1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng đào tạo liên tục của bác sỹ và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện c thái nguyên năm 2019

108 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Đào tạo Liên tục của Bác sỹ Và Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Tại Bệnh viện C Thái Nguyên Năm 2019
Tác giả Phạm Văn Đông
Người hướng dẫn TS. Đặng Ngọc Huy, ThS. Lưu Quốc Toản
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG PHẠM VĂN ĐÔNG THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO BÁC SỸ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

PHẠM VĂN ĐÔNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO BÁC SỸ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2019

THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ: 8720802

HÀ NỘI - 2020 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

PHẠM VĂN ĐÔNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO BÁC SỸ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN NĂM 2019

THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ: 8720802

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐẶNG NGỌC HUY

HÀ NỘI - 2020 HUPH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn Thạc sĩ Quản lý bệnh viện, em xin chân thành cảm ơn sự dạy bảo, hướng dẫn quý báu của các thầy, cô Trường Đại học Y tế Công cộng, Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hỗ trợ em hoàn thành chương trình học tập

và thực hiện đề tài nghiên cứu

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Đặng Ngọc Huy và ThS Lưu Quốc Toản đã dành thời gian, công sức tận tâm truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn Trân trọng cám ơn các thầy, cô hướng dẫn, phản biện từ giai đoạn xác định ý tưởng, phản biện đề cương và luận văn Những kiến thức và kinh nghiệm học được từ các thầy, cô sẽ là hành trang trên con đường học tập, nghiên cứu và làm việc của em

Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo Bệnh viện C Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi tham gia khóa đào tạo Thạc sỹ Quản lý bệnh viện, cám ơn các đồng nghiệp đã tạo điều kiện, phối hợp thực hiện nghiên cứu Cám ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ em trong những năm tháng học tập và hoàn thành luận văn này

Sau cùng, em xin chia sẻ kết quả nghiên cứu với quý đồng nghiệp và những người quan tâm Hy vọng nghiên cứu này sẽ cung cấp một số thông tin hữu ích về đào tạo liên tục cho Bác sỹ trong bệnh viện nói chung và của bác sỹ tại Bệnh viện C nói riêng

Thái Nguyên, ngày 16 tháng 02 năm 2020

Người viết

Phạm Văn Đông

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 4

1.1.1 Đào tạo liên tục trong ngành Y tế 4

1.1.2 Bác sỹ 5

1.1.3 Bệnh viện 5

1.1.4 Nhu cầu đào tạo 5

1.1.5 Xác định nhu cầu đào tạo 6

1.2 Một số văn bản, quy định về đào tạo liên tục 6

1.2.1 Các Quy định của Bộ Y tế về đào tạo liên tục 6

1.2.2 Luật khám bệnh, chữa bệnh với công tác đào tạo liên tục 8

1.2.3 Quản lý công tác đào tạo liên tục 8

1.3 Thực trạng đào tạo liên tục trên thế giới và Việt Nam 10

1.3.1 Thực trạng đào tạo liên tục trên thế giới 10

1.3.2 Thực trạng đào tạo liên tục tại Việt Nam 12

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục 14

1.5 Giới thiệu sơ lược về Bệnh viện C Thái Nguyên 20

1.5.1 Thông tin chung về bệnh viện 20

1.5.2 Cơ cấu tổ chức 21

1.5.3 Công tác đào tạo liên tục đã và đang triển khai cho bác sỹ tại bệnh viện 21

1.6 Khung lý thuyết 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

HUPH

Trang 5

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 24

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 24

2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 25

2.4.1 Mẫu nghiên cứu định lượng 25

2.4.2 Mẫu nghiên cứu định tính 25

2.4.3 Rà soát số liệu thứ cấp 26

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu phương pháp định lượng 26

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu phương pháp định tính 26

2.6 Các biến số nghiên cứu 26

2.7 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá 27

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 28

2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ tại Bệnh viện C Thái Nguyên 31

3.2.1 Tình hình các khóa đào tạo liên tục cho Bác sỹ đã tham gia từ tháng 02 đến tháng 09/2019 31

3.2.2 Hiểu biết của bác sỹ về quy định tham gia đào tạo liên tục theo thông tư 22/2013/TT-BYT 34

3.2.3 Khó khăn của bác sỹ trong việc thực hiện công việc 36

3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho Bác sỹ tại bệnh viện 36

3.3.1 Yếu tố thuộc về cá nhân 36

3.3.2 Các yếu tố chính sách và các văn bản pháp quy 39

3.3.3 Các yếu tố cơ quan chủ quản 41

Chương 4 BÀN LUẬN 45

4.1 Thực trạng công tác đào tạo liên tục cho Bác sỹ tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019 45

HUPH

Trang 6

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho Bác sỹ tại Bệnh viện C Thái

Nguyên năm 2019 50

4.2.1 Nhóm yếu tố cá nhân 50

4.2.2 Nhóm yếu tố về chính sách quản lý và văn bản pháp quy 52

4.2.3 Tại bệnh viện C Thái Nguyên 54

4.3 Hạn chế nghiên cứu 60

KẾT LUẬN 61

KHUYẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC 1: Giấy đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn 68

PHỤ LỤC 2: PHIẾU KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA BÁC SỸ LÀM VIỆC TẠI BỆNH VIỆN C THÁI NGUYÊN 69

PHỤ LỤC 3: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 74

PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 76

PHỤ LỤC 5: BẢNG KIỂM RÀ SOÁT TÌNH HÌNH CÔNG TÁC THỰC HIỆN ĐÀO TẠO LIÊN TỤC THEO THÔNG TƯ 22 CỦA BỘ Y TẾ 78

PHỤ LỤC 6: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 79

HUPH

Trang 7

CME Đào tạo y khoa liên tục

(Continuing medical education) CPD Phát triển nghề nghiệp

(Continuing professional delopement) ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

WFME Liên đoàn Giáo dục y học Thế giới

(World Federation for Medical Education) WHO Tổ chức y tế thế giới

HUPH

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1 Thông tin nhân khẩu học của bác sỹ tại bệnh viện (n=108) 30 Bảng 3 2 Thời gian công tác tại bệnh viện của đối tượng bác sỹ (n=108) 31 Bảng 3 3 Thông tin về thực hiện ĐTLT tại bệnh viện 31 Bảng 3 4 Trung bình số lượt đào tạo liên tục cho Bác sỹ tại Bệnh viện C Thái Nguyên đã tham gia năm 2019 32 Bảng 3 5 Phân bố đặc điểm loại hình khóa đào tạo liên tục cho Bác sỹ tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019 (n=137) 32 Bảng 3 6 Phân bố đặc điểm về thời lượng các khóa đào tạo liên tục cho Bác sỹ Bệnh viện C Thái Nguyên đã tham gia năm 2019 32 Bảng 3 7 Phương pháp đào tạo liên tục của bác sỹ 33 Bảng 3 8 Nguồn thông tin mà bác sỹ được biết về yêu cầu tham gia ĐTLT theo Thông tư 22/2013/TT-BYT 35 Bảng 3 9 Kiến thức về thời gian dành cho đào tạo liên tục trong năm 35 Bảng 3 10 Kiến thức về việc thực hiện nghĩa vụ ĐTLT trong 02 năm và chứng chỉ hành nghề 35 Bảng 3 11 Những khó khăn của bác sỹ trong công tác hàng ngày 36 Bảng 3 12 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và giới tính với đào tạo liên tục của bác

sỹ 36 Bảng 3 13 Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn, thâm niên công tác với thực trạng đào tạo liên tục của bác sỹ 37 Bảng 3 14 Mối liên quan giữa thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ với một số khó khăn trong công tác về thiếu kiến thức 38 Bảng 3 15 Mối liên quan giữa thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ với một số khó khăn trong công tác về thiếu kỹ năng 38 Bảng 3 16 Mối liên quan giữa thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ với một số khó khăn trong công tác về thiếu trang thiết bị 38 Bảng 3 17 Mối liên quan giữa thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ với một số khó khăn trong công tác thiếu thời gian 39 Bảng 3 18 Mối liên quan giữa thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ với kiến thức

về thời gian tối thiểu đào tạo liên tục cần thực hiện theo yêu cầu 39

HUPH

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu đồ 3 1 Đánh giá của các bác sỹ về chất lượng khóa học đã tham gia 33 Biểu đồ 3 2 Đánh giá của các bác sỹ về chất lượng giáo viên đã tham gia 34 Biểu đồ 3 3 Kiến thức biết về yêu cầu cần tham gia ĐTLT theo Thông tư 34

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu “Thực trạng công tác đào tạo liên tục cho Bác sỹ và một số yếu

tố ảnh hưởng tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019” Với 2 mục tiêu là: (1) Mô tả

thực trạng và (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến ĐTLT cho bác sỹ làm việc tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019

Nghiên cứu mô tả, có phân tích định tính kết hợp định lượng trên 108 bác sỹ Thời gian thu thập số liệu từ tháng 3- 5/2019 tại Bệnh viện C Thái Nguyên, về định lượng sử dụng bộ công cụ có cấu trúc để phỏng vấn trực tiếp các bác sỹ Về định tính sử dụng bộ hướng dẫn PVS lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các phòng và 02 cuộc thảo luận nhóm tại bệnh viện này Ngoài ra sử dụng các văn bản liên quan khác

