1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016

82 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố Mỹ Tho năm 2016
Tác giả Thái Ngọc Hạnh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hùng Vĩ, ThS. Đỗ Thị Hạnh Trang
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. THỪA CÂN, BÉO PHÌ (14)
      • 1.1.1. Một số khái niệm, định nghĩa (14)
      • 1.1.2. Đánh giá thừa cân, béo phì (14)
    • 1.2. THỰC TRẠNG TCBP Ở TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM (16)
      • 1.2.1. Tình hình thừa cân béo phì trên thế giới (16)
      • 1.2.2. Tình hình thừa cân, béo phì tại Việt Nam (17)
    • 1.3. HẬU QUẢ CỦA THỪA CÂN, BÉO PHÌ (18)
      • 1.3.1. Ảnh hưởng tới sức khoẻ (18)
      • 1.3.2. Tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong (19)
      • 1.3.3. Liên quan thừa cân, béo phì và bệnh tim mạch (19)
      • 1.3.4. Liên quan thừa cân, béo phì và bệnh đái tháo đường (20)
      • 1.3.5. Liên quan thừa cân, béo phì và tăng huyết áp (20)
      • 1.3.6. Liên quan thừa cân, béo phì và rối loạn lipid máu (20)
      • 1.3.7. Liên quan thừa cân, béo phì và hội chứng chuyển hoá (21)
      • 1.3.8. Liên quan thừa cân, béo phì và đột quỵ (21)
      • 1.3.9. Liên quan thừa cân, béo phì và rối loạn các hormon nội tiết ảnh hưởng tới chức năng sinh sản (21)
      • 1.3.10. Liên quan thừa cân, béo phì và viêm xương khớp mạn tính và gout (22)
      • 1.3.11. Liên quan thừa cân, béo phì và ung thƣ (22)
      • 1.3.12. Liên quan thừa cân, béo phì và bệnh đường tiêu hoá (22)
      • 1.3.13. Hậu quả kinh tế và xã hội của béo phì (22)
      • 1.3.14. Béo phì và sự phát triển tâm lý xã hội ở trẻ em (23)
    • 1.4. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA TC, BP Ở TRẺ EM LỨA TUỔI HỌC ĐƯỜNG . 14 1. Khẩu phần và thói quen ăn uống (24)
      • 1.4.2. Hoạt động thể lực (24)
      • 1.4.3. Yếu tố gia đình (25)
      • 1.4.4. Những yếu tố nguy cơ khác gây thừa cân, béo phì (25)
    • 1.5. THÔNG TIN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU (26)
      • 1.5.1. Thông tin chung (26)
      • 1.5.2. Nguồn lực y tế tại thành phố M Tho (27)
      • 1.5.3. Số trường và số trẻ được quản lý ở thành phố M Tho (27)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU (29)
      • 2.2.1. Thời gian nghiên cứu (29)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (29)
    • 2.3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.4. CỠ MẪU (29)
    • 2.5. PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU (30)
    • 2.6. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU (32)
    • 2.7. CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.8. CÁC TIÊU CHÍ, TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ BIẾN SỐ (33)
    • 2.9. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU (35)
    • 2.10. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU (35)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (36)
    • 3.1. THÔNG TIN CHUNG (36)
      • 3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học (36)
      • 3.1.2. Đặc điểm kinh tế hộ gia đình (38)
    • 3.2. ĐẶC ĐIỂM TÌNH TRẠNG THỪA CÂN, BÉO PHÌ (38)
    • 3.3. THỪA CÂN, BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN (40)
      • 3.3.1. Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với các yếu tố liên quan đến trẻ (40)
      • 3.3.2. Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với các yếu tố liên quan đến gia đình trẻ (45)
      • 3.3.3. Mối liên quan giữa tình trạng TCBP ở trẻ với TCBP của cha và mẹ (47)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (48)
    • 4.1. TỈ LỆ TCBP Ở HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO (48)
    • 4.2. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI TÌNH TRẠNG TCBP Ở TRẺ (49)
      • 4.2.1. Mối liên quan giữa giới tính và thừa cân, béo phì (49)
      • 4.2.2. Mối liên quan giữa nơi cƣ trú và thừa cân, béo phì (49)
      • 4.2.3. Mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh và thừa cân, béo phì (50)
      • 4.2.4. Mối liên quan giữa thứ tự con và thừa cân, béo phì (50)
      • 4.2.5. Mối liên quan giữa trình độ học vấn của người chăm sóc và TCBP (50)
      • 4.2.6. Mối liên quan giữa nghề nghiệp của người chăm sóc và TCBP (51)
      • 4.2.7. Mối liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và TCBP (51)
      • 4.2.8. Mối liên quan giữa TCBP của cha, mẹ và TCBP của trẻ (51)
      • 4.2.9. Mối liên quan giữa thói quen ăn uống của trẻ và TCBP (52)
      • 4.2.10. Mối liên quan giữa chế độ vận động của trẻ và TCBP (54)
    • 4.3. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU (55)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN (56)
    • 5.1. TỈ LỆ THỪA CÂN, BÉO PHÌ (56)
    • 5.2. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI TÌNH TRẠNG TCBP (56)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (59)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

- Học sinh (từ 6 – 11 tuổi) đang học ở các trường tiểu học tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

- Người chăm sóc chính của các học sinh được chọn: là người dành nhiều thời gian chăm sóc trẻ nhất trong gia đình

Học sinh 6 - 11 tuổi và người chăm sóc chính của học sinh đang theo học ở các trường tiểu học tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

- Từ chối tham gia nghiên cứu

- Học sinh có tên trong các lớp đƣợc chọn nhƣng không đi học vào thời điểm thực hiện nghiên cứu

- Trẻ bị tàn tật ảnh hưởng đến việc cân đo như vẹo cột sống, dị tật bàn chân

- Vắng mặt trong 2 lần thu thập số liệu (lần cân đo, điều tra phỏng vấn đầu tiên và lần cân đo, điều tra phỏng vấn vét tại trường).

