ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯ NG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm: 13 khoa lâm sàng tại BV Quân y 105.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích, kết hợp định lượng và định tính.
Xác định cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Chọn toàn bộ 175 điều dưỡng trực tiếp làm công tác tiêm thuốc tại các khoa lâm sàng tự nguyện tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu của Đỗ Mộng Thùy Linh tại BVĐK Trà Vinh năm 2015 cho thấy tỷ lệ TAT là 20,1% Nếu áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho tỷ lệ với P = 0,2, sẽ có những kết quả đáng chú ý.
Sử dụng phần mềm Sample size 2.0 để tính toán cỡ mẫu cho số mũi tiêm cần quan sát, áp dụng công thức tính cỡ mẫu 1 tỷ lệ.
+ Z 2 (1-α/2): Hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% (=1,96)
+ p = 0,2 ước lượng tỷ lệ mũi tiêm an toàn
Mỗi điều dưỡng cần quan sát tối thiểu 3 mũi tiêm, dựa trên yêu cầu 385 mũi tiêm cần quan sát cho 175 điều dưỡng Tổng số mũi tiêm cần quan sát là 525 mũi, được chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.
Số ĐDV cần phát vấn kiến thức: Chọn toàn bộ 175 ĐDV trực tiếp thực hành tiêm để phát vấn kiến thức
Lựa chọn có chủ đích các đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm: 01 lãnh đạo bệnh viện, 01 trưởng ban ĐD, và 02 ĐDTK đại diện cho các khoa lâm sàng để thu thập số liệu.
Mục đích của các cuộc PVS nhằm tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành TAT của ĐDV tại BV
Thảo luận 02 nhóm: mỗi nhóm 6 ĐDV được tiến hành sau khi sơ bộ có kết quả quan sát thực hành tiêm của ĐD
Mục đích của thảo luận nhóm ĐDV là để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành TAT của ĐDV, bao gồm thông tin, phương tiện dụng cụ tiêm và yếu tố quản lý.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu
- Xây dựng phiếu phát vấn kiến thức và bảng kiểm thực hành dựa trên nội dung Hướng dẫn TAT của Bộ Y tế [10]
Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu là bước quan trọng trong quá trình thu thập dữ liệu Sau khi xây dựng phiếu quan sát và phiếu phát vấn kiến thức, cần tiến hành điều tra thử 10 ĐD để kiểm tra tính phù hợp và khả thi của bộ công cụ Dựa trên kết quả thử nghiệm, nội dung của bộ công cụ sẽ được chỉnh sửa cho phù hợp trước khi in ấn để phục vụ cho việc điều tra và tập huấn.
2.5.2 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu
Thu thập số liệu định lượng
Trước khi thu thập số liệu định lượng, học viên cần thông báo cho ĐDV Hoạt động này bao gồm hai phần: quan sát mũi tiêm và phát vấn kiến thức Đối với quan sát mũi tiêm, điều tra viên sẽ theo dõi thực hành tiêm của ĐDV cho NB tại các khoa lâm sàng Việc chọn mũi tiêm để quan sát được thực hiện ngẫu nhiên, với mỗi ĐDV thực hiện 3 mũi tiêm bất kỳ Mặc dù việc quan sát được thông báo trước, nhưng đối tượng nghiên cứu không biết thời điểm và mũi tiêm nào sẽ được chọn.
- Trong mỗi lần quan sát, điều tra viên sử dụng bảng kiểm quan sát (Phụ lục
2) để đánh giá thực hành tiêm của ĐDV, điền vào bảng kiểm đầy đủ các thông tin theo 21 tiêu chí đánh giá và ghi chú khi cần thiết Mỗi bảng kiểm sử dụng quan sát
- Mỗi ĐDV được quan sát 3 mũi tiêm liên tiếp, trong trường hợp tại một thời
Điều tra viên sẽ chuyển sang thời điểm khác để tiếp tục quan sát nếu chưa quan sát đủ 3 mũi tiêm liên tiếp của một ĐDV Thời điểm quan sát bao gồm cả giờ hành chính, giờ trực, ngày làm việc và ngày nghỉ.