Kết quả cho thấy, tỷ lệ bác sỹ được tham gia ĐTLT trong nghiên cứu là 63,9% Bệnh viện đã có mã cơ sở ĐTLT C3.02, với 16 chương trình ĐTLT đã được phê duyệt với 08 chương trình chuyên sâu dành cho bác sỹ Công tác ĐTLT chủ yếu

là về chuyên môn, tổ chức tại bệnh viện chiếm 43,8%, dưới hình thức nghiên cứu khoa học 34,3%, tổ chức tập huấn đào tạo chiếm 33,6%, thời gian chủ yếu là dưới

02 ngày chiếm 75,9%, 88,3% cho rằng chất lượng giáo viên đạt chất lượng tốt

Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p<0,05) về tuổi, thâm niên công tác Trình độ chuyên môn càng cao thì đáp ứng yêu cầu của TT 22/2013/TT-BYT càng lớn Tỷ lệ nhóm bác sỹ thiếu kiến thức, kỹ năng kiến thức về thời gian tối thiểu ĐTLT thì tham gia ĐTLT nhiều hơn các nhóm khác Nhóm yếu tố thuộc về bệnh viện: Bệnh viện chủ động lấy kinh phí từ nguồn chi thường xuyên cho ĐTLT Cán bộ phải kiêm nhiệm, bệnh viện chưa tiến hành rà soát các chương trình ĐTLT, chưa xây dựng kế hoạch hoạt động 05 năm và hàng năm Giảng viên một số chưa có chứng chỉ sư phạm y học Nhóm yếu tố thuộc về chính sách quản lý và văn bản pháp lý: luật khám chữa bệnh, Thông tư 22/2013/TT-BYT đã tác động tích cực đến công tác ĐTLT Hạn chế

là chưa có thông tư hay văn bản hướng dẫn kiểm tra, giám sát công tác ĐTLT

Khuyến nghị: Xây dựng kế hoạch DTLT 05 năm và hàng năm Tổ chức đào tạo

lớp nghiệp vụ sư phạm y học Xây dựng và cập nhật bổ sung các chương trình ĐTLT

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, với sự phát triển một cách nhanh chóng của các ngành khoa học kỹ thuật thì nhu cầu được cập nhật, bổ sung kiến thức chuyên môn cùng các kỹ năng làm việc cho lực lượng lao động ngày càng trở nên quan trọng Đặc biệt đối với lĩnh vực y tế là một ngành có những đặc thù riêng, nhiệm vụ của cán bộ y tế (CBYT) gắn liền với sức khỏe tính mạng con người Do vậy, việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là nhiệm vụ bắt buộc với mọi cán bộ y tế [2]

Trên thế giới, đào tạo y khoa liên tục luôn gắn với lịch sử ra đời và phát triển của ngành y Năm 1988 với sự phối hợp của Tổ chức y tế thế giới (WHO), Liên đoàn Giáo dục y học Thế giới (World Federation for Medical Education-WFME) đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học với mục tiêu chung là cung cấp được một số chính sách cho việc nâng cao chất lượng trong giáo dục y học Bộ tiêu chuẩn quốc tế của WHO và WFME gồm có ba tập bao gồm cả ba giai đoạn của quá trình đào tạo y học, trong đó có đào tạo liên tục (ĐTLT)/Phát triển nghề nghiệp liên tục Bộ tiêu chuẩn quốc tế này đã được ra Hội nghị toàn cầu về giáo dục y học tại Cophenhaghen (2003) và đã được chính thức thông qua, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và sử dụng tại nhiều nước [24]

Tại các nước Châu Âu, nơi có nền y học phát triển, một cuộc khảo sát trên 18 quốc gia đã minh họa sự đa dạng của các hệ thống đạo tạo y khoa liên tục Hà Lan

có một hệ thống tái chứng nhận theo luật định, nhưng một số quốc gia khác bao gồm cả Anh và Ireland cán bộ y tế được phân loại và xem xét để giới thiệu đào tạo lại bắt buộc hoặc tái cấp chứng nhận hành nghề Các nước khác nhau có cách tính chu kỳ đào tạo khác nhau, cứ hai năm, ba năm hoặc năm năm, và số tín chỉ yêu cầu dao động từ 50 đến 100 Các nước khác đang xem xét giới thiệu một hệ thống dựa trên giờ, nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về việc hệ thống tích lũy giờ hoạt động giáo dục là thước đo giá trị của hoạt động đó Có sự công nhận lẫn nhau về CME và phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) giữa các nước thuộc liên minh Châu Âu và các nước Bắc Mỹ trong đó có Hoa Kỳ [24], [40]

HUPH

Trang 12

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 22/2013/TT-BYT về hướng dẫn ĐTLT cho CBYT Theo đó, Thông tư này quy định rõ CBYT đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia ĐTLT tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp [5] Theo Bộ Y tế đến nay Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống đào tạo liên tục nhưng chưa hoàn chỉnh Những chế độ, chính sách còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ khiến cho việc triển khai thực hiện ĐTLT gặp nhiều khó khăn Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của ngành y tế [11]

Bệnh viện viện C Thái Nguyên tiền thân là Bệnh viện Công ty xây lắp II trực thuộc Bộ Cơ khí luyện kim, là bệnh viện hạng I tuyến tỉnh với quy mô 660 giường

kế hoạch (giường thực kê 900) và có 108 bác sỹ Mặc dù Bộ Y tế đã ban hành thông

tư 22 về hướng dẫn ĐTLT cho CBYT, bệnh viện đã chú trọng hơn đến công tác ĐTLT cho cán bộ y tế từ năm 2013, qua 06 năm thực hiện thì chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù bệnh viện đã thực hiện đúng theo hướng dẫn của BYT đã có mã ĐTLT C3.02, với 16 chương trình ĐTLT đã được phê duyệt với 08 chương trình chuyên sâu dành cho bác sỹ, tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế như: Chưa sắp xếp được các đối tượng Bác sỹ ở các khoa/phòng khác nhau thì cần đào tạo những nội dung

gì, chưa đảm bảo được thời gian đào tạo liên tục, nội dung đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới, công tác tổ chức đào tạo liên tục chưa được quan tâm, nguồn nhân lực còn thiếu để thực hiện đào tạo liên tục tại chỗ cho Bác sỹ Mặt khác, chưa có một khảo sát thực tế hay nghiên cứu nào đánh giá về thực trạng ĐTLT của Bác sỹ tại bệnh viện Chính vì vậy, để giúp cho công tác tổ chức đào tạo liên tục cho đối

tượng bác sỹ được thực hiện tốt hơn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng công tác Đào tạo liên tục cho Bác sỹ và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019”

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ làm việc tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho Bác sỹ làm việc tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019

HUPH

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Đào tạo liên tục trong ngành Y tế

Đào tạo liên tục không phải là một khái niệm mới tại Việt Nam, khái niệm này đã xuất hiện trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh và rất nhiều các văn bản quản lý cũng như những tài liệu hướng dẫn quản lý do Bộ Y tế ban hành Đào tạo liên tục bao gồm các hoạt động giáo dục được cung cấp để duy trì, phát triển, nâng cao kiến thức, kỹ năng, hiệu suất làm việc và tác nghiệp của nhân viên y tế để cung cấp dịch

vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng hoặc nhằm tăng cường sự chuyên nghiệp Nội dung của đào tạo liên tục là tổng thể của kiến thức và kỹ năng được công nhận về y học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng Nghĩa rộng hơn của ĐTLT là bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục thường xuyên nhằm hỗ trợ nhân viên y tế để hành nghề một cách có hiệu quả hơn [9]

Đào tạo liên tục (Continuing Medical Education được viết tắt là CME) là các khóa đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ; cập nhật kiến thức y khoa liên tục; phát triển nghề nghiệp liên tục; đào tạo chuyển giao kỹ thuật; đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác cho cán bộ y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc gia [5]

Phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development viết tắt là CPD): Tiếp tục phát triển chuyên môn (CPD) liên quan đến việc duy trì và nâng cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm liên quan đến các hoạt động nghề nghiệp của bạn sau khi hoàn thành khóa đào tạo chính thức Cũng quan trọng không kém, nó liên quan đến việc phát triển những phẩm chất cá nhân cần có để thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và kỹ thuật trong suốt cuộc đời của một chuyên gia Cả

kỹ năng kỹ thuật và phi kỹ thuật cần được phát triển [38]

Ngày nay nhằm thay đổi thái độ của cán bộ y tế, tổ chức y tế thế giới đã đưa

ra thuật ngữ phát triển nghề nghiệp liên tục (Continuing Professional Development viết tắt là CPD) và được sử dụng rộng rãi tại các nước Âu, Mỹ Ngoài các nội dung

HUPH

Trang 15

giống như của CME, CPD còn bao gồm cả các phương pháp học tập khác ngoài hình thức nghe giảng và ghi chép là các hình thức tự học và tự phát triển của từng

cá nhân Phát triển nghề nghiệp liên tục đề cập việc cán bộ y tế sau khi đã hoàn thành giai đoạn đào tạo cơ sở, sẽ học tập trong suốt cuộc đời làm việc của mỗi người để cập nhật kiến thức, kỹ năng để đáp ứng nhu cầu của người bệnh, các dịch

vụ y tế CPD được xây dựng dựa trên nhu cầu chuyên môn của cán bộ y tế đồng thời cũng là giải pháp chính để cải thiện chất lượng Khác với đào tạo chính quy hay đào tạo sau đại học được thực hiện theo các quy định và quy tắc cụ thể thì CPD lại chủ yếu là các hoạt động học tập trên cơ sở định hướng cá nhân và thực hành để thúc đẩy nâng cao năng lực nghề, nhằm duy trì và nâng cao năng lực từng cá thể để đáp ứng được các nhu cầu ngày càng tăng của người bệnh và của hệ thống y tế Trên thực tế hiện nay ở nước ta đang đồng nhất giữa CPD và CME [9]