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Từ tháng 03/2016 đến tháng 07/2016 (4 tháng)

Tại các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích:

- Nghiên cứu cắt ngang mô tả để xác định thừa cân, béo phì ở học sinh tiểu học tại thành phố Mỹ Tho

Phân tích hồi quy logistic đơn biến được thực hiện nhằm xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân và béo phì ở học sinh tiểu học tại thành phố Mỹ Tho Nghiên cứu này giúp làm rõ mối liên hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng và tình trạng sức khỏe của trẻ em, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho các biện pháp can thiệp và phòng ngừa hiệu quả.

CỠ MẪU

Tính cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho m t t l

Trong đó: Chọn khoảng tin cậy 95%

Z (1-/2) = 1,96 (theo bảng phân phối chuẩn) và độ chính xác mong muốn d = 0,05 Tỉ lệ béo phì ở học sinh tiểu học được lấy từ nghiên cứu trước đó Nghiên cứu “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học tại thành phố Mỹ Tho năm 2014” của tác giả Tạ Văn Trầm và Ngô Trọng Khánh đã cung cấp những thông tin quan trọng về vấn đề này.

(2014) tỉ lệ béo phì là 19,3% (p = 0,193) [28]

Theo công thức trên, chúng tôi chọn cỡ mẫu tương ứng với: n = 240 học sinh

Cỡ mẫu hiệu chỉnh với hệ số thiết kế là 2: n = 2 x n = 2 x 240 = 480

Thêm 10% cỡ mẫu dự phòng, nhƣ vậy cỡ mẫu tối thiểu cần lấy là: n= 480 x 1,1 = 528 học sinh (làm tròn 600 học sinh).

PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU

Phương pháp chọn mẫu: lấy mẫu cụm tiến hành cụ thể như sau:

Bước đầu tiên là lập danh sách tất cả các lớp của 23 trường tiểu học theo từng khối Sau đó, chọn ngẫu nhiên 4 lớp cho mỗi khối, với mỗi lớp có trung bình khoảng 30 học sinh, tương đương với 1 cụm Tổng cộng, sẽ có 600 học sinh được khảo sát, tính theo công thức: 30 học sinh/lớp x 4 lớp/khối x 5 khối.

Bước 2: tiến hành cân, đo chiều cao học sinh và phỏng vấn phụ huynh tất cả các học sinh đã chọn HUPH

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ chọn mẫu

PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

Việc thu thập số đo nhân trắc học sinh bao gồm cân nặng và chiều cao, được thực hiện vào cuối buổi học vào thứ 7 và chủ nhật Các chỉ số này được đo bởi những người thực hiện nghiên cứu Cân nặng được ghi nhận khi học sinh không mang giày, dép và đã cởi bỏ áo khoác, với độ chính xác khác biệt mỗi 0,1 kg Chiều cao được đo từ đỉnh đầu đến gót chân khi trẻ đã cởi bỏ nón và giày, với độ chính xác ghi nhận khác biệt mỗi 0,1 cm.

Ban giám hiệu nhà trường và cô chủ nhiệm sẽ mời phụ huynh học sinh tham gia phỏng vấn thông qua học sinh vào ngày hôm sau hoặc một ngày trong tuần tiếp theo, trước giờ đón trẻ Nếu phụ huynh không thể đến sau hai lần mời, phỏng vấn sẽ được thực hiện qua điện thoại.

Thu thập số đo nhân trắc cha, mẹ học sinh: phỏng vấn người chăm sóc trẻ

Công cụ thu thập số liệu:

Cân điện tử TANITA, có khả năng cân đƣợc 150kg với độ chính xác 0,1kg, cân được kiểm tra và hiệu chỉnh trước khi cân

Thước đo chiều cao bằng gỗ của Unicef, độ chính xác 1mm

Phiếu điều tra thiết kế sẵn (phụ lục 1): gồm 2 phiếu:

Phiếu thu thập số liệu nhân trắc bao gồm các thông tin như trường, lớp, ngày cân đo, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, cân nặng và chiều cao của trẻ Các điều tra viên sẽ thu thập phiếu này tại trường học.

 Phiếu thu thập số liệu gồm 2 nội dung chính:

Thông tin về người chăm sóc trẻ và kinh tế gia đình bao gồm các yếu tố như nhân trắc của cha mẹ, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tình hình kinh tế của người chăm sóc chính Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá môi trường sống và sự phát triển của trẻ.

Thông tin liên quan đến trẻ em như cân nặng sơ sinh, thứ tự sinh trong gia đình, thói quen ăn uống và chế độ vận động hiện tại là rất quan trọng Để giảm thiểu sai số trong việc cân trọng lượng và đo chiều cao của học sinh, nhóm nghiên cứu cần thống nhất về phương pháp và dụng cụ sử dụng Cần chuẩn hóa và hiệu chỉnh cân, thước trước và trong quá trình đo, và thực hiện việc cân đo lại cho mỗi 10 trẻ một lần.

CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

Các nhóm biến số chính:

Nhóm biến số liên quan đến thông tin của trẻ bao gồm ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, cân nặng, chiều cao, cân nặng lúc sinh, và thứ tự sinh trong gia đình.

Nhóm biến số liên quan đến người chăm sóc chính của trẻ bao gồm năm sinh, mối quan hệ với trẻ, trình độ học vấn, nghề nghiệp, cũng như cân nặng và chiều cao của cả cha và mẹ.

- Nhóm biến về kinh tế xã hội: thu nhập hàng tháng của gia đình

Nhóm biến về thói quen ăn uống của trẻ bao gồm số bữa chính và bữa phụ trong ngày, thói quen ăn uống, mức độ ưa thích đồ uống ngọt, thức ăn ngọt, thức ăn béo, thức ăn nhanh, thời điểm ăn nhiều nhất trong ngày, và việc trẻ có bán trú tại trường.