Nghiên cứu viên có vai trò giám sát và hỗ trợ các điều tra viên trong quá trình quan sát, đồng thời kiểm tra tính chính xác của thông tin trong các bảng kiểm.
HUPH sẽ tiến hành điều tra viên sau mỗi buổi điều tra Nếu phát hiện thông tin không chính xác, NCV sẽ ngay lập tức gửi lại thông tin cho điều tra viên để thực hiện quan sát bổ sung.
Đối với việc phát vấn kiến thức TAT, ĐDV sẽ được phỏng vấn theo bảng hỏi đã được thiết kế sẵn, do NCV trực tiếp điều hành NCV sẽ thông báo mục đích nghiên cứu và hướng dẫn người tham gia cách trả lời phiếu theo quy định, đồng thời yêu cầu không trao đổi thông tin trong quá trình điền phiếu Sau khi kết thúc thời gian phát vấn 60 phút, NCV sẽ thu phiếu, kiểm tra và làm sạch số liệu trước khi kết thúc buổi phát vấn.
Thu thập số liệu định tính
- Toàn bộ đối tượng nghiên cứu được giải thích mục đích của buổi PVS và thảo luận nhóm
Nội dung của PVS và thảo luận được thực hiện dựa trên bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn (phụ lục 3, 4, 5, 6) Trước khi kết thúc buổi thảo luận, nội dung PVS và thảo luận nhóm sẽ được thông qua để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả.
Điều tra viên
2.6.1 Số lượng và tiêu chuẩn lựa chọn Điều tra viên gồm 05 thành viên: 01 trưởng ban điều dưỡng, 02 trợ lý của ban điều dưỡng; 02 Điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng
2.6.2 Tập huấn điều tra viên về nội dung quan sát thực hành tiêm
- Người tập huấn: Nghiên cứu viên
- Đối tượng được tập huấn: các điều tra viên
Nội dung của buổi tập huấn bao gồm mục đích của kế hoạch điều tra, kỹ năng quan sát thực hành, và việc thống nhất cách đánh giá từng tiêu chí trong bảng kiểm quan sát thực hành tiêm.
- Thời gian và địa điểm: 1 buổi tại phòng hành chính Ban điều dưỡng BV.
Các biến số nghiên cứu
Nghiên cứu viên đã tham khảo các nghiên cứu đánh giá TAT tại Việt Nam và quốc tế, đồng thời xem xét Hướng dẫn Quốc gia về TAT trong các cơ sở khám chữa bệnh của Bộ Y tế, liên quan đến quy chế chuyên môn và kỹ thuật thực hành trong lĩnh vực y tế.
HUPH viện, quy trình kỹ thuật tiêm để xác định các biến số nghiên cứu [10], [12] Các biến số nghiên cứu cụ thể chi tiết ở phụ lục 1
- Nhóm biến về thông tin chung
- Nhóm biến về kiến thức TAT
- Nhóm biến về thực hành TAT
- Nhóm biến về các yếu tố thông tin, phương tiện và dụng cụ tiêm
- Nhóm biến về yếu tố tổ chức, quản lý.
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức Tiêm an toàn của điều dưỡng viên
Sử dụng phiếu phát vấn để tìm hiểu kiến thức của ĐDV về TAT (Phụ lục 2 )
Tổng điểm Trả lời Kết quả Tỷ lệ %
Không đạt (điểm) Đạt Không đạt
Tổng 39 ≥ 32 ≤ 31 ≥ 80% < 80% Điểm tối đa của câu hỏi phát vấn là 39 điểm ĐDV được đánh giá là có kiến thức TAT đạt khi trả lời đạt 80% số điểm của Bộ câu hỏi phát vấn trở lên hay trả lời đạt 32 điểm trở lên ĐDV được đánh giá là có kiến thức TAT chưa đạt khi có điểm
0,05.
