá thiếu máu

Phân loại thiếu máu được đánh giá qua chỉ số chính là nồng độ Hb Theo WHO, tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu máu như sau[48]:

- Mức Hb <120g/l với phụ nữ không mang thai

- Mức Hb <110g/l với PNMT

1.2.2 Phân loại thiếu máu

Có nhiều cách phân loại thiếu máu, thông thường theo 3 tiêu chí sau[2]

Theo mức độ: Thiếu máu có 3 mức độ: nhẹ, vừa, nặng

- Thiếu máu nhẹ: Hb từ 100 - <120g/l

- Thiếu máu vừa: Hb từ 70 - <100g/l

- Thiếu máu nặng: Hb <70g/l

Theo nguyên nhân:

- Do thiếu nguyên liệu tạo máu: thiếu sắt, acid folic, vitamin B12, protein, v.v Đây là những nguyên nhân gây thiếu máu chủ yếu trong thai nghén, thực chất đó là loại thiếu máu dinh dưỡng

- Do chảy máu, mất máu như: sảy thai, băng huyết, sinh đẻ nhiều, bệnh sốt rét, giun sán, chủ yếu là giun móc, v.v…

Theo diễn biến: cấp tính hay mạn tính (cấp tính như sảy thai, băng huyết, chửa

ngoài tử cung, v.v… ; mạn tính trong mắc các bệnh gây thiếu máu như bệnh sốt rét, giun sán, bệnh gan, bệnh thận, v.v…)[3]

HUPH

Trang 14

1.3 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai

1.3.1 Thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai trên thế giới

Thiếu máu ở PNMT là một vấn đề sức khỏe cộng đồng không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn xẩy ra ở các nước đã phát triển Theo thống kê của WHO năm 2011, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trên toàn cầu là 38%, tương đương với số lượng là 32 triệu PNMT bị thiếu máu[47]

Tỷ lệ thiếu máu khác nhau giữa các vùng, khu vực trên thế giới Tỷ lệ cao nhất

là tại một số nước ở châu Phi, Nam Á (>60%) và thấp nhất là nước khu vực Bắc Mỹ (<20%)[47]

Hình 1.1 Tình hình thiếu máu ở PNMT tại các khu vực trên thế giới

Nguồn: WHO The global anaemia prevalence in 2011 Geneva: WHO; 2015[47]

Sự khác biệt rõ rệt nhất là giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Cũng theo thống kê của WHO, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT tại một số nước phát triển là khá thấp như Canada (11,5%), Đức (12,3%), Bỉ (12,9%), Italia (15,5%), Thụy Sĩ (9,7%) trong khi tỷ lệ này lại cao gấp nhiều lần ở một số nước đang phát triển như Malaysia (38,3%), Campuchia (66,4%), Nepal (74,6%), Algeria (42,8%),

HUPH

Trang 15

Angola (51,7%)[46] Một số nghiên cứu riêng biệt ở các nước đang phát triển cũng cho kết quả tương tự như Taseer và cộng sự tiến hành nghiên cứu ở miền nam Punjab, Pakistan cho kết quả thiếu máu ở PNMT là 55,2%[43]; nghiên cứu của Kefiyalew ở Ethiopia là 56,8%[37]

1.3.2 Thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai tại Việt Nam

Thiếu máu ở PNMT nước ta tuy có giảm nhưng vẫn ở mức trung bình về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng tỷ lệ thiếu máu ở PNMT năm 2008 là 31,4%, năm 2010 là 36,5%[33] và đến năm 2014 là 32,8%[34] Tỷ lệ thiếu máu khác nhau tùy theo khu vực, cao nhất là ở vùng núi phía Bắc (45,7%), cao gần gấp đôi so với nơi thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (24%)[33]

Bảng 1.1 Tình hình thiếu máu ở phụ nữ không mang thai và PNMT

theo vùng sinh thái (2008)

Vùng

PNMT Phụ nữ không mang thai

n % thiếu máu n % thiếu máu

Nguồn: Điều tra thiếu máu và thiếu vitamin A lâm sàng, Viện Dinh dưỡng (2008)[33]

Nhiều tác giả nghiên cứu về tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trên các địa bàn khác nhau trong cả nước cũng có kết luận là tỷ lệ PNMT thiếu máu rất cao ở khu vực miền núi Năm 2008, Đặng Oanh cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu trên PNMT dân tộc thiểu số Đắk Lắk, kết quả tỷ lệ thiếu máu là 50,1%[16] Nghiên cứu của

HUPH

Trang 16

Trương Hồng Sơn (2012), tỷ lệ thiếu máu ở PNMT tỉnh Kon Tum là 31,8%, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT tỉnh Lai Châu là: 38,6%[19] Điều tra tình trạng thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em và phụ nữ tại 6 tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và tây Nguyên (Lạng Sơn, Sơn La, Quảng Trị, Quảng Bình, Kon Tum, Đắc Nông) của Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự năm 2009 cho kết quả, 34% PNMT thiếu máu[14]

Tại các khu vực thành phố và đồng bằng, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT thấp hơn Nghiên cứu của Nguyễn Nhật Quang (2012) ở 1.896 PNMT trong 3 tháng đầu thai

kỳ tại huyê ̣n Củ Chi, TP Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ thiếu máu là 21,6%[18] Tác giả Võ Thị Thu Nguyệt (2007) đã nghiên cứu trên 304 thai phụ tại bệnh viện Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ thiếu máu là 20,2%[15] Nguyễn Song Tú năm 2008 tiến hành điều tra trên 360 phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổi tại 3 xã Vân

Du, Xuân Trúc và Tiền Phong thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên cũng cho kết quả thiếu máu tương tự là 20,8%[23] Điều tra cắt ngang của Nguyễn Nhân Thành (2010) được thực hiện trên 776 PNMT tại 30 phường xã của TP Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ thiếu máu là 17,5%[24] Theo nghiên cứu của Văn Quang Tân (2010-2012) trong 1.000 PNMT tại Bình Dương tỷ lệ PNMT thiếu máu là 16,7%[20].Nghiên cứu trên 439 PNMT từ 6-16 tuần tại 30 xã vùng nông thôn tỉnh Hà Nam của Đặng Đình Thoảng năm 2010 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT là 16,2%[26] Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu các tỉnh đồng bằng cũng có tỷ lệ PNMT thiếu máu cao như nghiên cứu của Phạm Thi Đan Thanh ở Bạc Liêu năm 2010 cho kết quả là 36,7%[25]; nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Bích tại bệnh viện phụ sản Trung ương là 35,5%[1]

1.4 Nguyên nhân thiếu máu ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai

Phụ nữ mang thai bị thiếu máu do rất nhiều nguyên nhân khác nhau Nguyên nhân chính là thiếu dinh dưỡng, thiếu sắt, mất máu (do chảy máu hoặc nhiễm trùng/ký sinh trùng) và các nguyên nhân khác như hậu quả của một số bệnh mãn tính hoặc bệnh lý của các cơ quan tạo máu Nguyên nhân thường gặp nhất là thiếu dinh dưỡng mà chủ yếu là thiếu sắt Ở Việt nam, nguyên nhân gây mất máu như sốt rét, nhiễm giun vẫn còn phổ biến ở nhiều tỉnh, nhất là vùng núi, vùng sâu, bao gồm