Nhóm biến về chế độ vận động của trẻ bao gồm các yếu tố như phương tiện di chuyển đến trường, thời gian trẻ ngồi trước màn hình tivi, máy tính, điện thoại, iPad, thời gian học tập, thời gian bắt đầu đi ngủ vào buổi tối, và tổng thời gian ngủ trong ngày.

- Chi tiết về các biến số nghiên cứu xem tại phụ lục 2.

CÁC TIÊU CHÍ, TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ BIẾN SỐ

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của học sinh thường dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI), được tính từ số đo cân nặng và chiều cao Sau đó, tháng tuổi của học sinh sẽ được so sánh với quần thể tham khảo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Cách tính tuổi của trẻ được thực hiện bằng cách lấy ngày tháng năm điều tra trừ đi ngày tháng năm sinh Để tính tròn tuổi và tròn tháng, cần dựa vào ngày cân đo và ngày tháng năm sinh của trẻ.

Tháng tuổi = (năm điều tra - năm sinh) x 12 + (tháng điều tra - tháng sinh)

Nhóm 6 tuổi: từ 72 tháng đến 83 tháng 29 ngày

Nhóm 7 tuổi: từ 84 tháng ngày đến 95 tháng 29 ngày

Nhóm 8 tuổi: từ 96 tháng đến 107 tháng 29 ngày

Nhóm 9 tuổi: từ 108 tháng đến 119 tháng 29 ngày

Nhóm 10 tuổi: từ 120 tháng đến 131 tháng 29 ngày

Nhóm 11 tuổi: từ 132 tháng đến 143 tháng 29 ngày

Thừa cân, béo phì đƣợc đánh giá dựa vào BMI gồm 3 giá trị: béo phì, thừa cân, bình thường BMI được tính bằng công thức:

Đánh giá tình trạng thừa cân và béo phì ở học sinh từ 6 đến 11 tuổi được thực hiện thông qua chỉ số Z-SCORE về chỉ số khối cơ thể (BMI) theo tiêu chuẩn của WHO năm 2007 Cân nặng (kg) và chiều cao (m) là hai yếu tố quan trọng trong việc xác định tình trạng sức khỏe của trẻ.

Chỉ số Z-Score BMI theo tuổi Đánh giá

-2SD < Z-Score < +1SD +1 SD < Z-Score < +2SD Z-Score > +2 SD

Trẻ bình thường Trẻ thừa cân Trẻ béo phì Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì của của cha, mẹ:

Bình thường khi BMI của cha, mẹ từ: 18,5-25 Thừa cân khi BMI của cha, mẹ  25

Béo phì khi BMI của cha, mẹ  30 Định nghĩa một số biến trong nghiên cứu:

Thói quen ăn của trẻ có thể được phân loại thành ba nhóm: ăn nhanh, ăn bình thường và ăn chậm Trẻ ăn nhanh thường tiêu thụ thức ăn nhiều hơn, yêu cầu ăn ngay khi thấy thức ăn và hoàn thành bữa ăn chính trong khoảng 15 phút Trẻ ăn bình thường có xu hướng ăn vừa phải, hoàn thành phần ăn trong khoảng 15 đến 30 phút Trong khi đó, trẻ ăn chậm thường không ăn hết hoặc mất hơn 30 phút để hoàn thành bữa ăn chính.

Mức độ ưa thích của trẻ đối với thức ăn ngọt, đồ uống ngọt, thức ăn béo và thức ăn nhanh được phân loại như sau: Trẻ thích thường xuyên đòi ăn và cảm thấy ngon miệng; trẻ bình thường thì thỉnh thoảng ăn khi có, không đòi hỏi nhiều; còn trẻ không thích thì không bao giờ đòi ăn.

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

Nhập liệu được thực hiện bằng phần mềm Epidata 3.1 và tình trạng dinh dưỡng của trẻ được xác định thông qua phần mềm WHO AnthroPlus Dữ liệu sau đó được phân tích bằng SPSS 19.0, với các số thống kê quan trọng bao gồm tỉ lệ thừa cân và béo phì trong nhóm trẻ mẫu nghiên cứu, cũng như tỉ lệ phân loại và trung bình của các biến định lượng liên quan đến các yếu tố nguy cơ.

Sử dụng thống kê miêu tả như tần suất, tỉ lệ phần trăm và trung bình, T test được áp dụng để so sánh sự khác biệt giữa trung bình của hai nhóm Hồi quy logistic đơn biến được sử dụng để xác định mối liên quan giữa thừa cân, béo phì và biến độc lập là biến phân loại Giá trị p < 0,05 được coi là bằng chứng cho sự tồn tại của mối liên hệ này.

VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành cân trọng lượng và đo chiều cao của trẻ để xác định chỉ số BMI, đồng thời điều tra người chăm sóc chính thông qua bảng câu hỏi Các câu hỏi này được thiết kế phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, đã được sự chấp thuận của người tham gia phỏng vấn và không gây tổn hại cho họ Thông tin của các đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật hoàn toàn, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc y đức.

Nghiên cứu được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

THÔNG TIN CHUNG

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học:

Theo công thức tính cỡ mẫu thì dự kiến nghiên cứu sẽ đƣợc thực hiện trên

Nghiên cứu được thực hiện trên 593 học sinh từ 10 trường tiểu học tại thành phố Mỹ Tho, với mỗi lớp gồm 30 học sinh (15 nam và 15 nữ), tổng cộng 120 học sinh cho mỗi khối lớp Đặc điểm nhân khẩu học của trẻ được trình bày trong bảng 3.1.

Bảng 3.1 Thông tin về nhân khẩu học của trẻ

Nơi cƣ trú Nội thành 441 (74,4)

Kết quả nghiên cứu từ bảng 3.1 cho thấy mẫu nghiên cứu có sự cân bằng về giới tính với tỉ lệ học sinh nam chiếm 50,4% và nữ chiếm 49,6% Tuy nhiên, có sự chênh lệch lớn về nơi cư trú, khi đa số học sinh sống ở nội thành với tỉ lệ 74,4%.