3.3.2.1 Kết qủa kiến thức tiêm an toàn của điều dưỡng viên
Bảng 3.8: Mô tả về kiến thức TAT của điều dƣỡng Kiến thức chung
Nhóm tiêu chí về kiến thức chung 85,1 7 (63,6) 68 (87,2) 74 (88) Nhóm tiêu chí về kiến thức chuẩn bị người bệnh, người điều dưỡng
Nhóm tiêu chí về kiến thức chuẩn bị dụng cụ tiêm
Nhóm tiêu chí về kiến thức chuẩn bị thuốc tiêm
Nhóm tiêu chí về kiến thức kỹ thuật tiêm thuốc
Nhóm tiêu chí về kiến thức xử lý chất thải sau tiêm
Theo Bảng 3.8, kiến thức chung về TAT của đối tượng nghiên cứu đạt 81,7% Nhóm tiêu chí về xử lý chất thải sau tiêm có tỷ lệ cao nhất là 94,3%, trong khi nhóm kiến thức về chuẩn bị dụng cụ đạt thấp nhất với 22,3%.
Nhóm tiêu chí về kiến thức chung đạt 85,1%, với đối tượng nghiên cứu có kinh nghiệm trên 10 năm công tác đạt tỷ lệ cao nhất là 88% Tiếp theo là nhóm có kinh nghiệm thấp hơn.
HUPH nghiệm từ 5-10 năm công tác (87,2%) và thấp nhất là nhóm dưới 5 năm công tác(63,6%)
Nhóm tiêu chí về kiến thức chuẩn bị cho người bệnh và người điều dưỡng đạt 76,0% Trong đó, nhóm có kinh nghiệm trên 10 năm công tác đạt tỷ lệ cao nhất là 77,9%, tiếp theo là nhóm có kinh nghiệm từ 5-10 năm với 76,9%, và nhóm dưới 5 năm công tác có tỷ lệ thấp nhất là 54,5%.
Nhóm tiêu chí về kiến thức chuẩn bị dụng cụ tiêm đạt 22,3% Trong đó, nhóm đối tượng nghiên cứu có kinh nghiệm từ 5-10 năm đạt tỷ lệ cao nhất là 23,1%, tiếp theo là nhóm có kinh nghiệm trên 10 năm với 22,1%, và nhóm có kinh nghiệm dưới 5 năm đạt tỷ lệ thấp nhất là 18,1%.
Nhóm tiêu chí về kiến thức chuẩn bị thuốc tiêm đạt 92,6% Trong đó, nhóm đối tượng nghiên cứu có kinh nghiệm trên 10 năm công tác đạt tỷ lệ cao nhất là 98,8% Tiếp theo là nhóm có kinh nghiệm từ 5-10 năm với tỷ lệ 88,5%, trong khi nhóm có dưới 5 năm công tác đạt tỷ lệ thấp nhất là 81,8%.
Nhóm tiêu chí về kiến thức kỹ thuật tiêm thuốc đạt 92%, với nhóm nghiên cứu có trên 10 năm kinh nghiệm đạt tỷ lệ cao nhất là 97,6% Tiếp theo là nhóm có kinh nghiệm từ 5-10 năm với tỷ lệ 87,2%, trong khi nhóm dưới 5 năm công tác có tỷ lệ thấp nhất là 81,8%.
Nhóm tiêu chí về kiến thức xử lý chất thải sau tiêm đạt 94,3% Trong đó, nhóm đối tượng nghiên cứu có kinh nghiệm trên 10 năm công tác đạt tỷ lệ cao nhất là 98,8% Tiếp theo là nhóm có dưới 5 năm công tác với tỷ lệ 90,9%, trong khi nhóm có kinh nghiệm từ 5-10 năm công tác đạt tỷ lệ thấp nhất là 89,7%.