1.1.4 Nhu cầu đào tạo

Nhu cầu đào tạo không phải chỉ đơn thuần là nhu cầu của bản thân người cán

bộ y tế mà nó còn là nhu cầu, trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức hay cá nhân

HUPH

Trang 16

sử dụng nguồn nhân lực y tế Nếu một đơn vị y tế chỉ trông chờ vào trình độ chuyên môn hiện có của đội ngũ nhân viên mà không có kế hoạch và biện pháp đào tạo, bồi dưỡng liên tục nguồn nhân lực của mình thì khó có thể phát triển được đơn vị, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân [9]

1.1.5 Xác định nhu cầu đào tạo

Xác định nhu cầu đào tạo nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần đào tạo, đối tượng nhân viên y tế cần được đào tạo và kiểu đào tạo nào sẽ giúp giải quyết được các vấn đề sức khỏe của nhân dân, xác định nhu cầu đào tạo là bước đầu tiên trong quy trình đào tạo, nó được tiến hành trước khi lập kế hoạch đào tạo [9;33], [14]

1.2 Một số văn bản, quy định về đào tạo liên tục

1.2.1 Các Quy định của Bộ Y tế về đào tạo liên tục

Nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc đào tạo liên tục trong ngành y tế, ngay từ khi chưa có luật khám bệnh, chữa bệnh, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2008 về “Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế” bước đầu triển khai khá rộng rãi [32] Sau khi luật khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực, năm 2013 Bộ Y tế đã điều chỉnh nâng cấp tiếp tục chủ trương này để thực hiện một số điều của luật khám bệnh, chữa bệnh Ngày 09 tháng 8 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 22/2013/TT-BYT về “Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế” thay thế Thông tư 07/2008/TT-BYT [5]

Một số nội dung cơ bản của thông tư số 22/2013/TT-BYT về việc tổ chức hệ thống đào tạo liên tục, trước khi các thông tư này ra đời thì việc đào tạo liên tục chủ yếu do các trường y tế đảm nhận Thực tế cho thấy cán bộ y tế được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn tại chỗ sát với nhu cầu công việc hàng ngày sẽ hiệu quả hơn Vì vậy Bộ Y tế chỉ rõ: các Sở Y tế, bệnh viện, viện nghiên cứu trung ương cùng với các trường phải tổ chức đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Đến nay mạng lưới các cơ

sở đào tạo liên tục đã được hình thành trên toàn quốc và được cấp mã số đào tạo liên tục Theo Điều 10 của thông tư 22 mã số đào tạo liên tục bao gồm:

HUPH

Trang 17

Mã A: Các trường y tế tổ chức các khóa đào tạo liên tục tương ứng với chương trình chính quy mà trường đang đào tạo

Mã B: Các bệnh viện, các viện nghiên cứu, các cơ sở y tế được giao nhiệm

vụ chỉ đạo tuyến, tổ chức đào tạo theo nhiệm vụ

Mã C: Các Sở Y tế tổ chức đào tạo cho đội ngũ cán bộ y tế mà Sở Y tế đang quản lý hành nghề trên địa bàn

Việc tổ chức hệ thống đào tạo liên tục cũng được BYT hướng dẫn Đến nay, nhiều bệnh viện trung ương, nhiều Sở Y tế các tỉnh đã thực hiện thành công: Các Sở

Y tế đồng bằng Sông Hồng, thành phố Hồ Chí Minh và Sở Y tế của 8 tỉnh duyên hải Nam trung bộ là những tỉnh đã sớm hoàn thiện việc tổ chức hệ thống này [12]

* Các hình thức đào tạo liên tục và nguyên tắc quy đổi

Đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ được xác định là tất cả các hoạt động nhằm bù đắp những thiếu hụt và bổ sung, nâng cao kỹ năng, kiến thức, thái độ cho cán bộ y tế nói chung, để người cán bộ y tế có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Hình thức đào tạo cho cán bộ y tế rất phong phú có thể là: tập huấn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn hạn trong và ngoài nước theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến được cấp chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận Thời gian tham gia đào tạo liên tục được tính theo thực tế chương trình đào tạo [5]

* Thời gian đào tạo liên tục

Theo Thông tư 22/2013/TT-BYT, Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực

y tế thì cán bộ y tế là công chức, viên chức, người đang làm chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ sở y tế đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp Những cán bộ y tế không tham gia chuyên môn, nghiệp vụ có nghĩa

vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 120 tiết học trong 5 năm liên tiếp, trong đó mỗi năm tối thiểu 12 tiết học Cán bộ y tế tham gia các hình thức đào tạo liên tục khác nhau được cộng dồn để tính thời gian đào tạo liên tục [8] Hàng năm bệnh viện xây dựng chương trình đào tạo và tổ chức đào tạo định hướng cho cán bộ y tế mới được tuyển dụng Cán bộ y tế được đào tạo cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp

HUPH

Trang 18

vụ liên tục, bảo đảm thời gian học tập tối thiểu 24 giờ theo quy định tại thông tư 07/2008/TT-BYT ngày 28 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế [5]

1.2.2 Luật khám bệnh, chữa bệnh với công tác đào tạo liên tục

Đào tạo y khoa là đào tạo đặc biệt: Nghề y có đặc thù quan trọng do gắn liền với tính mạng và sức khỏe con người; việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là một nhiệm vụ bắt buộc với mọi người hành nghề y Ở nước ta, ĐTLT nhân lực y tế đã được triển khai thông qua các hình thức ban đầu như tập huấn chuyên môn, chỉ đạo tuyến [10] Nghị quyết số 46/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa IX đã chỉ rõ “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” [2] Trong ngành y

tế do nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo y khoa là đặc biệt, đặc thù nên luật khám bệnh, chữa bệnh đã có nhiều quy định liên quan đến công tác đào tạo nghề nghiệp cụ thể [10]

* Các điều luật liên quan đến công tác đào tạo liên tục

Điều 20 Điều kiện để người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được cấp lại chứng chỉ hành nghề là phải có giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức y khoa liên tục [30]

Điều 29 Bộ trưởng Bộ Y tế, giám đốc Sở Y tế sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề với người không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong 2 năm liên tiếp [30]

Điều 33 Quyền của người hành nghề: Được đào tạo, đào tạo lại và cập nhật kiến thức y khoa liên tục phù hợp, được tham gia bồi dưỡng trao đổi thông tin về chuyên môn và kiến thức pháp luật y tế [30]

Điều 37 Nghĩa vụ của người hành nghề: Thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y khoa, liên tục nâng cao trình độ chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế [30]

1.2.3 Quản lý công tác đào tạo liên tục

Thông tư 22/2013/TT-BYT, Bộ Y tế thống nhất việc quản lý công tác đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế trên toàn quốc và giao cho Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo làm đầu mối hướng dẫn chỉ đạo, quy định Sở Y tế có trách nhiệm quản lý

HUPH

Trang 19

đào tạo liên tục của địa phương và là đầu mối tổ chức Quản lý công tác đào tạo cho cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý, quản lý chương trình, tài liệu, chứng chỉ, cơ sở dữ liệu, hồ sơ Quy định các cơ sở đào tạo liên tục có trách nhiệm: Tổ chức, quản lý và triển khai công tác đào tạo liên tục của đơn vị, quản lý chương trình, tài liệu, hồ sơ, chứng chỉ [5]

Thông tư cũng quy định các cơ sở đào tạo liên tục có trách nhiệm xây dựng

kế hoạch đào tạo liên tục hàng năm và 5 năm của đơn vị Sau khi kế hoạch đào tạo liên tục hàng năm của đơn vị được phê duyệt cơ sở đào tạo liên tục tiến hành triển khai các khóa đào tạo liên tục theo trình tự thủ tục quy định chặt chẽ tại điều 15 của thông tư [5]

Bộ Y tế quản lý những khóa học ở tuyến trung ương và những khóa học liên quan đến nhiều cở sở y tế, những khóa học có kiến thức, kỹ thuật, thủ thuật thuộc lĩnh vực y học mới, lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam Các cơ sở y tế trung ương

có nhiệm vụ chỉ đạo tuyến chịu trách nhiệm về nội dung chuyên môn thuộc lĩnh vực, nhiệm vụ được giao [5]

Các bệnh viện là cơ sở ĐTLT phải đáp ứng các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, chuẩn bị tốt chương trình, tài liệu, đội ngũ giảng viên trợ giảng, cơ sở vật chất, học liệu và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc triển khai khóa học có chất lượng đồng thời chịu trách nhiệm quản lý, báo cáo định kỳ về cơ quan quản lý cấp trên [5]

Trong điều 15 thông tư 22/2013/TT-BYT cũng chỉ rõ trách nhiệm của các cấp trong việc quản lý đào tạo liên tục ở mỗi bệnh viện cần có:

+ Cán bộ làm công tác tổ chức và quản lý đào tạo liên tục

+ Tổ chức triển khai các khóa đào tạo liên tục

+ Quản lý, lưu trữ chương trình, tài liệu các khóa đào tạo liên tục

+ Quản lý hồ sơ khóa học

+ Quản lý và cấp chứng chỉ ĐTLT theo quy định

HUPH

Trang 20

1.3 Thực trạng đào tạo liên tục trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Thực trạng đào tạo liên tục trên thế giới

Đào tạo liên tục là hình thức học tập rất phát triển trên thế giới đặc biệt trong ngành y tế, để hành nghề một cách hiệu quả trong suốt cuộc đời, người cán bộ y tế phải được cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ năng lâm sàng, kiến thức lý thuyết và tổ chức triển khai công việc, về đạo đức y học, giảng dạy, nghiên cứu và quản lý Công tác đào tạo liên tục nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng của hệ thống chăm sóc y tế ngày càng trở nên quan trọng, người thầy thuốc cần phải học tập suốt đời Vì vậy, từ năm 1984, liên đoàn giáo dục y học thế giới (WFME) đã triển khai rộng rãi chương trình hợp tác quốc tế nhằm thay đổi nhận thức về giáo dục y học với Tuyên ngôn Edinburgh năm 1988 “Tuyên ngôn đó đã được xác lập phương hướng cho giáo dục nhằm nâng cao sức khỏe và hạnh phúc của loài người” Các khuyến nghị của hội nghị thượng đỉnh và giáo dục y học năm 1993 và Nghị quyết của Đại hội đồng y học thế giới năm 1995 với chủ đề: Thay đổi nhận thức về giáo dục y học và thực hành y học vì sức khỏe mọi người [15]

Năm 1988, trong Tuyên ngôn Edinburgh về thay đổi hệ thống giáo dục y học

có nhấn mạnh về công tác ĐTLT y học cho cán bộ y tế (CME), tuyên ngôn đã đề ra

12 điều cải cách trong đó cũng có nhấn mạnh đến công tác ĐTLT y học “Giáo dục y học liên tục” Năm 1993, Hội nghị thượng đỉnh Giáo dục y học đưa ra khuyến nghị

về ĐTLT “Giáo dục y học liên tục và học tập suốt đời” [11] cho cán bộ y tế Trên

cơ sở khuyến cáo của tuyên ngôn Edinburgh, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh các hoạt động nhằm thay đổi y học nói chung và ĐTLT nói riêng, nước ta cũng nhờ

đó có được sự giúp đỡ của WHO trong công tác đào tạo giáo viên y học và những lớp học ngắn hạn về chuyên môn trong những năm cuối thế kỷ 20 Hai tác giả Martin Luchtefekl và Therese G Kerwel sau khi xem xét 105 nghiên cứu về CME

đã chỉ ra phần lớn các nghiên cứu cho CME có hiệu quả tích cực cho việc cải thiện kiến thức, thực hành, kỹ năng tâm lý và CME là hình thức đào tạo thực hành tốt nhất Liên quan đến đối tượng học nghiên cứu chỉ ra rằng việc học tập của đối tượng tham gia CME là chủ động học tập và thực hành có chú ý Theo nghiên cứu

HUPH

Trang 21

CME trong tương lai cần đánh giá nhu cầu người học và thực hiện đánh giá kết quả đào tạo [44]

Nghiên cứu của Kirk J Amstrong và ThomasG.weidner chỉ ra rằng hoạt động đào tạo liên tục chính thức hay không chính thức đều mang lại sự cải thiện về kiến thức và kết quả chăm sóc sức khỏe người bệnh Các đối tượng nghiên cứu hoàn thành việc đào tạo liên tục không chính thức nhiều hơn Điều đó cho thấy hoạt động đào tạo liên tục là hiệu quả và mang lại lợi ích [42]

Nghiên cứu của Julie K.Gaines, thuộc Hội đồng kiểm định đào tạo liên tục y khoa Hoa Kỳ, đánh giá tổng quan 31 công trình nghiên cứu về hiệu quả của ĐTLT (Giai đoạn 1977-2002) đưa ra các kết luận sau: ĐTLT cải thiện hiệu suất của bác sỹ

và kết quả chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân; ĐTLT có một tác động đáng tin cậy tích cực hơn về hiệu suất của bác sỹ so với kết quả cải thiện sức người bệnh; ĐTLT dẫn đến cải tiến lớn hơn trong hoạt động của bác sỹ và bệnh nhân [41]

Năm 2009, tác giả Lyn Dyson và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá nhu cầu ĐTLT của các điều dưỡng tại bộ phận chăm sóc bệnh cấp tính của 02 bệnh viện khu vực thành thị ở New Zealand Nghiên cứu thực hiện trên 563 điều dưỡng viên và 101 điều dưỡng viên chính/cao cấp với bộ câu hỏi tự điền khuyết danh Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu đào tạo về hoạt động chăm sóc người bệnh trực tiếp cao hơn nhu cầu về hoạt động làm việc nhóm, các vấn đề khác liên quan đến nghề nghiệp như: kỹ năng đánh giá về yếu tố liên quan đến lối sống và sức khỏe gia đình, thiết lập mối quan hệ với người bệnh [35]

Với mục tiêu nghiên cứu về quan niệm, nhu cầu ĐTLT và các yếu tố tạo động lực với ĐTLT, đồng thời xác định các rào cản mà các điều dưỡng phải đối mặt trong quá trình hoàn thành chương trình ĐTLT để đáp ứng tốt nhu cầu học tập của

họ, năm 2014 tác giả Chunping Ni và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 2.727 điều dưỡng tại 10 bệnh viện ở Trung Quốc Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra trên 92,2% điều dưỡng nhận biết được ý nghĩa của việc ĐTLT; 97,3 % điều dưỡng

đã tham dự các chương trình ĐTLT trong 12 tháng gần đây Thời gian dành cho các hoạt động ĐTLT điều dưỡng mong muốn trung bình là 05 ngày, và mỗi hoạt động ĐTLT nên diễn ra trong khoảng 02 giờ [37]

HUPH

Trang 22

Tác giả Mei Chan Chong và cộng sự tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang,

mô tả thực hành của điều dưỡng ở thời điểm điều tra và nhu cầu ĐTLT (CPE) nói chung tại các bệnh viện công và phòng khám ở Malaysia năm 2013 Nghiên cứu tiến hành trên 792 điều dưỡng với phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn, có

sử dụng bảng hỏi tự điền Nghiên cứu cho thấy, các điều dưỡng đều nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT đối với sự phát triển nghề nghiệp của họ; 80 % điều dưỡng đã tham gia các khóa ĐTLT trong 12 tháng qua; hình thức ĐTLT phổ biến nhất là hội thảo (chiếm 43,6%) và giáo dục đại học được ưa chuộng nhất (10,1%) Các ĐTNC đều nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT trong phát triển sự nghiệp [36]

Trong nghiên cứu của Lena Van Nieuwenborg và cộng sự năm 2015 tại Trung tâm hàn lâm thực hành chung của Leuven KU về “Continuing medical education for general practitioner: a practice format” đưa ra vấn đề là ĐTLT hiện tại nên vượt ra khỏi khung kiến thức có sẵn và tìm kiếm sự thay đổi trong thực tế về thái độ và hành vi của cán bộ y tế ĐTLT nên được xây dựng trên mục đích của cơ quan tổ chức, thậm chí là nhu cầu và mong muốn của các cán bộ y tế đó Đồng thời nghiên cứu cũng đưa ra kết luận việc tăng cường kiến thức hàn lâm không nên là mục đích chính của ĐTLT, bởi chỉ khi những kiến thức từ thực tế mới đưa ra sự thay đổi trong thực hành và điều đó rất có ý nghĩa Cần có tương tác đủ giữa học lý thuyết và thực hành hàng ngày là một đặc trưng quan trọng của quá trình thành công Qua việc tổ chức ĐTLT nên tạo không gian kết nối đủ với việc thực hành lâm sàng [43]

1.3.2 Thực trạng đào tạo liên tục tại Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu năm 2015 về nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng tại Bệnh viện Phổi Trung ương Phát vấn 224 điều dưỡng khoa lâm sàng cho thấy mức độ sử dụng thường xuyên, mức độ tự tin 2/6 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh (chăm sóc PHCN, tư vấn GDSK), 2/13 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản (cấp cứu ban đầu, bóp bóng ambu, ép tim ngoài lồng ngực); 4/10 kỹ thuật phụ giúp bác

sỹ (rửa màng phổi, đặt nội khí quản, mở khí quản, chọc dò màng tim) có tỷ lệ dưới 60%; tỷ lệ về nhu cầu ĐTLT về chăm sóc phục hồi chức năng, tư vấn giáo dục sức