Phân bố học sinh theo nhóm tuổi cho thấy nhóm 7, 8, 9, 10 tuổi có tỉ lệ cao nhất, lần lượt là 19,9%, 21,2%, 19,7% và 21,1% Trong khi đó, nhóm 6 tuổi chiếm 13,3% và nhóm 11 tuổi có tỉ lệ thấp nhất với 4,7%.

Thông tin về nhân khẩu học của người chăm sóc chính của trẻ được thể hiện qua bảng 3.2 sau đây:

Bảng 3.2 Thông tin về nhân khẩu học của người chăm sóc chính của trẻ

Trung cấp, cao đẳng 80 (13,5) Đại học và sau đại học 128 (21,6)

Lao động tay chân, công nhân, buôn bán nhỏ 253 (42,7)

Nhân viên, viên chức, lao động trí óc 182 (30,7)

Thương gia, chủ doanh nghiệp 24 (4,0)

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong mẫu nghiên cứu, mẹ là người chăm sóc chính của trẻ, chiếm 67,3%, tiếp theo là cha với 29,8%, và chỉ 2,9% là người khác Tỉ lệ mù chữ của người chăm sóc chính rất thấp, chỉ 1,2%, trong khi phần lớn đã học đến cấp 2, và tỉ lệ học đại học và sau đại học đạt 21,6%.

HUPH cho thấy rằng, trong số những người chăm sóc chính, lao động tay chân và buôn bán nhỏ chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,7% Tiếp theo là lao động trí óc và công nhân viên chức, chiếm 30,7% Người chăm sóc chính làm nội trợ chiếm 17,6%, trong khi đó, tỷ lệ người chăm sóc trẻ là thương gia, chủ doanh nghiệp chỉ chiếm 1,2%.

3.1.2 Đặc điểm kinh tế hộ gia đình: Đặc điểm kinh tế hộ gia đình đƣợc thể hiện qua bảng 3.3 sau đây:

Bảng 3.3 Thông tin về kinh tế hộ gia đình

Thu nhập trung bình hàng tháng của gia đình

Kết quả từ bảng 3.3 cho thấy chỉ có 1,9% học sinh đến từ gia đình có thu nhập trung bình hàng tháng dưới 1 triệu Tỉ lệ hộ gia đình có thu nhập từ 3 đến dưới 5 triệu là cao nhất, đạt 34,9% Các mức thu nhập từ 1 đến dưới 3 triệu, từ 5 đến dưới 7 triệu và trên 7 triệu có tỉ lệ tương đương nhau, lần lượt là 19,6%, 21,8% và 21,9%.

ĐẶC ĐIỂM TÌNH TRẠNG THỪA CÂN, BÉO PHÌ

Sau khi tiến hành cân đo nhân trắc 593 học sinh và phân tích số liệu, tình trạng thừa cân và béo phì được thể hiện trong bảng 3.4 dưới đây.

Bảng 3.4 Tỉ lệ thừa cân, béo phì chung

Tình trạng thừa cân, béo phì

Thừa cân và béo phì 256 (43,2)

Tỉ lệ thừa cân và béo phì ở học sinh tiểu học tại thành phố Mỹ Tho rất đáng lo ngại, với tổng cộng 43,2% Trong đó, tỉ lệ học sinh thừa cân là 19,1%, trong khi tỉ lệ béo phì lên tới 24,1%.

Phân tích tình trạng TCBP theo nhóm tuổi đƣợc thể hiện qua biểu đồ 3.1:

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ thừa cân và béo phì theo nhóm tuổi

Biểu đồ 3.1 cho thấy tỉ lệ thừa cân và béo phì cao nhất ở nhóm 8 tuổi (47,62%), thấp nhất ở nhóm 11 tuổi (39,29%)

Tỉ lệ thừa cân, béo phì theo giới đƣợc thể hiện qua bảng 3.5 nhƣ sau:

Bảng 3.5 Tỉ lệ thừa cân, béo phì theo giới

Biến số Thừa cân và béo phì n (%)

Bảng 3.5 chỉ ra rằng tỉ lệ thừa cân ở học sinh nam là 17,8% và ở học sinh nữ là 20,5%, cho thấy sự chênh lệch không đáng kể Tuy nhiên, tỉ lệ béo phì ở nam lên tới 32,4%, gấp hơn hai lần so với tỉ lệ béo phì ở nữ, chỉ đạt 15,6%.

THỪA CÂN, BÉO PHÌ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Sau khi xác định đƣợc nhóm TCBP, chúng tôi tiếp tục phân tích để xác định mối liên quan giữa một số yếu tố với TCBP

3.3.1 Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với các yếu tố liên quan đến trẻ:

Sau khi phân tích 593 phiếu điều tra, bảng 3.6 dưới đây trình bày kết quả phân tích hồi quy logistic đơn biến, cho thấy mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng TCBP của trẻ.

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với đặc điểm nhân khẩu học:

Yếu tố TCBP n (%) OR (KTC 95%) Wald test P Giới tính

Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan thống kê giữa tình trạng TCBP ở trẻ em với giới tính và nơi cư trú (p < 0,05) Cụ thể, trẻ nam có nguy cơ TCBP cao gấp 1,83 lần so với trẻ nữ, trong khi trẻ em sống ở nội thành có nguy cơ TCBP gấp 1 lần so với trẻ em ở ngoại thành.

Bảng 3.6 cũng cho thấy không có mối liên quan giữa TCBP với nhóm tuổi của trẻ (p > 0,05)

Mối liên quan giữa TCBP với thứ tự sinh của trẻ trong gia đình đƣợc thể hiện qua bảng 3.7 sau đây:

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với thứ tự sinh của trẻ

Yếu tố TCBP n (%) OR (KTC 95%) Wald test P Thứ tự con

Bảng 3.7 cho thấy không có mối liên quan giữa TCBP với thứ tự sinh của trẻ (p > 0,05)

Sau khi thực hiện phép kiểm định hai giá trị trung bình độc lập, bảng 3.8 cho thấy mối liên hệ giữa TCBP và cân nặng sơ sinh của trẻ.

