TỔNG QUAN
Tình hình hoạt động của nhân viên y tế cộng đồng tại một số nước trên thế giới
Mô hình đào tạo nhân viên y tế cộng đồng bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX tại Nga và một số nước châu Âu, với mục tiêu ban đầu là thay thế thầy thuốc tại các phòng khám ngoại trú Tuy nhiên, vào những năm 50 của thế kỷ XX, quan niệm về vai trò của họ đã thay đổi, trở thành những nhân vật quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe cộng đồng, đặc biệt sau tuyên ngôn Alma - Ata Các nhân viên y tế cộng đồng không chỉ đơn thuần là người thay thế mà còn là những người làm việc tự nguyện, không nhận thù lao và ít chịu sự quản lý của nhà nước Nhiệm vụ chính của họ là chăm sóc sức khỏe ban đầu và tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh.
Chương trình đào tạo y sỹ trước đây chỉ tập trung vào khám chữa bệnh mà ít chú trọng đến sức khoẻ cộng đồng CSSKBĐ được hiểu là chăm sóc y tế ban đầu, thường được coi là việc mở rộng dịch vụ khám chữa bệnh đến các khu vực nông thôn và vùng thiếu bác sĩ Tại Thái Lan, có hai loại hình YTTB: truyền thông viên y tế và tình nguyện viên y tế Truyền thông viên được đào tạo để cung cấp thông tin y tế cho 10-15 hộ gia đình, trong khi mỗi 10 truyền thông viên có một tình nguyện viên y tế, người này được huấn luyện kỹ hơn và có trách nhiệm nâng cao.
HUPH tập trung vào sức khỏe, phòng ngừa dịch bệnh và chăm sóc các bệnh đơn giản Hiện tại, Thái Lan có khoảng 42.325 tình nguyện viên y tế và 434.803 truyền thông viên y tế, bao phủ khoảng 90% các thôn bản.
Năm 1989, Indonesia khởi động chương trình “Hộ sinh viên thôn bản” nhằm giảm tử vong mẹ, với khoảng 52.000 hộ sinh viên mới tốt nghiệp được tuyển dụng tại các thôn bản trên toàn quốc trong thời gian hợp đồng 3 năm Đến năm 1997, 90% thôn bản đã có ít nhất một hộ sinh viên hoạt động, góp phần giảm tỷ lệ đẻ do mụ vườn đỡ từ 55% năm 1997 xuống còn 48% năm 1998.
Tại Nê-pan và Mô-zăm-bích, đội ngũ nhân viên y tế làng tham gia các hoạt động xã hội tình nguyện tại cộng đồng nông thôn và thành thị Họ đến từng gia đình để truyền thông và thực hiện các chương trình y tế Những nhân viên này được đào tạo trong 3 tháng và có trách nhiệm định kỳ báo cáo tình hình sức khỏe của người dân với Trung tâm Y tế.
Tại Phi-lip-pin, hoạt động CSSKBĐ đã phát triển toàn diện và được WHO công nhận là mô hình mẫu cho các nước thế giới thứ 3 Chính phủ chú trọng đến tính tự chủ của địa phương trong CSSK, nhấn mạnh vai trò của cộng đồng và huy động sự tham gia của hệ thống y tế tư nhân cùng các tổ chức phi chính phủ vào Ban Sức khỏe địa phương Điều này giúp kết nối dịch vụ CSSK tại các làng xã với các tuyến điều trị khác.
Tình hình hoạt động YTTB tại Việt Nam từ cách mạng tháng Tám tới nay
Y tế cơ sở ở Việt Nam đã được hình thành từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, với sự phát triển mạnh mẽ trong kháng chiến chống Pháp Tại các vùng tự do, phong trào vệ sinh đã được khởi xướng, tuyên truyền cho người dân về ăn sạch, uống sạch và ở sạch Nhiều nơi đã có cán bộ phụ trách công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, xây dựng hố xí và chuồng gia súc hợp vệ sinh Sự phát triển này đặc biệt nổi bật sau khi đất nước hòa bình.
Đảng và Nhà nước đã chú trọng xây dựng hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt là các trạm y tế xã ở vùng nông thôn Họ đã đào tạo và vận động những người có kiến thức về y tế tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, giáo dục vệ sinh và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Đội ngũ hộ sinh và vệ sinh viên hiện diện hầu hết ở mọi nơi, thực hiện công việc với tinh thần tự nguyện và nhận thù lao bằng công điểm hoặc lương thực theo mùa vụ Những nhân viên này được gọi là y tế cộng đồng, hay còn gọi là YTTB.
Hệ thống tổ chức y tế ở Việt Nam được chia thành 4 tuyến: Trung ương, tỉnh, huyện và xã Với hơn 80% dân số là nông dân sống ở nông thôn, y tế cơ sở chủ yếu tập trung vào y tế huyện và xã, bao gồm cả y tế thôn, bản Y tế cơ sở đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, là đơn vị y tế gần gũi nhất với cộng đồng, phát hiện sớm các vấn đề y tế và giải quyết hơn 80% khối lượng chăm sóc sức khỏe tại chỗ Đây cũng là nơi thể hiện sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe và trực tiếp triển khai các chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần vào ổn định chính trị và kinh tế - xã hội tại cộng đồng.
Từ năm 1976 đến 1990, mạng lưới y tế cơ sở đối mặt với nhiều khó khăn phức tạp, với sự chuyển đổi chậm chạp của hệ thống hành chính và cơ chế quản lý quan liêu, dẫn đến sự xuống cấp nghiêm trọng Đội ngũ cán bộ y tế thiếu hụt và kinh phí hoạt động không đủ, đặc biệt ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nhiều bệnh viện huyện không có bệnh nhân và nhiều trạm y tế xã bị bỏ hoang Đây là giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng nhất của hệ thống y tế cơ sở và y tế thôn bản, đặt ra thách thức lớn cho Đảng, Chính phủ và Ngành Y tế Việt Nam.
Hiện nay, nền kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến ngành Y tế, với nhiều thành tựu như trang thiết bị y tế hiện đại và nâng cao trình độ cán bộ y tế Tuy nhiên, một số cơ sở khám chữa bệnh đã biến dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thành phương tiện kiếm lời, dẫn đến sự suy giảm phẩm chất đạo đức của một số cán bộ y tế Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, đặc biệt ở nông thôn, khi những người có thu nhập cao tìm kiếm dịch vụ y tế chất lượng cao, trong khi người nghèo gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế Đặc biệt, người dân ở vùng sâu, vùng xa có thu nhập thấp không đủ khả năng chi trả cho dịch vụ y tế khi ốm đau Để giảm thiểu tình trạng mất công bằng trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, cần phát triển mạng lưới y tế cơ sở, đặc biệt là y tế xã và y tế thôn, nhằm đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khoẻ cho người dân, đặc biệt là đối tượng nghèo và những vùng khó khăn.
Trong những năm qua, Ngành Y tế Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở thông qua các hình thức và phương pháp mới Một trong những hoạt động quan trọng là triển khai các chương trình y tế và kế hoạch đào tạo cán bộ y tế, đặc biệt là đào tạo Y tế truyền thông và bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại tuyến cơ sở.
Từ năm 1989 đến 1993, Bộ Y tế đã tiến hành biên soạn và cập nhật hàng loạt chương trình, giáo trình đào tạo nhằm đáp ứng xu thế phát triển của ngành y tế.
Bộ Y tế Việt Nam đã chính thức triển khai chương trình và giáo trình đào tạo YTTB tại các Trường Trung học Y tế, với các khóa học kéo dài 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng Mục tiêu của chương trình là nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành cho YTTB, đồng thời khắc phục tình trạng thiếu hụt nhân lực do biến động trong quá trình hoạt động.
Vào năm 1989, Bộ Y tế đã phát hành tài liệu đầu tiên về đào tạo nhân viên y tế cộng đồng mang tên "Nhân viên y tế cộng đồng" Năm 1990, tài liệu thứ hai "Giúp đỡ nhân viên y tế học tập" được phát hành Đến năm 2000, Bộ Y tế hoàn thiện chương trình đào tạo YTTB với thời gian 3 tháng, áp dụng trên toàn quốc Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác y tế, bao gồm Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 khóa VII về chăm sóc sức khỏe nhân dân, chỉ thị số 06-CT/TW về củng cố mạng lưới y tế cơ sở, và quyết định số 370/QĐ-BYT về Chuẩn Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010 Mục tiêu chung là đảm bảo mọi người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu chất lượng.
Các chính sách được ban hành đã cải thiện hệ thống CSSKBĐ từ tỉnh đến xã, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành theo phương châm xã hội hóa Công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân và thực hiện CSSKBĐ đã được nâng cao, với việc xây dựng lại nhà trạm, cấp mới trang thiết bị đồng bộ, và đảm bảo cán bộ y tế đủ biên chế và ổn định Đặc biệt, YTTB đã nhanh chóng được tuyển dụng, đáp ứng cơ bản nhu cầu tại các vùng khó khăn.