Bảng 3.9: Kiến thức về tiêm an toàn của điều dƣỡng theo khoa
Kiến thức về tiêm an toàn
3 Nội tiêu hóa – Bệnh máu 2 18,2 9 81,8 11 100
6 Ngoại thần kinh – Sọ não 2 14,3 12 85,7 14 100
Bảng 3.9 cho thấy phân bố kiến thức tiêm an toàn theo khoa/phòng, với kết quả cho thấy tỉ lệ điều dưỡng viên có kiến thức đạt yêu cầu về tiêm an toàn cao hơn tỉ lệ không đạt ở hầu hết các khoa Đặc biệt, nhiều khoa có tỉ lệ điều dưỡng viên đạt kiến thức về tiêm an toàn trên 75%, trong đó khoa Y học cổ truyền và khoa Mắt đạt tỉ lệ cao nhất là 87,5%, trong khi khoa Truyền nhiễm - Da liễu có tỉ lệ thấp nhất là 76,9%.
3.3.2.2 Tỷ lệ kiến thức đạt theo trình độ học vấn
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ kiến thức đạt theo trình độ học vấn
Biểu đồ 3.4 cho thấy những ĐDV có trình độ cao đẳng, đại học tỷ lệ đạt kiến thức cao hơn so với những ĐDV có trình độ trung cấp
3.3.2.3 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành tiêm an toàn
Biều đồ 3.5: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành tiêm an toàn
Biểu đồ 3.5 cho thấy rằng nhóm điều dưỡng viên có kiến thức đạt được tỷ lệ thực hành TAT là 86,1%, cao hơn đáng kể so với nhóm điều dưỡng viên có kiến thức không đạt, chỉ đạt 75,7%.
Kiến thức đạt Kiến thức không đạt
Trung cấp Đại học, cao đẳng
Kiến thức đạt Kiến thức không đạt
Thực hành đạt Thực hành không đạt
Đối với yếu tố kiến thức về thông tư số 51 của Bộ Y tế, hầu hết các đối tượng nghiên cứu chưa nắm rõ thông tin, dẫn đến tỷ lệ cơ số thuốc cấp cứu phản vệ chỉ đạt 22,9% Một điều dưỡng cho biết: “Thông tư này bệnh viện chưa triển khai xuống khoa, nhưng tôi biết vì đã xem trên mạng đó là xử trí cấp cứu phản vệ Nội dung thông tư có thay đổi và cơ số trong hộp cấp cứu và phác đồ xử trí Về nội dung này tôi không biết rõ vì chưa triển khai, chưa được tập huấn.”
Bệnh viện hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục Quân y, do đó, mọi thay đổi về thông tư và quy định từ Bộ Y tế sẽ được triển khai sau khi nhận được hướng dẫn từ Cục Quân y Điều này dẫn đến việc bệnh viện thực hiện các quy định chậm hơn so với các bệnh viện dân sự.
3.3.3 Yếu tố thông tin và nguồn lực
3.3.3.1 Yếu tố trang thiết bị và dụng cụ
Hầu hết các điều dưỡng trưởng khoa đều cho rằng việc cung cấp phương tiện và trang thiết bị phục vụ cho TAT được thực hiện đầy đủ Điều này cho thấy sự quan tâm lớn đến việc đảm bảo thực hiện TAT tại đây.
Tuy nhiên, một số khó khăn do trang thiết bị, dụng cụ còn tồn tại ảnh hưởng đến thực hành TAT được đánh giá chủ yếu do:
Giá thành trang thiết bị phục vụ cho TAT còn cao, dẫn đến việc tại các khoa đôi khi phải tái sử dụng các vật dụng như hộp kháng thủng Sau khi thu gom, các vật dụng này sẽ được bàn giao cho khoa kiểm soát nhiễm khuẩn để xử lý.
Giá thành của trang thiết bị phục vụ cho TAT còn cao, dẫn đến việc các khoa đôi khi phải tái sử dụng những thiết bị như hộp kháng thủng Sau khi thu gom, các thiết bị này sẽ được bàn giao cho khoa kiểm soát nhiễm khuẩn để xử lý.
BÀN LUẬN
Thực hành tiêm an toàn
Tỷ lệ thực hành TAT chung của đối tượng nghiên cứu đạt 37,1%, thấp hơn so với bệnh viện Đống Đa (47,4%) và bệnh viện Đức Giang (44%) nhưng cao hơn so với bệnh viện đa khoa Hà Đông (22,2%) Kết quả nghiên cứu cho thấy tiêu chí rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh trước khi chuẩn bị dụng cụ chỉ đạt 78,9%, trong khi tiêu chí sát khuẩn tay nhanh/đi găng trước khi đâm kim chỉ đạt 50,3% Điều này phản ánh thực trạng tại bệnh viện, cho thấy cần có kế hoạch giám sát và đào tạo để nâng cao kỹ năng thực hành cho ĐDV.
4.2.1 Thực hành chuẩn bị người bệnh, người điều dưỡng
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết điều dưỡng viên đạt yêu cầu trong việc chuẩn bị người bệnh và người điều dưỡng trước khi tiêm, với 97,1% thực hiện đúng 5 tiêu chí và hướng dẫn tư thế an toàn cho bệnh nhân, cao hơn so với các nghiên cứu trước đây Nghiên cứu của Đào Thành năm 2010 chỉ ra rằng 30,2% điều dưỡng viên không giải thích cho bệnh nhân về tác dụng và tên thuốc Tiêu chí rửa tay thường quy đạt 85,7%, cũng cao hơn so với các nghiên cứu trước đó Bệnh viện là cơ sở thực tập cho sinh viên điều dưỡng, do đó, điều dưỡng viên thực hiện tốt ngay từ bước đầu của quy trình.
4.2.2 Thực hành chuẩn bị dụng cụ, thuốc tiêm
Hầu hết điều dưỡng viên đạt tiêu chuẩn cao trong việc chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm, với tỷ lệ thành công từ 94,9% đến 100%.
Tại HUPH, các điều dưỡng đã chuẩn bị tốt hộp chống sốc, bông gạc tẩm cồn và thùng đựng chất thải sắc nhọn, đạt 100% kết quả tương đương với bệnh viện Đức Giang, theo nghiên cứu của Hà Thị Kim Phượng Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Phan Thị Liên năm 2015 (91,1%) và nghiên cứu ở ba bệnh viện của Hà Thị Kim Phượng năm 2014 (84,2%) Sự chuẩn bị này được hỗ trợ bởi Hội điều dưỡng Việt Nam thông qua các khóa tập huấn cho lãnh đạo bệnh viện, ban điều dưỡng và điều dưỡng trưởng về TAT và KSNK, cũng như vai trò của cơ sở thuốc cấp cứu trong quá trình tiêm truyền Do đó, lãnh đạo bệnh viện đã trang bị đầy đủ cho các xe tiêm của các khoa.
Trong quá trình chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm, việc kiểm tra thuốc và sát khuẩn ống thuốc là rất quan trọng, với tỷ lệ đạt 94,9% Tuy nhiên, một số điều dưỡng vẫn có tâm lý chủ quan, thường sử dụng gạc để bẻ ống thuốc ngay sau khi kiểm tra mà không thực hiện sát khuẩn đầu ống, đặc biệt là đối với các loại thuốc trong ống thủy tinh.
4.2.3 Thực hành về kỹ thuật tiêm thuốc
Các tiêu chí về thực hành tiêm đều đạt cao, với tỷ lệ xác định vị trí tiêm và tiêm đúng góc độ lần lượt là 98,3% và 95,4%, tương tự như kết quả nghiên cứu của Hà Thị Kim Phượng (2014) và Trần Thị Kim Phượng (2012) Các tiêu chí khác đạt từ 91,4% đến 96,9% Tuy nhiên, tiêu chí sát khuẩn tay nhanh/đi găng tay trước khi đâm kim chỉ đạt 50,3%, thấp hơn so với nghiên cứu của Phan Thị Thanh Thủy.
2010 là 76,74%, cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Mộng Thùy Linh năm 2015 (40,3%)[15]
Nghiên cứu trên 175 điều dưỡng (ĐDV) cho thấy chỉ có 65 ĐDV đạt tiêu chuẩn kỹ thuật tiêm thuốc, chiếm 37,1% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Hà Thị Kim Phượng năm 2014 tại 3 bệnh viện thuộc Sở Y tế Hà Nội, nơi có 50,2% ĐDV đạt yêu cầu với 2 mũi tiêm quan sát Tuy nhiên, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Kim Phượng năm 2012 và Đỗ Mộng Thùy.
Linh năm 2015 quan sát 3 mũi tiêm/ĐDV kết quả lần lượt là 22,2% và 20,1% [15,
4.2.4 Thực hành xử lý chất thải và vệ sinh tay sau tiêm Đa số điều dưỡng viên thực hành xử trí chất thải và vật sắc nhọn sau tiêm đạt yêu cầu với các tiêu chí Riêng tiêu chí phân loại chất thải sau tiêm, VST sau tiêm, cho BKT vào hộp đựng vật sắc nhọn đạt 98,3%, tương đồng kết quả nghiên cứu của
Hà Thị Kim Phượng (2014) và Trần Thị Minh Phượng (2012) ghi nhận tỷ lệ kháng thủng lần lượt là 95% và 93,3% Tỷ lệ không sử dụng tay đậy hoặc nắp lại kim tiêm chỉ đạt 88,6%, thấp hơn so với nghiên cứu của Hà Thị Kim Phượng (94,1%) nhưng cao hơn so với Trần Thị Minh Phượng (88,8%) Kết quả này cho thấy công tác tuyên truyền, tập huấn và tổ chức thi điều dưỡng giỏi hàng năm của bệnh viện đã giúp đội ngũ điều dưỡng viên hiểu và thực hành đúng các biện pháp đảm bảo an toàn cho bản thân và cộng đồng, phù hợp với định nghĩa về TAT của WHO.
4.2.5 Tỷ lệ mũi tiêm đạt TAT theo từng khối
Tỉ lệ mũi tiêm an toàn giữa các khối nghiên cứu không đồng nhất, với khối liên chuyên khoa – ĐY đạt tỉ lệ cao nhất 58,2%, tiếp theo là khối ngoại - sản với 31%, và khối HSCC – Nội có tỉ lệ thấp nhất 19,7% Khoa hồi sức cấp cứu yêu cầu điều dưỡng thực hiện thao tác nhanh và chính xác, dẫn đến việc bỏ qua một số bước như sát khuẩn ống thuốc và hướng dẫn bệnh nhân sau tiêm Tuy nhiên, mọi bước đều quan trọng; nếu không sát khuẩn ống thuốc tốt, có thể gây lây chéo mầm bệnh Hơn nữa, việc không hướng dẫn bệnh nhân về tác dụng phụ có thể khiến họ không phản ánh kịp thời, gây khó khăn trong xử trí và thậm chí đe dọa tính mạng.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng khoa lâm sàng tại bệnh viện quân y 105 năm 2018
Nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ đáng kể giữa độ tuổi và thâm niên thực hành tiêm với thực hành về TAT của điều dưỡng Cụ thể, tỷ lệ không đạt trong nhóm dưới 30 tuổi là 64%, trong khi nhóm có kinh nghiệm thực hành tiêm dưới 5 năm đạt tỷ lệ không đạt là 72,7% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thị Mỹ Hằng năm 2014 tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, trong đó nhóm điều dưỡng có thâm niên dưới 5 năm có tỷ lệ thực hành không đạt lên tới 78,3% Ngược lại, tỷ lệ thực hành TAT đạt cao nhất là 40,5% trong nhóm có thâm niên công tác từ 11 đến 20 năm.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên quan thống kê giữa trình độ học vấn và thực hành TAT, với tỷ lệ thực hành TAT cao nhất đạt 68,2% ở những người có trình độ Cao đẳng và Đại học Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Hà Thị Kim Phượng năm 2014, khi tỷ lệ này là 56,5%.
4.3.2 Yếu tố kiến thức với thực hành tiêm an toàn
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kết quả tương đồng với nghiên cứu của Trần Thị Minh Phượng năm 2012, trong đó nhóm đối tượng có kiến thức đạt được tỷ lệ thực hành là 26,7%, trong khi nhóm có kiến thức không đạt chỉ đạt 10,5%.
Tiêu chí về cơ số thuốc trong hộp cấp cứu phản vệ và liều lượng tiêm adrenalin theo thông tư 51/BYT ban hành ngày 29/12/2017 hiện vẫn chưa đạt yêu cầu, với tỷ lệ lần lượt là 22,9% và 24% Mặc dù Bộ Y tế đã ban hành các tiêu chí này, nhưng nhiều bệnh viện vẫn chưa tiến hành tập huấn và vẫn tiếp tục áp dụng theo thông tư năm 1999 cùng với hướng dẫn TAT của Bộ Y tế.
Đại đa số đối tượng nghiên cứu chưa biết đến thông tư số 51 của Bộ Y tế, dẫn đến tỷ lệ cơ số thuốc cấp cứu phản vệ chỉ đạt 22,9% Một điều dưỡng cho biết: “Thông tư này bệnh viện chưa triển khai xuống khoa, nhưng tôi biết vì đã xem trên mạng về cách xử trí cấp cứu phản vệ.”
HUPH đã thực hiện việc thay đổi cơ số trong hộp cấp cứu và phác đồ xử trí Tuy nhiên, tôi chưa nắm rõ nội dung này do chưa được triển khai và chưa tham gia tập huấn.
Bệnh viện hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cục quân y, do đó, mọi thay đổi về thông tư và quy định của Bộ Y tế sẽ được triển khai sau khi nhận được công văn hướng dẫn từ cục quân y Điều này dẫn đến việc bệnh viện thực hiện các quy định chậm hơn so với các bệnh viện dân sự.
4.3.4 Yếu tố phương tiện và dụng cụ
Hầu hết các ĐDV tham gia TLN đều cho rằng việc cung cấp trang thiết bị đầy đủ và phù hợp có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện TAT tại bệnh viện Việc không đáp ứng đủ trang thiết bị, như thùng đựng VSN, có thể làm tăng nguy cơ không an toàn cho ĐDV và người thu gom chất thải Một điều dưỡng cho biết, trong quá trình tiêm cấp cứu, có lúc họ đã làm ẩu, không sử dụng kìm để đậy nắp kim mà dùng tay, dẫn đến việc một đồng chí bị kim đâm vào tay, rất may là không bị lây nhiễm Ngoài ra, việc phân loại chất thải sau tiêm cũng gặp vấn đề khi có đồng chí phân loại không đúng, gây nguy hiểm khi nhân viên thu gom mang đi tiêu hủy.
Dung dịch sát khuẩn tay nhanh là công cụ thiết yếu trong thực hành tiêm của điều dưỡng Tuy nhiên, nhiều điều dưỡng viên (ĐDV) lo ngại rằng việc sử dụng dung dịch này có thể làm da tay họ khô ráp hoặc nứt nẻ, đặc biệt trong mùa khô hanh, dẫn đến việc không tuân thủ vệ sinh tay (VST) trước khi tiêm Sự không tuân thủ này có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn cho bệnh nhân (NB) và ảnh hưởng đến chất lượng mũi tiêm an toàn Điều này cho thấy mối liên hệ giữa việc thực hành vệ sinh tay và chất lượng dịch vụ y tế, theo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực.
4.3.5 Yếu tố tổ chức và quản lý Đa số điều dưỡng viên cho rằng việc kiểm tra giám sát thực hiện TAT thường xuyên của các cơ quan sẽ giúp cho thực hành tiêm của ĐDV tốt hơn “Tuy nhiên trong quá trình kiểm tra giám sát do lực lượng trợ lý còn ít (cả ban có 3 trợ lý) số lượng các khoa nhiều, lại phân tán ở nhiều khu vực nên việc kiểm tra có thời điểm còn chưa kịp thời” (PVS2) chính vì vậy cũng ảnh hưởng đến thực hành tiêm của ĐDV
Ngay cả những đơn vị đào tạo có tỷ lệ thực hành tiêm đạt thấp cũng cho rằng công việc của họ bị ảnh hưởng do phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác, bao gồm cả công việc hành chính, dẫn đến việc kiểm tra và giám sát không được thực hiện hiệu quả.
Các ĐDT khoa đề nghị cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát về TAT tại khoa của ban điều dưỡng và khoa kiểm soát nhiễm khuẩn Đồng thời, cần phát hành, in ấn và minh họa các hình ảnh về hoạt động TAT nhằm nâng cao nhận thức của nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.
Bệnh viện hiện chưa có chế độ thi đua khen thưởng thường xuyên cho những điều dưỡng đạt tiêu chuẩn TAT trong các đợt kiểm tra Hiện tại, chỉ có hình thức xử phạt áp dụng cho những điều dưỡng vi phạm nhiều lần.
Bệnh viện hiện đang áp dụng mô hình chăm sóc theo đội, nhưng một số khoa có số lượng điều dưỡng viên (ĐDV) ít trong khi số lượng bệnh nhân lại đông Việc chăm sóc cho bệnh nhân với nhu cầu đa dạng đã ảnh hưởng đến thời gian đáp ứng (TAT) của các ĐDV.
Ưu điểm và nhược điểm của đề tài
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính đã đánh giá thực trạng thực hành tiêm của điều dưỡng tại bệnh viện, với đối tượng nghiên cứu là toàn bộ điều dưỡng trực tiếp thực hành tiêm tại 13 khoa lâm sàng Nghiên cứu định lượng sử dụng mẫu toàn bộ, trong khi nghiên cứu định tính áp dụng mẫu có chủ đích theo tiêu chuẩn nghiên cứu Qua việc quan sát thực hành tiêm và phỏng vấn kiến thức của cùng một đối tượng, nghiên cứu đã thực hiện đánh giá 3 mũi tiêm trên một điều dưỡng, cho thấy tính chất quan sát nhiều mũi tiêm trên một điều dưỡng Tuy nhiên, nghiên cứu cũng tồn tại một số ưu nhược điểm nhất định.
Dưới sự hỗ trợ của lãnh đạo bệnh viện và ban điều dưỡng, trước khi thu thập số liệu, chúng tôi đã thông báo cho lãnh đạo các khoa để họ truyền đạt thông tin đến toàn bộ đội ngũ điều dưỡng.
Tại các khoa thu thập số liệu, sự chỉ huy và hỗ trợ từ điều dưỡng trưởng là rất quan trọng, đặc biệt là việc nhận được sự đồng ý và tham gia nghiên cứu từ các ĐDV.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại một thời điểm chỉ có khả năng mô tả và xác định một số mối liên quan mà không thể làm rõ nguyên nhân của vấn đề.
Mặc dù các điều dưỡng viên và trợ lý điều dưỡng đã được đào tạo kỹ lưỡng về kỹ thuật tiêm, nhưng do là nhân viên của bệnh viện, kết quả đánh giá kỹ năng thực hành tiêm có thể bị ảnh hưởng.
Sự hiện diện của ĐTV tại các điểm thu thập thông tin có thể tác động đến câu trả lời của người tham gia, từ đó ảnh hưởng đến kết quả của nghiên cứu.
Thông tin kiến thức thu thập từ bộ câu hỏi phỏng vấn có thể bị ảnh hưởng bởi số lượng đối tượng tham gia đông, việc thu thập diễn ra tại phòng hành chính khoa trật, và vị trí ghế ngồi gần nhau.
Thời điểm quan sát thực hành tiêm của điều dưỡng chỉ diễn ra trong giờ hành chính, do đó, kết quả thu được chưa phản ánh đầy đủ khả năng thực hành TAT của điều dưỡng.
- Địa điểm tiến hành thảo luận nhóm ngay tại khoa của BV nên có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tâm lý của ĐDV