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với cân nặng sơ sinh của trẻ Tình trạng dinh dƣỡng Mẫu Trung bình CNSS Mức ý nghĩa

Bảng 3.8 cho thấy cân nặng sơ sinh trung bình ở nhóm trẻ TCBP cao hơn nhóm trẻ không TCBP và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,027 HUPH

Mối liên quan giữa TCBP và thói quen ăn uống của trẻ đƣợc thể hiện qua bảng 3.9 nhƣ sau:

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với thói quen ăn uống của trẻ

Yếu tố TCBP n (%) OR (KTC 95%) Wald test

Số bữa ăn chính trẻ ăn trong ngày

Số bữa ăn phụ, ăn vặt trong ngày

6,2 0,013 20,5 0,000 Thói quen ăn của trẻ Ăn chậm* Ăn bình thường Ăn nhanh

11,6 0,017 19,0 0,000 Mức độ thích thức uống ngọt của trẻ

Mức độ thích các loại thức ăn ngọt ở trẻ

Mức độ thích các loại thức ăn béo ở trẻ

7,4 0,007 14,3 0,000 Mức độ thích các loại thức ăn nhanh ở trẻ

Thời điểm ăn nhiều nhất trong ngày

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan thống kê giữa tình trạng TCBP ở trẻ và thói quen ăn uống, bao gồm số bữa ăn chính, bữa ăn phụ, và sở thích về thực phẩm Cụ thể, trẻ ăn trên 3 bữa chính có nguy cơ TCBP gấp 3,4 lần so với trẻ chỉ ăn 1 - 2 bữa, trong khi trẻ ăn 3 bữa chính có nguy cơ gấp 2,2 lần Đối với bữa phụ, trẻ ăn trên 3 bữa có nguy cơ TCBP gấp 3,9 lần so với trẻ chỉ ăn 1 - 2 bữa, và trẻ ăn 3 bữa phụ có nguy cơ gấp 1,8 lần Ngoài ra, trẻ có thói quen ăn nhanh có nguy cơ TCBP gấp 8,6 lần so với trẻ ăn chậm.

Trẻ em có thói quen ăn bình thường có nguy cơ TCBP gấp 4,6 lần so với trẻ ăn chậm Những trẻ thích ăn thức ăn béo có nguy cơ TCBP gấp 2,7 lần so với trẻ không thích, trong khi trẻ có sở thích ăn thức ăn béo bình thường có nguy cơ gấp 1,9 lần Trẻ thích ăn thức ăn nhanh có nguy cơ TCBP gấp 4,2 lần so với trẻ không thích, và trẻ có sở thích ăn thức ăn nhanh bình thường có nguy cơ gấp 3,7 lần Ngoài ra, trẻ ở bán trú có nguy cơ TCBP gấp 1,7 lần so với trẻ không ở bán trú, với mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p = 0,002).

Kết quả bảng 3.9 cho thấy không có mối liên quan giữa tình trạng TCBP với sở thích uống thức uống ngọt, thời điểm ăn nhiều nhất trong ngày ở trẻ (p > 0,05)

Mối liên liên quan giữa TCBP ở trẻ với chế độ vận động của trẻ đƣợc trình bày qua bảng 3.10 dưới đây:

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với chế độ vận động của trẻ

Yếu tố TCBP n (%) OR (KTC 95%) Wald test P Phương tiện đến trường Đi xe đạp * Đi bộ Đƣợc đƣa đón

4,9 0,027 Thời gian ngồi trước màn hình ti vi, máy vi tính, điện thoại, ipad

Thời gian đi học/tuần

Trẻ bắt đầu ngủ buổi tối

Bảng 3.10 chỉ ra rằng có mối liên hệ thống kê quan trọng giữa tình trạng TCBP của trẻ và phương tiện di chuyển đến trường, cũng như thời gian đi ngủ vào buổi tối Cụ thể, trẻ em đi ngủ sau 22 giờ có nguy cơ mắc TCBP cao gấp 4,5 lần so với trẻ ngủ trước 22 giờ (p < 0,05).

Kết quả từ bảng 3.10 chỉ ra rằng không có mối liên hệ nào giữa tình trạng TCBP ở trẻ em với thời gian ngồi trước màn hình hàng ngày và thời gian đi học trong tuần (p > 0,05).

Kết quả phân tích mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với thời gian ngủ trung bình hàng ngày của trẻ được thể hiện qua bảng 3.11 dưới đây:

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với thời gian ngủ trung bình hàng ngày của trẻ

Tình trạng dinh dƣỡng Mẫu Trung bình thời gian ngủ/ngày Mức ý nghĩa

Bảng 3.11 cho thấy thời gian ngủ/ngày trung bình ở nhóm trẻ không TCBP cao hơn nhóm trẻ TCBP và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,032)

3.3.2 Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với các yếu tố liên quan đến gia đình trẻ:

Sau khi phân tích, mối liên quan giữa tình trạng TCBP với các yếu tố liên quan đến gia đình trẻ đƣợc thể hiện qua bảng 3.12 sau đây:

Bảng 3.12 trình bày mối liên quan giữa tình trạng TCBP ở trẻ em với các yếu tố như kinh tế hộ gia đình, độ tuổi, mối quan hệ với trẻ, trình độ học vấn và nghề nghiệp của người chăm sóc chính.

