ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu cấu phần định tính
• Lãnh đạo trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến
• Trưởng khoa Điều dưỡng, Bác sỹ trưởng khoa
• Điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu cấu phần định lượng
• Điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện
• Có thời gian làm việc ít nhất từ 1 năm trở lên tại Bệnh viện
• Đồng ý tham gia nghiên cứu
• Các điều dưỡng làm việc tại phòng hành chính
• Những người đi học, thai sản, vắng mặt tại thời điểm tiến hành nghiên cứu
• Các điều dưỡng có hoặc đang điều trị các vấn đề về sức khỏe tâm thần
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1/2020 đến tháng 9/2020, thời gian thu thập số liệu từ tháng 04/2020 đến tháng 06/2020
- Tại các khoa điều dưỡng lâm sàng và cận lâm sàng của BVĐK tỉnh Phú Thọ
Thiết kế nghiên cứu
- Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
2.3.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi đã chọn toàn bộ điều dưỡng đáp ứng tiêu chí lựa chọn và đang làm việc tại 20 khoa của Bệnh viện đa khoa Phú Thọ, bao gồm các khoa: Ngoại tổng hợp, Chấn thương, Liên chuyên khoa Mắt-Tai Mũi Họng-Răng Hàm Mặt, Ngoại thần kinh, Gây mê hồi sức, Ngoại thận – Tiết niệu, Nội tiết – Đái tháo đường, Hồi sức tích cực – Chống độc, Khám bệnh, Bệnh nhiệt đới, Da liễu, Cấp cứu, Nội thần kinh – Cơ xương khớp, Nội hô hấp – Tiêu hóa, Chẩn đoán hình ảnh, Thăm dò chức năng, Giải phẫu bệnh, Kiểm soát nhiễm khuẩn, và Trung tâm xét nghiệm.
Trong nghiên cứu này, danh sách toàn bộ các khoa có 347 điều dưỡng đã được xem xét Sau khi áp dụng các tiêu chí lựa chọn và loại trừ, chỉ có 214 điều dưỡng tham gia, chiếm 61,7% tổng số.
Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích:
- Phỏng vấn sâu 01 Lãnh đạo Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến
- Phỏng vấn sâu đại diện Lãnh đạo khoa là Bác sỹ trưởng khoa và điều dưỡng trưởng của các khoa
- Thảo luận nhóm đối với 8 điều dưỡng
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.2.1 Cấu phần nghiên cứu định lượng
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các kế hoạch và báo cáo sơ kết, tổng kết hoạt động đào tạo liên tục của Phòng đào tạo Bệnh viện trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.
- Nguồn số liệu sơ cấp
- Các điều dưỡng viên đang làm việc tại BVĐK tỉnh Phú Thọ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo sơ kết và tổng kết hoạt động đào tạo liên tục của bệnh viện trong giai đoạn 2015-2019, cùng với báo cáo kế hoạch đào tạo nhân lực của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ trong cùng khoảng thời gian Việc rà soát và tổng hợp các nội dung liên quan sẽ giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về hiệu quả và tiến trình đào tạo nhân lực trong lĩnh vực y tế.
HUPH thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo, các loại hình đào tạo tại BVĐK tỉnh Phú Thọ trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2019
Nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp thông qua phương pháp phát vấn với bộ câu hỏi có cấu trúc sẵn Đầu tiên, danh sách các điều dưỡng viên đủ tiêu chí tham gia nghiên cứu được lập Sau đó, nghiên cứu viên liên hệ với điều dưỡng trưởng các khoa để lên lịch thu thập số liệu Khi phiếu tự điền hoàn thành, nghiên cứu viên sẽ rà soát và hỏi lại những thông tin thiếu hoặc không hợp lý, đồng thời giải thích để đối tượng điều chỉnh.
2.3.2.2 Cấu phần nghiên cứu định tính
Bộ công cụ thu thập số liệu bao gồm phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, được thiết kế đặc biệt cho đối tượng là các lãnh đạo bệnh viện và điều dưỡng trong lĩnh vực Nội và Ngoại.
Nghiên cứu viên lên lịch hẹn với đối tượng phỏng vấn theo hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Mỗi buổi thảo luận nhóm thường kéo dài khoảng 60 phút.
Biến số nghiên cứu
2.4.1 Biến số chính nghiên cứu định lượng
Các biến số phụ thuộc
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: khoa công tác, giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, thu nhập, trình độ học vấn, tuổi nghề, thu nhập
Tham gia đào tạo liên tục của điều dưỡng hiện nay đang được chú trọng, với nhiều điều dưỡng viên đã từng tham gia các khóa đào tạo Thời gian và địa điểm đào tạo đa dạng, cùng với nội dung đào tạo phong phú, giúp nâng cao kỹ năng chuyên môn Hỗ trợ chi phí đào tạo cũng là một yếu tố quan trọng, góp phần tăng cường sự hài lòng của điều dưỡng viên với các khóa học.
Các biến số phụ thuộc
Nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng ngày càng tăng cao, với mong muốn được nâng cao kỹ năng và kiến thức chuyên môn Điều dưỡng viên thường tìm kiếm các hình thức đào tạo linh hoạt và sẵn sàng chi trả mức học phí hợp lý Họ mong muốn học 30 kỹ thuật chuyên sâu, với thời gian đào tạo phù hợp và địa điểm thuận tiện.
Thông tin các biến số, định nghĩa, cách đo lường được trình bày chi tiết trong Phụ lục 2
2.4.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính
Bộ câu hỏi định tính đã được chuẩn hóa thông qua việc phỏng vấn 5 điều dưỡng đang làm việc tại Bệnh viện đa khoa Phú Thọ, nhằm xác định tính phù hợp và thực hiện hiệu quả.
Tên chủ đề Các nội dung chính
Thực trạng đào tạo đối tượng điều dưỡng trong năm 2019
- Các chính sách và kế hoạch của BV để nâng cao năng lực của điều dưỡng
- Số lượng khóa đào tạo liên tục về chuyên môn điều dưỡng khối nội và khối ngoại
- Nhận xét của đối tượng nghiên cứu về sự phù hợp của các nội dung đã được đào tạo so với yêu cầu của công việc
- Thuận lợi và khó khăn của điều dưỡng khi thực hiện công việc chuyên môn
Thực trạng năng lực chuyên môn của ĐTNC
- Nhận xét của ĐTNC về năng lực chuyên môn cần phải có để thực hiện công việc
- Nhận xét của ĐTNC về mức độ đáp ứng yêu cầu của công việc hiện tại Nhu cầu đào tạo nhằm nâng cao năng lực chuyên môn của ĐTNC
- Nhu cầu của ĐTNC về các nội dung nâng cao năng lực chuyên môn cần đào tạo trong tương lai
- Các hình thức đào tạo phù hợp
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được nhập và mã hóa vào máy tính thông qua phần mềm Epidata 3.1, sau đó được làm sạch bằng Microsoft Excel 16.0 trước khi xử lý bằng phần mềm STATA 14.0.
Phân tích mô tả được sử dụng để nắm bắt đặc điểm chung của người tham gia, tình hình tham gia đào tạo liên tục và mong muốn tham gia đào tạo Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) giúp phân nhóm các kỹ thuật điều dưỡng cần đào tạo, với ngưỡng giá trị riêng lớn hơn 1 Sử dụng phép quay trực giao varimax với chuẩn hóa Kaiser, các câu hỏi có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,4 được giữ lại, dẫn đến việc chia 30 kỹ thuật điều dưỡng thành 4 nhóm: “Kỹ thuật tiêm truyền”, “Kỹ năng mềm”, “Các kỹ thuật chăm sóc người bệnh” và “Kỹ thuật cấp cứu ban đầu” Một số câu hỏi như “thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản” và “chăm sóc người bệnh trước/sau phẫu thuật” bị loại bỏ do hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,4 Độ tin cậy nội tại của các câu hỏi trong cùng một nhóm kỹ thuật được xác định bằng giá trị Crobach’s alpha.
• Từ 0,8 – 1: thang đo lường rất tốt
• Từ 0,7 – 0,8: thang đo lường sử dụng tốt
• Từ 0,6 trở lên: thang đo lường đủ điều kiện
Mô hình hồi quy logistic đa biến giúp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo liên tục của điều dưỡng Thuật toán stepwise được áp dụng với ngưỡng p < 0,1 để lựa chọn các biến số phù hợp cho mô hình, trong khi p < 0,05 được xác định là ngưỡng có ý nghĩa thống kê.
Số liệu định tính được thu thập từ các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) thông qua việc ghi âm hoặc ghi chép biên bản, sau đó được tổng hợp và phân tích theo các chủ đề nghiên cứu.
2.6 Sai số và cách khắc phục sai số
+ Sai số trong quá trình thu thập số liệu
+ Sai số trong quá trình nhập liệu và phân tích số liệu
2.6.2 Cách khắc phục sai số
Trong quá trình thu thập số liệu, học viên sẽ kiểm tra các phiếu hỏi đã hoàn thành Nếu phát hiện sự không nhất quán hoặc thiếu logic trong thông tin từ người trả lời, họ sẽ yêu cầu người trả lời xem xét và chỉnh sửa thông tin nếu cần thiết.
Trong quá trình làm sạch và nhập liệu, cần chú ý đến sai số bằng cách xử lý các số liệu bị thiếu và thực hiện kiểm tra chéo 10% số phiếu đã nhập để đảm bảo tính chính xác trước khi tiến hành phân tích.
2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được phê duyệt theo Quyết định số 118/2020/YTCC-HD3 ngày 30/3/2020 của Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng và được sự đồng ý của ban lãnh đạo Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích nghiên cứu và có quyền rút lui bất cứ lúc nào mà không bị ép buộc Tất cả thông tin của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật tuyệt đối, chỉ nghiên cứu viên mới có quyền truy cập.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
3.1 Đặc điểm thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Trình độ chuyên môn của điều dưỡng tham gia nghiên cứu
Trong nghiên cứu với 214 điều dưỡng, tỷ lệ điều dưỡng trung học chiếm 22,9%, điều dưỡng cao đẳng 38,3%, điều dưỡng đại học 35,1% và điều dưỡng sau đại học 3,7%.
Bảng 3.1 trình bày đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng tham gia nghiên cứu, trong đó có sự phân chia theo trình độ điều dưỡng Cụ thể, điều dưỡng TC/CĐ chiếm 52,7% trong khối Nội, 27,5% trong khối Ngoại và 19,8% trong khối Cận lâm sàng Đối với điều dưỡng ĐH/SĐH, tỷ lệ tương ứng là 48,2% cho khối Nội, 42,2% cho khối Ngoại và 9,6% cho khối Cận lâm sàng Tổng cộng, điều dưỡng chung có 50,9% trong khối Nội, 33,2% trong khối Ngoại và 15,9% trong khối Cận lâm sàng.
3.7 Điều dưỡng Trung học Điều dưỡng Cao đẳng Điều dưỡng Đại học Điều dưỡng Sau đại học
KẾT QUẢ
Đặc điểm thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 Trình độ chuyên môn của điều dưỡng tham gia nghiên cứu
Trong nghiên cứu với 214 điều dưỡng, tỷ lệ điều dưỡng trung học chiếm 22,9%, điều dưỡng cao đẳng là 38,3%, điều dưỡng đại học là 35,1%, và điều dưỡng sau đại học là 3,7%.
Bảng 3.1 trình bày đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng tham gia nghiên cứu, trong đó có sự phân chia theo trình độ điều dưỡng Cụ thể, điều dưỡng TC/CĐ chiếm 52,7% trong khối Nội, 27,5% trong khối Ngoại và 19,8% trong khối Cận lâm sàng Đối với điều dưỡng ĐH/SĐH, tỷ lệ tương ứng là 48,2% cho khối Nội, 42,2% cho khối Ngoại và 9,6% cho khối Cận lâm sàng Tổng cộng, điều dưỡng khối Nội chiếm 50,9%, khối Ngoại 33,2% và khối Cận lâm sàng 15,9%.
3.7 Điều dưỡng Trung học Điều dưỡng Cao đẳng Điều dưỡng Đại học Điều dưỡng Sau đại học
Bảng 3.1 trình bày các đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu Trong số
Trong nghiên cứu, có 214 điều dưỡng tham gia, trong đó nam giới chiếm 11,7% và nữ giới chiếm 88,3% Tỷ lệ điều dưỡng khối Nội tham gia là 50,9%, khối Ngoại là 33,2%, và khối cận lâm sàng là 15,9% Khoảng 78,5% đối tượng tham gia đã lập gia đình Về vị trí việc làm, 57,9% cán bộ là biên chế, trong đó tỷ lệ điều dưỡng Trung cấp/Cao đẳng trong biên chế (60,3%) cao hơn so với điều dưỡng Đại học/Sau đại học (54,2%).
Bảng 3.2 Thời gian công tác và thu nhập của đối tượng tham gia nghiên cứu Đặc điểm Điều dưỡng TC/CĐ Điều dưỡng ĐH/SĐH Chung
TB ± ĐLC TB ± ĐLC TB ± ĐLC
Số năm công tác trong ngành y
Số năm công tác tại bệnh viện 11,9 ± 5,8 10,6 ± 6,1 11,1 ± 6,0
Tuổi trung bình của đối tượng tham gia là 33,0 ± 6,2 tuổi, dao động từ 24 đến 50 tuổi
Số năm công tác trung bình của đối tượng nghiên cứu tại bệnh viện là 11,1 ± 6,0 năm Thu nhập của cán bộ điều dưỡng có trình độ Đại học/Sau đại học đạt 8,2 ± 2,8 triệu đồng/tháng, cao hơn so với điều dưỡng Trung cấp/Cao đẳng với mức thu nhập 7,4 ± 2,8 triệu đồng/tháng.
Thực trạng đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa Phú Thọ từ 2015-2019
*Theo số liệu lưu giữ tại Phòng đào tạo của Bệnh viện
Biểu đồ 3.2 Tình hình đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa tỉnh
Phú Thọ từ 2015-2019 (số lượt đào tạo)
Từ năm 2015 đến năm 2019, số lượng điều dưỡng được đào tạo tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ có xu hướng tăng, với số lượt dao động từ 89 đến 111 lượt đào tạo mỗi năm.
Tập huấn Hội thảo, hội nghị Tổng số lượt đào tạo
HUPH tổ chức đào tạo hàng năm, với hình thức hội thảo và hội nghị thu hút số lượng điều dưỡng tham gia cao hơn so với các khóa tập huấn.
Bảng 3.3 Đặc điểm điều dưỡng tham gia đào tạo liên tục tại bệnh viện đa khoa tỉnh
Phú Thọ từ 2015-2019 (số lượt đào tạo)
TB ± ĐLC TB ± ĐLC TB ± ĐLC TB ± ĐLC TB ± ĐLC Độ tuổi trung bình tham gia đào tạo 29,6 ± 5,3 30,3 ± 6,2 32,5 ± 5,5 32,7 ± 4,9 33,8 ± 5,2
*Theo số liệu lưu giữ tại Phòng đào tạo của Bệnh viện
Tỷ lệ điều dưỡng nữ luôn cao hơn điều dưỡng nam trong các năm qua Độ tuổi trung bình của các đối tượng tham gia đào tạo có xu hướng tăng nhẹ, với mức thấp nhất ghi nhận vào năm 2015 là 29,6 ± 5,3 và cao nhất vào năm 2019 là 33,8 ± 5,2.
Thực trạng tham gia đào tạo liên tục của điều dưỡng viên
Bảng 3.4 trình bày thực trạng tham gia các lớp tập huấn của điều dưỡng viên, với các đặc điểm phân loại theo trình độ: điều dưỡng TC/CĐ, điều dưỡng ĐH/SĐH và chung Số liệu cho thấy tỷ lệ điều dưỡng viên đã từng tham gia các lớp tập huấn được phân tích theo từng nhóm, thể hiện sự quan tâm và nhu cầu nâng cao kỹ năng chuyên môn trong ngành điều dưỡng.
TB ± ĐLC TB ± ĐLC TB ± ĐLC Khoảng thời gian từ lần tập huấn cuối đến nay (tháng) 8,0 ± 4,3 7,7 ± 4,2 7,8 ± 4,3
Số lớp tập huấn đã tham gia trong
Trong nghiên cứu với 214 đối tượng, 77,1% điều dưỡng đã tham gia đào tạo liên tục trong 5 năm qua Tỷ lệ điều dưỡng Đại học/Sau đại học tham gia đào tạo liên tục đạt 86,8%, cao hơn so với 71,0% của điều dưỡng Trung cấp/Cao đẳng Thời gian từ lần tập huấn gần nhất trung bình là 7,8 ± 4,3 tháng, trong đó điều dưỡng Trung cấp/Cao đẳng là 8,0 ± 4,3 tháng, còn điều dưỡng Đại học/Sau đại học là 7,7 ± 4,2 tháng Trung bình, mỗi đối tượng đã tham gia 14,3 ± 3,2 lớp tập huấn trong 5 năm qua.
Biểu đồ 3.3 Đặc điểm liên quan tới địa điểm của các khóa tập huấn
Phần lớn các lớp tập huấn được tổ chức tại bệnh viện, chiếm 83,2% Ngoài ra, một số lớp tập huấn cũng diễn ra tại bệnh viện tuyến trên với tỷ lệ 36,7% và tại các trường y tế với tỷ lệ 21,4%.
100 Điều dưỡng TC/CĐ Điều dưỡng ĐH/SĐH Chung
Học tại bệnh viện Học tại bệnh viện tuyến trên Học tại các trường y tế
Bảng 3.5 Nội dung các khóa tập huấn/đào tạo Đặc điểm Điều dưỡng TC/CĐ Điều dưỡng ĐH/SĐH Chung n % n % n %
Nội dung các khóa tập huấn/đào tạo
Liên quan tới chuyên ngành 84 84,0 62 84,9 146 84,4 Liên quan tới công tác dự phòng 16 16,0 13 17,8 29 16,7 Liên quan tới các chương trình y tế 14 14,0 6 8,22 20 11,6
Quy tắc giao tiếp ứng xử 70 70,0 46 63,0 116 67,1
Tư vấn truyền thông GDSK 7 7,0 4 5,5 11 6,4
Công tác kiểm soát nhiễm khuẩn 53 53,0 40 54,8 93 53,8
An toàn trong chăm sóc người bệnh 63 63,0 48 65,8 111 64,2
Trong các khóa tập huấn, nội dung đào tạo chuyên ngành chiếm tỷ lệ cao nhất với 84,4%, tiếp theo là quy tắc giao tiếp ứng xử (67,1%), an toàn trong chăm sóc người bệnh (64,2%) và kiểm soát nhiễm khuẩn (53,8%) Ngược lại, các nội dung ít được đào tạo nhất bao gồm tư vấn truyền thông GDSK (6,4%), chương trình y tế (11,6%) và công tác dự phòng (16,7%).
Bảng 3.6 Sự hỗ trợ của các khóa tập huấn/đào tạo cho học viên Đặc điểm Điều dưỡng TC/CĐ Điều dưỡng ĐH/SĐH Chung n % n % n %
Khóa học được cấp chứng chỉ/chứng nhận
Có, tất cả các lần 15 15,0 6 8,2 21 12,1
Khóa học được hỗ trợ kinh phí tham gia
Có, tất cả các lần 56 56,0 53 72,6 109 63,0
Trong nghiên cứu với 214 đối tượng, có 12,1% được cấp chứng chỉ đào tạo trong tất cả các lần, 73,4% nhận chứng chỉ ở một số lần, và 14,5% không nhận chứng chỉ Về hỗ trợ kinh phí, 63,0% cho biết được hỗ trợ trong tất cả các lần đào tạo, 26,0% được hỗ trợ trong một số lần, và 11,0% không nhận hỗ trợ Đặc biệt, tỷ lệ không được hỗ trợ kinh phí ở nhóm điều dưỡng Trung cấp/Cao đẳng (18,0%) cao hơn nhiều so với nhóm điều dưỡng Đại học/Sau đại học (1,4%).
Bảng 3.7 cho thấy mức độ hài lòng của học viên sau khi tham gia các lớp tập huấn về điều dưỡng Cụ thể, tỷ lệ học viên từ các chương trình TC/CĐ và ĐH/SĐH đều đánh giá cao khả năng áp dụng kiến thức đã học vào công việc hàng ngày.
Có, tất cả các kiến thức 62 62,0 42 57,5 104 60,1
Mức độ hài lòng với các khóa tập huấn đã tham gia
Trong nghiên cứu, 60,1% người tham gia cho biết họ áp dụng được toàn bộ kiến thức đã học vào công việc hàng ngày, trong khi 30,6% cho rằng họ chỉ áp dụng được một phần Chỉ có 9,3% cho biết không thể áp dụng kiến thức mới Đáng chú ý, tỷ lệ hài lòng với các khóa đào tạo mà họ đã tham gia lên tới 82,7%.
Nhu cầu được đào tạo liên tục của điều dưỡng viên
Bảng 3.8 Nhu cầu được đào tạo của điều dưỡng viên Đặc điểm
Có mong muốn được đào tạo
Không có mong muốn được đào tạo
Chung n % n % n % Đơn vị công tác Điều dưỡng khối Nội 100 91,7 9 8,3 109 100,0 Điều dưỡng khối Ngoại 69 97,2 2 2,8 71 100,0 Điều dưỡng khối Cận lâm sàng 30 88,2 4 11,8 34 100,0
Trình độ chuyên môn Điều dưỡng trung học 42 85,7 7 13,3 49 100,0 Điều dưỡng cao đẳng 78 95,1 4 4,9 82 100,0 Điều dưỡng đại học 72 96,0 3 4,0 75 100,0 Điều dưỡng sau đại học 7 87,5 1 12,5 8 100,0
Theo nghiên cứu, 93,0% điều dưỡng bày tỏ mong muốn tiếp tục được đào tạo, trong đó điều dưỡng khối Ngoại có nhu cầu cao nhất (97,2%), tiếp theo là khối Nội (91,7%) và khối Cận lâm sàng (88,2%) Nhóm điều dưỡng đại học và cao đẳng cũng thể hiện mong muốn đào tạo cao, lần lượt là 96,0% và 95,1% Đặc biệt, tỷ lệ mong muốn đào tạo ở nam giới đạt 100%, cao hơn so với nữ giới (92,1%) Những người ly dị/góa có nhu cầu tập huấn cao nhất (100,0%), tiếp theo là điều dưỡng đã có gia đình (92,9%) và chưa lập gia đình (90,3%).
Bảng 3.9 Mức độ cần thiết đối với các nội dung mong muốn được tập huấn
Kỹ năng mềm (tư vấn, lập kế hoạch, lãnh đạo)
Các kỹ thuật chăm sóc người bệnh
Kỹ thuật cấp cứu ban đầu
Tư vấn và chăm sóc về dinh dưỡng 69 34,9 0,59
Y đức, kỹ năng giao tiếp với bệnh nhân 62 31,3 0,35
Kỹ năng lập kế hoạch, ra quyết định 40 20,2 0,40
Kỹ năng lãnh đạo, quản lý 54 27,3 0,35
Kiến thức về phòng chống nhiễm khuẩn bệnh viện 42 21,2 0,63
Chăm sóc phục hồi chức năng 194 98,0 0,36
Cho người bệnh ăn qua sonde dạ dày 143 72,2 0,38
Thay băng vết thương, cắt chỉ 143 72,2 0,42
Thực hiện chăm sóc người bệnh cố định ngoại vi 131 66,2 0,44
Kỹ thuật thông tiểu nam-nữ 131 66,2 0,58
Chăm sóc, phòng ngừa loét tì đè 133 67,2 0,67
Kỹ thuật hút đờm dãi 117 59,1 0,33
Các kỹ thuật cấp cứu ban đầu 132 66,7 0,35
Các biện pháp cầm máu tạm thời 96 48,5 0,62
Cấp cứu ngừng tuần hoàn 120 60,6 0,73
Theo dõi dấu hiệu sinh tồn 106 53,5 0,53
Cronbach's alpha 0,85 0,64 0,66 0,53 Điểm trung bình từng cấu phần (TB ± ĐLC) 8,9 ± 0,9 6,5 ± 0,7 8,2 ± 0,6 8,0 ± 0,5
Câu hỏi bị loại bỏ
Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 195 98,5
Cho người bệnh thở Oxy 193 97,5
Tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh 51 25,8
Chăm sóc người bệnh trước/sau phẫu thuật 128 64,7
Nghiên cứu đã yêu cầu các đối tượng đánh giá 30 kỹ thuật điều dưỡng theo thang điểm từ 1-10, với 1 điểm là không có nhu cầu và 10 điểm là nhu cầu rất cao Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) cho thấy 26 kỹ thuật được giữ lại, chia thành 4 nhóm chính: “Kỹ thuật tiêm truyền”, “Kỹ năng mềm (tư vấn, lập kế hoạch, lãnh đạo)”, “Các kỹ thuật chăm sóc người bệnh”, và “Kỹ thuật cấp cứu ban đầu” Nhóm kỹ thuật tiêm truyền có độ tin cậy Cronbach's alpha cao (α = 0,85) và nhu cầu đào tạo trên 90%, với điểm trung bình là 8,9 ± 0,9 Nhóm kỹ năng mềm có độ tin cậy trung bình (α = 0,64) và nhu cầu đào tạo dao động từ 20-35%, với điểm trung bình là 6,5 ± 0,7 Nhóm các kỹ thuật chăm sóc người bệnh có độ tin cậy trung bình (α = 0,66) và nhu cầu đào tạo từ 50-98%, với điểm trung bình là 8,2 ± 0,6 Nhóm kỹ thuật cấp cứu ban đầu có độ tin cậy trung bình (α = 0,53) và nhu cầu đào tạo từ 52-67%, với điểm trung bình là 8,0 ± 0,5.
Những người tham gia phỏng vấn nhấn mạnh rằng nội dung của các khóa tập huấn và đào tạo cần chú trọng vào thực hành Bên cạnh việc hướng dẫn các kỹ thuật mới, việc đào tạo lại các kỹ thuật cơ bản cũng rất quan trọng để giảm thiểu sai sót trong chuyên môn.
Cần chú trọng cập nhật kiến thức và kỹ thuật mới cho điều dưỡng viên, đồng thời không quên đào tạo các kỹ thuật cơ bản để giảm thiểu sai sót chuyên môn.
Cần ưu tiên tập huấn quy trình kỹ thuật điều dưỡng để đạt mục tiêu chăm sóc người bệnh, bao gồm nhận định, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kế hoạch điều dưỡng.
Trong một cuộc phỏng vấn với điều dưỡng khoa Hồi sức cấp cứu, chị cho biết rằng việc ưu tiên học các kỹ thuật như Kỹ thuật cấp cứu ban đầu và trợ giúp bác sĩ trong các thủ thuật là rất quan trọng.
Chương trình đào tạo hiện tại chủ yếu được thiết kế theo yêu cầu từ cấp trên, chưa chú trọng đến nguyện vọng và nhu cầu của cán bộ nhân viên Nhân viên điều dưỡng mong muốn có nhiều cơ hội học thực hành hơn, vì các khóa đào tạo trước đây chủ yếu tập trung vào lý thuyết Mặc dù một số khóa có phần thực hành trên mô hình, nhưng vẫn chưa được áp dụng thực tế trong công tác chăm sóc bệnh nhân.
Bảng 3.10 Mức độ sẵn sàng tham gia khóa học Đặc điểm Nam Nữ Chung n % n % n %
Trả phí để tham gia
TB ĐLC TB ĐLC TB ĐLC
Học phí tối đa có thể chi trả (nghìn đồng) 313,5 129,6 302,2 122,8 303,7 123,1
Bảng 3.10 cho thấy mức độ sẵn sàng tham gia khóa học của đối tượng nghiên cứu, với một phần ba không sẵn sàng tham gia Trong khi đó, hai phần ba còn lại chia thành hai nhóm: 17,2% sẵn sàng chi trả toàn bộ chi phí và 49,5% sẵn sàng chi trả một phần Đặc biệt, nam giới có tỷ lệ sẵn sàng tham gia cao hơn nữ giới, với 16% nam sẵn sàng chi trả toàn bộ và 60% chi trả một phần, so với 17,3% nữ sẵn sàng chi trả toàn bộ và 48% chi trả một phần Học phí trung bình mà đối tượng có thể chi trả là 123,1 nghìn đồng, trong đó nam giới có khả năng chi trả cao hơn (313,5 nghìn đồng) so với nữ giới (122,8 nghìn đồng).
Bảng 3.11 Mức độ sẵn sàng tham gia khóa học phân theo đặc điểm cá nhân Đặc điểm
Không sẵn sàng trả phí để tham gia
Sẵn sàng trả phí để tham gia Chung n % n % n % Đơn vị công tác Điều dưỡng khối Nội 36 54,6 64 48,5 100 50,5 Điều dưỡng khối Ngoại 18 27,3 50 37,9 68 34,3 Điều dưỡng khối Cận lâm sàng 12 18,2 18 13,6 30 15,2
Trình độ chuyên môn Điều dưỡng trung học 19 28,8 23 17,4 42 21,2 Điều dưỡng cao đẳng 26 39,4 51 38,6 77 38,9 Điều dưỡng đại học 19 28,8 53 40,2 72 36,4 Điều dưỡng sau đại học 2 3,0 5 3,8 7 3,5
TB ĐLC TB ĐLC TB ĐLC
Thu nhập trung bình (triệu đồng) 6,1 2,7 8,5 2,6 7,8 2,8
Bảng 3.11 cho thấy mức độ sẵn sàng tham gia khóa học của đối tượng nghiên cứu theo đặc điểm cá nhân Trong đó, 48,5% đối tượng từ điều dưỡng khối nội và 37,9% từ điều dưỡng khối ngoại sẵn sàng chi trả Về trình độ chuyên môn, điều dưỡng đại học và cao đẳng có tỷ lệ sẵn sàng chi trả cao nhất, lần lượt là 40,3% và 38,6% Đặc biệt, 80,3% đối tượng có gia đình sẵn sàng chi trả, trong khi tỷ lệ này ở người chưa lập gia đình và ly dị/góa chỉ là 12,9% và 6,8% Dân tộc Kinh chiếm ưu thế trong cả hai nhóm sẵn sàng và không sẵn sàng chi trả Cuối cùng, sự khác biệt trong mức độ sẵn sàng chi trả giữa nhân viên hợp đồng và nhân viên có biên chế là không đáng kể, với tỷ lệ lần lượt là 42,4% và 57,6%.
Bảng 3.12 Mong muốn về hình thức đào tạo Đặc điểm
Khóa học dài hạn Chung n % n % n %
HUPH Đơn vị công tác Điều dưỡng khối Nội 68 76,4 21 23,6 89 100,0 Điều dưỡng khối Ngoại 36 69,2 16 30,8 52 100,0 Điều dưỡng khối Cận lâm sàng 11 55,0 9 45,0 20 100,0
Trình độ chuyên môn Điều dưỡng trung học 26 72,2 10 27,8 36 100,0 Điều dưỡng cao đẳng 41 68,3 19 31,7 60 100,0 Điều dưỡng đại học 44 74,6 15 24,4 59 100,0 Điều dưỡng sau đại học 4 66,7 2 33,3 6 100,0
Bảng 3.12 cho thấy mong muốn về hình thức đào tạo của đối tượng nghiên cứu phân theo đặc điểm cá nhân Tỉ lệ chọn khóa học ngắn hạn cao hơn khóa học dài hạn ở tất cả các đặc điểm chung Cụ thể, trong đơn vị công tác, điều dưỡng ở ba khối nội, ngoại, và cận lâm sàng đều ưu tiên khóa học ngắn hạn với tỉ lệ lần lượt là 76,4%, 69,2% và 55% Đặc biệt, trình độ điều dưỡng trung học và đại học thể hiện sự chênh lệch rõ rệt trong tỉ lệ mong muốn học khóa học ngắn hạn.
Theo khảo sát, 70% nam giới và 71,6% nữ giới lựa chọn khóa học ngắn hạn Đặc biệt, tỷ lệ ly hôn hoặc góa phụ chọn khóa học ngắn hạn lên tới 90,9%, trong khi chỉ có 9,1% chọn khóa học dài hạn Đối với dân tộc, dân tộc Kinh có tỷ lệ chọn khóa học ngắn hạn cao hơn rõ rệt (72,7%) so với khóa học dài hạn (23,3%) Ngược lại, các dân tộc khác cho thấy sự chênh lệch không lớn giữa hai lựa chọn (54,5% chọn ngắn hạn và 45,5% chọn dài hạn) Về vị trí việc làm, tỷ lệ chọn khóa học ngắn hạn cũng không có sự khác biệt lớn, với 74,6% nhân viên hợp đồng và 69,2% nhân viên biên chế chọn khóa học này.
Bảng 3.13 Mong muốn về thời gian và địa điểm đào tạo Đặc điểm Đang sống cùng gia đình
Thời gian lớp đào tạo
Trên 6 tháng 9 5,8 5 10,7 14 7,1 Địa điểm lớp đào tạo
Học trực tiếp tại bệnh viện 141 91,0 38 88,4 179 90,4 Học tại bệnh viện tuyến trên 76 49,0 25 58,1 101 51,0
Học tại các trường y tế 36 23,2 7 16,3 43 21,7
Bảng 3.13 trình bày mong muốn về thời gian và địa điểm đào tạo của các điều dưỡng dựa trên tình trạng hôn nhân Kết quả cho thấy, 51,5% điều dưỡng ưa thích thời gian đào tạo từ 2-7 ngày Ngoài ra, tỷ lệ mong muốn thời gian đào tạo 1 ngày, 1 tuần – 1 tháng, 1 tuần – 6 tháng và trên 6 tháng lần lượt là 17,7%.
Tỷ lệ điều dưỡng có gia đình tham gia đào tạo từ 1-6 tháng đạt 12,9%, cao hơn so với nhóm sống một mình chỉ 4,7% Tuy nhiên, với các lớp đào tạo trên 6 tháng, tỷ lệ ở nhóm có gia đình giảm xuống còn 5,8%, thấp hơn nhóm sống một mình (4,7%) Địa điểm đào tạo ưa thích nhất là tại bệnh viện (90,4%), tiếp theo là bệnh viện tuyến trên (51,0%) và các trường y tế (21,7%).
Các người tham gia phỏng vấn đều nhất trí rằng việc tổ chức đào tạo liên tục tại từng khoa phòng là cần thiết Điều này xuất phát từ sự khác biệt về nhu cầu đào tạo của từng khoa và giúp thuận tiện hơn trong việc sắp xếp thời gian học, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành.
Khuyến khích đào tạo tại các khoa phòng là cần thiết, vì mô hình đào tạo với quy mô nhỏ sẽ giúp tập trung vào các đặc thù riêng của từng khoa.
Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan và nhu cầu được đào tạo liên tục của điều dưỡng viên
Bảng 3.18 Mô hình hồi quy logistic các yếu tố liên quan tới mong muốn được tham gia đào tạo liên tục
Có mong muốn được đào tạo liên tục
Sẵn sàng trả phí để tham gia đào tạo liên tục
Giới Tính (Nữ vs Nam) 1,03 0,3 – 3,7 0,96 Đơn vị đang công tác ( a Khối Ngoại)
Tình trạng hôn nhân ( a Có gia đình) Độc thân/Ly dị/Góa 0,75 0,2 – 3,7 0,72 0,49 0,2 – 1,4 0,18
Trình độ chuyên môn ( a Điều dưỡng trung học) Điều dưỡng cao đẳng 5,1 1,1 – 24,9 0,04 1,10 0,4 – 3,0 0,88 Điều dưỡng đại học 6,4 1,1 – 38,6 0,04 2,58 0,8 – 8,2 0,11 Điều dưỡng sau đại học 0,30 0,0 – 5,4 0,42 0,85 0,1 – 13,6 0,91
Vị trí công việc ( a Biên chế)
Hợp đồng 0,41 0,1 – 1,6 0,20 2,15 0,9 – 5,4 0,10 Đã từng tham gia đào tạo liên tục ( a Chưa)
Số năm công tác tại bệnh viện 1,08 0,7 – 1,6 0,69 1,20 0,9 – 1,6 0,20
Kết quả mô hình hồi quy logistic cho thấy điều dưỡng có trình độ cao đẳng và đại học có nhu cầu tham gia đào tạo liên tục cao gấp 5,1 lần và 6,4 lần so với điều dưỡng trung học, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Ngoài ra, điều dưỡng thuộc dân tộc khác có khả năng chi trả phí tham gia đào tạo thấp hơn 0,18 lần so với điều dưỡng dân tộc Kinh Đặc biệt, mỗi khi thu nhập trung bình tăng thêm 1 triệu đồng, khả năng đồng ý chi trả cho đào tạo tăng 1,5 lần, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,05).
Bảng 3.19 Mô hình hồi quy logistic các yếu tố liên quan nhu cầu đào tạo thêm về kỹ thuật tiêm truyền và kỹ năng mềm
Mong muốn đào tạo thêm kỹ thuật tiêm truyền Mong muốn đào tạo thêm kỹ năng mềm
Giới Tính (Nữ vs Nam) 1,64 0,4 – 7,3 0,51 0,74 0,2 – 2,3 0,6
HUPH Đơn vị đang công tác ( a Khối Ngoại)
Tình trạng hôn nhân ( a Có gia đình) Độc thân/Ly dị/Góa 1,10 0,3 – 4,6 0,89 1,30 0,5 - 3,3 0,58
Trình độ chuyên môn ( a Điều dưỡng trung học) Điều dưỡng cao đẳng 9,0 1,6 – 51,3 0,01 2,79 0,8 – 9,1 0,09 Điều dưỡng đại học 2,51 0,6 – 9,9 0,19 2,02 0,6 – 7,2 0,28 Điều dưỡng sau đại học 0,99 0,1 – 14,6 0,99 6,55 0,7 – 58,2 0,09
Vị trí công việc ( a Biên chế)
Hợp đồng 1,47 0,4 – 5,0 0,54 0,85 0,4 – 1,9 0,69 Đã từng tham gia đào tạo liên tục
Số năm công tác tại bệnh viện 0,90 0,7 – 1,2 0,53 0,80 0,7 – 0,9 0,02
Bảng 3.19 trình bày kết quả mô hình hồi quy logistic về mong muốn đào tạo kỹ năng tiêm truyền và kỹ năng mềm của đối tượng nghiên cứu Kết quả cho thấy điều dưỡng khối Nội có nhu cầu học thêm về kỹ năng tiêm truyền cao gấp 4,06 lần so với điều dưỡng khối Ngoại, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Nhóm điều dưỡng cao đẳng và đại học cũng có nhu cầu nâng cao kỹ năng tiêm truyền cao gấp 9,0 lần và 2,51 lần so với điều dưỡng trung cấp, nhưng chỉ có ý nghĩa thống kê ở nhóm điều dưỡng cao đẳng Đối với kỹ năng mềm, mỗi năm tuổi của điều dưỡng làm tăng 1,2 lần mong muốn đào tạo, tuy nhiên, những người có nhiều năm công tác tại bệnh viện lại có ít nhu cầu hơn về đào tạo kỹ năng mềm.
Mô hình hồi quy logistic trong Bảng 3.20 phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo thêm các kỹ thuật chăm sóc người bệnh và kỹ thuật cấp cứu ban đầu.
Mong muốn đào tạo thêm các kỹ thuật chăm sóc người bệnh
Mong muốn đào tạo thêm các kỹ thuật cấp cứu ban đầu
Giới Tính (Nữ vs Nam) 0,59 0,2 - 1,8 0,34 1,9 0,8 – 4,6 0,16 Đơn vị đang công tác ( a Khối Ngoại)
Tình trạng hôn nhân ( a Có gia đình)
HUPH Độc thân/Ly dị/Góa 1,82 0,7 – 4,5 0,19 1,24 0,6 – 2,6 0,56
Trình độ chuyên môn ( a Điều dưỡng trung học) Điều dưỡng cao đẳng 1,82 0,8 – 4,3 0,17 1,76 0,8 – 3,9 0,17 Điều dưỡng đại học 2,80 1,1 – 7,3 0,03 1,0 0,4 – 2,3 0,99 Điều dưỡng sau đại học 1,34 0,2 – 9,6 0,77 5,03 0,5 – 50,9 0,17
Vị trí công việc ( a Biên chế)
Hợp đồng 0,69 0,4 – 1,4 0,28 1,17 0,6 – 2,1 0,61 Đã từng tham gia đào tạo liên tục
Số năm công tác tại bệnh viện 0,97 0,8 – 1,1 0,67 1,08 0,9 – 1,3 0,26
Bảng 3.20 trình bày kết quả mô hình hồi quy logistic về mong muốn đào tạo kỹ thuật chăm sóc người bệnh và cấp cứu ban đầu Nhóm điều dưỡng cao đẳng và đại học có nhu cầu nâng cao kỹ thuật chăm sóc người bệnh cao gấp 1,82 lần và 2,8 lần so với nhóm điều dưỡng trung cấp, với ý nghĩa thống kê chỉ ở nhóm đại học Điều dưỡng đã tham gia đào tạo liên tục có nhu cầu học tập về kỹ thuật chăm sóc người bệnh cao gấp 2,32 lần so với nhóm chưa được đào tạo, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Không tìm thấy yếu tố nào có ý nghĩa thống kê liên quan đến mong muốn học tập về kỹ thuật cấp cứu ban đầu.
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu với 214 điều dưỡng, nhóm ĐTNC chủ yếu là nữ, chiếm 88,3%, gấp gần 8 lần so với nam Kết quả này phản ánh thực tế tại các bệnh viện và tương đồng với các nghiên cứu trước đây, như nghiên cứu của Trịnh Xuân Quang tại Bệnh Viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2018 với tỷ lệ nữ là 86,1%, nghiên cứu của Đặng Thị Luyến tại Bắc Giang với 79,9% nữ, và nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu tại Bệnh viện Phổi Trung ương với 78,1% nữ Điều này cho thấy đặc điểm nghề nghiệp của điều dưỡng tại Việt Nam.
Ngành điều dưỡng đòi hỏi sự tỉ mỉ và khéo léo, vì vậy phần lớn người làm trong lĩnh vực này là nữ giới Độ tuổi trung bình của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ là 33,0 ± 6,2, kết quả này tương đồng với các nghiên cứu được thực hiện tại Bình Định và Tiền Giang.
Cơ cấu tuổi của điều dưỡng tại bệnh viện cho thấy sự trẻ trung, với số năm công tác trong ngành y trung bình là 11,1 ± 6,0 năm Kết quả này cao hơn so với nhóm điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang, nơi có số năm công tác trung bình là 9,8 năm.
[38] và tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội (7,2 năm) [36]
Khoảng gần hai phần ba điều dưỡng có trình độ trung cấp và cao đẳng (61,2%), trong khi tỷ lệ điều dưỡng có trình độ đại học đạt 35,1%, nhưng tỷ lệ sau đại học chỉ là 3,7% So với nghiên cứu của Lê Văn Duy và cộng sự năm 2009, tỷ lệ điều dưỡng trung cấp-cao đẳng tại Hòa Bình là 76,2%, nhưng Phú Thọ có tỷ lệ điều dưỡng sau đại học cao hơn (3,7% so với 0,12%) Sự khác biệt này cho thấy trình độ học vấn của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ đã được cải thiện đáng kể, với nhiều điều dưỡng được tạo điều kiện học tập nâng cao Tuy nhiên, tỷ lệ điều dưỡng trung học vẫn cao, đặt ra thách thức cho ban lãnh đạo bệnh viện trong việc nâng cao trình độ cho điều dưỡng, đặc biệt khi theo thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, đến năm 2025, 100% cán bộ y tế phải có trình độ từ cao đẳng trở lên.
HUPH cho thấy rằng 83,1% ĐTNC đã lập gia đình, tỷ lệ này cao hơn so với các nghiên cứu tại Tiền Giang (68,7%), Bến Tre (61,4%) và Bình Định (63,8%) [11, 25, 38].
Thực trạng đào tạo liên tục tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
4.2.1 Thực trạng tổ chức đào tạo liên tục của bệnh viện
Trong giai đoạn 2015-2019, số lượt điều dưỡng được đào tạo tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ có xu hướng tăng và duy trì ổn định Tuy nhiên, công tác tổ chức đào tạo vẫn gặp nhiều bất cập, chủ yếu do kế hoạch đào tạo được xây dựng từ trên xuống mà không dựa vào nhu cầu thực tế của cán bộ Nội dung đào tạo nặng về lý thuyết, thiếu định hướng thực hành lâm sàng Một cán bộ điều dưỡng khối Ngoại cho biết: “Chương trình đào tạo chủ yếu theo yêu cầu từ trên xuống, chưa quan tâm đến nguyện vọng của nhân viên Chúng tôi muốn được học thực hành nhiều hơn.” Tình trạng này cũng được chỉ ra trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng tại Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên năm 2016, cho thấy công tác đào tạo không dựa trên nhu cầu của điều dưỡng viên Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Ngọc năm 2017 cũng chỉ ra rằng, mặc dù nhiều bệnh viện đã xây dựng kế hoạch đào tạo liên tục hàng năm, nhưng không phải tất cả đều được phê duyệt.
4.2.2 Thực trạng tham gia đào tạo liên tục của điều dưỡng viên
Kết quả phỏng vấn 214 diều dưỡng cho thấy trong 5 năm qua, tỷ lệ điều dưỡng được đào tạo liên tục đạt 77,1%, cao hơn so với nghiên cứu của Trịnh Yên Bình (36%) và Nguyễn Hải Hà (36,1%) Sự khác biệt này có thể do nhóm đối tượng nghiên cứu khác nhau Nghiên cứu của Trịnh Thị Hồng Thắm năm 2017 tại Bệnh viện Việt Đức cho thấy tỷ lệ điều dưỡng được đào tạo là 74,4%, với nhóm điều dưỡng Đại học/Sau đại học có tỷ lệ tham gia cao hơn (86,8%) so với Trung cấp/Cao đẳng (71,0%) Mặc dù tỷ lệ tại Bệnh viện đa khoa Phú Thọ gần đạt 80%, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu tối thiểu 48h đào tạo liên tục trong 2 năm theo Thông tư 22/2013/TT-BYT Do đó, bệnh viện cần tăng cường tổ chức các lớp đào tạo liên tục để đảm bảo tất cả điều dưỡng viên có cơ hội tham gia đầy đủ.
Khoảng 45,1% người tham gia khảo sát cho biết thời gian khóa học dài nhất mà họ từng tham gia là từ trên 30 ngày đến dưới 60 ngày.
Trong một năm, tỷ lệ điều dưỡng tham gia đào tạo đạt 35,8%, cho thấy sự quan tâm đáng kể đến việc nâng cao trình độ chuyên môn Kết quả này tương đồng với nghiên cứu trước đó, trong đó có 80,6% cán bộ y tế cũng tham gia vào các chương trình đào tạo.
Nghiên cứu cho thấy thời gian đào tạo điều dưỡng viên tối ưu là từ 1-3 tháng, giúp họ không bị cắt phụ cấp và có đủ thời gian để thành thạo kỹ năng mới, đồng thời tránh tâm lý nhàm chán Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng các khóa đào tạo ngắn hạn dưới 3 tuần cũng có hiệu quả nhất định.
Sự khác biệt trong khối lượng công việc của điều dưỡng tại các bệnh viện tuyến Trung ương so với tuyến tỉnh dẫn đến việc thời gian dành cho đào tạo ngắn hơn, nhằm phù hợp với thực tế công việc.
Trong các khóa tập huấn/đào tạo, nội dung chuyên môn chiếm tỷ lệ cao nhất (84,4%), tiếp theo là quy tắc giao tiếp ứng xử (67,1%), an toàn trong chăm sóc người bệnh (64,2%) và kiểm soát nhiễm khuẩn (53,8%) Ngược lại, các nội dung ít được đào tạo nhất là tư vấn truyền thông GDSK (6,4%), chương trình y tế (11,6%) và công tác dự phòng (16,7%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thanh Son tại một số bệnh viện đa khoa ở Hậu Giang năm 2015, cho thấy nội dung đào tạo về chuyên môn và kỹ năng mềm chiếm ưu thế, trong khi các lĩnh vực khác ít được chú trọng Tỷ lệ điều dưỡng được đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện trong nghiên cứu này cũng thấp hơn so với nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh tại bệnh viện Tai-Mũi-Họng Trung ương (94,0%).
Chứng chỉ là tài liệu xác nhận việc hoàn thành các khóa tập huấn, có vai trò quan trọng trong việc xác minh sự tham gia đầy đủ của học viên Thực tế cho thấy, học viên khi tham gia các khóa học sẽ nhận được chứng chỉ để ghi nhận nỗ lực và kết quả học tập của mình.
Trong nghiên cứu về đào tạo tại HUPH, có 12,1% trong số 214 đối tượng được cấp chứng chỉ cho tất cả các lần đào tạo, 73,4% được cấp chứng chỉ một số lần, và 14,5% không nhận được chứng chỉ Tỷ lệ điều dưỡng có chứng chỉ sau khóa học còn thấp, tương tự như nghiên cứu của Trần Thanh Son tại Hậu Giang năm 2015 Đáng chú ý, các khóa đào tạo kỹ năng mềm thường không cấp chứng chỉ, trong khi các khóa học về kỹ năng quản lý lại có 100% cấp chứng chỉ Nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh tại bệnh viện Tai-Mũi-Họng Trung ương cho thấy 57,1% điều dưỡng tham gia đào tạo nhưng không có chứng chỉ.
Theo khảo sát, 63,0% đối tượng cho biết họ được hỗ trợ kinh phí tham gia tất cả các lần đào tạo, trong khi 26,0% chỉ nhận hỗ trợ trong một số lần và 11,0% không được hỗ trợ Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thắm tại bệnh viện Việt Đức năm 2017, nơi tỷ lệ hỗ trợ kinh phí dao động từ 40,6% đến 57,8% Nghiên cứu của Đặng Thị Luyến năm 2017 tại một số bệnh viện đa khoa tuyến huyện Bắc Giang cho thấy chỉ có 41,7% được hỗ trợ chi phí học tập từ các dự án, chương trình Điều này phản ánh nỗ lực của ban giám đốc Bệnh viện trong việc tạo điều kiện cho điều dưỡng viên nâng cao trình độ học vấn.
Theo nghiên cứu, 90,7% người tham gia cho biết họ có thể áp dụng kiến thức đã học vào công việc hàng ngày, trong khi 9,3% không thể Tỷ lệ hài lòng với các khóa đào tạo đạt 82,7%, cao hơn so với nghiên cứu của Triệu Văn Tuyển năm 2015, cho thấy sự cải thiện trong việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
Tỷ lệ hài lòng với các khóa đào tạo tại HUPH dao động từ 65,3% đến 85,3% Mặc dù mức độ hài lòng khá cao, vẫn có một số điều dưỡng bày tỏ sự không hài lòng về tính thực tế và khả năng áp dụng của chương trình đào tạo Một điều dưỡng khối Nội chia sẻ: "Chị chỉ mong muốn được đào tạo những kiến thức thật cần thiết, vì nhiều nội dung sau khi học xong không có cơ hội áp dụng vào công việc Tốt nhất là nên tổ chức đào tạo tại chỗ với thời gian khoảng 1-2 ngày."
Nhu cầu tham gia đào tạo liên tục của điều dưỡng viên bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
4.3.1 Kế hoạch và mong muốn của điều dưỡng viên tham gia đào tạo liên tục
Khi được khảo sát về nguyện vọng tham gia đào tạo, 93,0% điều dưỡng bày tỏ mong muốn được nâng cao kỹ năng Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Hải Hà tại Hải Dương năm 2017, cho thấy tỷ lệ mong muốn đào tạo đạt 84,9%, và cao hơn so với nghiên cứu của Hoàng Thị Hoa.
Theo nghiên cứu của Lý (2015), tỷ lệ mong muốn đào tạo của điều dưỡng là 40,3%, tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ này thấp hơn một chút so với nghiên cứu của Nguyễn Dung Nghi tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa (100%) Điều dưỡng khối Ngoại có nhu cầu đào tạo cao nhất (97,2%), tiếp theo là điều dưỡng khối Nội (91,7%) và khối Cận lâm sàng (88,2%) Nhóm điều dưỡng đại học và cao đẳng cũng thể hiện mong muốn đào tạo cao, lần lượt là 96,0% và 95,1% Đặc biệt, tỷ lệ mong muốn đào tạo ở nam giới đạt 100%, cao hơn so với nữ giới (92,1%), tương đồng với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thắm tại Bệnh viện Việt Đức năm 2017.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 17,2% đối tượng sẵn sàng chi trả toàn bộ chi phí học tập, trong khi 49,5% sẵn lòng chi trả một phần chi phí.
