ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2021
- Địa điểm: Trung tâm y tế Lục Ngạn, Bắc Giang
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp giữa định lượng và định tính, trong đó nghiên cứu định lượng được thực hiện trước nhằm phục vụ cho cả hai mục tiêu: mô tả động lực làm việc và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của điều dưỡng tại Trung tâm y tế Lục Ngạn.
Nghiên cứu định tính được tiến hành sau nghiên cứu định lượng nhằm mục tiêu tìm hiểu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đã được xác định trong nghiên cứu định lượng, đồng thời khám phá thêm những yếu tố ảnh hưởng khác.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: toàn bộ điều dưỡng đang làm việc tại Trung tâm y tế Lục Ngạn
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ điều dưỡng đang làm việc tại Trung tâm y tế Lục Ngạn, Bắc Giang
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và phù hợp với thời gian thực hiện, nghiên cứu đã tiến hành 9 cuộc phỏng vấn sâu và 1 cuộc thảo luận nhóm, đảm bảo tính bão hòa của thông tin.
Phương pháp Đối tượng Số lượng người
Trưởng phòng Quản lý chất lượng 1
Trưởng Phòng Tổ chức cán bộ 1
Trưởng phòng Điều dưỡng 1 Điều dưỡng trưởng khoa nội 1 Điều dưỡng trưởng khoa ngoại 1 Điều dưỡng viên biên chế 1 Điều dưỡng viên hợp đồng 1
Thảo luận nhóm (TLN) Điều dưỡng viên các khoa 14
Phương pháp chọn mẫu: Các đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Cấu phần định lượng: Bộ câu hỏi tự điền (Phụ lục 1)
Trong nghiên cứu của chúng tôi, bộ câu hỏi định lượng được thiết kế dưới dạng tự điền, tham khảo từ công cụ nghiên cứu của Phạm Xuân Anh Đào (2018) và Nguyễn Trọng Hiếu (2019), được chuẩn hóa từ nghiên cứu của Patrick Mbindyo (2009) nhằm đo lường động lực làm việc của nhân viên y tế.
Bộ công cụ nghiên cứu bao gồm 3 yếu tố chính với 10 tiểu mục: yếu tố hài lòng với công việc (3 tiểu mục), yếu tố cam kết với tổ chức (4 tiểu mục), và yếu tố sự tận tâm (3 tiểu mục) Nghiên cứu của Phạm Xuân Anh Đào (2018) cho thấy độ tin cậy của các yếu tố này được xác định qua tham số Cronbach’s Alpha, với tất cả đều đạt mức ≥0,7, cụ thể là yếu tố hài lòng với công việc (0,7), yếu tố cam kết với tổ chức (0,8), và yếu tố sự tận tâm (0,7).
Do vậy, các thang đo đều có độ tin cậy tương đối cao (48)
Cấu phần định tính của nghiên cứu bao gồm việc thực hiện phỏng vấn sâu với các lãnh đạo tại TTYT, bao gồm Trưởng phòng Quản lý chất lượng, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Chủ tịch công đoàn, Trưởng phòng điều dưỡng, Điều dưỡng trưởng khoa nội/ngoại, và các Điều dưỡng viên biên chế/hợp đồng Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiến hành thảo luận nhóm với các điều dưỡng viên từ các khoa khác nhau, được trình bày trong các phụ lục 3, 4, 5, 6.
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Bước 1: Liên hệ địa phương
Học viên và nghiên cứu viên cần liên hệ với lãnh đạo trung tâm để trình bày mục đích và thời gian nghiên cứu Tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ làm việc với điều dưỡng trưởng các khoa để sắp xếp thời gian và địa điểm thu thập thông tin.
Bước 2: Thử nghiệm phiếu điều tra
Trước khi áp dụng bộ công cụ thu thập số liệu, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm với 5 điều dưỡng tại TTYT để khắc phục các vấn đề phát sinh.