Yếu tố TCBP n (%) OR (KTC 95%) Wald test P Nhóm tuổi

Lao động tay chân, công nhân, buôn bán nhỏ*

Nhân viên, viên chức, lao động trí óc

Thương gia, chủ doanh nghiệp

Bảng 3.12 chỉ ra rằng có mối liên hệ thống kê quan trọng giữa tình trạng TCBP của trẻ và trình độ, nghề nghiệp của người chăm sóc chính cũng như tình hình kinh tế hộ gia đình (p < 0,05) Cụ thể, trẻ có phụ huynh có trình độ từ cấp 3 trở lên có nguy cơ TCBP cao hơn 1,6 lần so với trẻ có phụ huynh có trình độ dưới cấp 3 Hơn nữa, trẻ trong gia đình có thu nhập trên 5 triệu đồng/tháng có nguy cơ TCBP gấp 1,5 lần so với trẻ trong gia đình có thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng (OR = 1,5, KTC 95% = 1,1 – 2,1).

Nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ giữa tình trạng TCBP ở trẻ và các yếu tố như tuổi tác cũng như mối quan hệ giữa trẻ và người chăm sóc chính (p > 0,05).

3.3.3 Mối liên quan giữa tình trạng TCBP ở trẻ với TCBP của cha và mẹ:

Kết quả mối liên quan giữa tình trạng TCBP ở trẻ với TCBP của cha, mẹ đƣợc thể hiện qua bảng 3.13 sau đây:

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tình trạng TCBP ở trẻ với TCBP của cha, mẹ

Yếu tố TCBP n (%) OR (KTC 95%) Wald test

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê giữa tình trạng TCBP của trẻ và tình trạng TCBP ở cha mẹ, với p < 0,05 Cụ thể, trẻ có cha bị TCBP có nguy cơ mắc TCBP cao gấp 1,6 lần so với trẻ không có cha bị TCBP (OR = 1,6, KTC 95% = 1,1 – 2,4) Tương tự, trẻ có mẹ bị TCBP có nguy cơ mắc TCBP gấp 2 lần so với trẻ không có mẹ bị TCBP (OR = 2,0, KTC 95% = 1,2 – 3,2).

BÀN LUẬN

TỈ LỆ TCBP Ở HỌC SINH TIỂU HỌC TẠI THÀNH PHỐ MỸ THO

Qua nghiên cứu về tình trạng thừa cân và béo phì ở trẻ em từ 6 đến 11 tuổi, chúng tôi đã khảo sát 593 học sinh tiểu học từ 30 lớp tại các trường tiểu học ngẫu nhiên ở thành phố Mỹ Tho Kết quả cho thấy tỷ lệ thừa cân và béo phì ở học sinh tiểu học trong độ tuổi này đang gia tăng đáng kể.

11 tuổi lên đến 43,2%, trong đó thừa cân chiếm 19,1% và béo phì lên đến 24,1%

Khi tham khảo các nghiên cứu khác, chúng tôi nhận thấy sự khác biệt về độ tuổi của trẻ em, quy trình chọn mẫu và tiêu chuẩn đánh giá thừa cân, béo phì.

Nhiều nghiên cứu đã kết hợp khái niệm thừa cân và béo phì, trong khi một số khác chỉ tập trung vào tỷ lệ thừa cân mà không đề cập đến béo phì Chúng tôi tiến hành so sánh để có cái nhìn tổng thể và khách quan về vấn đề dịch tễ thừa cân và béo phì, đang được quan tâm hiện nay.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ thừa cân và béo phì tại thành phố Mỹ Tho là 42%, tương đương với số liệu của Tạ Văn Trầm và Ngô Trọng Khánh năm 2014 (22,7% thừa cân và 19,3% béo phì) cũng như nghiên cứu của Hoàng Đức Hạnh và Đan Thị Lan Hương.

Năm 2013, tại Hà Nội, tỷ lệ TC, BP đạt 39,3% [10], trong khi nghiên cứu của Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự tại TP Hồ Chí Minh vào năm 2012 ghi nhận tỷ lệ này là 38,5% [9] Tỷ lệ TCBP trong nghiên cứu hiện tại cao hơn so với nghiên cứu của Vương Thuận An và cộng sự.

Tại thị xã Tây Ninh, tỉ lệ trẻ em tiểu học mắc tỉ lệ TC, BP vào năm 2010 là 34,0% [1] Nghiên cứu của Hoàng Thị Đức Ngàn và cộng sự năm 2013 tại thành phố Hải Phòng cho thấy tỉ lệ này là 31,5%.

[19], của Phan Thanh Ngọc (2012) tỉ lệ TC, BP tại thành phố Thái Nguyên là 18,1%

[22], của Cao Thị Yến Thanh và cộng sự (2006) tại thành phố Buôn Ma Thuột tỉ lệ

TC, BP ở trẻ em tiểu học từ 6 - 11 tuổi là 10,4%, [25], của Phan Thị Bích Ngọc và cộng sự (2009) tại TP Huế có 7,07% trẻ từ 6 – 10 tuổi bị TC, BP [23]

Tỉ lệ thừa cân béo phì (TCBP) trong nghiên cứu này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây do sự gia tăng nhanh chóng của tình trạng này trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt tại các thành phố lớn như TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Thành phố Mỹ Tho hiện nay đã đạt đô thị loại 1 với nền kinh tế xã hội phát triển cao, tỉ lệ TCBP đạt 42% theo nghiên cứu năm 2014 Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo từng khối lớp đã vô tình làm tăng tỉ lệ TCBP, do số mẫu được chọn ở nội thành chiếm tỉ lệ cao (74,4%) do có nhiều lớp hơn so với ngoại thành, dẫn đến xác suất chọn lớp nội thành cao hơn.

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI TÌNH TRẠNG TCBP Ở TRẺ

4.2.1 Mối liên quan giữa giới tính và thừa cân, béo phì

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ TC, BP ở nam (50,2%) cao hơn so với nữ (36,1%) với p =0,001 và OR = 1,83

Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận rằng nam giới có nguy cơ TCBP cao hơn nữ giới, tương tự như các nghiên cứu trước đây, bao gồm nghiên cứu của Tạ Văn Trầm năm 2014 (p = 0,002; OR = 1,62) và Trần Thị Minh Hạnh năm 2012 (p < 0,001; OR = 4,3) Điều này cho thấy giới tính là yếu tố quan trọng liên quan đến tình trạng TCBP ở trẻ em.