HUPH

Trang 23

khỏe, kỹ thuật cấp cứu ban đầu, bóp bóng ambu, ép tim ngoài lồng ngực, phụ giúp bác sỹ chọc dò màng tim, rửa màng phổi, đặt nội khí quản, mở khí quản là 60-80% Công tác nghiên cứu khoa học có mức độ sử dụng thường xuyên, mức độ tự tin thấp dưới 10,2%, và có nhu cầu ĐTLT trên 70%[28]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng năm 2016 về ĐTLT của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện C Thái Nguyên được thực hiện trên 118 điều dưỡng Kết quả cho thấy, các nhiệm vụ như tư vấn-GDSK, chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc PHCN, tiêm trong da, các kỹ thuật phụ giúp bác sỹ chọc dò, cấp cứu sốc phản vệ, cho người bệnh ăn qua sonde có mức độ sử dụng và tự tin thấp dưới 50% Các nội dung, kỹ thuật có nhu cầu ĐTLT trong giai đoạn tới là: tư vấn, GDSK; chăm sóc PHCN, công tác kiểm soát nhiễm khuẩn; giao tiếp ứng xử, tiêm trong da; phụ giúp bác sỹ đặt nội khí quản, chọc dò màng bụng, cấp cứu sốc phản vệ, kỹ thuật truyền máu, cấp cứu trẻ sơ sinh bị ngạt Thời gian mong muốn ĐTLT là 3-5 ngày, địa điểm mong muốn tổ chức các lớp ĐTLT của điều dưỡng là tại bệnh viện[16]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn năm 2014 trên 261 điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh, đánh giá năng lực thực hiện chăm sóc người bệnh của điều dưỡng, chỉ ra rằng: 86,2% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đạt năng lực về thực hành chăm sóc người bệnh, tỷ lệ này khác nhau giữa các trình độ (điều dưỡng ĐH 90,2%; điều dưỡng CĐ 78,9%; điều dưỡng TC 86,6%) Tỷ lệ đạt chuẩn về năng lực chăm sóc của các điều dưỡng viên cụ thể là: dùng thuốc đảm bảo an toàn hiệu quả (89,7%); tiến hành kỹ thuật chăm sóc đúng quy trình (87,4%); giao tiếp hiệu quả với người bệnh và người nhà người bệnh (68,2%); xác định nhu cầu và tổ chức hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh (65,9%) [26]

Năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Quang đã tiến hành nghiên cứu 292 điều dưỡng trung cấp tại khoa lâm sàng bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đồng Tháp, nhằm đánh giá năng lực thực hành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Kết quả cho thấy: năng lực thực hành về cấp cứu ban đầu, dùng thuốc an toàn cho người bệnh đạt trên 80%; trong khi đó năng lực thực hành nhận định tình trạng sức khỏe, giáo dục sức khỏe cho người bệnh thấp chỉ đạt 30% [23]

HUPH

Trang 24

Nghiên cứu của tác giả Triệu Văn Tuyến năm 2015, mô tả thực trạng đào tạo liên tục của cán bộ trạm Y tế tỉnh Vĩnh Phúc, được tiến hành trên 259 học viên lớp cấp cứu Nội, Ngoại, Sản, Nhi Kết quả: 99,6% ĐTNC cho rằng nội dung ĐTLT phù hợp với mong muốn của cá nhân, 99,2% ĐTNC đánh giá nội dung ĐTLT phù hợp với công việc đang đảm nhiệm, mức độ sử dụng nội dung được ĐTLT thường xuyên trong công việc là 60,2% [27]

Nghiên cứu của Trịnh Yên Bình (2013) về thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp cho thấy số lượng CBYT được đào tạo bổ sung kiến thức chiếm tỷ lệ thấp 36% CBYT có thâm niên công tác càng cao thì tỷ lệ được đào tào liên tục càng lớn (47,4%) Thời lượng của một khóa học đa số từ 4 tuần trở lên 64,2% CBYT chưa được đào tạo bổ sung chuyên môn, nâng cao kỹ năng có nhu cầu đào tạo; nội dung cần đào tạo liên tục của bác sĩ chủ yếu là: kiến thức về thuốc YHCT, nâng cao kỹ năng về điều trị bệnh và nâng cao kiến thức về chẩn đoán [1]

Nghiên cứu của Đỗ Hoàng Đức về hoàn thiện công tác đào tạo bồi dưỡng công chức viên chức Bệnh viện Mắt Trung ương trong 02 năm 2014- 2015 Kết quả Bệnh viện đã tổ chức đào tạo được 8 lớp với 981 lượt học viên là bác sĩ 52% học viên cho rằng phương pháp giảng dạy khá phù hợp với nội dung chương trình; 15,4% bác sĩ cho rằng giảng viên có mức độ truyền đạt kiến thức tốt; chỉ có 36%

BS cho rằng nội dung của chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu công việc [12]

Nghiên cứu của Đào Xuân Lân năm 2015 về đánh giá hoạt động đào tạo liên tục tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy tỷ lệ học viên đánh giá tốt về toàn bộ hoạt động đào tạo liên tục ở mức cao: 79,5% Trong đó, học viên đánh giá tốt về nội dung cán bộ quản lý (97,5%), cơ sở vật chất, tài liệu (90,1%) và tổ chức đào tạo (90,1%) chiếm tỷ lệ cao nhất Tỷ lệ học viên đánh giá tốt về nội dung kinh phí đào tạo phù hợp (65,7%) là thấp nhất [20]

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục

Qua tham khảo các tài liệu của Bộ Y tế và các nghiên cứu đã tiến hành về đào tạo liên tục chúng tôi thấy rằng có 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác đào

tạo liên tục cụ thể như sau [9], [17], [23], [24]:

HUPH

Trang 25

1.4.1 Chính sách và các văn bản pháp quy

Khái niệm đào tạo liên tục ở nước ta đã được đưa vào trong ngành y tế từ những năm 1990, với sự giúp đỡ của Dự án hỗ trợ hệ thống đào tạo nhân lực y tế(còn gọi là 03/SIDA-Thụy Điển), Bộ y tế đã hướng dẫn các tỉnh triển khai mạnh

mẽ công tác đào tạo lại, đào tạo liên tục [29] Hơn 10 năm qua, Chính phủ đã ban hành rất nhiều những chính sách liên quan đến đào tạo, sử dụng và đãi ngộ CBYT như: Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TW” [2]

Hiện nay nhân lực y tế của Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, không chỉ thiếu về số lượng, mà năng lực chuyên môn của cán bộ, nhân viên y tế chưa đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do cán bộ, nhân viên y tế chưa được đào tạo liên tục cập nhật kiến thức chuyên môn Nhiều cán bộ y tế sau khi ra trường đã nhiều năm không được cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn, do đó không đáp ứng được yêu cầu thực tế [18]

Bộ Y tế rất quan tâm đến vấn đề đào tạo cập nhật kiến thức cho tất cả các cán

bộ y tế đang hoạt động trong lĩnh vực y tế và coi đây là nhiệm vụ bắt buộc Tất cả cán bộ y tế đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ của mình [5]

Năm 2012, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 493/QĐ-BYT ngày 17/2/2012 đối với các cơ sở ĐTLT như bệnh viện tuyến trung ương, các trường y tế…cũng như có đủ các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế [6] Trong quyết định chỉ rõ các tiêu chuẩn về tổ chức quản lý đào tạo, chương trình và tài liệu đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất, quản lý học viên hay hợp tác đào tạo Các yếu tố đều hết sức quan trọng, cần phát triển toàn diện mới có được một cơ sở ĐTLT đạt chất lượng và hiệu quả

1.4.2 Yếu tố cá nhân

Lãnh đạo bệnh viện tuyến tỉnh và huyện đều thể hiện sự hiểu biết nghèo nàn của họ về quản lý nói chung và quản lý bệnh viện nói riêng Do không có hoặc thiếu

HUPH

Trang 26

các khóa đào tạo về quản lý bệnh viện, các lãnh đạo bệnh viện phải điều hành, quản

lý bệnh viện của họ theo kinh nghiệm và các qui định chặt chẽ Vì vậy, các lãnh đạo bệnh viện thường tập trung vào lĩnh vực chuyên môn của họ và các thủ tục hành chính hơn là hiệu quả quản lý [21]

Hầu hết các lãnh đạo, đặc biệt các lãnh đạo cấp thấp và cấp trung dành nhiều thời gian vào công việc chuyên môn như các bác sỹ Các lãnh đạo thường không chú tâm vào những việc không thuộc về lĩnh vực chuyên môn hoặc trách nhiệm của

họ Ví dụ, đa phần các trưởng khoa/phó trưởng khoa hiếm khi quan tâm đến vấn đề quản lý tài chính và nguồn nhân lực vì họ cho rằng những việc này là việc của lãnh đạo các đơn vị chức năng khác Điều này lý giải tại sao sự kết nối và phối hợp giữa lãnh đạo các phòng ban trong một bệnh viện thường lỏng lẻo và không mạch lạc [21]

Khoảng cách về năng lực hiện tại, trình độ chuyên môn, yêu cầu tuyển sinh đầu vào giữa cán bộ quản lý của đơn vị cử đào tạo có sự khác biệt nhau Ngoài ra, khả năng tiếp thu kiến thức mới (quy định, văn bản, công nghệ, kỹ thuật mới) đối với cán bộ quản lý thâm niên khi tham gia các khóa đào tạo còn hạn chế; khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được trang bị vào công việc còn giới hạn Trong một số trường hợp, kiến thức và kỹ năng được đào tạo chưa phù hợp với điều kiện thực tế công tác của cán bộ quản lý được đào tạo [25]

1.4.3 Nhóm yếu tố cơ quan chủ quản

* Nhân lực

Hiện nay, quản lý nguồn nhân lực có xu hướng tập trung vào lợi ích của người lao động thay vì dựa vào nhu cầu Thiếu chính sách tuyển dụng đầy đủ và đúng đắn là một trong những lỗ hổng chính trong quản lý nguồn nhân lực y tế