Sau một thời gian thực hiện chủ trương kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở, Ngành Y tế Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan trong việc xây dựng đội ngũ Y tế thôn bản (YTTB) Hiện nay, cả nước có 98.278 thôn, bản, ấp có YTTB hoạt động, chiếm 84,45% tổng số 116.376 thôn, bản, ấp.
- Theo điều tra Y tế quốc gia 2001-2002, mức độ bao phủ của YTTB chung cho cả nước là: 81,9% xã/phường có YTTB, 70,4% thôn có YTTB, trung bình cứ
Tại Việt Nam, tỷ lệ người dân có một Y tế thôn bản (YTTB) chăm sóc sức khỏe là 963 người/1 YTTB, đặc biệt ở các vùng nông thôn và khó khăn về kinh tế Việc phát triển mạng lưới YTTB tại những khu vực này là rất quan trọng để đảm bảo chăm sóc sức khỏe ban đầu Bộ Y tế đã ưu tiên mở rộng mạng lưới YTTB tại các vùng khó khăn, hiện tỷ lệ thôn có YTTB ở nông thôn cao gấp 1,8 lần so với thành phố (79% so với 43%) Các xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ thôn có YTTB đạt 92,8%, trong khi các xã không đặc biệt khó khăn chỉ đạt 67,7% Vùng đồng bằng có tỷ lệ thôn/bản có YTTB thấp nhất (61,9%), trong khi vùng núi thấp và cao đạt 88% Các xã có đông người dân tộc thiểu số và vùng thiên tai cũng có mức bao phủ YTTB cao hơn Các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Đông Bắc có tỷ lệ thôn/bản có YTTB cao nhất cả nước, lần lượt là 83%, 95% và 83% Ngược lại, các vùng phát triển có mức độ bao phủ thấp hơn (từ 61% đến 76%) Chỉ tiêu số dân trung bình có một YTTB phản ánh mật độ YTTB và dân số, cho thấy sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cho các khu vực kinh tế khó khăn.
- Về túi thuốc và TTB y tế
Tỷ lệ chung >50% YTTB có túi thuốc thông thường, nhưng ở miền núi chỉ
HUPH chỉ có 37% được trang bị túi thuốc và 10% có ống nghe, trong khi các dụng cụ y tế như ống nghe, bơm kim tiêm, và nhiệt kế đều ở mức thấp Mặc dù 88% người dân biết cách đo nhiệt độ và 75% biết tiêm, nhu cầu khám chữa bệnh và trang bị dụng cụ y tế tại vùng nông thôn lại cao hơn so với thành thị.
- Trình độ chuyên môn của YTTB
Mạng lưới YTTB đã tồn tại từ lâu, nhưng chỉ bắt đầu mở rộng nhanh chóng từ năm 1998 Theo điều tra 2001-2002, ban đầu, các địa phương ưu tiên tuyển chọn những người có chuyên môn y tế, nhưng từ năm 1998, do thiếu hụt nhân lực y tế, nhiều người không có chuyên môn đã được tuyển dụng, dẫn đến tình trạng hiện nay khi một nửa số YTTB không có chuyên môn y tế Lý tưởng nhất là thu hút những người có chuyên môn y tế đã nghỉ hưu để tham gia công việc y tế thôn bản, vì việc tập huấn lại cho họ thường nhanh và hiệu quả Tuy nhiên, ở các vùng miền núi có nhu cầu cao về YTTB, tỷ lệ người có chuyên môn y tế lại thấp (28% ở miền núi cao và 41% ở miền núi thấp), trong khi ở đồng bằng ven biển, nơi nhu cầu thấp, tỷ lệ này lại cao (70% ở miền ven biển và 58% ở đồng bằng) Do đó, cần có chiến lược phát triển mạng lưới YTTB chất lượng hơn, bao gồm việc đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ y tá sơ cấp cho vùng núi một cách có kế hoạch.
+ Theo dõi sức khỏe trẻ em: 95%
Hơn 90% YTTB tham gia các hoạt động khám chữa bệnh, tuyên truyền, theo dõi sức khỏe và dinh dưỡng trẻ em, vận động tiêm chủng mở rộng, cũng như theo dõi tình hình bệnh tật và thông báo dịch bệnh Tỷ lệ thực hiện các nhiệm vụ này đều cao, trên 90%, ở tất cả các vùng địa lý kinh tế, cho thấy đội ngũ YTTB được sử dụng đúng mục tiêu Tuy nhiên, tỷ lệ khám chữa bệnh và khám thai/đỡ đẻ rất thấp, chủ yếu do trạm y tế đảm nhiệm Tại một số vùng như Tây Bắc và Đồng Bằng Sông Cửu Long, hơn một nửa số YTTB tham gia khám chữa bệnh, trong khi các vùng khác có tỷ lệ thấp hơn YTTB tham gia khám thai/đỡ đẻ cao nhất ở Tây Bắc (37%) và Tây Nguyên (25%).
Vài nét về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội và mạng lưới y tế tại huyện Lương Tài - tỉnh Bắc Ninh
Đặc điểm về địa lý và kinh tế, xã hội:
Huyện Lương Tài, thuộc tỉnh Bắc Ninh, có diện tích tự nhiên 105,7 km² và dân số khoảng 105.576 người, với 28.727 hộ gia đình Trong đó, có 20.060 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 15 đến 49 tuổi và 6.980 trẻ em dưới 5 tuổi (số liệu năm 2007).
- Phía đông tiếp giáp với huyện Chí Linh và Nam Sách ( Hải Dương )
- Phía Tây tiếp giáp với huyện Thuận Thành
- Phía Nam tiếp giáp với huyện Cẩm Giàng - tỉnh Hải Dương
- Phía Bắc tiếp giáp với huyện Gia Bình
Huyện Lương Tài bao gồm 14 xã và thị trấn, với tổng cộng 119 YTTB đang hoạt động Tuy nhiên, huyện này có nguồn thu ngân sách gần như thấp nhất trong tỉnh.
Huyện Lương Tài có diện tích rộng lớn và dân cư đông đúc, với hệ thống giao thông thuận tiện, cách trung tâm tỉnh khoảng 40 km Đây chủ yếu là một huyện nông nghiệp, với tỷ lệ hộ nghèo đạt 15,94%, đứng thứ hai toàn tỉnh sau huyện Gia Bình Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1%, trong khi tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ chỉ đạt 88,6% Huyện đã hoàn thành tiêu chuẩn phổ cập giáo dục THCS, và 100% số xã đều có Trung tâm học tập cộng đồng.
Theo số liệu tháng 12/2007, 100% xã và thị trấn đều có Trạm y tế, với mỗi Trạm có từ 4-6 cán bộ y tế đủ cơ cấu Tỷ lệ Trạm y tế có bác sĩ tại huyện Lương Tài đạt 92,85% (13/14) Ngoài ra, 100% thôn, bản đều có nhân viên y tế thôn bản, với tổng số 119 nhân viên.
117 nhân viên đã qua đào tạo chuyên môn trên 3 tháng (chiếm tỷ lệ 98,31%)
Nhiều YTTB trên 60 tuổi chưa được đào tạo, dẫn đến hiệu quả công việc hạn chế Phòng Y tế và Sở Y tế không có quy định rõ ràng về chế độ làm việc của Y tế thôn bản, giao phó cho Trạm Y tế xã mà chưa quan tâm đúng mức đến công tác quản lý và giám sát Thời gian làm việc của YTTB rất ít, trung bình chỉ 12 giờ mỗi tháng, và nhiều người không hoạt động Tất cả YTTB chưa được đào tạo lại, trong khi túi thuốc cung cấp đã hết thuốc từ lâu và không được bổ sung Chế độ phụ cấp quá thấp, với YTTB kiêm nhiệm cộng tác viên dinh dưỡng chỉ nhận 5.000 đồng/tháng, không khuyến khích họ làm việc Cần thiết phải có cơ chế đào tạo và quản lý tốt hơn, trong đó chế độ thù lao thỏa đáng là một trong những biện pháp quan trọng.
Trước năm 2007, chưa có cuộc điều tra nào về mạng lưới y tế cơ sở, đặc biệt là hoạt động của cán bộ y tế thôn, bản Mặc dù đã có chủ trương đào tạo y tế cho thôn, bản, nhưng ngành y tế chưa có sự chỉ đạo mạnh mẽ trong việc thực hiện.
Y tế Việc đào tạo YTTB bắt đầu đƣợc thực hiện từ 1997 chủ yếu bằng các nguồn
Từ năm 1998, Bộ Y tế đã triển khai chủ trương phủ kín Y tế thôn bản (YTTB) trên toàn quốc, dẫn đến việc tuyển dụng cán bộ y tế cho nhiệm vụ này Tuy nhiên, do tốc độ triển khai nhanh chóng, nhiều người không có chuyên môn cũng được tuyển dụng Đến năm 2007, trường THYT Bắc Ninh chỉ đào tạo được 480 YTTB cho 582 thôn bản, đạt 86% số thôn bản có YTTB được đào tạo Hiện tại, huyện vẫn còn hơn 20% YTTB chưa được đào tạo, gây khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ của YTTB.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích và hồi cứu, kết hợp định lƣợng và định.