Tâm lý xã hội tại Việt Nam vẫn còn tồn tại tư tưởng "trọng nam khinh nữ", với các bé trai thường được yêu thích và chăm sóc tốt hơn trong gia đình Câu nói "Nam thực như hổ, nữ thực như miu" phản ánh quan niệm này, khi một đứa con trai "mập mạp, bệ vệ" có thể mang lại niềm tự hào cho cha mẹ Ngược lại, trẻ gái thường bị áp lực về vóc dáng, phải ăn kiêng và làm việc nhà nhiều hơn, dẫn đến tình trạng thể chất (TCBP) thấp hơn so với nam giới.

4.2.2 Mối liên quan giữa nơi cƣ trú và thừa cân, béo phì

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ TCBP giữa trẻ em sống ở khu vực nội thành và ngoại thành Cụ thể, tỉ lệ TCBP ở trẻ sống tại nội thành đạt 47,7%, cao hơn so với 32,9% ở trẻ sống tại ngoại thành, với p = 0,001 Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, như nghiên cứu của Nguyễn Quang Dũng và Nguyễn Lân, cho thấy tỉ lệ béo phì ở các trường trung tâm thành phố cao hơn so với các trường ngoại thành.

Tại Hà Nội, tỷ lệ trẻ em béo phì (TCBP) ở khu vực nội thành chiếm 34,2%, trong khi ở ngoại thành chỉ là 21,9% Điều này cho thấy TCBP tập trung chủ yếu ở nội thành, nơi có nền kinh tế phát triển hơn Hơn nữa, trẻ em ở nội thành thường tiêu thụ thực phẩm chế biến sẵn, giàu năng lượng, và ít có không gian để tham gia các hoạt động thể chất so với trẻ em ở ngoại thành, dẫn đến việc chúng thường xuyên xem tivi và chơi trò chơi điện tử.

4.2.3 Mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh và thừa cân, béo phì

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em có cân nặng sơ sinh lớn có nguy cơ bị thừa cân, béo phì cao hơn so với trẻ có cân nặng sơ sinh thấp Cụ thể, nghiên cứu của Vương Thuận An tại trường tiểu học Kim Đồng, thị xã Tây Ninh cho thấy có mối liên hệ thống kê đáng kể giữa tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ từ 6-11 tuổi với cân nặng sơ sinh ≥ 4kg (p = 0,006, OR = 4,1).

M nghiên cứu 53 trẻ 7-10 tuổi ở Puerto Rican cho thấy cân nặng lúc sinh trung bình ở nhóm béo phì là 3,42±0,57 kg so với nhóm không béo phì là 3,08±0,53 kg

Trong nghiên cứu của chúng tôi, CNSS trung bình ở nhóm trẻ TCBP (3.181,18 ± 393,14 gram) cao hơn nhóm trẻ không TCBP (3.111,03 ± 398,89 gram) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,027) Kết quả này khẳng định ảnh hưởng của cân nặng sơ sinh đến tình trạng TCBP ở trẻ.

4.2.4 Mối liên quan giữa thứ tự con và thừa cân, béo phì

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thứ tự con trong gia đình có ảnh hưởng đến tình trạng TCBP, với trẻ là con một hoặc con cả thường được nuôi dưỡng chu đáo hơn và có nguy cơ TCBP cao hơn Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ TCBP ở trẻ là con một (43,3%), con cả (41,0%), con thứ (38,0%) và con út (51,5%) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Nguyên nhân cho sự khác biệt này có thể là do điều kiện kinh tế xã hội tại thành phố Mỹ Tho đã phát triển mạnh trong những năm gần đây, dẫn đến sự chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tương đối đồng đều trong các gia đình.

4.2.5 Mối liên quan giữa trình độ học vấn của người chăm sóc và TCBP

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa chỉ ra rằng trẻ em có người chăm sóc có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên có nguy cơ TCBP cao gấp 3,6 lần so với nhóm trẻ em khác.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ người chăm sóc chính của trẻ thừa cân, béo phì có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên cao gấp 1,6 lần so với những người có trình độ học vấn dưới cấp 3 Điều này khẳng định mối liên quan giữa trình độ học vấn của người chăm sóc và tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ Khi phụ huynh có trình độ học vấn cao, họ thường có công việc tốt hơn và kinh tế gia đình ổn định hơn, từ đó có khả năng chăm sóc và bồi dưỡng cho trẻ tốt hơn.

4.2.6 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của người chăm sóc và TCBP

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa tình trạng TCBP ở trẻ em và nghề nghiệp của người chăm sóc chính, với mức ý nghĩa p < 0,001 Cụ thể, tỷ lệ trẻ em có người chăm sóc là nhân viên, viên chức, hoặc lao động trí óc bị TCBP cao hơn so với các nhóm khác Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hoa (2010), cho thấy trẻ em có cha hoặc mẹ làm lao động trí óc có tỷ lệ TCBP cao hơn Điều này cho thấy rằng những người có công việc ổn định thường có nhiều thời gian chăm sóc trẻ, dẫn đến nguy cơ TCBP cao hơn Hơn nữa, cha mẹ có lối sống tĩnh tại và ít hoạt động thể lực cũng ảnh hưởng đến kiểu hoạt động của con cái nhiều hơn so với các hình thức khác.

4.2.7 Mối liên quan giữa kinh tế hộ gia đình và TCBP

Nghiên cứu của Lê Thị Hải và cộng sự (2002), Phan Thanh Ngọc (2012), cùng với Hoàng Thị Đức Ngàn và cộng sự (2013) chỉ ra rằng, thu nhập gia đình cao trong tháng có mối liên hệ tích cực với tỷ lệ TCBP của trẻ.

Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ TCBP ở trẻ em tăng theo mức độ kinh tế gia đình Cụ thể, trẻ em trong gia đình có thu nhập trên 5 triệu đồng/tháng có nguy cơ TCBP cao gấp 1,5 lần so với trẻ em trong gia đình có thu nhập dưới 5 triệu đồng/tháng (OR = 1,5, p = 0,01) Điều này cho thấy rằng các gia đình có điều kiện kinh tế khá hơn thường dễ dàng chi tiêu cho thực phẩm dinh dưỡng, dẫn đến việc trẻ em trong những gia đình này có nguy cơ mắc TCBP cao hơn.

4.2.8 Mối liên quan giữa TCBP của cha, mẹ và TCBP của trẻ

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ trẻ mắc TCBP cao hơn ở nhóm có cha hoặc mẹ mắc TCBP so với nhóm không có Cụ thể, trẻ có cha mắc TCBP có nguy cơ mắc TCBP gấp 1,6 lần so với trẻ không có cha mắc TCBP (OR = 1,6, p=0,019).

Trẻ em có mẹ bị TCBP có nguy cơ mắc TCBP gấp 2 lần so với trẻ em không có mẹ bị TCBP (OR = 2,0, p=0,005) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đây của Bùi Văn Bảo (2002), Nguyễn Quang Dũng (2008), Lê Thị Hải (2002), Vũ Hưng Hiếu (2002), Nguyễn Thị Kim Hoa (2014) và Tạ Văn Trầm.

Tình trạng thừa cân béo phì (TCBP) ở trẻ em có mối liên hệ chặt chẽ với yếu tố gia đình Trẻ em sống trong gia đình có cha hoặc mẹ mắc TCBP thường bị ảnh hưởng bởi thói quen cung cấp dinh dưỡng dư thừa, dẫn đến nguy cơ cao mắc phải tình trạng này Bên cạnh đó, yếu tố di truyền cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tình trạng TCBP ở trẻ.

4.2.9 Mối liên quan giữa thói quen ăn uống của trẻ và TCBP

HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

Trong quá trình nghiên cứu, tôi nhận thấy rằng các tiêu chí đánh giá thói quen ăn uống và sở thích thực phẩm thường dựa vào ý kiến chủ quan, gây khó khăn trong việc so sánh với các nghiên cứu khác Thêm vào đó, việc thu thập thông tin về cân nặng và chiều cao của cha mẹ từ người được phỏng vấn có thể dẫn đến sai lệch do hồi tưởng không chính xác, ảnh hưởng đến kết quả đánh giá tình trạng thừa cân và béo phì Do đó, các nghiên cứu sau nên thực hiện việc cân đo trực tiếp cha mẹ để giảm thiểu sai số này.

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Bản đồ thành phố M  Tho - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Hình 1.3. Bản đồ thành phố M Tho (Trang 26)
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ chọn mẫu - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ chọn mẫu (Trang 31)
Bảng 3.1. Thông tin về nhân khẩu học của trẻ - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.1. Thông tin về nhân khẩu học của trẻ (Trang 36)
Bảng 3.2. Thông tin về nhân khẩu học của người chăm sóc chính của trẻ - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.2. Thông tin về nhân khẩu học của người chăm sóc chính của trẻ (Trang 37)
Bảng 3.3. Thông tin về kinh tế hộ gia đình - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.3. Thông tin về kinh tế hộ gia đình (Trang 38)
Bảng 3.5. Tỉ lệ thừa cân, béo phì theo giới - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.5. Tỉ lệ thừa cân, béo phì theo giới (Trang 39)
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với đặc điểm nhân khẩu học: - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với đặc điểm nhân khẩu học: (Trang 40)
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với thứ tự sinh của trẻ - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa TCBP của trẻ với thứ tự sinh của trẻ (Trang 41)
Bảng 3.7 cho thấy không có mối liên quan giữa TCBP với thứ tự sinh của trẻ  (p &gt; 0,05) - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.7 cho thấy không có mối liên quan giữa TCBP với thứ tự sinh của trẻ (p &gt; 0,05) (Trang 41)
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với thói quen ăn uống của trẻ - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với thói quen ăn uống của trẻ (Trang 42)
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với chế độ vận động của trẻ - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với chế độ vận động của trẻ (Trang 44)
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với thời gian ngủ trung bình hàng - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa TCBP ở trẻ với thời gian ngủ trung bình hàng (Trang 45)
Bảng  3.10  cho  thấy  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  tình  trạng  TCBP của trẻ với  phương tiện trẻ đến trường và thời gian bắt đầu đi ngủ vào buổi  tối của trẻ, trẻ ngủ từ sau 22 giờ có nguy cơ TCBP gấp 4,5 lần trẻ ngủ trước 22 giờ - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
ng 3.10 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng TCBP của trẻ với phương tiện trẻ đến trường và thời gian bắt đầu đi ngủ vào buổi tối của trẻ, trẻ ngủ từ sau 22 giờ có nguy cơ TCBP gấp 4,5 lần trẻ ngủ trước 22 giờ (Trang 45)
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa tình trạng TCBP ở trẻ với kinh tế hộ gia đình,  tuổi, quan hệ với trẻ, trình độ học vấn, nghề nghiệp của người chăm sóc chính - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa tình trạng TCBP ở trẻ với kinh tế hộ gia đình, tuổi, quan hệ với trẻ, trình độ học vấn, nghề nghiệp của người chăm sóc chính (Trang 46)
Bảng  3.12  cho  thấy  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  tình  trạng  TCBP của trẻ với trình độ, nghề nghiệp của người chăm sóc chính và kinh tế hộ gia  đình (p &lt; 0,05), trẻ có phụ huynh có trình độ từ cấp 3 trở lên có nguy cơ TCBP ca - Thực trạng thừa cân, béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tại thành phố mỹ tho năm 2016
ng 3.12 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng TCBP của trẻ với trình độ, nghề nghiệp của người chăm sóc chính và kinh tế hộ gia đình (p &lt; 0,05), trẻ có phụ huynh có trình độ từ cấp 3 trở lên có nguy cơ TCBP ca (Trang 47)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w