đi ̣a bàn nghiên cứu của chúng tôi là huyê ̣n Lê ̣ Thủy, tỉnh Quảng Bình

HUPH

Trang 17

1.4.1 Thiếu dinh dưỡng

Thiếu dinh dưỡng thường là do khẩu phần ăn hàng ngày không đủ các yếu tố tạo máu Ở PNMT, thiếu máu thường xẩy ra vì khi mang thai nhu cầu về dinh dưỡng của phu ̣ nữ tăng cao hơn bình thường để phát triển thai, nhau thai, nuôi con bằng sữa mẹ và dự trữ về sau cho mẹ Do vậy, nếu trong khi mang thai, phụ nữ không có được khẩu phần ăn tăng lên, đặc biệt là nếu thiếu thức ăn có nguồn gốc động vật (thịt, cá, trứng, sữa, v.v…) sẽ không đáp ứng đủ năng lượng, protein, sắt, các vitamin và các yếu tố vi lượng cần thiết và dẫn đến thiếu máu[3]

Yếu tố khẩu phần liên quan đến thiếu vi chất dinh dưỡng bao gồm: Thiếu số lượng thực phẩm, thiếu các thực phẩm chứa nhiều vi chất có giá trị sinh học cao Thiếu các chất giúp cho quá trình ta ̣o máu, như protein, mỡ, vitamin C, A và các chất khác

Lưu ý là trong chế độ ăn cần có cả đạm động vật và thực vật Vitamin C giúp hấp thu sắt tốt hơn nhưng cũng có một số thức ăn làm hạn chế hấp thu sắt như cà phê, nước chè đặc Phối hợp thức ăn hợp lý, ăn nhiều rau, trái cây để bổ sung vitamin cũng là biện pháp hữu hiệu nhằm tăng khả năng hấp thu sắt[4]

Trong nghiên cứu của Trương Hồng Sơn về hiệu quả can thiệp cộng đồng bổ sung sớm đa vi chất dinh dưỡng trên phụ nữ tại một số xã thuộc tỉnh Kon Tum và

Lai Châu, nguyên nhân thiếu máu do thiếu vi chất dinh dưỡng ở nhóm PNMT chiếm tỷ lệ là 36,9% [19] Thiếu sắt còn có nguyên nhân là cung cấp không đủ sắt

do mất sắt (sốt rét, bệnh giun móc, sán máng, nhiễm HIV), do bệnh lý Hb và một số nguyên nhân khác[8]

1.4.2 Bổ sung sắt chưa đầy đủ

Như đã đề cập ở trên nguyên nhân thiếu máu dinh dưỡng ở PNMT chủ yếu là

do thiếu sắt vì thời kỳ này nhu cầu về sắt và các chất dinh dưỡng tăng cao Đặc biệt thiếu máu do thiếu sắt được coi là yếu tố bệnh nguyên quan trọng nhất của thiếu máu thai nghén bở i thai nhi tiếp thu lượng lớn sắt từ cơ thể người mẹ qua nhau thai Nếu chế độ ăn uống của người mẹ không hợp lý, người mẹ rất dễ bị thiếu máu do thiếu sắt, biểu hiện rõ nhất ở phụ nữ đa thai, đẻ nhiều, các lần chửa đẻ gần nhau (dưới 2 năm)

HUPH

Trang 18

[2, 44] Ngoài ra, trong thời kỳ mang thai có sự gia tăng số lượng HC của mẹ và thể tích huyết thanh cũng tăng thêm khoảng 50% nên nhu cầu sắt cũng tăng cao[2]

Theo nghiên cứu của Aikawa R và cộng sự tại Việt Nam về việc bổ sung sắt, lượng sắt thực tế hiện nay của bữa ăn người Việt Nam chỉ đạt khoảng 30% - 50% nhu cầu, nhất là ở các vùng nông thôn, đó chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở nông thôn thường rất cao[41] Thiếu máu thiếu sắt thường có thể tiềm ẩn từ trước khi mang thai, vì vậy phụ nữ tuổi sinh đẻ hoặc các em gái tuổi vị thành niên (VTN) cần được bổ sung sắt[9]

Phụ nữ mang thai được tư vấn và cho uống viên sắt ngay sau khi phát hiện mang thai càng sớm càng tốt Tuy nhiên, uống viên sắt có thể có một số tác dụng phụ như buồn nôn, táo bón vì vậy tư vấn, hướng dẫn uống vào một giờ nhất định, uống thêm nước và ăn thêm trái cây là rất quan trọng

1.4.3 Nhiễm trùng và bệnh ký sinh trùng

Nhiễm trùng làm ảnh hưởng tới bộ máy tiêu hoá, phá huỷ các tuyến nhày của

dạ dày, làm cho ăn uống kém và mất ngon miệng Đặc biệt nếu có viêm dạ dày, do xoắn khuẩn Helicobacter pylori khu trú và phát triển ở niêm mạc dạ dày kiềm hoá, đồng thời sản sinh chất catalase, protease, lipase dẫn tới việc kém hấp thu các chất dinh dưỡng và các vi chất dinh dưỡng[2]

Nhiễm ký sinh trùng đường ruột gây tác hại lớn, vì ký sinh trùng chiếm mất chất dinh dưỡng của cơ thể (giun đũa), hút máu và gây chảy máu thành ruột (giun móc) Hậu quả nghiêm trọng nhất của giun móc là gây mất máu mạn tính từ tá tràng

và hỗng tràng, dẫn đến thiếu máu thiếu sắt Ngoài ra, giun còn tiết ra chất độc như ascarridol, chất ức chế các men pepsin, cathepsin, và chymotrypsin của cơ thể dẫn tới chán ăn, rối loạn tiêu hoá Đối với giun tóc, ký sinh ở đại tràng và hút máu, gây tổn thương niêm mạc đại tràng và gây hội chứng ly ̣[2, 12]

1.4.4 Mô ̣t số nguyên nhân khác

Một số nguyên nhân khác gây thiếu máu ở PNMT như: nhiễm độc nội sinh gây ức chế tủy xương và đặc biệt là sự thay đổi các yếu tố miễn dịch khi PNMT, PNMT mắc các bệnh mạn tính khác như bệnh thận, huyết tán, v.v,… [3]

HUPH

Trang 19

1.5 Hậu quả của thiếu máu đối với phu ̣ nữ mang thai và sự phát triển của thai

1.5.1 Đối vơ ́ i phụ nữ mang thai

Trong quá trình mang thai nếu người me ̣ bi ̣ thiếu máu có thể làm giảm sự tăng cân sinh lý hoă ̣c khiến sức khoẻ mẹ giảm sút, sức đề kháng giảm, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, nhiễm khuẩn hậu sản Do đó, tỷ lệ me ̣ mắc bệnh tăng

và nguy cơ tử vong của mẹ cũng tăng[5]

Thiếu máu ở PNMT làm tăng tỷ lệ các tai biến trong thai nghén như sảy thai,

đẻ non Nghiên cứu ta ̣i Đắk Lắk của Đặng Oanh cho thấy PNMT thiếu máu dinh dưỡng có nguy cơ sảy thai cao gấp 2,3 lần và nguy cơ sinh non cao gấp 2,6 lần bình thường[16] Đồng thời, thiếu máu ở PNMT cũng làm tăng tỷ lệ đẻ khó, mổ lấy thai

và tăng các biến chứng sau sinh như đờ tử cung, băng huyết, v.v…

1.5.2 Đối với thai nhi va ̀ trẻ sau sinh

Thiếu máu khi mang thai khiến nuôi dưỡng bào thai giảm, dẫn đến hậu quả là cân nặng và chiều dài trẻ sơ sinh thấp so với bình thường, trường hợp nặng có thể dẫn tới thai không phát triển gây sảy thai, đẻ non hoă ̣c chết lưu Trẻ sinh ra từ các

bà mẹ thiếu máu thường bị giảm chức năng miễn dịch nên dễ mắc bệnh, tăng nguy

cơ tử vong Thiếu máu từ người mẹ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và trí tuệ lâu dài của trẻ[20, 21]

