TỔNG QUAN
Các khái niệm
Điện thoại thông minh (ĐTTM)
Theo Lusekelo & Juma (2015), điện thoại thông minh kết hợp tính năng của máy tính và điện thoại di động, với hệ điều hành cho phép cài đặt ứng dụng Thiết bị này có khả năng truy cập internet và cung cấp giải trí mọi lúc mọi nơi, bao gồm chụp hình, xem video, nghe nhạc và lướt web.
Nghiện điện thoại thông minh
Nghiện điện thoại thông minh được coi là một hình thức của chứng nghiện công nghệ, theo nghiên cứu của Theo Lin và cộng sự (2014) Griffiths (1996) đã xác định triệu chứng nghiện là hành vi phi hóa học liên quan đến tương tác giữa con người và máy móc Khác với nghiện cờ bạc, nghiện trò chơi trên internet đã được đề xuất đưa vào DSM-5 như một rối loạn không chất gây nghiện Điện thoại thông minh, với tính năng sử dụng ứng dụng Internet và tính di động cao, trở thành một công cụ linh hoạt mà người dùng mang theo mọi lúc Do đó, triệu chứng nghiện điện thoại thông minh có thể khác biệt so với nghiện Internet Lin và cộng sự (2014) đã chứng minh rằng nghiện điện thoại thông minh có những khía cạnh tương tự như các rối loạn chất gây nghiện trong DSM-5 thông qua phân tích nhân tố khám phá và phỏng vấn lâm sàng để phân loại cá nhân có và không có nghiện điện thoại thông minh.
Sử dụng điện thoại thông minh
Trong thời gian gần đây, các thuật ngữ "điện thoại thông minh" và "điện thoại di động" thường được sử dụng thay thế cho nhau Hai thập kỷ trước, điện thoại di động chủ yếu được dùng để thực hiện và nhận cuộc gọi cũng như gửi tin nhắn SMS Ngày nay, điện thoại thông minh đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.
HUPH mang lại nhiều lợi ích, bao gồm khả năng tiếp cận thông tin dễ dàng, kết nối xã hội, ứng dụng văn phòng tiện lợi và tính di động cao.
Theo Joans, Abdullah (2015) cho rằng điện thoại thông minh giúp sinh viên kết nối dễ dàng hơn với nhau và hỗ trợ việc học Sinh viên có thể tìm kiếm tài liệu tham khảo qua Internet trên điện thoại thông minh Tuy nhiên, việc sử dụng điện thoại quá mức có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng giao tiếp trực tiếp của sinh viên Tình trạng này thường thấy khi sinh viên bận rộn với điện thoại trên xe buýt, khi chờ đợi, hoặc thậm chí khi lái xe Những tác động này có thể gây nguy hiểm cho cuộc sống của họ Hơn nữa, nhiều sinh viên thường xuyên kiểm tra điện thoại ngay khi thức dậy và trước khi đi ngủ.
Theo nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên đại học sử dụng điện thoại thông minh ở Hàn Quốc đạt 84% vào năm 2011 Tại Thổ Nhĩ Kỳ, con số này là 78% vào năm 2014 và tăng lên 91,7% vào năm 2016 Ở Việt Nam, tỷ lệ sinh viên sử dụng điện thoại thông minh là 70,5% vào năm 2015.
Nghiên cứu của Shailesh Rai và cộng sự (2016) cho thấy 32,67% sinh viên sử dụng điện thoại thông minh dưới 2 giờ, 40% từ 2-4 giờ, 23,33% từ 4-6 giờ, và chỉ 4% sử dụng trên 6 giờ, trong khi 52,67% sinh viên dùng điện thoại để truy cập mạng xã hội Tương tự, nghiên cứu của Hatice Kahyaoglu Sut và cộng sự (2016) chỉ ra rằng 34,1% sinh viên sử dụng điện thoại thông minh từ 1-3 giờ, và 40,1% từ 4 giờ trở lên.
Theo nghiên cứu, 11,7% sinh viên sử dụng điện thoại di động (ĐTTM) trên 6 giờ mỗi ngày, với 56,8% trong số đó sử dụng ĐTTM chủ yếu để truy cập mạng xã hội Nghiên cứu của Demirci và cộng sự (2014) cho thấy 71,4% sinh viên sử dụng ĐTTM ít hơn 4 giờ, trong khi 26,9% sinh viên sử dụng từ 4 giờ trở lên.
16 giờ, 1,7% SV sử dụng ĐTTM hơn 16 giờ và 40,2% sinh viên sử dụng ĐTTM để gọi thoại, 29,2% SV sử dụng ĐTTM để truy cập internet và 15,6% SV dùng ĐTTM
Theo nghiên cứu của Suliman S Aljomaa và cộng sự (2016), có 8,9% sinh viên sử dụng điện thoại di động dưới 2 giờ, 26,44% từ 2-4 giờ và 64,7% hơn 4 giờ Haug và cộng sự (2015) cho thấy 16% sinh viên sử dụng điện thoại di động dưới 1 giờ, 33% từ 1-2 giờ, 31,1% từ 3-4 giờ, và 19,9% trên 4 giờ, với tần suất sử dụng từ 21-50 lần mỗi ngày Mục đích chính của sinh viên khi sử dụng điện thoại di động là để truy cập mạng xã hội, chiếm 67,3%.
Điện thoại thông minh đã trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của sinh viên trong khuôn viên trường học.
“bạn bè” thân thiết của sinh viên [13].
Nghiện điện thoại thông minh
Sự gia tăng nhanh chóng trong việc sử dụng điện thoại thông minh (ĐTTM) đã cho phép thanh niên kết nối internet, trò chuyện và giải trí mọi lúc, mọi nơi Đối với nhiều người trong độ tuổi từ 10-19, ĐTTM trở thành vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày Sự phụ thuộc vào các sản phẩm này ngày càng gia tăng, dẫn đến tình trạng "nghiện" điện thoại Thậm chí, có một thuật ngữ riêng, "Nomophobia", để chỉ cảm giác căng thẳng, bứt rứt hay bất an khi không có ĐTTM bên cạnh.
Một nghiên cứu tại Anh cho thấy 37% người lớn và 60% thiếu niên thừa nhận nghiện điện thoại thông minh Cụ thể, 23% người lớn và 34% thiếu niên sử dụng điện thoại trong giờ ăn, trong khi 22% người lớn và 47% thiếu niên thừa nhận sử dụng điện thoại trong phòng tắm Thêm vào đó, một nghiên cứu tại một trường đại học Mỹ cho thấy 60% sinh viên cảm thấy họ có thể bị nghiện điện thoại di động.
Năm 2014, nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tỷ lệ sinh viên nghiện điện thoại di động (ĐTTM) là 13,3%, trong khi tại Hàn Quốc con số này lên tới 27,4% và 48% ở Ả Rập Saudi Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Đỗ Mười Thương (2015) chỉ ra rằng tỷ lệ nghiện ĐTTM ở sinh viên ngành Y tại Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam là 11,0% Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Phúc Thành Nhân (2015) tại Đại học Y dược Huế cho thấy tỷ lệ sinh viên nghiện ĐTTM cao hơn, đạt 43,7%.
HUPH cứu đã tiến hành trên sinh viên đại học kết quả cho thấy tỷ lệ nữ giới nghiện điện thoại thông minh nhiều hơn so với nam giới [29]
Như vậy việc sử dụng ĐTTM quá mức có thể dẫn đến phụ thuộc và có thể trở nên nghiện ĐTTM
Thang đo smartphone addiction scale (SAS)
Thang đo smartphone addiction scale (SAS) gồm 6 nhóm yếu tố, bao gồm 33 câu hỏi với 6 mức điểm mỗi câu theo thang đo Likert từ “Rất không đồng ý” đến
“Rất đồng ý Đây là thang đo tự đánh giá do Kwon và công sự phát triển (2013)
Để đánh giá mức độ phụ thuộc vào ĐTTM, nghiên cứu này sử dụng phiên bản rút gọn SAS-SV, đã được Kwon và cộng sự xác nhận với hệ số Cronbach alpha 0,91 SAS-SV bao gồm 10 câu hỏi theo thang đo Likert với 6 mức điểm, điểm cắt là 31 cho nam và 33 cho nữ Thang đo này đã được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu khoa học toàn cầu Nghiên cứu của Olatz Lopez-Fernandez tại Tây Ban Nha và Pháp, cùng với các nghiên cứu khác ở Riyadh, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ, cũng sử dụng thang đo SAV-SV Tại Việt Nam, một số nghiên cứu, bao gồm của tác giả Nguyễn Phúc Thành Nhân, cũng đã áp dụng thang đo này để đánh giá mức độ nghiện ĐTTM.
Nghiên cứu về việc sử dụng điện thoại di động cho thấy mối liên hệ giữa việc này với rối loạn giấc ngủ, tâm lý và kết quả học tập của sinh viên tại Đại học Y dược Huế năm 2015 Đồng thời, nghiên cứu của Lê Đỗ Mười Thương cũng chỉ ra ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến chất lượng giấc ngủ và các yếu tố tâm lý của sinh viên tại Cao đẳng Y tế Quảng Nam.
Các yếu tố liên quan đến nghiện ĐTTM
Nghiên cứu về nghiện ĐTTM thường tập trung vào các yếu tố nhân khẩu học quan trọng như tuổi, giới tính và ngành học Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến mức độ nghiện và hành vi sử dụng thiết bị công nghệ.
Trình độ học vấn của cha mẹ, điều kiện kinh tế gia đình và các yếu tố liên quan đến việc sử dụng điện thoại, như thời gian sử dụng điện thoại thông minh, thời gian suy nghĩ về điện thoại và các yếu tố tâm lý, đều ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thiết bị này.
Nghiên cứu cho thấy giới tính có mối liên hệ với tình trạng nghiện smartphone Tại Hàn Quốc, Namsu Park và Hyunjoo Lee đã thực hiện một nghiên cứu để làm rõ vấn đề này.
Nghiên cứu năm 2014 cho thấy tỷ lệ sinh viên nữ nghiện điện thoại di động cao gấp 1,8 lần so với sinh viên nam (p