Đối tƣợng nghiên cứu
- Lãnh đạo Phòng y tế/TTYT huyện và cán bộ có liên quan
- Lãnh đạo UBND xã và các ban ngành đoàn thể có liên quan
- Cán bộ trạm y tế cơ sở
- Nhân viên YTTB đang làm việc tại các thôn bản
+ Thông qua các sổ sách, thống kê báo cáo về hoạt động của YTTB tại phòng Y tế huyện, TTYT huyện, Trạm Y tế xã, sổ sách ghi chép của YTTB.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Từ tháng 06/2008 đến tháng 10/2008 Nghiên cứu đƣợc tiến hành tại huyện Lương Tài – tỉnh Bắc Ninh.
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu
- Nghiên cứu định lƣợng: Nghiên cứu toàn bộ các nhân viên y tế thôn bản đang hoạt động tại 13 xã huyện Lương Tài
+ Tại huyện có 01 cuộc thảo luận với Phòng Y tế và TTYT huyện, mỗi đơn vị
2 người liên quan nhiều đến YTTB (n = 4)
+ Cán bộ y tế của 2 Trạm y tế xã ( 2 trạm chọn chủ đích) (n = 2)
+ PCT ( phụ trách văn xã) và các ban ngành đoàn thể của 2 xã (n = 8)
+ YTTB: Chọn mẫu toàn bộ 119 nhân viên y tế thôn, bản đang hoạt động tại huyện
+ Mẫu cho nghiên cứu định tính: Chọn cán bộ trực tiếp quản lý, theo dõi, giám sát hay liên quan nhiều tới YTTB.
Phương pháp thu thập số liệu
Phỏng vấn y tế thôn bản sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn nhằm thu thập thông tin về thực trạng thực hiện các chức năng và nhiệm vụ theo quy định của Bộ Y tế Mục tiêu là tìm hiểu sự phù hợp của chức năng nhiệm vụ của Y tế thôn bản, cũng như các thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện.
Thu thập số liệu thứ cấp là cần thiết để đánh giá thực trạng kết quả thực hiện chức năng và nhiệm vụ của y tế thôn bản, thông qua các báo cáo, tổng kết và các công trình nghiên cứu có sẵn.
Hướng dẫn thảo luận nhóm giúp thu thập ý kiến của các bên liên quan về việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của YTTB, đồng thời xác định những khó khăn và thuận lợi trong các lĩnh vực như nhân lực, quản lý, giám sát và chế độ chính sách Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của YTTB theo đúng chức năng và nhiệm vụ đã được giao.
Thu thập thông tin định tính ở các báo cáo.
Công cụ thu thập thông tin
- Bộ câu hỏi thiết kế sẳn ( phỏng vấn YTTB)
- Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm ( biên bản, ghi âm)
- Số liệu thứ cấp ( bảng trống thiết kế sẵn)
- Bảng ghi chép thông định tính từ báo cáo, sổ sách
Phân tích số liệu
Dữ liệu định lượng được làm sạch và nhập vào máy thông qua phần mềm Epidata Các phân tích sẽ được thực hiện bằng phần mềm SPSS 15, trong đó tần suất và tỷ lệ phần trăm sẽ được tính toán, cùng với việc áp dụng các kiểm định thống kê.
- Thông tin định tính: Các thông tin từ các cuộc thảo luận nhóm đƣợc ghi âm
Gỡ băng được thực hiện sau khi thảo luận, với thông tin định tính được lấy từ sổ sách và báo cáo mà nghiên cứu viên đã đọc và mã hóa theo từng nội dung nghiên cứu Kết quả sẽ được tổng hợp và nhận định theo từng nội dung nghiên cứu, với các bảng tổng hợp thông tin được xây dựng dựa trên những dữ liệu thu thập được.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ được thực hiện theo các quy định của Hội đồng đạo đức và sẽ chỉ bắt đầu sau khi nhận được sự phê duyệt từ Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng.
- Nghiên cứu này chỉ thực hiện phỏng vấn đối với những người đồng ý tham gia vào nghiên cứu và cam kết giữ kín thông tin cá nhân
- Nghiên cứu này đã được sự đồng ý của chính quyền địa phương cũng như, Phòng y tế/TTYT huyện và Trạm Y tế xã
- Kết quả nghiên cứu đƣợc công bố công khai cho chính quyền và y tế địa phương.
Hạn chế của đề tài, sai số và biện pháp khắc phục
- Có thể có sai số nhớ lại do người được phỏng vấn không nhớ hết được những nội dung CSSK mà họ đã thực hiện
- Do yếu tố tâm lý riêng tƣ, nên có thể có những ý kiến nhận xét chƣa thật sự thỏa đáng, chƣa đúng với thực tế
Do hạn chế về nguồn lực và thời gian, cùng với việc điều tra diễn ra vào tháng 6 - thời điểm cao điểm mùa vụ, nhiều đối tượng tham gia có thể sẽ bận rộn với công việc.
- Việc so sánh kết quả với các vùng miền khác nhau có thể chƣa hợp lý do
HUPH có sự khác biệt về quy mô nghiên cứu, đặc điểm đối tượng, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí và chuyên môn, cũng như các chính sách chế độ mang đặc tính vùng miền.
Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu này chưa thể tiến hành khảo sát ý kiến của người dân về hoạt động của YTTB và đánh giá kết quả hoạt động của họ đối với cộng đồng.
- Phỏng vấn YTTB có thể mắc sai số do họ thổi phồng kết quả CSSK
- Thiết kế bộ phiếu điều tra với các câu hỏi, ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu
Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm phỏng vấn tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh vào tháng 6 năm 2008 Sau quá trình thử nghiệm, bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa và bổ sung để phù hợp hơn với thiết kế nghiên cứu.
- Người phỏng vấn tạo môi trường thật cởi mở và kiên trì, nhắc lại câu hỏi khi cần
- Với đối tƣợng đi vắng, nghiên cứu viên quay lại tìm gặp lần 2 hoặc lần 3
- Khích lệ động viên người được phỏng vấn chủ động, tự tin.
Điều tra viên
Sau khi được đào tạo kỹ lưỡng về nội dung bộ câu hỏi, các điều tra viên và học viên cao học đã nắm vững kỹ năng phỏng vấn, chủ trì thảo luận nhóm và ghi chép thông tin.
Giám sát viên
- Nghiên cứu viên sẽ tổ chức điều tra ngẫu nhiên lại với 10% số phiếu sau khi các điều tra viên kết thúc thu thập thông tin
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Một số đặc điểm của YTTB
Biểu đồ 3.1 Phân bố YTTB theo nhóm tuổi (n9)
Biểu đồ 3.1 cho thấy ở huyện Lương Tài YTTB có độ tuổi chủ yếu từ 30 đến
49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất Số YTTB ở độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ thấp nhất Số YTTB ở độ tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ gần 1/3
Biểu đồ 3.2 Phân bố YTTB theo giới (n9)
Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ nữ YTTB nhiều gần hai lần tỷ lệ nam YTTB
Biểu đồ 3.3 Phân bố YTTB theo trình độ học vấn (n9)
Biểu đồ 3.3 cho thấy YTTB trình độ học vấn THCS chiếm tỷ lệ cao nhất và sau đó là THPT
Y tá SH Dược sĩ Đa qua YTTB
Biểu đồ 3.4: Phân bố YTTB theo trình độ chuyên môn (n9)
Biểu đồ 3.4 chỉ ra rằng đa số YTTB có trình độ chuyên môn là y tá sơ học, tiếp theo là những YTTB đã hoàn thành khóa đào tạo từ 3 đến 6 tháng Số lượng YTTB có trình độ y sĩ rất hạn chế.
Bảng 3.1 Phân bố YTTB theo công việc kiêm nhiệm (n9)
Công việc kiêm nhiệm Số lƣợng %
Cộng tác viên dân số 78 65.54
Cộng tác viên dinh dƣỡng 95 79.83
Theo bảng 3.1, công việc kiêm nhiệm phổ biến nhất là cộng tác viên dinh dưỡng, tiếp theo là cộng tác viên dân số Số lượng YTTB không kiêm nhiệm công tác khác rất ít.
Biểu đồ 3.5 Phân bố YTTB thời gian công tác (n9)
Biểu đồ 3.5 chỉ ra rằng thời gian YTTB tham gia hoạt động cộng đồng trên 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất, trong khi số YTTB tham gia dưới 5 đến 10 năm có tỷ lệ thấp hơn.
Kết quả hoạt động của YTTB: (Nhiệm vụ theo quy định của Bộ Y tế)[4]
Bảng 3.2 Nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khỏe của YTTB (n9)
Stt Nội dung hoạt động Số YTTB có thực hiện
1 Tuyên truyền các kiến thức bảo vệ sức khỏe và an toàn cộng đồng 119 100
2 Hướng dẫn các biện pháp CSSK thông thường 90 75,6
Số YTTB thực hiện 2 nội dung trở lên (đạt) 90 75,6
Số YTTB thực hiện 1 nội dung (chƣa đạt) 29 24,4
Số YTTB không thực hiện nhiệm vụ 0 0,0
(Ghi chú: Tiêu chuẩn phân loại đạt và chưa đạt xem phụ lục VIII)
Bảng 3.2 chỉ ra rằng các YTTB đã thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe Cụ thể, 75% YTTB thực hiện từ 2-3 nội dung hoạt động, và không có YTTB nào không thực hiện nhiệm vụ này.
Bảng 3.3 Nhiệm vụ hướng dẫn thực hiện vệ sinh phòng bệnh (n9)
Stt Nội dung hoạt động Số YTTB có thực hiện
3 Hướng dẫn vệ sinh thực phẩm và dinh dƣỡng hợp lý 116 97,5
4 Hướng dẫn vệ sinh 3 sạch, 4 diệt 113 95
5 Hướng dẫn các hoạt động tiêm chủng và phòng dịch 109 91,6
Số YTTB thực hiện 2-3 nội dung trở lên (đạt) 119 100
Số YTTB thực hiện 1 nội dung (chƣa đạt) 0 0,0
Số YTTB không thực hiện nhiệm vụ 0 0,0
(Ghi chú: Tiêu chuẩn phân loại đạt và chưa đạt xem phụ lục VIII)
Bảng 3.3 chỉ ra rằng hầu hết các YTTB đều thực hiện tốt các hoạt động hướng dẫn sinh phòng bệnh, với 100% số YTTB thực hiện từ 2-3 nội dung hoạt động trở lên.
Bảng 3.4 Nhiệm vụ CSSKBMTE-KHHGĐ (n9)
Stt Nội dung hoạt động Số YTTB có thực hiện
6 Vận động phụ nữ khám thai, đăng ký thai nghén và hỗ trợ đẻ thường khi không kịp đến trạm
7 Hướng dẫn một số biện pháp đơn giản theo dõi trẻ em 118 99,2
8 Hướng dẫn kế hoạch hóa gia đình 84 70,6
Số YTTB thực hiện 2-3 nội dung trở lên (đạt) 107 89,9
Số YTTB thực hiện 1 nội dung (chƣa đạt) 12 10,1
Số YTTB không thực hiện nhiệm vụ 0 0,0
(Ghi chú: Tiêu chuẩn phân loại đạt và chưa đạt xem phụ lục VIII)
Bảng 3.4 cho thấy YTTB thực hiện nhiệm vụ CSSKBMTE –KHHGĐ tại thôn nhiều nhất là nội dung hoạt động số 7, ít thực hiện nội dung hoạt động số 6 và
8 Số YTTB thực hiện 2-3 nội dung hoạt động trở lên đạt 89,9%
Bảng 3.5 Nhiệm vụ sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường (n9)
Stt Nội dung hoạt động Số YTTB có thực hiện
9 Sơ cứu ban đầu cho các cấp cứu, tai nạn 114 95,8
10 Hướng dẫn cộng đồng phòng một số bệnh lây truyền và bệnh xã hội
11 Phát hiện và chăm sóc người mắc bệnh thông thường tại nhà
Số YTTB thực hiện 2-3 nội dung trở lên (đạt) 106 89,1
Số YTTB thực hiện 1 nội dung (chƣa đạt) 13 10,9
Số YTTB không thực hiện nhiệm vụ 0 0,0
(Ghi chú: Tiêu chuẩn phân loại đạt và chưa đạt xem phụ lục VIII)
Bảng 3.5 cho thấy có hầu hết YTTB thực hiện nội dung hoạt động số 9 và số
10 Ít thực hiện nội dung hoạt động số 11 Số YTTB thực hiện 2-3 nội dung hoạt động trở lên chiếm 89,1%, không có YTTB nào là không thực hiện nhiệm vụ
Bảng 3.6 Nhiệm vụ thực hiện các chương trình y tế (n9)
Stt Nội dung hoạt động Số YTTB có thực hiện
12 Tham gia họat động các chương trình y tế tại thôn 118 99,2
13 Ghi chép sổ sách kịp thời và đúng theo quy định 117 98,3
14 Có túi thuốc và sử dụng túi thuốc 80 67,2
Số YTTB thực hiện 2-3 nội dung trở lên (đạt) 118 99,2
Số YTTB thực hiện 1 nội dung (chƣa đạt) 1 0,8
Số YTTB không thực hiện nhiệm vụ 0 0,0
(Ghi chú: Tiêu chuẩn phân loại đạt và chưa đạt xem phụ lục VIII)
Bảng 3.6 chỉ ra rằng hầu hết các YTTB đã thực hiện nội dung hoạt động số 12 và số 13, trong khi việc thực hiện nội dung hoạt động số 14 còn hạn chế Đáng chú ý, tỷ lệ YTTB thực hiện từ 2-3 nội dung trở lên đạt 99,2%.
Biểu đồ 3.6 Mức độ thực hiện nội dung hoạt động của YTTB (n9)
Qua biểu đồ 3.6 cho thấy rằng số YTTB thực hiện nhiệm đạt chiếm đa số, chƣa đạt chiếm tỷ lệ thấp hơn
Bảng 3.7 YTTB tự đánh giá sự phù hợp của 14 nhiệm vụ (n 9)
Phù hợp Không phù hợp
1 Tuyên truyền các kiến thức bảo vệ sức khỏe và an toàn cộng đồng 117 98,3 0 0,0
2 Hướng dẫn các biện pháp CSSK thông thường 117 98,3 0 0,0
3 Hướng dẫn vệ sinh thực phẩm và dinh dƣỡng hợp lý 117 98,3 0 0,0
4 Hướng dẫn vệ sinh 3 sạch, 4 diệt 117 98,3 0 0,0
5 Hướng dẫn các hoạt động tiêm chủng và phòng dịch 117 98,3 0 0,0
6 Vận động phụ nữ có thai, đăng ký thai nghén và khám thai định kỳ 109 91,59 8 6,7
7 Hướng dẫn một số biện pháp đơn giản theo dõi trẻ em 117 98,3 0 0,0
8 Hướng dẫn kế hoạch hóa gia đình, cung cấp bao cao su và thuốc tránh thai 112 94,11 5 4,2
9 Sơ cứu ban đầu cho các cấp cứu, tai nạn 110 92,4 7 5,9
10 Hướng dẫn cộng đồng phòng một số bệnh lây truyền và bệnh xã hội 114 95,8 3 2,5
11 Phát hiện và chăm sóc người mắc bệnh thông thường tại nhà 113 95,0 4 3,4
12 Tham gia họat động các chương trình y tế tại thôn 117 98,3 0 0,0
13 Ghi chép sổ sách kịp thời và đúng theo quy định 117 98,3 0 0,0
14 Quản lý và sử dụng túi thuốc của thôn 65 54,6 52 43,7
Bảng 3.7 chỉ ra rằng phần lớn YTTB đánh giá 14 chức năng nhiệm vụ là phù hợp Tuy nhiên, vẫn có một số YTTB cho rằng một số nhiệm vụ không phù hợp, đặc biệt là nhiệm vụ số
Một số yếu tố liên quan đến thực hiện chức năng nhiệm vụ
Bảng 3.8 Trang thiết bị cho YTTB
Tên dụng cụ, phương tiện
Quy định TTB của YTTB 100%
Có Nhu cầu thường xuyên sử dụng Đƣợc cấp Tự mua
Số lƣợng % Số lƣợng % Số lƣợng %
Tài liệu, tranh ảnh, tờ rơi
Nẹp chân tay, dây ga rô
Thước dây 100,0 37 31,1 06 5,0 59 49,6 Ống nghe tim thai bằng gỗ
Kẹp phẫu tích 100,0 16 13,4 42 35,3 39 32,77 Kẹp thẳng có mấu 100,0 39 32,8 06 5,04 92 77,31
Hộp đựng dụng cụ bằng nhôm
Hộp đựng bơm tiêm 10cc
Hộp đựng bơm tiêm 5cc
Bảng 3.8 liệt kê các dụng cụ chủ yếu của y tế thôn, bao gồm tài liệu tranh ảnh phục vụ công tác truyền thông, sổ ghi chép, đèn pin, nhiệt kế, kéo thẳng và thước dây.
Các dụng cụ cần thiết và thường xuyên sử dụng trong YTTB bao gồm tài liệu, tranh ảnh, tờ rơi, sổ sách ghi chép, nhiệt kế, túi đựng dụng cụ, đèn pin và kẹp thẳng có mấu Tuy nhiên, so với túi thuốc quy định của Bộ Y tế, danh sách này vẫn chưa đảm bảo đầy đủ.
Việc không trang bị đầy đủ thuốc và dụng cụ thiết yếu cho YTTB dẫn đến việc không thể yêu cầu họ thực hiện tốt tất cả các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Nam 35 tuổi trưởng thôn xã Trung Chính
Bảng 3.9 Thuốc theo qui định của túi thuốc YTTB và nhu cầu thường xuyên sử dụng thuốc của YTTB
Có Nhu cầu thường xuyên sử dụng Đƣợc cấp Tự mua
Cồn sát trùng 100,0 0 0,0 55 46,21 111 93,27 Dầu xoa, cao xoa 100,0 0 0,0 73 61,34 117 98,31 Gói Orezon (ORS) 100,0 0 0,0 46 38,65 112 94,10 Paracetamol viên 100,0 0 0,0 27 22,68 99 83,2
Thuốc sổ giun 100,0 0 0,0 26 21,84 65 54,62 Bông băng, cồn gạc 100,0 0 0,0 16 13,44 93 78,15
Theo Bảng 3.9, Bộ Y tế quy định một số loại thuốc không được cấp phát, mặc dù YTTB có nhu cầu cao, đặc biệt là các thuốc điều trị cảm cúm và tiêu chảy như dầu xoa, cao xoa, sát trùng, Orezon, Paracetamol viên, Berberin, bông băng và cồn gạc.
3.3.1 Sự giúp đở của các cấp chính quyền, ngành Y tế của huyện với YTTB
Bảng 3.10 Nội dung chuyên môn YTTB đã được tập huấn
Nội dung tập huấn Số lƣợng %
Sơ cứu BĐ và chăm sóc bệnh thông thường 95 79,8
Chăm sóc bệnh xã hội tại nhà 89 74,8
Thống kê, báo cáo, ghi sổ sách 64 53,8
Quản lý sử dụng túi thuốc 30 5,2
Theo bảng 3.10, hầu hết YTTB được tập huấn chủ yếu về tuyên truyền - giáo dục sức khỏe và chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em - kế hoạch hóa gia đình Tiếp theo là các nội dung hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh và sơ cứu chăm sóc bệnh thông thường, trong khi các nội dung khác được tập huấn ít hơn.
Tập huấn chuyên môn cho YTTB chủ yếu dựa vào hoạt động giao ban và giám sát trực tiếp từ các trạm y tế Trung tâm y tế chỉ tổ chức các buổi tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, tập trung vào việc thực hiện các chương trình y tế tại thôn.
Biểu đồ 3.7: YTTB được giám sát, kiểm tra định kỳ
Biểu đồ 3.7 cho thấy rằng 100% YTTB được giám sát và hỗ trợ bởi trạm y tế xã Tỷ lệ YTTB được giám sát hỗ trợ theo tháng cao hơn so với theo quý.
Có phối hợp Không phối hợp
Biểu đồ 3.8 Sự phối hợp với trưởng thôn
Biểu đồ 3.8 cho thấy hầu hết YTTB phối hợp chặt chẽ với trưởng thôn Trưởng thôn nhiệt tình hỗ trợ YTTB trong việc tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh qua loa đài và giúp tổ chức các chương trình y tế tại thôn khi có yêu cầu.
Nữ 52 tuổi Chủ tịch HLHPN xã Trung chính
Bảng 3.11 YTTB giao ban với trạm y tế xã (n)
Qua bảng 3.11 cho thấy tất cả YTTB giao ban với trạm y tế xã theo tháng với Có 1/5 YTTB giao ban đột xuất với trạm y tế xã
Biểu đồ 3.9 Tiền phụ cấp hàng tháng YTTB (n9)
Biểu đồ 3.9 cho thấy tỷ lệ YTTB có phụ cấp dưới 40.000 cao “Hiện nay
Trung tâm Y tế huyện hiện chưa có kinh phí để chi trả cho Y tế thôn bản (YTTB) Mặc dù một phần kinh phí cho YTTB được trích từ ngân sách của xã, nhưng mức phụ cấp YTTB lại không đồng nhất, với mỗi xã có mức chi trả khác nhau.
Một năm/lần Nửa năm/lần
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ YTTB lĩnh phụ cấp theo năm và theo tháng một lần
Biểu đồ 3.10 cho thấy tần số YTTB lĩnh phụ cấp phần lớn là nửa năm một lần
Bảng 3.12 Thu nhập của YTTB trong một tháng
Số tiền / tháng Số lƣợng %
Bảng 3.12 cho thấy YTTB có tổng thu nhập từ 100.000đ đến 200.000đ/tháng chiếm tỷ lệ cao nhất Số YTTB có thu nhập 200.000đ đến 300.000đ/tháng chiếm tỷ lệ thấp gần 1/3
Nông nghiệp Buôn bán Lương hưu
Biểu đồ 3.11 Nghề thu nhập chính của YTTB
Nguồn thu nhập chủ yếu của đa số YTTB là từ nông nghiệp, trong khi chỉ một số ít đối tượng có các nguồn thu khác Không có đối tượng nào xem phụ cấp YTTB là một nguồn thu nhập.
Bảng 3.13 Liên quan giữa tuổi của YTTB với thực hiện nhiệm vụ
Tuổi Thực hiện chức năng nhiệm vụ
Bảng 3.13 trên cho thấy không tìm thấy sự liên quan giữa tuổi của YTTB với mức độ thực hiện chức năng nhiệm vụ (p > 0,05)
Bảng 3.14 Liên quan giữa giới với mức độ thực hiện nhiệm vụ
Giới Thực hiện chức năng nhiệm vụ
Bảng 3.14 chỉ ra rằng không có sự khác biệt đáng kể nào trong mối liên hệ giữa giới tính của YTTB và mức độ thực hiện chức năng nhiệm vụ (p > 0,05) Điều này cho thấy cả nam và nữ YTTB đều có khả năng thực hiện chức năng nhiệm vụ tương đương nhau.
Bảng 3.15 Liên quan giữa trình độ học vấn với thực hiện nhiệm vụ
Trình độ học vấn Thực hiện chức năng nhiệm vụ
Bảng 3.15 chỉ ra rằng tỷ lệ YTTB với trình độ học vấn PTCS thực hiện chức năng nhiệm vụ tương đương với PTTH, và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3.16 Liên quan giữa trình độ chuyên môn với thực hiện nhiệm vụ
Trình độ chuyên môn Thực hiện chức năng nhiệm vụ
Bảng 3.16 chỉ ra rằng Y sỹ và Y tá sơ học thực hiện chức năng nhiệm vụ tốt hơn so với YTTB được đào tạo trong 3 - 6 tháng Có sự khác biệt đáng kể trong mối liên hệ giữa trình độ chuyên môn của YTTB và mức độ thực hiện chức năng nhiệm vụ (p < 0,05).
Bảng 3.17 Liên quan giám sát kiểm tra của TYTX thực hiện nhiệm vụ
Thực hiện chức năng nhiệm vụ
Bảng 3.17 chỉ ra rằng việc giám sát và kiểm tra định kỳ theo tháng và theo quý của YTTB đều thực hiện chức năng tương tự nhau Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể (p > 0,05).
Bảng 3.18 Liên quan giữa mức phụ cấp cho YTTB với thực hiện nhiệm vụ
Phụ cấp YTTB Thực hiện chức năng nhiệm vụ
Mặc dù mức độ phụ cấp trong Bảng 3.18 còn thấp, nhưng vẫn đảm bảo thực hiện nhiệm vụ Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê và không có mối liên hệ nào được tìm thấy với việc thực hiện chức năng nhiệm vụ (p > 0,05).
Nguyện vọng và kiến nghị của YTTB
Bảng 3.19 Nội dung chuyên môn cần tập huấn theo đề nghị
Nội dung tập huấn SL %
Sơ cứu BĐ và chăm sóc bệnh thông thường 105 88,23
Chăm sóc bệnh xã hội tại nhà 75 63,02
Thống kê, báo cáo, ghi sổ sách 60 50,42
Quản lý sử dụng túi thuốc 20 16,8
Bảng 3.19 cho thấy tỷ lệ cao của YTTB được đề nghị tham gia tập huấn về sơ cứu ban đầu, chăm sóc bệnh thông thường, tuyên truyền giáo dục sức khỏe, vệ sinh phòng bệnh và chăm sóc bệnh xã hội tại nhà.
Biểu đồ 3.12 Nguyện vọng tiếp tục công tác của YTTB
Biểu đồ 3.12 cho thấy đa số YTTB mong muốn tiếp tục công việc y tế thôn Họ theo đuổi nghề y vì đam mê, đã được đào tạo về y dược và muốn áp dụng chuyên môn để hỗ trợ cộng đồng Bên cạnh đó, công việc này cũng giúp họ tăng cường giao tiếp xã hội.
Một số YTTB không tiếp tục công tác do tuổi cao và sức khỏe không đảm bảo Tuy nhiên, đa số YTTB tại huyện Lương Tài vẫn yên tâm với công việc của mình.