Đa số các nhà quản lý cho biết họ là những cán bộ còn nhiều thiếu sót cả về lĩnh vực chuyên môn lẫn lĩnh vực hành chính Thông thường, các cán bộ y tế có kinh nghiệm nhiều hơn kiếm được nhiều tiền hơn, đặc biệt tại các bệnh viện tuyến huyện Có rất ít sự tự chủ trong việc tuyển dụng cán bộ và trả lương cho cán bộ được tuyển dụng Khi phát triển lực lượng cán bộ chuyên môn (nhất là lực lượng các bác sỹ), các nhà quản lý bệnh viện hoàn toàn phụ thuộc vào sự tuyển dụng của

HUPH

Trang 27

cấp cao hơn là Sở Y tế Mặc dù các bệnh viện đề xuất nhu cầu của họ về số lượng

và vị trí công tác của các nhân viên mới, Sở Y tế tiến hành mọi thủ tục tuyển dụng cán bộ theo nhu cầu đó Điều này phản ánh có rất nhiều ứng cử viên tiềm năng đã đang làm việc tình nguyện tại các bệnh viện nhưng sau đó lại bị trượt tại các kỳ thi tuyển công chức Mặc dù vậy, các bệnh viện đôi lúc phải chấp nhận những cán bộ không như mong muốn [21]

Nhân viên mới được tuyển dụng đặc biệt tại các bệnh viện tuyến huyện thường gặp khó khăn và lúng túng khi nhận công tác và làm quen với nhiệm vụ mới

do thiếu các bước chi tiết cần hoàn thiện trong thời gian tập sự Thời gian tập sự không được cụ thể hóa bằng các chỉ số hoạt động và các nhiệm vụ theo yêu cầu Đánh giá quá trình tập sự cũng thường chung chung theo cảm tính của người hướng dẫn và đồng nghiệp Bản mô tả công việc thường rất chung chung về chức năng cũng như trách nhiệm theo quy định do Bộ Y tế/Bộ Nội vụ ban hành Vì vậy, cần các kỹ năng trong việc xác định các quy trình chi tiết và công cụ giám sát khi tuyển dụng và đánh giá kết quả tập sự của nhân viên mới [21]

* Kinh phí cho đào tạo liên tục

Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long và cộng sự (2011) cũng đã chỉ ra sự cần thiết hỗ trợ về tài chính có khả năng ảnh hưởng đến quyết định tham gia các khoa đào tạo về quản lý bệnh viện Đặc biệt các ĐTNC cũng đã chỉ ra rằng họ muốn tham gia các khóa học về quản lý thuộc dự án và được miễn phí đào tạo [21]

Cùng quan điểm trên, nghiên cứu của Nguyễn Hồng Tín và cộng sự (2015) cũng cho rằng do nguồn kinh phí hàng năm có hạn và khối lượng công việc nhiều nên hầu hết công chức không thể tham gia đào tạo cùng lúc Do đó, nhiều cán bộ quản lý muốn được hỗ trợ kinh phí (sách, tài liệu tham khảo, đĩa CD) để tự trau dồi kiến thức, chuyên môn thông qua hình thức tự học, học tập mô hình thực tế, giao lưu chia sẻ kinh nghiệm [25]

Đồng thời các bệnh viện cũng gặp khó khăn về kinh phí đào tạo liên tục nên thường cho các bộ y tế tham gia các khóa học không mất phí, còn những khóa học dựa trên nhu cầu chuyên môn thì chỉ chi một phần trong kinh phí khóa học cho họ

HUPH

Trang 28

nên cũng hạn chế nhiều trong việc tham gia các khóa đào tạo liên tục đúng chuyên môn của mình [24]

* Khối lượng công việc

Nhiều CBCC cho rằng khối lượng công việc cuối năm tại các đơn vị rất nhiều nên khó sắp xếp tham gia các khóa đào tạo, đặc biệt các CBCC có năng lực, cần được đào tạo nâng cao Trong khi, các lớp tổ chức trong thời gian này dẫn đến thực trạng CBCC được cử đi đào tạo thường không đúng đối tượng và không phù hợp với nhu cầu công việc hoặc đúng đối tượng nhưng họ không thể tham dự đầy

đủ suốt khóa học Do đó, CBCC đề xuất các khóa học nên được tổ chức vào thời điểm quý I - III và trong một số trường hợp, khóa học cần được tổ chức tại địa phương để thuận tiện cho việc bố trí công việc ở đơn vị và giảm chi phí, thuận tiện

đi lại, ăn ở cho CBCC tham gia khóa học Ngoài ra, cần mở rộng đối tượng được đào tạo đa dạng hơn, bên cạnh việc đào tạo CBCC theo diện được quy hoạch Trong

đó, ưu tiên cho các cán bộ trẻ, không cần thâm niên được tham gia đào tạo [25]

Áp lực công việc, nhiệm vụ các cán bộ quản lý cần phải hoàn thành khi tham gia đào tạo nhưng vẫn đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tại cơ quan công tác Đây là khó khăn phổ biến nhất cho cán bộ quản lý khi tham gia đào tạo Cán bộ quản lý tham gia đào tạo trong tư thế đối phó một lúc hai nhiệm vụ (học tập, làm việc), do

đó chất lượng đào tạo tất yếu bị ảnh hưởng Trầm trọng hơn, đối với những khóa đào tạo cho cán bộ quản lý vị trí lãnh đạo, sĩ số lớp học luôn bị thiếu; tình trạng học viên vừa tham gia học tập vừa nghe điện thoại để chỉ đạo các hoạt động tại cơ quan vẫn tồn tại dẫn đến tình trạng học viên thiếu tập trung và gây ảnh hưởng đến tinh thần học tập trong lớp [25]

* Công tác quản lý đào tạo liên tục

Thiếu sự phối hợp giữa các phòng, ban trong bệnh viện khi tuyển dụng và luân chuyển cán bộ Luân chuyển cán bộ không nhất thiết dựa vào nhu cầu thực tế

mà dựa vào mong muốn cá nhân như tập hợp gia đình Không có đánh giá về khoảng cách năng lực hoặc hiệu quả đào tạo [21]

Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính về “Thực trạng công tác đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương từ năm

HUPH

Trang 29

2014-2016” của Lưu Thị Nguyệt Minh, kết quả cho thấy từ năm 2014 đến năm

2016 điều dưỡng của bệnh viện tham gia 21 lớp đào tạo liên tục Trong đó trung bình một điều dưỡng đào tạo 1,5 lượt/năm với thời gian trung bình là 14,6 tiết/năm Như vậy thời gian chưa đủ theo quy định và có 25% điều dưỡng chưa tham gia đầy

đủ một khóa học nào Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức đào tạo liên tục bao gồm: Công việc quá tải, chưa có cán bộ chuyên trách về đào tạo, hình thức giảng chủ yếu là lý thuyết và giảng viên chưa thực sự phù hợp với chuyên môn định hướng điều dưỡng [22]

Theo Bogetz JF và cộng sự, cho biết các bác sỹ cần được đào tạo thêm về các kỹ năng nhằm cải thiện trong việc chăm sóc trẻ bệnh mạn tính hay điều trị phức tạp Cần có chiến lược kết hợp giáo dục chăm sóc giảm nhẹ cơ bản để đáp ứng nhu cầu đào tạo trong các chuyên khoa Nhi đặc biệt [39]

* Đánh giá, giám sát sau đào tạo liên tục

Giám sát: Trong lĩnh vực quản lý người ta định nghĩa Giám sát là một khâu quan trọng của quy trình quản lý Giám sát là tìm ra các vấn đề tồn tại, khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện kế hoạch hoạt động để hỗ trợ, giải quyết kịp thời và có thể điều chỉnh kế hoạch, nhằm thực hiện được các mục tiêu đã đề ra [9]

Giám sát đào tạo: Giám sát đào tạo là phân tích quá trình thực hiện kế hoạch đào tạo để tìm ra những khó khăn, vướng mắc, tồn tại …; xác định những nguyên nhân gây nên những khó khăn, tồn tại đó và thực hiện hoặc đề xuất các biện pháp phù hợp, kịp thời để hỗ trợ, giúp đỡ cho những người, những đơn vị đang thực hiện

kế hoạch đào tạo hoàn thành những mục tiêu đã đề ra [9;8]

Trong phạm vi quản lý đào tạo liên tục cán bộ y tế, giám sát đào tạo chủ yếu

là giám sát những người, những đơn vị đã và đang tổ chức hoặc tham gia các khoá, các lớp đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ y tế để đảm bảo chất lượng đào tạo, góp phần phát triển nguồn nhân lực, hoàn thành các mục tiêu chăm sóc, bảo

Trang 30

vấn đề tồn tại, tìm ra các giải pháp để hỗ trợ, giúp đỡ Đây là phương pháp cơ bản thường được thực hiện trong các cuộc giám sát

+ Giám sát gián tiếp: Là phương pháp mà người giám sát không tiếp xúc hay làm việc cùng đối tượng được giám sát Người giám sát thu thập các thông tin cần thiết qua các nguồn thông tin khác nhau để tìm ra những yếu kém, tồn tại của người cần được giám sát để có biện pháp giải quyết phù hợp Nói chung, phương pháp này

ít được áp dụng trong thực tế

Có 2 hình thức giám sát là [9]:

+ Giám sát định kỳ: Định kỳ tiến hành các hoạt động giám sát, với những nội dung trọng tâm khác nhau, được sắp xếp có kế hoạch cụ thể, nằm trong kế hoạch hoạt động của đơn vị