Tỷ lệ sẵn sàng chi trả cho đào tạo liên tục đạt 49,5%, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu (50% năm 2015) Kết quả cho thấy nhu cầu tham gia đào tạo để nâng cao trình độ và tay nghề, với nam giới có tỷ lệ sẵn sàng tham gia cao hơn nữ giới Cụ thể, 16% nam sẵn sàng chi trả toàn bộ chi phí, trong khi chỉ có 17,3% nữ giới làm điều tương tự Đối với chi phí một phần, 60% nam và 48% nữ sẵn sàng chi trả Sự khác biệt này có thể do văn hóa Việt Nam, nơi nam giới thường là trụ cột gia đình và dễ dàng hơn trong việc ra quyết định tài chính Mức chi trả trung bình của nhóm điều dưỡng nam là 313,5 nghìn đồng, cao hơn so với 122,8 nghìn đồng của nhóm nữ.
Khi được hỏi về hình thức đào tạo, tỉ lệ chọn khóa học ngắn hạn chiếm 71,4%, cao hơn so với khóa học dài hạn Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh, nơi 81,1% điều dưỡng có nhu cầu đào tạo ngắn hạn Các điều dưỡng mong muốn thời gian đào tạo tốt nhất là từ 2-7 ngày (51,5%), thấp hơn một chút so với nghiên cứu của Nguyễn Hải Hà, trong đó 58,9% mong muốn khóa học ngắn dưới 1 tuần Nghiên cứu của La Đức Phương tại Kiên Giang cũng cho thấy 51,7% điều dưỡng mong muốn thời gian đào tạo dưới 1 tuần Một nghiên cứu khác của Nguyễn Dung Nghi và Phạm Trí Dũng tại Khánh Hòa cho thấy 57% đối tượng nghiên cứu cũng có xu hướng tương tự.
HUPH muốn thời gian đào tạo kéo dài từ 2-5 ngày, tuy nhiên, đa số điều dưỡng viên ưa thích hình thức đào tạo ngắn hạn do phù hợp với người đi làm Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng cho rằng ngay cả với những kỹ thuật khó, thời gian đào tạo cũng chỉ nên là 5 ngày Địa điểm đào tạo ưa thích nhất là trực tiếp tại bệnh viện (90,4%), tiếp theo là bệnh viện tuyến trên (51,0%) và các trường y tế (21,7%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa (92,1%) và nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh tại bệnh viện Tai-Mũi-Họng Trung ương (95,7%) Tuy nhiên, tỷ lệ này khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Hải Hà tại Hải Dương năm 2017, chỉ đạt 42,5% mong muốn đào tạo trực tiếp tại bệnh viện Nghiên cứu của La Đức Phương tại Kiên Giang cho thấy 74,0% mong muốn đào tạo trực tiếp tại bệnh viện Việc đào tạo trực tiếp tại bệnh viện có nhiều ưu điểm, bao gồm giảm chi phí di chuyển, không cần nghỉ làm và dễ dàng áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
4.3.2 Một số yếu tố liên quan tới kế hoạch và mong muốn của điều dưỡng viên tham gia đào tạo liên tục
Nghiên cứu cho thấy, điều dưỡng có trình độ cao đẳng và đại học có nhu cầu tham gia đào tạo liên tục cao gấp 5,1 lần và 6,4 lần so với điều dưỡng trung học, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Nguyễn Hải Hà (2017), cho rằng không có sự khác biệt về nhu cầu đào tạo giữa dược sĩ trình độ cao đẳng trở lên và dược sĩ trung học Điều này có thể do điều dưỡng cần cập nhật kiến thức mới nhiều hơn dược sĩ, và những điều dưỡng có trình độ học vấn cao hơn có nhu cầu nâng cao kiến thức lớn hơn so với nhóm có trình độ thấp hơn.
Thu nhập của điều dưỡng viên ảnh hưởng đến khả năng chi trả cho khóa học Nếu thu nhập trung bình của đối tượng nghiên cứu tăng lên, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tham gia các khóa học nâng cao.
Việc chi trả 1 triệu đồng làm tăng khả năng đồng ý tham gia đào tạo lên 1,5 lần (95%CI: 1,1 – 2,2) Ngân sách đào tạo từ bệnh viện luôn là vấn đề cần cân nhắc, và trong một số trường hợp, người học phải tự chi trả nếu không được phê duyệt kinh phí Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thắm cũng cho thấy kinh phí bệnh viện là yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng tham gia khóa học của điều dưỡng viên Đặc biệt, nhóm điều dưỡng thuộc dân tộc khác có sự sẵn sàng chi trả thấp hơn 0,18 lần so với nhóm điều dưỡng dân tộc Kinh Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ ra rằng điều dưỡng
Bệnh viện đa khoa tỉnh Phủ Thọ có nhu cầu đa dạng về các khóa đào tạo, được sắp xếp theo mức độ mong muốn từ cao đến thấp, bao gồm: “Kỹ thuật tiêm truyền”, “Các kỹ thuật chăm sóc người bệnh”, “Kỹ thuật cấp cứu ban đầu” và “Kỹ năng mềm (tư vấn, lập kế hoạch, lãnh đạo)”.
Kỹ thuật tiêm truyền là nhóm kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, được các đối tượng nghiên cứu đánh giá cao về nhu cầu đào tạo liên tục Những kỹ thuật được người học mong muốn đào tạo bao gồm: “kỹ thuật truyền dịch”, “tiêm trong da”, “tiêm dưới da”, “tiêm tĩnh mạch”, “tiêm bắp” và “truyền tĩnh mạch” Theo tác giả Lưu Thị Nguyệt Minh, kết quả phỏng vấn sâu về nhu cầu đào tạo của các điều dưỡng tại bệnh viện Tai-Mũi-Họng Trung ương năm 2017 cho thấy họ cần được đào tạo kỹ thuật này, vì những kỹ thuật này có thể gây tai biến cho bệnh nhân, do đó cần được đào tạo liên tục để đảm bảo thực hiện đúng quy trình và an toàn cho người bệnh.
Kỹ thuật này có tỷ lệ mong muốn cao, được nghiên cứu bởi tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng trên các điều dưỡng tại Bệnh viện C Thái Nguyên vào năm 2016.
Kết quả nghiên cứu cho thấy điều dưỡng khối Nội có nhu cầu học hỏi về kỹ năng tiêm truyền cao gấp 4,06 lần so với điều dưỡng khối Ngoại (95%CI: 1,03 – 15,9), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi tần suất thực hiện các kỹ thuật tiêm truyền cao hơn ở điều dưỡng khối Nội, dẫn đến mong muốn nâng cao tay nghề trong lĩnh vực này.
Nhóm điều dưỡng cao đẳng và đại học có nhu cầu nâng cao kỹ năng tiêm truyền cao gấp 9,0 lần và 2,51 lần so với nhóm điều dưỡng trung cấp, với kết quả có ý nghĩa thống kê ở nhóm điều dưỡng cao đẳng Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả La Đức Phương tại Bệnh viện đa khoa.
Năm 2017, tại HUPH tỉnh Kiên Giang, tác giả đã chỉ ra rằng điều dưỡng hạng III có nhu cầu đào tạo về các kỹ thuật tiêm truyền cao hơn so với điều dưỡng hạng khác.
Một số hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu này có một số hạn chế, bao gồm việc sử dụng hình thức phát vấn để thu thập số liệu, dẫn đến khả năng xảy ra sai sót như hiểu nhầm câu hỏi, trả lời không đầy đủ, hoặc từ chối tham gia Để khắc phục, chúng tôi đã thử nghiệm bộ câu hỏi nhằm đảm bảo tính rõ ràng và dễ hiểu Các điều tra viên có mặt trong quá trình thu thập số liệu để giải đáp thắc mắc và rà soát thông tin trước khi đối tượng ra về Hơn nữa, cỡ mẫu nhỏ có thể dẫn đến một số ý kiến không đại diện cho toàn bộ mẫu nghiên cứu.