Bảng 3.20: Lý do tiếp tục làm YTTB
Lý do tiếp tục làm YTTB SL %
Phù hợp với sở trường chuyên môn 16 13,91
Muốn có một vị trí tại địa phương 0 0
Muốn có uy tín trong làng xóm 0 0
Muốn được giúp đở mọi người trong thôn 19 16,52
Muốn được mọi người tôn trọng 0 0
Bảng 3.20 cho thấy lý do chủ yếu tiếp tục làm là yêu thích công việc, có thêm thu nhập và muốn được giúp đỡ mọi người trong thôn
Bảng 3.21 Một số đề nghị của YTTB
Nội dung đề nghị Số lƣợng %
Tập huấn chuyên môn (Chức năng, nhiệm vụ
Trả phụ cấp đều đặn hàng tháng 37 31,1
Trả phụ cấp phù hợp ( cao hơn hiện nay ) 103 88,6 Đƣợc cấp bảo hiểm Y tế miễn phí 37 31,1 Đƣợc cấp thêm dụng cụ 42 35,29 Đƣợc miễn đóng góp xã hội 8 6,7
Theo Bảng 3.21, nội dung đề nghị phổ biến nhất từ YTTB là yêu cầu tăng phụ cấp hiện tại Ngoài ra, các đề xuất khác bao gồm việc được đào tạo chuyên môn bổ sung, nhận thêm dụng cụ, miễn đóng góp xã hội và cấp bảo hiểm y tế miễn phí.
BÀN LUẬN
Đặc điểm về YTTB
Độ tuổi của YTTB tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 30 đến 49 tuổi 61,3%
Độ tuổi từ 30 đến 50 chiếm tỷ lệ cao nhất trong mạng lưới YTTB tại huyện Tiền Hải, Thái Bình, với 73,96% Đây là độ tuổi lý tưởng cho các hoạt động xã hội, khi mà người lao động có kinh nghiệm, kiến thức và khả năng giao tiếp tốt Nhân viên trong độ tuổi này thường gắn bó với công việc hơn, dẫn đến sự ổn định trong lực lượng lao động Ngược lại, tỷ lệ nhân viên dưới 30 tuổi chỉ chiếm 7,6%, và đây là nhóm dễ bị biến động do nhiều lý do như tìm kiếm công việc mới, di chuyển xa nhà hoặc xây dựng gia đình Điều này gây khó khăn trong việc duy trì sự ổn định của đội ngũ, đặc biệt là với những người trẻ tuổi, khi họ có thể rời bỏ công việc vì lý do cá nhân, dẫn đến việc phải thay thế nhân viên không có chuyên môn, ảnh hưởng đến hoạt động chung của mạng lưới.
Lương Tài) Độ tuổi trên 50 chiếm 31,1% (Biểu đồ 3.1) trong đó có người 65 đến
Ở độ tuổi 70, nhiều nhân viên y tế cũ tại các thôn và hợp tác xã vẫn đang hoạt động, nhưng sức khỏe của họ yếu, dẫn đến việc giải quyết công việc chậm chạp và thiếu linh hoạt Để đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế tại cộng đồng, Trung tâm y tế dự phòng huyện, phòng Y tế và UBND các xã cần có kế hoạch thay thế dần, đào tạo và bổ sung những nhân sự mới có chuyên môn và năng động hơn.
Tỷ lệ nam trong nghiên cứu chỉ chiếm 35%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ nữ là 65%, tương đương với tỷ lệ chung của ngành y tế cả nước (63%) So với nghiên cứu của Bùi Đình Lĩnh tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, tỷ lệ nam là 22,50% và nữ là 77,50% Điều này cho thấy sự khác biệt rõ rệt so với nghiên cứu của Đỗ Văn Dung tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi tỷ lệ nam và nữ đều là 50%.
Ngành y tế của các tỉnh đã xác định rõ vai trò quan trọng của việc tuyển dụng YTTB và ưu tiên trong quá trình lựa chọn đối tượng Tỷ lệ nữ YTTB tại huyện cũng được chú trọng.
Lương Tài có tỷ lệ nữ giới cao trong ngành y tế, giúp triển khai các chương trình y tế quốc gia thuận lợi hơn, vì công việc YTTB phù hợp với phụ nữ Nữ giới thường làm việc chăm chỉ, ít di chuyển xa, và được người dân tin tưởng hơn trong các vấn đề nhạy cảm Họ có tinh thần trách nhiệm và cẩn thận hơn nam giới, đồng thời gắn bó chặt chẽ với công việc và cộng đồng Một số cán bộ YTTB nam cho biết họ ngại khi tuyên truyền các vấn đề nhạy cảm, điều này ảnh hưởng đến việc tuyển dụng Tỷ lệ nữ cao sẽ phát huy thế mạnh của phụ nữ trong giao tiếp và phối hợp các hoạt động chăm sóc sức khỏe tại thôn bản.
Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ YTTB có trình độ học vấn THCS chiếm 51%, trong khi tiểu học chỉ chiếm 2% và THPT chiếm 47% So với nghiên cứu của Bùi Đình Lĩnh tại huyện Tiền Hải, nơi tỷ lệ cấp II là 57,40% và cấp III là 42,60%, huyện Lương Tài có tỷ lệ YTTB với trình độ học vấn THCS và THPT cao hơn, điều này thuận lợi cho việc cập nhật thông tin y tế YTTB có trình độ học vấn cao sẽ có uy tín trong việc vận động quần chúng tham gia các hoạt động y tế thôn Tuy nhiên, những người trẻ tuổi có trình độ cấp II và III có thể dẫn đến sự biến động về nhân lực, ảnh hưởng đến nguồn lực của mạng lưới y tế cơ sở Do đó, khi tuyển mới YTTB, cần ưu tiên những người đã hoàn thành cấp III.
Nguy cơ biến động nhân lực cao ở những đối tượng có trình độ học vấn cao là rất lớn, vì họ thường xuyên tìm kiếm cơ hội học tập hoặc việc làm mới với thu nhập ổn định và cao hơn Do đó, địa phương cần triển khai các chính sách hiệu quả để giữ chân những nhân tài này.
Huyện Lương Tài có 98% YTTB đã được đào tạo chức năng nhiệm vụ, cho thấy sự quan tâm của chính quyền và ngành y tế địa phương Trong đó, y tá sơ học chiếm tỷ lệ cao nhất (59,66%), trong khi y tá trung học và dược sĩ chỉ chiếm 1,7%, và y sỹ là 10,1% Đa số YTTB là cán bộ y tế đã nghỉ hưu, dẫn đến việc địa phương phải tuyển bổ sung nhân lực chưa được đào tạo Công tác đào tạo gặp khó khăn do thiếu kinh phí, chủ yếu dựa vào tài trợ từ các dự án Tuy nhiên, tỷ lệ YTTB không có chuyên môn chỉ là 2%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ toàn quốc (54,4%) Điều này cho thấy huyện Lương Tài đã chọn được đội ngũ y tế có trình độ chuyên môn, đủ khả năng thực hiện các chức năng nhiệm vụ được giao, hoàn thành chỉ tiêu của QĐ số 35/TTg vào năm 2010.
Bảng 3.1 chỉ ra rằng số lượng YTTB kiêm nhiệm công tác xã hội chủ yếu là cộng tác viên dinh dưỡng với tỷ lệ 79,83%, trong khi đó kiêm nhiệm cộng tác viên dân số có tỷ lệ thấp hơn Việc YTTB kiêm nhiệm công tác xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của họ, giúp nâng cao kỹ năng giao tiếp và kinh nghiệm làm việc Họ còn được trang bị thêm kiến thức chuyên môn từ các chương trình y tế, từ đó có thể hỗ trợ cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khỏe hiệu quả hơn Ngoài ra, việc kiêm nhiệm này cũng mang lại thu nhập bổ sung, giúp YTTB giải quyết khó khăn kinh tế gia đình và yên tâm hơn trong công việc.
Biểu đồ 3.5 chỉ ra rằng 47,9% YTTB có hơn 10 năm kinh nghiệm tham gia hoạt động cộng đồng, cho thấy tỷ lệ cao nhất trong số các nhóm Những YTTB này thường sở hữu kinh nghiệm công tác vững vàng.
Kết quả hoạt động của YTTB
Hoạt động lồng ghép tại địa phương đã nâng cao chất lượng chương trình y tế, với 75,6% YTTB thực hiện đầy đủ chức năng truyền thông Điều này cho thấy ý thức về tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, đặc biệt trong các hoạt động cộng đồng Mặc dù có 98,3% YTTB cho rằng việc thực hiện truyền thông là phù hợp, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn trong việc thực hiện đầy đủ chức năng theo quy định Một số nhiệm vụ như truyền thông giáo dục sức khỏe chưa đạt chất lượng cao và chưa được thực hiện thường xuyên Thiếu kiến thức, kỹ năng chuyên môn và phương pháp làm việc là những nguyên nhân chính dẫn đến sự tự ti và thiếu mạnh dạn trong công tác truyền thông Hơn nữa, sự phối hợp với trưởng thôn và các tổ chức đoàn thể còn yếu, trong khi kỹ năng truyền thông cần được phát triển và duy trì để đạt hiệu quả cao hơn.
Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền và giáo dục sức khỏe tại các thôn, bản, ngành Y tế cần tổ chức các buổi tập huấn thực hành ngay tại cộng đồng Điều này sẽ giúp cán bộ làm công tác TT-GDSK tuyến cơ sở, thường là kiêm nhiệm, có thêm kiến thức và kỹ năng cần thiết để hướng dẫn người dân về chăm sóc sức khỏe và các biện pháp phòng ngừa Việc này không chỉ phát huy vai trò của nhân viên y tế mà còn đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng.
Bảng 3.3 cho thấy YTTB thực hiện từ 2-3 nội dung hoạt động trở lên đạt 100% nhiệm vụ hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh tại thôn, với tỷ lệ cao nhất là hướng dẫn cộng đồng ăn uống hợp lý đạt 97,5%, tiếp theo là vệ sinh ăn uống và thực phẩm 95,0%, và tiêm chủng, phòng dịch 91,6% Điều này chứng tỏ đa số YTTB nhận thức được tầm quan trọng của công tác vệ sinh phòng bệnh và đã thực hiện rất tốt nhiệm vụ này Cán bộ y tế thôn bản đã nỗ lực lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ, với 98,3% YTTB được phỏng vấn đánh giá nội dung nhiệm vụ là phù hợp trong thực hiện vệ sinh phòng bệnh tại địa phương Theo Chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ xã Trung Chính, YTTB là rất cần thiết trong mạng lưới y tế của xã, vì nếu không có YTTB, các chương trình quốc gia sẽ không thể triển khai hiệu quả, đặc biệt khi hiện nay có quá nhiều chương trình y tế quốc gia YTTB cũng đóng góp quan trọng trong các hoạt động của thôn như vệ sinh môi trường và vận động nhân dân thực hiện ăn ở vệ sinh khoa học.
Bảng 3.4 cho thấy YTTB thực hiện 2-3 nội dung hoạt động đạt 89,9% nhiệm vụ CSSKBMTE-KHHGĐ, với tỷ lệ theo dõi sự tăng trưởng của trẻ đạt 99,2% Hoạt động vận động phụ nữ khám thai, đăng ký thai nghén, hỗ trợ đỡ đẻ tại nhà, và cung cấp bao cao su, thuốc tránh thai còn hạn chế Điều này phản ánh những thiếu sót về kiến thức và năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ của YTTB, đồng thời chỉ ra các vấn đề có thể là nguyên nhân.
YTTB chưa được người dân tin tưởng và có nhu cầu cộng đồng thấp, dẫn đến tỷ lệ tham gia thấp trong các hoạt động như khám thai và hỗ trợ đỡ đẻ Một số YTTB cho rằng họ không phù hợp với nhiệm vụ này do thiếu kinh nghiệm và đào tạo Hơn nữa, YTTB ít thực hiện các hoạt động liên quan đến KHHGĐ vì nhiệm vụ này thường thuộc về cộng tác viên dân số Đặc biệt, nam YTTB thường ngại khi tiếp xúc với phụ nữ trong lĩnh vực này do thiếu kỹ năng giao tiếp Việc YTTB không được cung cấp bao cao su và thuốc tránh thai từ Ủy ban Dân số cũng làm giảm hiệu quả hoạt động Đề xuất là nên kết hợp YTTB với cộng tác viên dân số để nâng cao hiệu quả KHHGĐ, tiết kiệm nhân lực và chi phí, đồng thời cải thiện kỹ năng và kiến thức cho YTTB.
Bảng 3.5 cho thấy rằng 89,1% YTTB thực hiện từ 2-3 nội dung hoạt động trở lên trong nhiệm vụ sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường, với tỷ lệ cao nhất là 95,8% cho các hoạt động liên quan Hướng dẫn phòng ngừa một số bệnh lây truyền và bệnh xã hội đạt tỷ lệ 91,6% Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện phát hiện và chăm sóc người mắc bệnh thông thường tại nhà chỉ đạt 48,7%, có thể do thiếu kiến thức, kỹ năng chăm sóc, dụng cụ và thuốc men, cũng như sự thiếu tin tưởng từ người dân và ít hoạt động tại địa phương Nhiều trạm y tế không giao nhiệm vụ này cho YTTB, nhưng qua phỏng vấn, nhiều YTTB cho biết họ tự tin và có khả năng hoàn thành tất cả nhiệm vụ nhờ vào kinh nghiệm và kỹ năng giao tiếp của mình.
HUPH cho rằng nếu có chính sách và chế độ quản lý tổ chức tốt, YTTB có khả năng thực hiện hầu hết các nhiệm vụ quy định Tuy nhiên, việc thực hiện các nhiệm vụ này phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn của cộng đồng, như cấp cứu và chăm sóc người bệnh Thực tế cho thấy trình độ và kỹ năng chuyên môn của YTTB còn hạn chế, thiếu trang thiết bị và khả năng giao tiếp chưa hiệu quả, dẫn đến việc người dân không tin tưởng và thường chọn đến TYTX hoặc Bệnh viện huyện thay vì đề nghị YTTB can thiệp Bảng 3.8 cho thấy 5,9% YTTB cho rằng nhiệm vụ sơ cứu ban đầu không phù hợp, 2,5% cho nhiệm vụ chăm sóc bệnh thông thường và 3,4% cho nhiệm vụ chăm sóc bệnh tại nhà Vai trò của TYTX trong việc phân công nhiệm vụ và giám sát hoạt động của YTTB là rất quan trọng để nâng cao tay nghề thông qua chỉ định cụ thể và hướng dẫn chăm sóc.
Bảng 3.6 cho thấy YTTB thực hiện từ 2-3 nội dung hoạt động trở lên đạt 99,2% nhiệm vụ các chương trình y tế, trong đó tỷ lệ hoạt động các chương trình y tế đạt 99,2% và ghi chép sổ sách kịp thời đạt 98,3% Điều này cho thấy phần lớn YTTB nhận thức được tầm quan trọng của công tác y tế tại thôn và nỗ lực triển khai các hoạt động có tính dự phòng và cộng đồng cao Tuy nhiên, quản lý và sử dụng túi thuốc của YTTB chỉ đạt 67,2%, cho thấy YTTB không được trang bị đầy đủ túi thuốc, với 54,6% YTTB được phỏng vấn cho rằng nhiệm vụ này không phù hợp.
Tỷ lệ YTTB thực hiện các hoạt động đạt 92%, trong khi 8% còn lại chưa đạt, cho thấy sự quan tâm và trang bị kiến thức của ngành y tế huyện Lương Tài đối với đội ngũ YTTB trong khu vực.
Một số yếu tố liên quan đến thực hiện chức năng nhiệm vụ
Bảng 3.8 cho thấy 100% YTTB đã được cấp tài liệu, tranh ảnh, tờ rơi cho công tác truyền thông, và 64,7% có sổ ghi chép để hỗ trợ công việc này Tất cả YTTB đều có loa đài của thôn phục vụ cho truyền thông Ngành y tế huyện Lương Tài đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của YTTB là truyền thông giáo dục sức khỏe, do đó đã đầu tư trang bị phương tiện và dụng cụ cho công tác này Tuy nhiên, tỷ lệ hiện có của nhiều dụng cụ sơ cứu ban đầu cần thiết còn rất thấp, cụ thể là túi đựng dụng cụ y tế 38,7%, nhiệt kế 34,5%, nẹp chân tay và dây ga rô 13,4%, kẹp thẳng có mấu 32,8%, và kéo thẳng 31,9%.
Mặc dù có một số dụng cụ y tế như huyết áp, ống nghe và bơm kim tiêm một lần không được quy định trong túi YTTB, nhưng chúng lại rất cần thiết và thường xuyên được sử dụng Hiện tại, túi đựng dụng cụ y tế thôn bản đã cũ và không còn hiệu quả do các chương trình đào tạo trước đây Theo định hướng mới của ngành y tế, việc đào tạo y tế thôn sẽ tương đương với đào tạo y tá sơ cấp, giúp họ có đủ điều kiện sử dụng các trang thiết bị cần thiết Tuy nhiên, trang thiết bị y tế và thuốc sơ cứu ban đầu tại huyện Lương Tài vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của Bộ Y tế Chính quyền địa phương và cộng đồng chưa hỗ trợ YTTB trong việc cung cấp dụng cụ y tế, khiến họ không thể tự mua thuốc và dụng cụ cần thiết, mặc dù một số người có kỹ năng tiêm truyền và châm cứu Hiện tại, YTTB Lương Tài gần như không có trang thiết bị để phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe, trong khi họ cần nhiều thứ để thực hiện nhiệm vụ Đa số YTTB chưa được cấp thuốc theo quy định, và một số đã tự mua thuốc thông thường để sử dụng khi cần thiết, với nhu cầu cao nhất là thuốc điều trị cảm cúm và tiêu chảy Điều này đặt ra yêu cầu cho ngành y tế địa phương cần có chính sách hỗ trợ YTTB về trang bị túi thuốc và thiết bị y tế theo danh mục của Bộ Y tế.