1.6 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phụ nữ mang thai

1.6.1 Các yếu tố đă ̣c trưng cá nhân

Tuổi mẹ và tuổi thai

Nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Bích ở thai phụ đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy tuổi của thai phụ dưới 20 và trên 40 là một trong những nguy

cơ cao gây thiếu máu[1] Kết quả này cũng tương tự với điều tra của Nguyễn Song

Tú trên 360 phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổi tại 3 xã của huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là 20,8%; cao nhất ở nhóm tuổi 40-49 với tỷ lệ 28% và thấp nhất ở nhóm tuổi 15-29 với tỷ lệ 9,7% Nghiên cứu này cũng cho thấy phụ nữ từ 30 tuổi trở lên có nguy cơ thiếu máu cao hơn 2,2 lần so với phụ

nữ lứa tuổi thấp hơn[23] Mối liên quan giữa tuooit với tình trạng thiếu máu của PNMT cũng được Nguyễn Nhâ ̣t Quang chứng minh trong nghiên cứu tại huyện Củ

HUPH

Trang 20

Chi, TP Hồ Chí Minh Phụ nữ từ 35 tuổi trở lên có nguy cơ thiếu máu cao gấp 6,5 lần so với phụ nữ dưới 35 tuổi (p<0,001)[18] Tác giả Phạm Thị Đan Thanh cũng cho thấy thai phụ trên 35 tuổi tại Bạc Liêu có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt gấp 3,6 lần so với thai phụ từ 19-30 tuổi[25]

Một vài nghiên cứu khác theo dõi tình trạng thiếu máu theo thai kỳ đã chỉ ra rằng tỷ lệ thiếu máu tăng dần theo tuổi thai Đặng Oanh và cộng sự tại Đắk Lắk cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT thấp nhất ở 3 tháng đầu và cao nhất ở 3 tháng cuối (62%)[16] Nghiên cứu của Đặng Đình Thoảng tại Hà Nam cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT từ 6 - 9 tuần là 6,7%; 10 - 13 tuần là 14,0 % và từ 14 – 16 tuần

là 24,0% (p<0,05)[26]

Dân tộc: Nghiên cứu tại Đắk Lắk cho kết quả tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng của

PNMT dân tộc thiểu số là 50,1%, cao hơn nhiều so với phụ nữ dân tô ̣c Kinh[16]

Vùng sinh thái, nơi sống

Sự khác biệt về tỷ lệ thiếu máu ở PNMT theo các vùng sinh thái được nhiều nghiên cứu khẳng định Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ trước và trong khi mang thai của nước ta ở mức trung bình, trong khi ở vùng núi phía Tây Bắc và vùng Bắc ven biển Miền Trung lại ở mức nặng[14] Khảo sát của Viện Dinh dưỡng năm 2008 cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT cao nhất là

ở vùng núi phía Bắc (45,7%), tiếp đến là khu vực Bắc và ven biển miền Trung với

tỷ lệ là 44,1% và thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (24%)[33]

Trong nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Bích, thai phụ sống ở nông thôn, nguy

cơ thiếu máu cao hơn 1,5 lần so với thai phụ sống ở thành thị[1]

Trình độ học vấn: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và tình trạng thiếu máu

ở PNMT chưa có kết luận thống nhất giữa các nghiên cứu trong và ngoài nước Nguyễn Nhâ ̣t Quang nghiên cứu tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh cho thấy phụ

nữ có học vấn từ trung học phổ thông (THPT) trở xuống có tỷ lệ thiếu máu trong 3 tháng đầu thai kỳ là 22,2%, cao hơn so với phụ nữ có trình độ THPT trở lên (19,9%) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê[18] Trong khi đó, nghiên cứu tại bệnh viện phụ sản Trung ương của Phan Thị Ngọc Bích khẳng định có mối liên quan giữa trình độ học vấn và thiếu máu ở PNMT (p<0,05)[1] Các nghiên cứu

HUPH

Trang 21

tại nước ngoài cũng cho kết quả khác nhau Nghiên cứu ở Trung Quốc và Nigeria cho thấy có mối liên quan giữa trình độ học vấn của PNMT với tình trạng thiếu máu[35, 36], trong khi tác giả Kefiyalew nghiên cứu ở Ethiopia không tìm thấy có mối liên quan này[37]

Nghề nghiệp: Nghiên cứu của Phan Thị Ngọc Bích tại bệnh viện Phụ sản trung

ương đã chỉ ra thai phụ làm ruộng có nguy cơ thiếu máu cao hơn các nghề nghiệp khác[1] Nghiên cứu tại Trung Quốc tiến hành trên 6.413 PNMT ở các vùng khác nhau cũng kết luận là PNMT làm nghề nông nghiệp có tỷ lệ thiếu máu cao hơn so với các nghề khác[35]

Kiến thức về cách phòng ngừa thiếu máu

Kiến thức về thiếu máu và dự phòng thiếu máu có vai trò quan trọng trong can thiệp giảm tỷ lệ thiếu máu ở PNMT Nghiên cứu của Nguyễn Nhân Thành và cô ̣ng sự ta ̣i TP Hồ Chí Minh cho thấy những PNMT biết cách phòng ngừa thiếu máu qua việc ăn đủ dinh dưỡng kết hợp uống sắt bổ sung có tỷ lệ thiếu máu là 26,6% thấp hơn nhiều so với các bà mẹ không biết các kiến thức này (41,3%)[24]

Nguyễn Văn Hòa cùng cộng sự đã khảo sát Kiến thức về phòng chống thiếu máu ở PNMT và cho con bú tại TP Huế Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong tổng số

281 PNMT tham gia vào nghiên cứu có 204 PNMT có kiến thức tốt về thiếu máu (chiếm 72,6%) Trình độ học vấn và nghề nghiệp có liên quan với kiến thức về phòng chống thiếu máu của PNMT Bà mẹ lao động phổ thông kiến thức đạt cao nhất là 57,3%, tiếp theo là nội trợ/ở nhà (23,9%) và cuối cùng là cán bộ công chức

(18,8%) (p<0,05) Bà mẹ có trình độ trung học cơ sở có hiểu biết đúng cao nhất với

tỷ lệ 50,7%, tiếp đến là bà mẹ có trình độ từ trung học phổ thông trở lên (37,1%) và

HUPH

Trang 22

1.6.2 Tiền sư ̉ sinh đẻ

Nghiên cứu của Phạm Thị Ngọc Bích tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã cho kết luâ ̣n rằng, những phụ nữ tuổi sinh đẻ có 3 con trở lên hoặc có khoảng cách giữa 2 lần mang thai dưới 3 năm có liên quan chặt chẽ đến tình trạng thiếu máu của thai phụ Những thai phụ đẻ từ 3 lần trở lên tỷ lệ thiếu máu là cao nhất (43,5%), tiếp theo là thai phụ đẻ lần đầu (33,0%) và thấp nhất là thai phụ đẻ lần 2 (31,7%) Trong nhóm thai phụ có khoảng cách sinh lần này so với lần sinh trước dưới 3 năm, tỷ lệ

bị thiếu máu cao nhất (46,4%) và ở những thai phụ có khoảng cách sinh trên 5 năm

tỷ lệ thiếu máu thấp nhất (31,55) Ngoài ra, thai phụ đa thai, thai phụ mắc tiền sản giật có nguy cơ thiếu máu cao hơn thai phụ chửa một thai[1]

Nguyễn Nhâ ̣t Quang cũng đã cho thấy số lần sinh con liên quan đến tình trạng thiếu máu của PNMT 3 tháng đầu Phụ nữ sinh lần 2 trở lên có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2,4 lần so với phụ nữ sinh dưới 2 lần (p<0,001); Phụ nữ sinh lần 3 trở lên

có nguy cơ thiếu máu còn cao hơn nữa, cao gấp 4,3 lần so với phụ nữ sinh dưới 3 lần (p<0,001)[18] Kết quả của Phạm Thị Đan Thanh tại Bạc Liêu chỉ ra thai phụ sinh từ 3 lần trở lên có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt gấp 12 lần so với thai phụ mang thai lần đầu[25] Nghiên cứu của Đặng Oanh với PNMT dân tộc thiểu số ta ̣i Đắk Lắk cũng cho thấy phụ nữ sinh trên 4 lần có nguy cơ thiếu máu gấp 3,5 lần bình thường[16] Nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài cũng tìm ra kết quả tương tự Nghiên cứu của Taseer và cộng sự trên 250 PNMT ở miền nam Punjab, Pakistan cho thấy thiếu máu liên quan với PNMT nhiều lần[43] Nghiên cứu của Jenmal Haider trên 970 phụ nữ từ 15-49 tuổi tại Ethiopia chỉ ra mối liên quan giữa việc có nhiều con và tình trạng thiếu máu[38]

Viê ̣c uống sắt trong thai kỳ ảnh hưởng đến thiếu máu cũng được Nguyễn Nhân Thành và cô ̣ng sự chứng minh trong nghiên cứu của mình tại Hà Nam PNMT uống sắt ít nhất 2 tháng trong thai kỳ có tỷ lê ̣ thiếu máu thiếu sắt thấp hơn PNMT không uống sắt đủ 2 tháng (6,0% so với 10,6%, p<0,05)[24] Tương tự, nghiên cứu ta ̣i Đắk Lắk của Đặng Oanh cũng chỉ ra PNMT không dùng các chế phẩm chứa sắt có nguy

cơ thiếu máu gấp 6,8 lần bình thường[16]

HUPH

Trang 23

Tiền sử bê ̣nh tật và bê ̣nh tật hiê ̣n tại

Một trong những tác hại của ký sinh trùng đường ruột, đặc biệt là giun móc gây ra là chảy máu mãn tính gây thiếu máu thiếu sắt Phụ nữ tuổi sinh đẻ, PNMT và trẻ em là những đối tượng có nhu cầu cao về sắt và cũng là đối tượng có nguy cơ nhiễm giun cao[3] Năm 2005, Belachew T và Legesse Y nghiên cứu trên 168 phụ

nữ có thai (PNCT) tới khám tại bệnh viện Trường Đại học Jima - Tây Nam Ethiopia kết luận những thai phụ có tiền sử nhiễm giun móc, tỷ lệ thiếu máu cao gấp 2 lần những thai phụ không có tiền sử nhiễm giun móc Những thai phụ không đi giày, dép trong sinh hoạt và lao động (một trong số những nguyên nhân làm tăng nguy cơ nhiễm giun sán) có tỷ lệ thiếu máu cao gấp 3 lần thai phụ khác[42] Nghiên cứu của Zeina Makhoul và cộng sự, trên 3.531 phụ nữ sống ở vùng đồng bằng Đông Nam Nepal cho thấy nhiễm giun móc làm tăng nguy cơ thiếu máu nặng tiến triển và thiếu máu thiếu sắt[39]

Tại Việt Nam, năm 2008, nghiên cứu của Nguyễn Song Tú tại huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên chỉ ra những phụ nữ tuổi sinh đẻ nhiễm giun có nguy cơ mắc thiếu máu gấp 4 lần so với những người không nhiễm[23] Mối liên quan này cũng được tìm thấy qua nghiên cứu của Nguyễn Nhật Quang tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh PNMT nhiễm giun móc có nguy cơ thiếu máu cao gấp 14,6 lần phụ nữ không

bị nhiễm giun móc (p<0,001)[18]

Tiếp cận, cung cấp dịch vụ tư vấn và chăm sóc PNMT

Việc tiếp cận được các thông tin giáo dục sức khỏe có ảnh hưởng lớn đến kiến thức của người PNMT về chăm sóc thai kỳ, những vấn đề cần thiết như tăng cường dinh dưỡng, uống bổ sung sắt, v.v Cung cấp dịch vụ chăm sóc thai nghén và tư vấn cho PNMT là rất quan trọng trong việc bảo đảm sức khỏe cho bà mẹ và thai nhi nói chung và phòng chống thiếu máu nói riêng Năm 2010, Lê Minh Chính đã tiến

hành nghiên cứu về Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang thai tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của biện pháp can thiệp Mô hình

giáo dục phòng chống thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu, đã phối hợp giữa các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe với các giải pháp kỹ thuật, các chương trình đào tạo tăng cường năng lực cho cán bộ y tế trong tư vấn chăm sóc hỗ trợ PNMT Kết quả

HUPH

Trang 24

can thiệp đã làm giảm 27,3% tỷ lệ thiếu máu ở PNMT[7] Điều đó cũng đã cho thấy tầm quan trọng trong tiếp cận dịch vụ y tế của PNMT để phòng chống thiếu máu Nghiên cứ u của Phan Thị Ngọc Bích (2008) cũng nhâ ̣n đi ̣nh rằng thiếu tư vấn, dịch vụ y tế kém có ảnh hưởng đến tình trạng thiếu máu của PNMT[1]

Những đối tượng không tiếp cận hoặc gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ

y tế chủ yếu là người dân tô ̣c, người có trình độ văn hóa thấp và kinh tế nghèo[32] Điều này cho thấy viê ̣c tiếp câ ̣n di ̣ch vu ̣ tư vấn về kiến thức liên quan tới mang thai ở nhóm này cũng thấp hơn so với các đối tượng khác, đồng nghĩa với viê ̣c ho ̣ gă ̣p nhiều bất lợi hơn trong viê ̣c thực hành tốt trong mang thai, là mô ̣t phần nguyên nhân gây nên thiếu máu ở PNMT

1.6.3 Yếu tố gia đi ̀nh

Yếu tố kinh tế

Nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương của Phan Thị Ngọc Bích đã ghi nhận, tỷ lệ thiếu máu cao hơn ở những người nghèo, người sống ở vùng kinh tế khó khăn[1] Năm 2012, Nguyễn Nhật Quang cũng đã tìm hiểu mối liên quan giữa điều kiện kinh tế hộ gia đình và tình trạng thiếu máu của PNMT trong 3 tháng đầu thai

kỳ nhưng chưa tìm thấy mối liên quan rõ ràng Tuy nhiên, kết quả cũng cho thấy nhóm PNMT nghèo có tỷ lê ̣ thiếu máu cao hơn (31,8% so với 21,5%)[18]

Điều kiê ̣n kinh tế không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bữa ăn của PNCT có đủ chất dinh dưỡng không, có uống bổ sung sắt không mà còn ảnh hưởng đến những yếu tố gián tiếp dẫn đến thiếu máu (điều kiê ̣n vê ̣ sinh có đảm bảo để phòng chống giun sán, chống muỗi sốt rét, đảm bảo vê ̣ sinh chế biến thực phẩm, v.v )

Hỗ trợ từ chồng và các thành viên trong gia đình

Chồng và các thành viên trong gia đình chủ yếu hỗ trợ về lao động, điều kiện sinh hoạt cũng như chế đô ̣ ăn uống Trong những giai đoạn quan trọng trong thai kỳ

(3 tháng đầu, 3 tháng cuối) chế độ ăn uống hay nghỉ ngơi sẽ ảnh hưởng khá nhiều

đến PNMT Đôi khi do người phụ nữ ăn chung thực phẩm với gia đình, không có bổ sung hoặc tăng số lượng các chất cần thiết thì sẽ ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng của người phụ nữ trong thời kỳ mang thai Từ đó có thể gây ra thiếu máu[31]

HUPH

Trang 25

Nghiên cứu của Nguyễn Nhâ ̣t Quang chỉ ra rằng PNMT không sống chung với cha mẹ có nguy cơ thiếu máu cao gấp 1,7 lần so với nhóm phụ nữ sống chung với cha mẹ[18] Điều này cho thấy, gia đình/người chăm sóc có liên quan đến viê ̣c thiếu máu của PNMT Trong khi Lê Minh Chính (2010) đã chứng minh trong nghiên cứu của mình rằng, theo nhiều khía cạnh khoa học và dinh dưỡng lao động, thì mức độ tiêu hao năng lượng cho các công việc nô ̣i trợ của người PNMT cũng ngang bằng với lao động nặng nhọc[7]

1.6.4 Yếu tố cô ̣ng đồng

Phong tục, tập quán về chăm sóc PNMT

Năm 2010, Lê Minh Chính tiến hành đề tài nghiên cứu định tính “Một số phong tục tập quán của người dân tộc Sán Dìu ở xã Nam Hòa, huyện Đồng Hỷ có ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản” ĐTNC là 112 phụ nữ đồng bào dân tô ̣c Sán Dìu

gồm: những người đang mang thai, bà mẹ nuôi con bú và một số phụ nữ tuổi sinh đẻ Kết luâ ̣n đã chỉ ra yếu tố rất cu ̣ thể trong phong tu ̣c tâ ̣p quán ảnh hưởng tới thiếu máu Thứ nhất, do kinh tế khó khăn, đời sống văn hóa thấp, lấy chồng và sinh con sớm trực tiếp ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản, đặc biệt là thiếu máu dinh dưỡng Thứ hai, tập quán về ăn uống kiêng khem, thiếu vệ sinh, ngoài ra do nhà bếp chật chội, gần hoặc kề bên chuồng gia súc gia cầm, giếng nước và nhà xí, vì vậy môi trường sống có nguy cơ ô nhiễm cao Trong năm, người Sán Dìu cũng có nhiều lễ tết, cúng bái có ảnh hưởng tới kinh tế và đời sống sinh hoạt hàng ngày, nhất là với chế độ dinh dưỡng ở phụ nữ sinh đẻ và nuôi con Họ cũng có tục lệ cúng ma khi ốm đau là yếu tố nguy cơ dẫn tới bệnh nặng, đưa đến trạm y tế (TYT) hoặc bệnh viện chậm trễ[7]

Những hủ tu ̣c la ̣c hâ ̣u này ảnh hưởng rất lớn tới người phu ̣ nữ dân tô ̣c khi mang thai bởi đó là nếp sống cổ truyền khó có thể xóa bỏ hoă ̣c thay đổi

Như vậy có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến thiếu máu của PNMT được đánh giá bằng định lượng và định tính trên nhiều nhóm yếu tố khác nhau, khá toàn diện và đầy đủ đã cho thấy một cái nhìn đa chiều về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến thiếu máu Trong đó có những yếu tố có thể tác động để tạo ra thay đổi mà chúng tôi muốn tìm hiểu trong nghiên cứu này

HUPH

Trang 26

1.7 Một số hoạt động phòng chống thiếu máu dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai

1.7.1 Truyền thông giáo dục sức khoẻ, nâng cao kiến thức, thực hành về phòng thiếu máu dinh dưỡng

Chiến lược Dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2001-2010 đã triển khai hiệu quả

và Chiến lược giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong

đó phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng và thiếu máu dinh dưỡng là một trong những mục tiêu quan trọng trong giai đoạn tới[6] Các hoạt động tập huấn và đào tạo kiến thức về phòng chống thiếu máu được thực hiện trong nhiều năm qua góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở trong triển khai chương trình Truyền thông giáo dục dinh dưỡng cho cộng đồng cũng chú trọng đến các thông điệp về phòng chống thiếu máu lồng ghép vào các thông điệp chung về dinh dưỡng: Đa dạng hóa bữa ăn, phối hợp nhiều loại thực phẩm; Bữa ăn hợp lý bao gồm: bữa ăn cung cấp đủ năng lượng, đủ chất dinh dưỡng cần thiết và cân đối Thành phần bữa

ăn hợp lý khi cỏ đủ 04 nhóm thức ăn là tinh bột, chất đạm, chất béo và vitamin

1.7.2 Các biện pháp dinh dưỡng hợp lý, tăng cường vi chất

Đa dạng hóa bữa ăn là giải pháp bền vững nhất để cải thiện tình trạng vi chất của người dân Cần cung cấp đủ năng lượng và các thực phẩm giàu sắt cho người

mẹ, hướng dẫn lựa chọn các thực phẩm giàu sắt, hạn chế sử dụng các thực phẩm hay đồ uống chứa chất ức chế hấp thu sắt như nước chè đặc, cà phê Khuyến khích cách chế biến hạt nẩy mầm, lên men như làm giá đỗ, dưa chua để tăng lượng vitamin C và giảm acid phytic trong thực phẩm

Bổ sung viên sắt được xem là một trong những giải pháp quan trọng trong việc giải quyết tình trạng thiếu máu do thiếu sắt Giải pháp này có khả năng cải thiện nhanh tình trạng sắt trên cộng đồng và đặc biệt có giá trị trong những trường hợp tăng nhu cầu trong một giai đoạn ngắn và biết trước được (như bổ sung trong giai đoạn có thai, trẻ em đang lớn, phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ) Đối với PNCT: Uống viên sắt từ khi phát hiện mang thai cho đến 1 tháng sau đẻ Uống đều đặn hàng ngày, mỗi ngày 1 viên

1.7.3 Phòng và điều trị các bệnh nhiễm ký sinh trùng, sốt rét và vệ sinh môi trường

Phòng chống các bệnh nhiễm ký sinh trùng, sốt rét, nhiễm trùng cũng là một trong những giải pháp phòng chống thiếu máu Cải thiện môi trường được coi là yếu

tố cần thiết đi kèm trong tất cả các can thiệp phòng chống thiếu máu hay thiếu vi

HUPH

Trang 27

chất ở các nước đang phát triển như nước ta Định kỳ tẩy giun, đặc biệt giun móc sẽ

có tác động tới cải thiện tình trạng sắt Khuyến nghị tẩy giun định kỳ hàng năm bằng Mebendazol và Albendazol, đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em trên 2 tuổi

Các giải pháp phối hợp vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân: Khuyến khích thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sử dụng nước sạch cho ăn uống Xử lý phân rác hợp vệ sinh, không dùng phân tươi bón ruộng, sử dụng bảo hộ lao động khi làm nông nghiệp

1.7.4 Tăng cường sắt vào thực phẩm

Tăng cường sắt vào thực phẩm là một giải pháp lựa chọn chiến lược có hiệu quả và an toàn cao Tăng cường sắt vào thực phẩm đã được triển khai tốt ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Trên thế giới sắt được tăng cường vào các loại thức ăn như sữa, bột ngũ cốc, bánh mì, mì ăn liền, sữa bột đậu tương, bánh bích quy Ở Việt Nam sắt được tăng cường vào nước mắm, bánh bích qui, bánh dinh dưỡng Mumsure cho phụ nữ trước khi có thai, phụ nữ có thai và cho con bú, bột dinh dưỡng cho thời kỳ ăn bổ sung, bột dinh dưỡng Growsure, v.v…

1.8 Mô ̣t số đă ̣c điểm của đi ̣a bàn nghiên cứu

Hình 1.2 Bản đồ hành chính huyện Lệ Thủy

HUPH

Trang 28

Lệ Thủy là một huyện của tỉnh Quảng Bình với địa hình đa dạng gồm miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển Thành phần chủ yếu là người dân tộc Kinh và Vân Kiều Về cơ bản, người Kinh và các dân tộc khác ở 28 xã của huyện Lệ Thủy

có chung những đặc điểm về văn hóa, xã hội, điều kiện kinh tế, đời sống sinh hoạt, đồng thời vẫn còn lưu giữ những phong tục tập quán và truyền thống của từng dân tộc Nghề nghiệp chủ yếu của người dân nơi đây là làm nông nghiệp; trồng lúa, rau, nuôi trồng thủy sản; chăn nuôi gia súc: bò sữa, heo, v.v…

Các xã đều có nhà văn hóa xã, có trang bị phương tiện loa, đài, truyền thông Hàng năm, các TYT xã đều có các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe, với các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em Tuy nhiên, chưa có chương trình nào chú trọng vào phòng chống thiếu máu cho PNMT Các xã đều đạt chuẩn Quốc gia về y tế Mỗi TYT có từ 5 đến 8 cán bộ, trong

đó Trưởng trạm và Phó trạm đều là người Kinh ở tại địa phương[28]

Ta ̣i huyê ̣n Lê ̣ Thủy, tổ chức Plan – International cũng đã có chương trình can thiệp dinh dưỡng cho PNMT ta ̣i 2 xã của huyê ̣n Tổ chức Plan –

International (dươ ́ i đây sẽ gọi là tổ chức Plan) là tổ chức nhân đa ̣o, phi chính

phủ và phát triển cô ̣ng đồng Chương trình can thiê ̣p Cải thiê ̣n sức khỏe Bà me ̣ và Trẻ em của tổ chức Plan được triển khai ta ̣i huyê ̣n Lê ̣ Thủy và Minh Hóa của tỉnh Quảng Bình trong 4 năm từ năm 2009 - 2013 2 huyê ̣n Lê ̣ Thủy và Minh Hóa là nơi

cư trú chủ yếu của các dân tô ̣c Vân Kiều, Khua, Mày, Sáy Du ̣c, Tho ̣ và Arem Theo thống kê năm 2010, số hô ̣ nghèo ta ̣i 2 huyê ̣n Lê ̣ Thủy và Minh Hóa lần lượt là 20,1% và 65,4% Ở cả 2 huyê ̣n đi ̣a hình hiểm trở, đi la ̣i khó khăn, đă ̣c biê ̣t vào mùa mưa, mô ̣t số thôn ở xa hầu như bi ̣ cô lâ ̣p với trung tâm xã bởi ngập lu ̣t Tình hình

bê ̣nh tâ ̣t và tử vong trẻ em ở 2 huyê ̣n này chiếm tỷ lê ̣ cao[22]

Ta ̣i huyê ̣n Lê ̣ Thủy, từ năm 2010 tổ chức Plan can thiê ̣p ta ̣i 2 xã: 1 xã vùng biển (xã Sen Thủy), 1 xã vùng núi (xã Ngân Thủy) với mục tiêu cải thiê ̣n chất lượng chăm sóc sức khỏe bà me ̣ và trẻ sơ sinh[22]

Các hoa ̣t đô ̣ng chủ yếu của chương trình do Plan tổ chức ta ̣i 2 xã này gồm: Cung cấp kiến thức về chăm sóc sức khỏe bà me ̣ và trẻ nhỏ; Thực hành bữa ăn đầy chất dinh dưỡng cho trẻ; Đào ta ̣o, tập huấn cho nhân viên y tế từ thôn bản cho đến

HUPH

Trang 29

xã, huyê ̣n về làm me ̣ an toàn và dinh dưỡng đồng thời hỗ trợ trang thiết bi ̣ chăm sóc sản khoa thiết yếu[22]

Đánh giá cuối kỳ của dự án được thực hiê ̣n vào năm 2013 đã đưa ra mô ̣t số kết quả tích cực khi tỷ lê ̣ rất cao phu ̣ nữ có thai có hiểu biết và thực hành đúng về chăm sóc sức khỏe khi mang thai[22] Đây cũng là tiền đề tích cực cho lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại địa bàn này để có thể đưa ra những khuyến nghị phù hợp hướng tới những can thiệp có hiệu quả tại địa bàn nghiên cứu

HUPH

Trang 30

KHUNG LÝ THUYẾT Các yếu tố ảnh hưởng tới thiếu máu của phu ̣ nữ mang thai

Đă ̣c điểm cá nhân:

- Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi, dân tô ̣c,

trình độ học vấn, nghề nghiê ̣p

- Kiến thức, thư ̣c hành về thiếu máu ở PNMT

- Chăm sóc trong thời gian mang thai (chế độ

dinh dưỡng, lao động, nghỉ ngơi)

Thiếu máu ở

phu ̣ nữ mang thai

Yếu tố gia đình:

- Kinh tế

- Vù ng, miền sinh sống

- Tình tra ̣ng hôn nhân

Yếu tố cô ̣ng đồng

- Tiê ́p cận truyền thông

- Phong tu ̣c, tập quán về chăm sóc PNMT

Tiền sử sinh đẻ và bê ̣nh tâ ̣t của me ̣,

tình tra ̣ng thai

(sô ́t rét, nhiễm giun, bê ̣nh mạn tính )

- Tiếp câ ̣n di ̣ch vu ̣ y tế và tư vấn dinh dưỡng khi mang thai (uống viên sắt, acid folic )

HUPH

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

PNMT trong danh sách quản lý của tra ̣m y tế ta ̣i 8 xã được cho ̣n vào nghiên cứu ta ̣i huyê ̣n Lê ̣ Thủy – Quảng Bình

Tiêu chí chọn lựa:

 PNMT đang mặt tại thời điểm tiến hành thu thâ ̣p số liê ̣u cho nghiên cứu (14/3/2016 – 29/3/2016)

 Đối tượng có đầy đủ khả năng nghe, nói, không có dị tật bẩm sinh

2.2 Thời gian và đi ̣a điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016

Đi ̣a điểm: 8 xã của huyê ̣n Lê ̣ Thủy, Quảng Bình

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang sử du ̣ng phương pháp đi ̣nh lượng

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu

Áp dụng công thức xác định cỡ mẫu cho ước lượng một tỷ lệ:

d: Sai số cho phép 0,05

DE (Design effect): Hiệu lực thiết kế để hạn chế sai số của chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn, chọn DE = 1,5

Thay số vào công thức, tính được n = 508

xDE d

p p

Z

2

) 1

( 

 

HUPH

Trang 32

Dự trù 5% đối tượng không tham gia nghiên cứu vì những lý do khác nhau

Cỡ mẫu của nghiên cứu là 533 đối tượng

2.5 Phương pháp chọn mẫu

Huyện Lê ̣ Thủy có 28 xã/thị trấn (14 xã vùng núi, 6 xã vùng đồng bằng và 8 xã vùng biển) Trong đó có 2 xã là Ngân Thủy thuô ̣c vùng núi và Sen Thủy thuô ̣c vùng biển được can thiê ̣p về Cải thiê ̣n sức khỏe bà me ̣ và trẻ em từ năm 2009 bởi tổ chức Plan[22] không được cho ̣n vào mẫu nghiên cứu của chúng tôi

Áp du ̣ng phương pháp chọn mẫu phân tầng, cu ̣ thể theo các bước như sau:

Bước 1 (chia xã theo vùng sinh thái):

Có 3 vùng sinh thái, kinh tế, xã hội khác nhau rõ rệt gồm: vùng núi (13 xã),

vùng đồng bằng (6 xã) và vùng biển (7 xã) (đã trừ 2 xã được can thiê ̣p)

Bước 2 (chọn xã): Bằng cách bắt thăm ngẫu nhiên 8 xã (để đảm bảo tỷ lê ̣

tương ứng số lượng các xã trong mỗi vùng) Cu ̣ thể như sau:

- Vùng núi (13 xã): Bắt thăm ngẫu nhiên 4 xã (đảm bảo có 2 xã miền núi có người dân tộc Vân Kiều - đa ̣i diê ̣n cho xã vùng núi phần lớn có người dân tộc sinh sống)

- Vùng đồng bằng (6 xã): Bắt thăm ngẫu nhiên 2 xã

- Vùng biển (7 xã): Bắt thăm ngẫu nhiên 2 xã

Sau khi gắp thăm ngẫu nhiên, cho ̣n được các xã theo vùng sinh thái trong nghiên cứu như sau:

- Vùng núi: Phú Thủy, Thái Thủy, Kim Thủy, Lâm Thủy

- Vùng biển: Ngư Thủy Nam, Hưng Thủy

- Vùng đồng bằng: An Thủy, Phong Thủy

Bước 3 (lập danh sách PNMT tại các xã nghiên cứu): Ta ̣i mỗi xã, tiến hành

lâ ̣p la ̣i toàn bô ̣ danh sách PNMT được cung cấp theo kênh y tế thôn bản ta ̣i mỗi thôn Bước này được tiến hành trước thời điểm thu thâ ̣p số liê ̣u nửa tháng

Kết quả sau khi khảo sát la ̣i số liê ̣u PNMT ta ̣i thời điểm trước khi tiến hành nghiên cứu thu thâ ̣p số liê ̣u ta ̣i 8 xã như sau:

HUPH

Trang 33

Bảng 2.1 Số lượng PNMT trong danh sách quản lý TYT tại 8 xã nghiên cứu

Vùng sinh thái Xã Số PNMT

Bước 4 (chọn đối tượng nghiên cứu): Do số lượng PNMT ta ̣i 8 xã được cho ̣n

vào nghiên cứu so với cỡ mẫu cần thiết của nghiên cứu không chênh nhau nhiều, nghiên cứu quyết đi ̣nh lựa cho ̣n toàn bô ̣ số PNMT ở 8 xã vào nghiên cứu

Kết quả thu thâ ̣p số liê ̣u: Trong quá trình nghiên cứu, do mô ̣t số đối tượng đang đi làm ăn xa/ vắng nhà trong thời gian nghiên cứu Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn, xét nghiê ̣m máu và phân với 536 PNMT ở 8 xã được cho ̣n vào nghiên cứu Cu ̣ thể:

Bảng 2.2 Số lượng PNMT tại 8 xã nghiên cứu tham gia vào nghiên cứu

Vùng sinh thái Xã Số PNMT

Trang 34

2.6 Phương pháp thu thâ ̣p số liê ̣u

2.6.1 Lấy ma ́ u, phân xét nghiê ̣m và phỏng vấn trực tiếp PNMT theo bộ câu hỏi

Ky ̃ thuật lấy mẫu máu: Các kỹ thuật viên xét nghiệm của Trung tâm Y tế

(TTYT) huyện Lệ Thủy phối hợp với các TYT xã tổ chức lấy bệnh phẩm tại TYT

xã Lấy 2ml máu tĩnh mạch PNMT, cho vào ống EDTA, lắc đều và bảo quản ở nhiệt

độ 40C và đưa vào máy phân tích huyết học tự động 18 thông số Celltac alpha làm xét nghiệm Hb xác định tình trạng thiếu máu dinh dưỡng (Chi tiết xem tại Phụ lục

5, trang 69)

Kỹ thuật lấy mẫu phân: Sử dụng phương pháp đếm trứng giun nhằm xác định

tình trạng nhiễm giun móc Lấy phân của ĐTNC và đưa vào lam kính Phân được hòa tan trong nước muối bão hòa Trứng giun có tỷ trọng nhẹ hơn tỷ trọng của nước muối bão hòa nên nổi trên mặt nước, dính vào thủy tinh (lam kính) và được lấy ra

để quan sát dưới kính hiển vi (Chi tiết xem tại Phụ lục 6, trang 71)

Phỏng vấn bà mẹ mang thai: Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu đã thiết kế sẵn

để thu thâ ̣p các thông tin liên quan tới các biến số nghiên cứu

2.6.2 Công cụ thu thập số liệu

Phiếu xét nghiệm máu và phiếu xét nghiệm phân được cung cấp cho bệnh nhân nhằm thu thập kết quả chẩn đoán tình trạng thiếu máu và nhiễm giun

Phiếu điều tra được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi của một số nghiên cứu về vấn đề này đã được triển khai trước đây[1, 7, 16, 18, 23-25] Bộ phiếu được thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi khảo sát chính thức Bộ câu hỏi gồm các nội dung chính: Thông tin chung về đặc điểm nhân khẩu học và gia đình của ĐTNC; Tình trạng sản khoa và tiền sử bệnh tật; Tình trạng mang thai hiện tại và Tiếp cận dịch vụ

y tế trong thai kỳ

(Chi tiết xem tại Phụ lục 3, 4 trang 64, 66)

2.6.3 Thu thâ ̣p số liê ̣u

Đi ̣a điểm: Ta ̣i TYT của 8 xã được cho ̣n trong nghiên cứu

Thời gian: Tiến hành mỗi xã một ngày

HUPH

Trang 35

Bảng 2.3 Thời gian thu thập số liệu tại 8 xã nghiên cứu

Vùng sinh thái Xã Thời gian thu thâ ̣p số liê ̣u

Vùng núi

Phú Thủy Ngày 24/3/2016 Thái Thủy Ngày 29/3/2016

Kim Thủy Ngày 22/3/2016 và

Chiều 30/3/2016 Lâm Thủy Ngày 30/3/2016

Vùng biển Ngư Thủy Nam Ngày 21/3/2016

Hưng Thủy Ngày 17/3/2016

Vùng đồng bằng An Thủy Ngày 14/3/2016

Phong Thủy Ngày 15/3/2016

Các bước triển khai thu thập số liê ̣u:

Bước 1: Thống nhất kế hoa ̣ch với các TYT xã

Bước 2: Qua nhân viên y tế thôn bản gửi giấy mời tới PNMT và dă ̣n dò các

điều cần thiết liên quan tới viê ̣c chuẩn bị xét nghiệm máu và cung cấp cho PNMT lo ̣ đựng bê ̣nh phẩm và hướng dẫn lấy phân trước khi tới TYT

Bước 3: Tổ chức buổi thu thâ ̣p số liê ̣u:

 PNMT khi tới TYT được đánh dấu vào danh sách có sẵn

 Phỏng vấn PNMT theo bô ̣ câu hỏi thiết kế sẵn

 Tiến hành thu mẫu phân (đã được phát lo ̣ đựng bê ̣nh phẩm từ trước): lấy máu xét nghiê ̣m và Các mẫu bê ̣nh phẩm gồm máu và phân được mã hóa theo số của ĐTNC và bảo quản theo quy trình lấy mẫu máu, phân theo quy

đi ̣nh Tình trạng thiếu máu được thông báo trực tiếp cho PNMT ngay sau khi có kết quả PNMT bị thiếu máu sẽ được cán bộ y tế tư vấn, hỗ trợ giải đáp các thông tin đến bệnh, được bảo mật thông tin và đưa vào danh sách quản lý của TYT xã