HUPH trong quá trình phỏng vấn và thu thập thông tin cần đảm bảo tính đầy đủ và rõ ràng, tránh những câu hỏi gây khó hiểu cho đối tượng Điều tra viên cần phải giải thích chính xác các câu hỏi để thu thập dữ liệu hiệu quả.
Bộ công cụ đã được thử nghiệm và không cần chỉnh sửa, vì các câu hỏi được trình bày rõ ràng và dễ hiểu Người tham gia trả lời bộ câu hỏi cũng không có góp ý nào thêm cho bộ công cụ.
Bước 3: Tập huấn điều tra viên (ĐTV)
- Nghiên cứu viên trực tiếp tham gia tập huấn điều tra viên
Đối tượng tham gia tập huấn gồm 3 điều tra viên, là những cán bộ có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, hiện đang công tác tại phòng Điều dưỡng của Trung tâm Y tế Lục Ngạn.
+ Giới thiệu công việc, bộ công cụ, kế hoạch thu thập số liệu
+ Phổ biến đạo đức nghiên cứu để đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đồng ý tham gia vào nghiên cứu
+ Cách giải thích và hướng dẫn đối tượng điền phiếu
+ Thực hành phát phiếu điều tra
Bước 4: Tiến hành thu thập số liệu
Điều tra viên phát phiếu điều tra cho điều dưỡng các khoa sau buổi giao ban và hướng dẫn đối tượng cách điền cũng như trả lời thắc mắc Đối tượng nghiên cứu được thông báo về tính bảo mật của phiếu điều tra, không ghi tên và không có câu hỏi nhạy cảm Nếu đồng ý tham gia, đối tượng sẽ đọc và ký vào Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu.
- ĐTV bố trí ĐTNC tham gia vào nghiên cứu ngồi cách xa nhau để đảm bảo
2 người ngồi cạnh nhau không thể nhìn được thông tin trong phiếu của nhau
- Giới thiệu cho ĐTNC về bộ công cụ
Sau khi ĐTNC hoàn thành việc điền phiếu, ĐTV sẽ đến tận nơi để thu thập phiếu và kiểm tra xem các câu hỏi đã được điền đầy đủ hay chưa Những phiếu đã hoàn tất sẽ được đánh dấu mã số, trong khi những phiếu chưa đầy đủ sẽ được yêu cầu bổ sung thông tin.
Bước 5: Thu thập phiếu điều tra
Nghiên cứu viên kiểm tra phiếu điều tra về số lượng, chất lượng bộ câu hỏi và kiểm tra xác suất 10% phiếu
Bước 6: Tổng hợp và làm sạch phiếu
Nghiên cứu viên tổng hợp phiếu theo từng ngày Kiểm tra thông tin ghi trong phiếu Phiếu thông tin không đạt yêu cầu sẽ được loại bỏ
Sau khi có sự đồng ý của các đối tượng tham gia nghiên cứu, nghiên cứu viên đã tiến hành 9 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) với các thành phần như lãnh đạo Trung tâm, trưởng phòng Quản lý chất lượng, trưởng phòng Tổ chức cán bộ, chủ tịch công đoàn, trưởng phòng điều dưỡng, và các điều dưỡng viên Ngoài ra, một cuộc thảo luận nhóm với 14 điều dưỡng viên từ các khoa cũng được thực hiện Tất cả các cuộc phỏng vấn và thảo luận đều được ghi âm với sự đồng ý của người tham gia, dựa trên các chủ đề đã được xây dựng trong các hướng dẫn Thời gian thảo luận được sắp xếp vào thời gian rảnh của từng đối tượng, với mỗi cuộc phỏng vấn và thảo luận kéo dài từ 20 đến 30 phút.
Sau khi kết thúc buổi phỏng vấn, nghiên cứu viên sẽ nghe lại băng ghi âm để ghi chép những nội dung chính liên quan đến mục tiêu nghiên cứu Qua đó, họ rút ra kinh nghiệm và điều chỉnh bản hướng dẫn phỏng vấn cho các đối tượng tiếp theo.
Các biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
2.6.1 Các biến số trong nghiên cứu định lƣợng
- Nhóm biến số về thông tin chung của điều dưỡng
Nhóm biến số về các yếu tố động lực làm việc bao gồm ba yếu tố chính: yếu tố hài lòng với công việc, yếu tố cam kết với tổ chức và yếu tố sự tận tâm Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất làm việc và sự gắn bó của nhân viên với tổ chức Hài lòng với công việc giúp tạo ra môi trường làm việc tích cực, trong khi cam kết với tổ chức thúc đẩy sự trung thành và cống hiến Cuối cùng, sự tận tâm là động lực mạnh mẽ giúp nhân viên vượt qua khó khăn và đạt được mục tiêu chung.
2.6.2 Các chủ đề trong nghiên cứu định tính
- Nhận định về động lực của điều dưỡng tại TTYT
- Nhóm các yếu tố thúc đẩy: Công việc có ý nghĩa, sự hài lòng với công việc, công việc có cơ hội thăng tiến, sự ghi nhận thành tích
Nhóm các yếu tố duy trì bao gồm chính sách và chế độ quản trị, đào tạo và phát triển, phương pháp giám sát, lương, thưởng, phúc lợi, điều kiện làm việc và quan hệ đồng nghiệp Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc giữ chân nhân viên và nâng cao hiệu suất làm việc.
- Đề xuất của đối tượng nghiên cứu để tăng cường động lực làm việc của điều dưỡng tại TTYT
2.6.3 Tiêu chuẩn đánh giá ĐLLV được đo lường dựa trên 3 nhóm yếu tố, mỗi nhóm yếu tố gồm nhiều tiểu mục để đo lường ĐLLV Mỗi tiểu mục được đánh giá theo thang điểm Likert 5 cấp độ: rất không đồng ý (1 điểm), không đồng ý (2 điểm), bình thường (3 điểm), đồng ý (4 điểm), rất đồng ý (5 điểm) được mã hóa thành 2 nhóm: nhóm chưa có động lực (< 3 điểm) và nhóm có động lực (≥ 4 điểm)
Phiếu phát vấn cho điều dưỡng bao gồm 10 câu hỏi về động lực làm việc, trong đó 9 câu được viết theo dạng trần thuật tích cực và 1 câu theo dạng trần thuật âm tính Điểm số cao cho các câu tích cực cho thấy động lực làm việc cao, trong khi điểm cao cho câu âm tính lại chỉ ra sự thiếu động lực Để tính điểm động lực làm việc chung, thang điểm của câu âm tính sẽ được mã hóa lại: mức 1 thành 5, mức 5 thành 1, mức 4 thành 2, và mức 2 thành 4.
Kết quả cho điểm theo từng tiểu mục:
- Từ 1-3 điểm: chưa có động lực
- Từ 4-5 điểm: có động lực
Điểm của từng yếu tố được xác định bằng tổng điểm của các tiểu mục trong yếu tố đó Mỗi yếu tố có 10 tiểu mục, với tổng điểm tối đa là 50 và tối thiểu là 10 Mỗi tiểu mục có điểm cao nhất là 5 và thấp nhất là 1 Do đó, nếu một yếu tố có n tiểu mục, điểm cao nhất sẽ là 5n và điểm thấp nhất là n.
Nhóm nghiên cứu đã quyết định chọn điểm cắt là 3,5n để đo ĐLLV cho một yếu tố, thay vì 3n, vì với thang đo Likert 5 mức độ, mức 3 được coi là “Bình thường”, tương đương với việc không có động lực.
HUPH bình ≥3,5n thì xem là “có ĐLLV” với yếu tố đó, nếu điểm trung bình