+ Giám sát đột xuất: Là các cuộc giám sát không nằm trong kế hoạch, được thực hiện do yêu cầu đột xuất trước một bức xúc xảy ra trong quá trình thực hiện kế hoạch hoạt động nhằm giúp đỡ, hỗ trợ kịp thời để đảm bảo kế hoạch thực hiện theo đúng mục tiêu

1.5 Giới thiệu sơ lược về Bệnh viện C Thái Nguyên

1.5.1 Thông tin chung về bệnh viện

Bệnh viện C Thái Nguyên tiền thân là Bệnh viện Công ty xây lắp II trực thuộc Bộ Cơ khí luyện kim (nay là Bộ Công Thương) với nhiệm vụ chủ yếu là khám chữa bệnh cho cán bộ công nhân viên chức (CBCNVC) công ty

Ngày 01 tháng 01 năm 1988, theo quyết định 181/UBQĐ của UBND tỉnh Bắc Thái, Bệnh viện được chuyển giao và đổi tên thành Bệnh viện C trực thuộc Sở

Y tế Bắc Thái, quy mô 150 giường bệnh với 132 CBCNVC

Ngày 06 tháng 11 năm 1996, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX ra quyết định thành lập 02 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Cạn Từ đó đến nay, Bệnh viện C chính thức đổi tên thành Bệnh viện C Thái Nguyên là bệnh viện đa khoa hạng II của tỉnh

Ngày 01 tháng 02 năm 2015 Bệnh viện C Thái Nguyên được công nhận Bệnh viện hạng I với quy mô 510 giường bệnh (giường thực kê 800) Trong những năm qua được sự quan tâm và đầu tư về cơ sở vật chất hạ tầng, sự chú trọng bồi

HUPH

Trang 31

dưỡng nâng cao tay nghề của đội ngũ cán bộ y, bác sỹ đến nay Bệnh viện C Thái Nguyên đã trưởng thành về mọi mặt

1.5.3 Công tác đào tạo liên tục đã và đang triển khai cho bác sỹ tại bệnh viện

Công tác đào tạo liên tục là một trong những nhiệm vụ được ban lãnh đạo đặc biệt chú trọng quan tâm Trong những năm gần đây, nhận thức được vai trò của công tác đào tạo liên tục trong sự nghiệp phát triển chung của đơn vị, ban Giám đốc bệnh viện và phòng Chỉ đạo tuyến đã phối hợp cùng với các khoa, phòng chức năng căn cứ vào quy định Thông tư 22/TT-BYT đã tổ chức tập huấn, đào tạo, cập nhật kiến thức cho CBYT trong toàn viện dưới nhiều hình thức khác nhau[5] Trong năm

2018, bệnh viện đã tổ chức được 08 lớp đào tạo cho cán bộ viên chức thuộc các đối tượng khác nhau, trong đó đối tượng bác sỹ chiếm 1/3 Mặc dù bệnh viện đã thực hiện chức năng đào tạo cho CBYT trong toàn viện theo Thông tư quy định Tuy nhiên hiệu quả của các lớp đào tạo cho bác sỹ chưa cao, thể hiện: Nội dung đào tạo của các lớp chưa phong phú, chủ yếu tập trung vào một số chuyên ngành, lặp đi lặp lại trong nhiều năm; hình thức đào tạo còn mang nặng tính truyền thống, học viên nghe giảng viên giảng lý thuyết là chính, chưa chú trọng đến giảng dạy thực hành lâm sàng và chất lượng đào tạo…Gây tâm lý nhàm chán, nhiều học viên tham gia đào tạo mang tính chất đối phó điểm danh là chính Nội dung chương trình đào tạo chủ yếu là do chỉ đạo từ trên xuống chứ chưa quan tâm đến nguyện vọng và nhu cầu thực tế của học viên [31]

HUPH

Trang 32

Có thể nói, việc cử CBYT đi ĐTLT hầu hết là căn cứ vào nội dung, chương trình của cơ sở ĐTLT trong thông báo tuyển sinh, hoặc đi theo các chương trình dự

án, chưa căn cứ vào nhu cầu khảo sát thực tế, nhiều CBYT đi đào tạo do chỉ định của đơn vị hoặc theo chỉ định của dự án gây nên sự nhàm chán, ép buộc Các kỹ thuật tập huấn, đào tạo liên tục chưa được triển khai rộng rãi cho các CBYT trong toàn đơn vị, có triển khai cũng mang tính hình thức, lý thuyết Sự phân bổ các nội dung ĐTLT chưa hợp lý, chưa cân đối giữa các khoa phòng, các kỹ thuật sử dụng thường xuyên và cá nhân thực hiện tự tin lại cử đi ĐTLT, những kỹ thuật mới cần thiết để triển khai áp dụng trong giai đoạn tới thì không được ĐTLT, nhân rộng [31]

Chuyển sang giai đoạn tự chủ hoàn toàn về kinh phí, cơ cấu tổ chức, các bệnh viện tuyến tỉnh cần có đội ngũ cán bộ y tế chất lượng cao để thu hút người bệnh sử dụng dịch vụ y tế tại đơn vị, trong đó bác sỹ, điều dưỡng là hai đối tượng chính đảm bảo cho chất lượng hoạt động của cơ sở y tế [31]

Thông qua nghiên cứu này, chúng tôi có cơ sở để khuyến nghị đối với Lãnh đạo bệnh viện về công tác tổ chức, xây dựng Kế hoạch ĐTLT trong giai đoạn 2019-

2020 nhằm đưa công tác ĐTLT thiết thực, phù hợp với nhu cầu của CBYT và thực

tế công việc

HUPH

Trang 33

1.6 Khung lý thuyết

Chính sách và các văn bản

pháp quy

- Luật khám bệnh, chữa bệnh và

các văn bản pháp quy liên quan

- Thông tư 22/2013/TT-BYT

- Thông tư quy định chức danh

- Khối lượng công việc

- Công tác quản lý đào tạo liên tục

Đối tượng đào tạo

- Bác sỹ

- Thạc sỹ/Bác sỹ CKI

- Tiến sỹ/Bác sỹ CKII Nội dung đào tạo

- Chuyên môn

- Quản lý

- Kỹ năng mềm Hình thức đào tạo

- Tập huấn, đào tạo

- Chuyển giao kỹ thuật

- Hội nghị, hội thảo khoa học

- Địa điểm đào tạo:

+ Tại Bệnh viện + Tại các trường Y tế + Tại các bệnh viện tuyến

Trung ương

- Phương pháp đào tạo:

+ Lý thuyết + Thực hành/cầm tay chỉ việc

Giảng viên

- Giảng viên trong Bệnh viện

- Giảng viên là giáo viên ở các

trường y tế hay cán bộ ở các bệnh viện tuyến Trung ương

- Thâm niên công tác

- Nơi công tác hiện tại

- Nhu cầu đào tạo

HUPH

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng

- Bác sỹ đang làm việc tại Bệnh viện C Thái Nguyên

- Số liệu thứ cấp thông qua báo cáo kết quả đào tạo 6 tháng đầu năm 2019 của bệnh viện

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bác sỹ hiện đang công tác ở 24 khoa/phòng trong Bệnh viện C Thái Nguyên

- Có thời gian công tác tại bệnh viện từ 9 tháng trở lên

- Tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những đối tượng nghỉ thai sản, nghỉ ốm, đi học tập trung trên 01 năm, đang trong thời gian nghỉ chờ giải quyết thôi việc, chờ hưu trí

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính

- Giám đốc/Phó giám đốc Bệnh viện

- Trưởng/Phó phòng Chỉ đạo tuyến & quản lý chất lượng Bệnh viện

- Trưởng/Phó phòng Tổ chức cán bộ

- Lãnh đạo của 24 Khoa/Phòng trong Bệnh viện

- Đại diện các bác sỹ là nhân viên của 24 Khoa/Phòng trong Bệnh viện

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 02/2019 đến 09/2019

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện C Thái Nguyên

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

* Nghiên cứu định lượng

- Thu thập các số liệu qua phiếu điều tra về thực trạng được đào tạo liên tục của các bác sỹ làm việc tại bệnh viện C Thái Nguyên năm 2019 để giải quyết mục

HUPH

Trang 35

tiêu thứ nhất, mô tả được thực trạng ĐTLT của các bác sỹ và khảo sát nhu cầu đào tạo liên tục trong thời gian tới

- Thu thập số liệu thứ cấp thông qua báo cáo công tác đào tạo liên tục năm

2018, báo cáo kết quả đào tạo 6 tháng đầu năm 2019 của bệnh viện

* Nghiên cứu định tính

- Thực hiện sau nghiên cứu định lượng, để giải quyết mục tiêu thứ hai đó là

phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đào tạo liên tục cho Bác sỹ làm việc tại bệnh viện C Thái Nguyên

2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

2.4.1 Mẫu nghiên cứu định lượng

Theo thống kê của phòng Tổ chức cán bộ, Bệnh viện C Thái Nguyên hiện có

108 bác sỹ đang làm việc tại 24 khoa/phòng của bệnh viện Trong nguồn lực cho phép và phương pháp thu thập số liệu (phát vấn) của nghiên cứu, học viên lựa chọn mẫu toàn bộ 108 bác sỹ vào nghiên cứu (danh sách số lượng bác sỹ theo khoa/ phòng chi tiết trong phụ lục 7)