HUPH

Trang 36

 Cán bô ̣ nghiên cứu kết hợp với CBYT của TTYT dự phòng huyện Lệ Thủy, cán bộ TYT xã tư vấn, cung cấp mô ̣t số thông tin liên quan tới theo dõi thai kỳ và chế đô ̣ dinh dưỡng, lao đô ̣ng cho PNMT

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thu thập số liệu

2.7 Các biến số nghiên cứu

Khu vực cổng vào

BƯỚC 2: PHỎNG VẤN

Phòng họp

BƯỚC 3: LẤY MẪU PHÂN

Phòng bệnh 2

BƯỚC 6: KHU VỰC TƯ VẤN,

CUNG CẤP THÊM THÔNG TIN

VỀ NGHIÊN CỨU, GIẢI ĐÁP

THẮC MẮC

Phòng dân số kế hoạch hoá gia đình

BƯỚC 4: KHU VỰC LẤY MÁU XÉT NGHIỆM

Phòng bệnh 1

BƯỚC 5

GIẢI KHÁT

HUPH

Trang 37

- Tiếp cận dịch vụ y tế trong thai kỳ (khám thai, tư vấn về dinh dưỡng khi khám thai, tư vấn về thiếu máu, v.v )

(Chi tiết xem tại phụ lục 1, trang 60)

HUPH

Trang 38

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá

Đánh giá thiếu máu:

Đánh giá mức độ nhiễm giun: Đánh giá tình trạng nhiễm giun dựa vào số

trứng giun, sán/1g phân; phân loại theo WHO 2002[45]

- Nhiễm nhẹ: 1-1,999 epg

- Nhiễm trung bình: 2 – 3,999 epg

- Nhiễm nặng: ≥ 4,000 epg

Đánh giá nghèo và cận nghèo:

Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận

đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 ban hành ngày 19/11/2015

- Chuẩn nghèo: Thu nhập 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và

900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị

- Chuẩn cận nghèo: Thu nhập 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông

thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị[27]

2.9 Xử lý số liệu

Xét nghiê ̣m máu và phân: Kết quả được ghi ra phiếu xét nghiê ̣m sinh hóa và

xét nghiê ̣m phân theo mẫu quy đi ̣nh chung của Bô ̣ Y tế Sau khi phân tích xong, các kết quả được nhâ ̣p vào phần mềm Epidata 3.1 cùng với kết quả thu thâ ̣p thông tin qua phỏng vấn bà me ̣

Kết quả phỏng vấn đi ̣nh lượng PNMT: Các thông tin thu thâ ̣p được làm sa ̣ch

trước khi nhâ ̣p vào phần mềm Epidata Số liê ̣u được xuất sang đi ̣nh da ̣ng SPSS, làm

sa ̣ch, mã hóa và tiến hành phân tích Thống kê mô tả: Sử dụng frequency để mô tả tần

số, tỷ lệ với các biến định tính; sử dụng trung bình, độ lệch chuẩn hoặc trung vị, min,

HUPH

Trang 39

max để mô tả với biến định lượng Thống kê phân tích: Sử dụng kiểm định χ2 và p với mức ý nghĩa <0,05 để xác định các yếu tố liên quan tới viê ̣c thiếu máu ở PNMT

2.10 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức Trường Đại học YTCC thông qua trước khi tiến hành triển khai trên thực địa Khi tiến hành nghiên cứu, các đối tượng đã được giải thích hiểu rõ về những yêu cầu của nghiên cứu và chỉ tiến hành làm nghiên cứu với người tự nguyện tham gia Trong quá trình điều tra, đối tượng có quyền quyết định ngừng tham gia nghiên cứu hoặc không trả lời câu hỏi ở bất kỳ thời điểm nào

Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác Mọi thông tin cá nhân sẽ được giữ kín và

mã hóa trong nghiên cứ u

Nghiên cứu không làm ảnh hưởng tới sức khỏe người tham gia và cộng đồng nơi tiến hành nghiên cứu Phương pháp lấy máu và máu xét nghiệm đã được chuẩn hóa, đồng thời kỹ thuật viên lấy máu là người đã được tập huấn kỹ và có kỹ năng tốt làm xét nghiệm Các dụng cụ như bơm, kim tiêm, thuốc men và các xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu đảm bảo vệ sinh, an toàn theo đúng các quy định của ngành

y tế Thêm vào đó, kết hợp với thu thâ ̣p thông tin phu ̣c vu ̣ cho nghiên cứu, nhóm nghiên cứu chúng tôi còn kết hợp với TYT cung cấp và tư vấn mô ̣t số kiến thức cơ bản trong thai kỳ cho PNMT, mang la ̣i lợi ích thiết thực cho đối tượng tham gia nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu và những khuyến nghị được sử dụng vào mục đích phục

vụ sức khỏe của cộng đồng, không vụ lợi kinh tế và không ảnh hưởng đến cá nhân, tập thể ở địa phương Các kết quả điều tra đều được thông báo cho TYT xã nắm tình hình và kịp thời điều trị cho những trường hợp cần thiết

2.11 Khó khăn, hạn chế và biện pháp khắc phục

Khó khăn, hạn chế:

Xét nghiệm Hb trong máu chỉ xác định được tình trạng thiếu máu dinh dưỡng

mà không thể chỉ rõ vi chất mà đối tượng thực sự thiếu (sự thiếu hụt dự trữ sắt, acid folic hay vitamin B12) Một số xét nghiệm như: Hematocrit hay Ferritin để xác định

HUPH

Trang 40

lượng sắt dự trữ có thể cho biết nguyên nhân thiếu máu dinh dưỡng đó có phải do thiếu sắt hay không Tuy nhiên những xét nghiệm này khá đắt tiền và mục tiêu trong nghiên cứu này là tìm hiểu chung về thiếu máu dinh dưỡng, do vậy xét nghiệm được sử dụng là xét nghiệm Hb máu được thực hiện bằng phương pháp Cyanmethemoglobin

Việc thực hiện lấy máu xét nghiệm đòi hỏi công tác chuẩn bị tốt, và một số ĐTNC còn lo ngại cảm giác sợ đau, sự lây truyền các bệnh qua đường máu ngày càng gia tăng Việc lấy phân để xét nghiệm xác định tình trạng nhiễm giun cũng đòi hỏi công tác chuẩn bị kỹ càng và cần có hướng dẫn cụ thể cho đối tượng về cách lấy phân và đối tượng phải lấy đúng phân của mình

Nghiên cứu cũng sử dụng kết hợp lấy máu, xét nghiệm phân và phỏng vấn đối tượng do vậy cần nhiều thời gian của đối tượng và cán bộ y tế

Biện pháp khắc phục sai số:

Để khống chế sai số trong điều tra ban đầu, phiếu điều tra được soạn thảo và cho điều tra thử, sau đó chỉnh sửa cho phù hợp trước khi mang đi điều tra hàng loạt Đội ngũ điều tra viên được tập huấn, trước khi điều tra tại cộng đồng Trong quá trình thu thập, nghiên cứu viên giám sát và hỗ trợ điều tra viên chặt chẽ Sau mỗi buổi điều tra, các phiếu được làm sạch ngay tại xã và rút kinh nghiệm cho ngày điều tra tiếp theo Kết quả xét nghiệm máu chỉ được thông báo cho người phụ nữ sau khi họ đã hoàn thành xong phỏng vấn hoặc dừng nghiên cứu, nhằm hạn chế sai số khi phỏng vấn

Các nhóm thu thập số liệu làm việc độc lập, nhóm phỏng vấn không được biết

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:33

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w