Bảng 3.10 cho thấy TTYT huyện đã tập huấn chuyên môn cho YTTB, chủ yếu tập trung vào tuyên truyền giáo dục sức khoẻ (96,63%) và chăm sóc SKBMTE–KHHGĐ (95,8%) Các nội dung khác như hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh (94,1%) và sơ cứu chăm sóc bệnh thông thường (79,83%) cũng được chú trọng, nhưng tỷ lệ tập huấn không đồng đều giữa các nội dung Mặc dù YTTB đã tham gia các lớp tập huấn chuyên đề do Trung tâm y tế hoặc các Dự án tỉnh triển khai, nhưng chỉ những xã có dự án mới cử người đi tập huấn Nhu cầu về các nội dung chuyên môn mà YTTB cần bổ sung bao gồm sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường (88,23%), tuyên truyền giáo dục sức khỏe (72,26%), và vệ sinh phòng bệnh tại nhà (63,02%) Việc đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn cho YTTB là nhu cầu thực tiễn quan trọng, như lời của Nữ 45 tuổi, Lãnh đạo TTYTDP huyện Lương Tài.
Phân tích số liệu và kết quả định tính cho thấy đội ngũ nhân viên YTTB huyện Lương Tài đang đối mặt với nhiều khó khăn hiện nay.
- Yếu và thiếu kiến thức và kỹ năng chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng truyền thông, khám chữa bệnh
- Thiếu kinh nghiệm và phương pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ
- Thiếu dụng cụ y tế, thuốc men và phương tiện làm việc
- Đời sống gia đình gặp nhiều khó khăn do thu nhập thấp nên không thể dành nhiều thời gian cho công việc
- Công tác giám sát, kiểm tra của TYTX chưa thường xuyên và chưa hiệu quả
- Chƣa nhận đƣợc sự hỗ trợ, quan tâm ủng hộ từ cộng đồng
- Thiếu một qui chế làm việc, cơ chế phối hợp và cơ chế quản lý thống nhất trong ngành Y tế
Ngoài những khó khăn cá nhân, YTTB còn đối mặt với nhiều thách thức về tổ chức, chính sách và xã hội, những vấn đề này không thể được giải quyết ngay lập tức.
Hiện nay, có tới 4 người không còn muốn làm YTTB, và nhiều ý kiến cho rằng nếu tìm được công việc khác với thu nhập cao hơn hoặc ổn định hơn, sẽ có nhiều người quyết định bỏ việc.
Biểu đồ 3.7 cho thấy 100% YTTB được giám sát bởi trạm y tế xã, với 54,6% giám sát hàng tháng và 45,4% giám sát theo quý Vai trò của công tác giám sát là rất quan trọng, giúp YTTB kịp thời sửa chữa và khắc phục sai sót trong công việc Đề xuất là TYTX nên tăng cường giám sát đột xuất để nâng cao hiệu quả làm việc của YTTB và giảm thiểu các hoạt động mang tính hình thức.
Biểu đồ 3.8 cho thấy 98% YTTB thường xuyên phối hợp và nhận được sự hỗ trợ từ trưởng thôn trong các hoạt động Nội dung phối hợp chủ yếu bao gồm vận động nhân dân vệ sinh môi trường, tuyên truyền kiến thức bảo vệ sức khỏe, hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh và thực hiện các chương trình y tế tại thôn UBND thể hiện sự quan tâm đến các hoạt động này.
UBND xã phối hợp với trạm y tế xã và Trưởng thôn để hỗ trợ YTTB về vật chất và tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của họ Phó Chủ tịch UBND xã Trung Chính, 55 tuổi, cho biết TYTX tổ chức giao ban hàng tháng với YTTB theo quy chế do TTYT huyện ấn định Việc giao ban này không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của YTTB mà còn thể hiện sự quan tâm của TYTX đối với họ Trong các buổi giao ban, nhân viên YTTB báo cáo tình hình hoạt động, dịch bệnh và vệ sinh môi trường, đồng thời nhận nhiệm vụ mới từ TYTX Ngoài ra, TYTX còn kết hợp tập huấn chức năng nhiệm vụ cho YTTB, đáp ứng mong muốn của họ.
Biểu đồ 3.9 cho thấy 100% YTTB đã nhận phụ cấp, nhưng mức phụ cấp không đồng nhất giữa các địa phương Một số địa phương chưa thực hiện chi trả, và nguồn kinh phí chủ yếu từ thôn, xã cấp theo cân thóc mà không có quy định cụ thể Phần lớn (84,0%) nhận phụ cấp dưới 40.000Đ, trong khi chỉ 14,3% nhận từ 40.000 – 80.000Đ, mức này thấp hơn quy định và không tương xứng với công sức của YTTB Một nữ trưởng trạm xã An Thịnh cho biết: “Mức phụ cấp hiện nay là quá thấp, không thể yêu cầu họ hoàn thành nhiệm vụ mà không có thu nhập đủ sống.” Thực tế cho thấy YTTB có kinh tế gia đình khá giả thường nhiệt tình hơn trong công việc Mức phụ cấp từ 150.000đ đến 200.000đ/tháng được coi là phù hợp Hiện tại, nguồn kinh phí chi trả cho YTTB chủ yếu bằng thóc quy ra tiền, với các xã chi trả từ 5-20 kg thóc/tháng Lãnh đạo PYT huyện Lương Tài cho biết: “TTYT huyện chưa có kinh phí chi trả cho NVYTTB, và mức phụ cấp không đồng nhất giữa các xã.”
Biểu đồ 3.10 cho thấy 83% YTTB cho rằng thời gian lĩnh phụ cấp thường là nửa năm một lần, trong khi 17% cho rằng một năm lĩnh một lần Sự chậm trễ trong việc nhận phụ cấp khiến 100% YTTB không hài lòng với tình hình hiện tại Kiến nghị huyện Lương Tài cần có quy định chi trả phụ cấp hàng tháng cho YTTB Về nguyện vọng mức phụ cấp, 80% YTTB cho rằng mức từ 150.000 – 200.000đ/tháng là phù hợp, trong khi 20% cho rằng 150.000đ/tháng là đủ Nhóm thảo luận cũng thống nhất mức phụ cấp y tế thôn từ 150.000đ đến 200.000đ/tháng So với các địa phương khác, phụ cấp của YTTB ở Lương Tài và Bắc Ninh thấp, chỉ dưới 40.000đ/tháng/người, trong khi Thái Bình là 60.000đ/tháng và Bình Định từ 110.000đ đến 200.000đ/tháng, với Bình Định dẫn đầu cả nước về xã hội hóa nguồn tài chính cho YTTB.
Huyện Lương Tài cần phải có một cơ chế hỗ trợ phù hợp giữa ngân sách Nhà nước và ngân sách địa phương để tăng phụ cấp cho YTTB
Biểu đồ 3.11 cho thấy rằng 89,1% thu nhập chính của YTTB đến từ nông nghiệp, trong khi chỉ 10,9% có thu nhập từ các nguồn khác như lương hưu và buôn bán dịch vụ Thu nhập chính từ nông nghiệp hiện tại rất thấp, với 61,3% YTTB có tổng thu nhập từ 100.000đ đến 200.000đ/tháng và 31,9% có thu nhập từ 200.000đ đến 300.000đ/tháng, dẫn đến nhiều YTTB vẫn sống trong tình trạng nghèo Đáng chú ý, 79,83% YTTB nhận phụ cấp kiêm nhiệm từ chương trình dân số và suy dinh dưỡng (40.000đ/tháng), giúp cải thiện một phần khó khăn tài chính của họ.
Mức độ thực hiện nhiệm vụ của YTTB có mối liên quan chặt chẽ đến trình độ chuyên môn của họ, với những YTTB có trình độ cao thực hiện nhiệm vụ tốt hơn Nghiên cứu cho thấy Y sỹ và Y tá sơ học thực hiện chức năng nhiệm vụ hiệu quả hơn so với YTTB được đào tạo từ 3 đến 6 tháng Do đó, cần tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho YTTB Các yếu tố như tuổi, giới, trình độ học vấn, giám sát, kiểm tra và mức phụ cấp không ảnh hưởng đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ của YTTB.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống và công việc tại cộng đồng, 97% YTTB vẫn mong muốn tiếp tục làm việc trong lĩnh vực y tế thôn bản Họ coi trọng tính cộng đồng và xem đây là hoạt động xã hội có ý nghĩa hơn là chỉ vì thu nhập Nguyên nhân chính cho nguyện vọng này là do yêu thích công việc (46,95%) và phù hợp với chuyên môn (13,91%) Họ làm y tế thôn vì đam mê nghề y, đã được đào tạo về y dược và mong muốn giúp đỡ cộng đồng, đồng thời tăng cường giao tiếp xã hội Tuy nhiên, họ cũng bày tỏ lo lắng về công việc hiện tại và sẽ tìm kiếm cơ hội việc làm phù hợp hơn nếu có.
Việc giáo dục y đức và lý tưởng phục vụ cộng đồng cho YTTB là rất quan trọng, giúp nâng cao tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình trong công tác Lãnh đạo PYT huyện Lương Tài, ông Nam 58 tuổi, nhấn mạnh rằng nếu mức thu nhập cao hơn, họ sẽ không còn làm y tế thôn nữa.