2.4.2 Mẫu nghiên cứu định tính

Sử dụng phương pháp chọn mẫu chủ đích, cụ thể:

- Phỏng vấn sâu:

+ 01 đại diện Ban Giám đốc bệnh viện

+ 01 đại diện Lãnh đạo phòng Chỉ đạo tuyến & quản lý chất lượng bệnh viện

+ 01 đại diện Lãnh đạo phòng Tổ chức cán bộ

- Thảo luận nhóm: Thực hiện 2 cuộc thảo luận nhóm

+ Thảo luận nhóm 1: Lựa chọn 9 đại diện lãnh đạo của 24 khoa/phòng trong bệnh viện Trong đó, đảm bảo có đại diện của cả 03 khối (Khối lâm sàng, khối cận lâm sàng và khối hành chính) Kết quả đã chọn chủ đích 03 cán bộ lãnh đạo của mỗi khối tham gia vào thảo luận nhóm

+ Đại diện các bác sỹ là nhân viên của 24 khoa/phòng trong bệnh viện Chọn

ra 09 đại diện của 03 khối lớn trong bệnh viện: Khối lâm sàng, khối cận lâm sàng và khối hành chính Mỗi khối chọn chủ đích 03 bác sỹ

HUPH

Trang 36

2.4.3 Rà soát số liệu thứ cấp

- Sau khi phỏng vấn đại diện lãnh đạo phòng Tổ chức cán bộ, 02 báo cáo công tác đào tạo liên tục của bệnh viện cũng được thu thập để phục vụ nghiên cứu

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu phương pháp định lượng

Xây dựng bộ câu hỏi cho các bác sỹ: Các câu hỏi được xây dựng dựa vào các nội dung quy định trong Thông tư 22/2013/TT-BYT ban hành ngày 9/8/2013 về hướng dẫn thực hiện đào tạo liên tục [5], quyết định 493/QĐ-BYT ngày 17/2/2012 quy định về tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đơn vị đào tạo liên tục CBYT [6] và có tham khảo thêm một số nội dung thực trạng ĐTLT của các nghiên cứu khác [17], [13]

Phiếu phát vấn định lượng: Thực trạng đào tạo liên tục cho đối tượng bác sỹ làm việc tại Bệnh viện C Thái Nguyên năm 2018 (phụ lục 2)

Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 10 bác sỹ để kiểm tra sự phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp từ các báo cáo công tác đào tạo liên tục của bệnh viện Nghiên cứu viên thu thập, tổng hợp các báo cáo công tác đào tạo liên tục (phụ lục 5)

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu phương pháp định tính

Hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 3): Bao gồm các câu hỏi về công tác đào tạo liên tục cho Bác sỹ để phỏng vấn lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo phòng Chỉ đạo tuyến và quản lý chất lượng bệnh viện và lãnh đạo phòng Tổ chức cán bộ

Hướng dẫn thảo luận nhóm (phụ lục 4): Thảo luận nhóm với lãnh đạo của 24 khoa/phòng trong bệnh viện và đại diện các bác sỹ là nhân viên của 24 khoa/phòng trong bệnh viện

Thời gian phỏng vấn từ 30-45 phút, tại phòng riêng

2.6 Các biến số nghiên cứu

Nhóm biến số nghiên cứu định lượng

Biến số nghiên cứu định lượng bao gồm 23 biến được chia thành 2 nhóm Trong đó:

HUPH

Trang 37

- Nhóm thông tin chung (06 biến)

- Thực trạng đào tạo liên tục (17 biến)

(Chi tiết xem tại phụ lục 6)

Chủ đề nghiên cứu định tính về thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đào tạo liên tục:

- Thực trạng công tác ĐTLT tại cơ sở hiện nay như thế nào?

- Những thuận lợi, khó khăn khi cử CBYT đi đào tạo

- Khối lượng công việc, tiêu chuẩn lựa chọn CBYT cử đi đào tạo

- Nguồn kinh phí cho công tác ĐTLT

- Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động ĐTLT

+ Nhóm yếu tố liên quan tới cơ chế, chính sách

+ Nhóm yếu tố liên quan tới nhu cầu

+ Nhóm yếu tố liên quan tới hoạt động cung cấp dịch vụ (số lượng bệnh nhân, hoạt động ngoại tuyến, )

+ Nhóm yếu tố liên quan tới kinh phí

- Khó khăn và thách thức, định hướng phát triển công tác ĐTLT

2.7 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá

- Đáp ứng đào tạo liên tục theo Thông tư 22/2013/TT-BYT: Bác sỹ có chứng chỉ và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được đào tạo liên tục có cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận đủ 48 tiết trở lên trong 02 năm Trong nghiên cứu này, kết quả đào tạo liên tục được xác định gồm 02 chỉ số:

+ Có được tham gia đào tạo liên tục: Là bác sỹ được tham gia ít nhất 01 khóa ĐTLT trong năm 2019

+ Đào tạo liên tục đáp ứng Thông tư 22/2013/TT-BYT: Là bác sỹ được ĐTLT có cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ nhận đủ 48 tiết trở lên trong 02 năm (tính đến tháng 6 năm 2019) Chỉ số này được đánh giá đối với các bác sỹ đã công tác tại bệnh viện từ 02 năm trở lên (tính đến tháng 6 năm 2019)

- Chứng chỉ hành nghề, khám bệnh chữa bệnh: Là chứng chỉ được cấp có thẩm quyền (Sở Y tế Thái Nguyên) cấp theo bằng cấp chuyên môn

- Kỹ năng mềm bao gồm giao tiếp ứng xử, tin học và ngoại ngữ

HUPH

Trang 38

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

- Thống kê mô tả: tần số và tỷ lệ phần trăm theo biến số nghiên cứu

- Thống kê phân tích sử dụng kiểm định khi bình phương để tìm hiểu các yếu

tố liên quan đến đào tạo liên tục tại bệnh viện

- Xây dựng bảng kiểm đánh giá thực trạng thực hiện đào tạo liên tục theo Thông tư 22/2013/TT-BYT dưới hình thức xem các báo cáo, quyết định, biên bản (phụ lục 5)

* Định tính

Băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu được gỡ, đánh máy dưới dạng văn bản Word Nghiên cứu viên đọc nội dung các cuộc phỏng vấn sâu để mã hóa thông tin Phương pháp phân tích theo chủ đề được áp dụng Kết quả phân tích thông tin định tính nhằm bổ sung, giải thích cho kết quả định lượng Một số thông tin do đối tượng nghiên cứu cung cấp được trích dẫn, minh họa cho kết quả nghiên cứu

2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức nghiên cứu của trường Đại học Y tế Công cộng theo Quyết định số: 131/2019/YTCC-HD3

- Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích, nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phát vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu

- Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được bảo mật Các số liệu thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác

- Kết quả nghiên cứu được thông qua Ban giám đốc, trưởng phòng Chỉ đạo tuyến và quản lý chất lượng Bệnh viện C Thái Nguyên, nhằm mô tả rõ thực trạng ĐTLT, các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó của đối tượng bác sỹ tại bệnh viện

HUPH

Trang 39

Kết quả nghiên cứu là cơ sở đưa ra các khuyến nghị, đề xuất với Ban giám đốc về công tác ĐTLT cho đối tượng Bác sỹ

HUPH

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 1 Thông tin nhân khẩu học của bác sỹ tại bệnh viện (n=108)

khối hành chính chiếm 4,6% (Bảng 3.1)

HUPH

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trịnh Yên Bình (2013), Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp, Luận án Tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp
Tác giả: Trịnh Yên Bình
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2013
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết công tác bảo vệ chăm sóc nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, số 46-NQ/TW, ngày 23/02/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết công tác bảo vệ chăm sóc nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
4. Bộ Y tế (2015), Phê duyệt Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám, chữa bệnh giai đoạn 2015-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt Kế hoạch phát triển nhân lực trong hệ thống khám, chữa bệnh giai đoạn 2015-2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
7. Bộ Y tế (1997), Quyết định Ban hành quy chế bệnh viện, số 1895/1997/QĐ-BYT, ngày 19/9/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Ban hành quy chế bệnh viện, số 1895/1997/QĐ-BYT
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 1997
8. Bộ Y tế, Cục Quản lý khám chữa bệnh &amp; Dự án tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong khám chữa bệnh (2014), Tài liệu đào tạo Quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo Quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế, Cục Quản lý khám chữa bệnh, Dự án tăng cường chất lượng nguồn nhân lực trong khám chữa bệnh
Năm: 2014
9. Bộ Y tế &amp; WHO (2014), Quản lý công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế, WHO
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
10. Cục Khoa học công nghệ và đào tạo (2014), Quyết định ban hành tài liệu đào tạo, quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện, số 64/QĐ-K2ĐT, ngày 20/05/2014.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định ban hành tài liệu đào tạo, quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện
Tác giả: Cục Khoa học công nghệ và đào tạo
Năm: 2014
3. Bộ Tài Chính (2018), Thông tư số 36/2018/TT-BYT ngày 30/3/2018 Về việc Hướng dẫn về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Khác
5. Bộ Y tế (2013), Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2013 về hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, số 22/2013/TT-BYT, ngày 09/08/2013 Khác
6. Bộ Y tế (2012), Quyết định số 493/QĐ-BYT ngày 17/2/2012 về việc ban hành quy định về tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng đơn vị đào tạo liên tục cán bộ y tế, số 493/QĐ-BYT, ngày 17/02/2012 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm