1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo kết quả nghiên cứu về nhu cầu xây dựng tài liệu công tác xã hội trong trợ giúp, bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữ bệnh

44 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo kết quả nghiên cứu về nhu cầu xây dựng tài liệu công tác xã hội trong trợ giúp, bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữ bệnh
Tác giả U. H. TS. Phạm Tiến Nam, ThS. Nguyễn Kim Oanh, ThS. Vũ Thị Thanh Mai, ThS. Nguyễn Thị Phương, BS. Nguyễn Khắc Liêm
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Đặt vấn đề (3)
  • 2. Hệ thống bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Việt Nam (4)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (6)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (6)
    • 3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (8)
    • 3.3. Thiết kế nghiên cứu (8)
    • 3.4. Bộ công cụ nghiên cứu (8)
    • 3.5. Phương pháp thu thập số liệu (8)
    • 3.6. Phương pháp phân tích số liệu (9)
  • 4. Kết quả nghiên cứu (9)
    • 4.1. Dịch vụ công tác xã hội với trẻ em tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Việt Nam (9)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội với trẻ em tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Việt Nam (17)
    • 4.3. Nhu cầu xây dựng tài liệu công tác xã hội trong trợ giúp, bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (21)
  • 5. Bàn luận (25)
    • 5.1. Dịch vụ công tác xã hội trong trợ giúp, bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (25)
    • 5.2. Nhu cầu xây dựng cuốn tài liệu công tác xã hội trong trợ giúp, bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (28)
  • 6. Kết luận và khuyến nghị (29)
    • 6.1. Kết luận (29)
    • 6.2. Đề xuất (29)

Nội dung

Hệ thống bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Việt Nam

The child protection system in Vietnam's healthcare facilities consists of three main components: the legal and policy framework, the organizational structure, and the service system (Ministry of Labour-Invalids and Social Affairs (MOLISA), 2020).

Luật trẻ em năm 2016 quy định quyền và bổn phận của trẻ em, cùng với trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình trong việc thực hiện quyền trẻ em (Quốc hội, 2016) Luật khám chữa bệnh năm 2009 bảo vệ quyền lợi của người khám chữa bệnh, bao gồm cả trẻ em (Quốc hội, 2009) Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, được sửa đổi vào năm 2014, hỗ trợ khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi và trẻ em thuộc hộ nghèo (Quốc hội, 2008; Quốc hội, 2014) Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định hỗ trợ tiền ăn và chi phí đi lại cho trẻ em nghèo trong quá trình nằm viện.

Thông tư số 43/2015/TT-BYT, ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2015 bởi Bộ Y tế, quy định nhiệm vụ công tác xã hội tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ trẻ em Bên cạnh đó, Thông tư số 24/2017/TT-BYT quy định quy trình tiếp nhận và chăm sóc y tế cho nạn nhân bạo lực gia đình, bao gồm cả trẻ em bị bạo hành, tại các cơ sở khám, chữa bệnh.

Hiện nay, trong hệ thống y tế công lập, 100% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trung ương, 96.1% tuyến tỉnh/thành phố và 88.6% tuyến quận/huyện đã thành lập Phòng/Tổ công tác xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ trẻ em theo thông tư 43 của Bộ Y tế Hầu hết các cơ sở này đã xây dựng mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội từ các Khoa/Phòng ban để phối hợp bảo vệ trẻ em Tuy nhiên, việc bảo vệ trẻ em bị xâm hại và trẻ em bị bỏ rơi tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là ở các cơ sở tư nhân chưa phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em.

Hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm ba cấp độ: phòng ngừa, hỗ trợ và can thiệp (Quốc hội, 2016) Cấp độ phòng ngừa áp dụng các biện pháp bảo vệ cho mọi trẻ em và gia đình, nhằm nâng cao nhận thức và kiến thức về bảo vệ trẻ em, tạo ra môi trường sống an toàn và lành mạnh, từ đó giảm thiểu nguy cơ xâm hại Cấp độ hỗ trợ tập trung vào trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột hoặc bỏ rơi, với mục tiêu phát hiện và giảm thiểu nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em trong quá trình khám, điều trị.

Có 6 độ can thiệp bảo vệ trẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại và hỗ trợ chăm sóc phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Quốc hội, 2016) Ba cấp độ bảo vệ trẻ em được thực hiện theo Thông tư số 43/BYT/2015/TT-BYT (Bộ Y tế, 2015).

Chúng tôi cung cấp hỗ trợ và tư vấn cho người bệnh cùng gia đình trong quá trình khám và chữa bệnh, đồng thời thông tin và giáo dục pháp luật liên quan Chúng tôi cũng vận động tiếp nhận tài trợ, hỗ trợ nhân viên y tế, và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ Ngoài ra, chúng tôi xây dựng đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội tại cộng đồng nếu có.

Tại Việt Nam, có ba nhóm trẻ em chính được hỗ trợ bởi các dịch vụ công tác xã hội trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ bị xâm hại và trẻ bị bỏ rơi Theo khảo sát năm 2021, trung bình mỗi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã trợ giúp 938 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, 8 trẻ bị xâm hại và 5 trẻ bị bỏ rơi trong năm 2020 Tuy nhiên, sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan như y tế, giáo dục, lao động-thương binh và xã hội, công an, và toà án trong việc bảo vệ trẻ em vẫn chưa rõ ràng và thiếu các văn bản pháp lý quy định quy trình phối hợp chặt chẽ.

Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi đã thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu, bao gồm 15 lãnh đạo Phòng/Tổ công tác xã hội và 15 lãnh đạo Khoa Nhi Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm với sự tham gia của 8 nhân viên công tác xã hội trong mỗi cuộc thảo luận Dưới đây là danh sách các đối tượng tham gia trong nghiên cứu này.

Bảng 2 Danh sách đối tượng tham gia trong nghiên cứu

STT Tên bệnh viện Tuyến bệnh viện

Số lượng phỏng vấn sâu

Số lượng thảo luận nhóm

Thành phố Hà Nội (Đại diện Miền Bắc Việt Nam)

1 Bệnh viện Bạch Mai Trung ương Đa khoa 2

2 Bệnh viện Nhi Trung Ương Trung ương Chuyên khoa

Tỉnh/thành phố Đa khoa 2

4 Bệnh viện Tim Hà Nội Tỉnh/thành phố

5 Bệnh viện đa khoa Đống Đa

6 Bệnh viện đa khoa Hà Đông

Thành phố Đà Nẵng (Đại diện Miền Trung Việt Nam)

7 Bệnh viện Đà Nẵng Tỉnh/thành phố Đa khoa 2

8 Bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng

Thành phố Hồ Chí Minh (Đại diện Miền Nam Việt Nam)

11 Bệnh viện Chợ Rẫy Trung ương Đa khoa 2 1

12 Bệnh viện Nhi Đồng 1 Tỉnh/thành phố

13 Bệnh viện Nhi Đồng 2 Tỉnh/thành phố

14 Bệnh viện quận Thủ Đức

15 Bệnh viện quận 2 Quận/huyện Đa khoa 2

Trong nghiên cứu này, có tổng cộng 15 cơ sở khám bệnh và chữa bệnh tham gia, bao gồm 3 cơ sở tuyến trung ương, 6 cơ sở tuyến tỉnh/thành phố và 6 cơ sở tuyến quận/huyện.

11 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và 4 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa nhi tham gia trong nghiên cứu này.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2021 tại 6 cơ sở khám chữa bệnh công lập ở thành phố Hà Nội, đại diện cho miền Bắc Việt Nam.

Tại Việt Nam, có 4 cơ sở khám bệnh và chữa bệnh công lập ở thành phố Đà Nẵng, đại diện cho miền Trung, cùng với 5 cơ sở tương tự ở thành phố Hồ Chí Minh, đại diện cho miền Nam.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để mô tả thực trạng dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ở Việt Nam Nghiên cứu cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng và tìm hiểu nhu cầu xây dựng tài liệu công tác xã hội trong việc bảo vệ trẻ em tại các cơ sở này.

Bộ công cụ nghiên cứu

Bộ công cụ nghiên cứu được phát triển dựa trên thông tư 43 của Bộ Y tế về vai trò của nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện và một nghiên cứu tại Việt Nam năm 2019 Nghiên cứu này tập trung vào ba câu hỏi chính: (1) Các dịch vụ công tác xã hội dành cho trẻ em được cung cấp tại các cơ sở khám chữa bệnh ở Việt Nam trong năm 2020 là gì? (2) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em tại các cơ sở này trong cùng thời gian? (3) Các bên liên quan có nhu cầu gì về việc xây dựng tài liệu công tác xã hội nhằm hỗ trợ và bảo vệ trẻ em tại các cơ sở khám chữa bệnh?

Phương pháp thu thập số liệu

Nhóm nghiên cứu gồm 03 nghiên cứu viên từ trường Đại học Y tế công cộng, tất cả đều có kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu về công tác xã hội trong lĩnh vực y tế Đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và đã đồng ý tham gia.

Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật thông qua mã hóa, và các kết quả phỏng vấn sâu cũng như thảo luận nhóm sẽ không nêu tên người tham gia Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối trả lời hoặc không tham gia ý kiến vào những câu hỏi mà họ không muốn hoặc cảm thấy khó trả lời Nghiên cứu viên cam kết thu thập thông tin và số liệu một cách đầy đủ, trung thực và chính xác, chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

Phương pháp phân tích số liệu

Thông tin định tính được thu thập qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ được ghi âm, sau đó tiến hành gỡ băng và mã hóa theo các chủ đề nghiên cứu Nội dung trả lời của đối tượng nghiên cứu sẽ được chắt lọc để làm nổi bật các ý chính và quan trọng, nhằm đáp ứng các câu hỏi nghiên cứu.

Sử dụng phần mềm NVIVO 7.0 để mã hóa theo các chủ đề nghiên cứu và xuất file Microsoft Word 2013 cho phần kết quả Kết quả nghiên cứu được tổ chức theo các chủ đề từ lớn đến nhỏ, phù hợp với các mục tiêu nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu

Dịch vụ công tác xã hội với trẻ em tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Việt Nam

* Dịch vụ hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho trẻ em trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh

- Dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho trẻ

Phòng công tác xã hội tại các cơ sở khám bệnh đã tiến hành khảo sát sức khỏe của trẻ và hoàn cảnh gia đình, nhằm nắm bắt tình hình cụ thể Dựa trên thông tin thu thập được, nhân viên công tác xã hội sẽ xác định mức độ cần thiết và xây dựng phương án hỗ trợ tâm lý, xã hội cho trẻ và gia đình.

Năm 2020, bệnh viện chuyên khoa nhi tuyến tỉnh/thành phố đã thực hiện 1,758 lượt thăm hỏi trẻ em và gia đình trong quá trình điều trị.

Dịch vụ trợ giúp tâm lý chuyên sâu, bao gồm tham vấn và trị liệu tâm lý cho trẻ, hiện vẫn còn rất hạn chế tại các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh tham gia nghiên cứu.

Dịch vụ hỗ trợ tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ em gặp vấn đề tâm lý trong quá trình khám và điều trị tại các cơ sở y tế Nhiều bệnh viện lớn như Bệnh viện Nhi trung ương, Bệnh viện Chợ Rẫy, và Bệnh viện Nhi đồng 1, 2 đã tổ chức các sự kiện giải trí như Tết Thiếu nhi 1/6, Tết Trung thu, và Chủ nhật yêu thương để nâng cao tinh thần cho trẻ em.

Nhân viên công tác xã hội không đủ khả năng hỗ trợ tâm lý chuyên sâu, nhưng họ tổ chức sự kiện “chủ nhật yêu thương” hàng quý để mang lại niềm vui và hỗ trợ tinh thần cho trẻ em đang điều trị tại bệnh viện.

Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp cho trẻ em bị xâm hại và bỏ rơi là rất quan trọng Tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đã triển khai các dịch vụ công tác xã hội nhằm hỗ trợ trẻ trong quá trình khám và điều trị nội trú Những dịch vụ này bao gồm chăm sóc y tế, bố trí chỗ ở tạm thời và an toàn, cùng với các điều kiện sinh hoạt cần thiết như thức ăn và quần áo.

So với các cơ sở khám bệnh đa khoa, các bên liên quan tại cơ sở khám bệnh chuyên khoa nhi đã chủ động phối hợp cung cấp dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp cho trẻ bị xâm hại và trẻ bị bỏ rơi Khoa Nhi đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc y tế và bố trí chỗ ở tạm thời, an toàn cho nhóm đối tượng này Phòng kế hoạch tổng hợp là đầu mối tổng hợp hồ sơ, bệnh án của trẻ và làm việc với công an, pháp y để cung cấp thông tin chi tiết Phòng/Tổ công tác xã hội chịu trách nhiệm chính trong việc hỗ trợ thức ăn, quần áo và tâm lý cho trẻ.

Bệnh viện chuyên khoa nhi tuyến tỉnh/thành phố đã xây dựng quy trình hỗ trợ trẻ bị xâm hại và trẻ bị bỏ rơi, với sự tham gia của ba khoa/phòng: Khoa Nhi, Phòng kế hoạch tổng hợp, và Phòng công tác xã hội.

Phòng/tổ công tác xã hội tại một số cơ sở khám bệnh đã chủ động liên hệ với ngành lao động, thương binh và xã hội để chuyển gửi trẻ bị bỏ rơi đến các trung tâm bảo trợ xã hội Các bệnh viện chuyên khoa nhi như Bệnh viện Nhi TW, Bệnh viện Sản Nhi Đà Nẵng, Bệnh viện Nhi đồng 1 và Bệnh viện Nhi đồng 2 đã phối hợp với các bên liên quan để đảm bảo sự chăm sóc tốt nhất cho trẻ em.

Đại diện pháp lý và giám định pháp y cần cam kết phối hợp chặt chẽ với Phòng kế hoạch tổng hợp của cơ sở khám bệnh để cung cấp dịch vụ kịp thời cho trẻ bị xâm hại Việc thiếu sự hợp tác này dẫn đến nhiều trường hợp mất dấu vết và bằng chứng xâm hại, gây khó khăn trong quá trình tố giác kẻ xâm hại trước pháp luật.

Nhiều khi, việc mời công an và pháp y đến bệnh viện để thu thập dấu vết và bằng chứng xâm hại gặp khó khăn, đặc biệt là sau giờ làm việc hành chính hoặc vào ngày nghỉ lễ Một số công an yêu cầu người nhà phải làm đơn tố giác mới tiến hành giải quyết vụ việc Trong khi đó, trẻ em bị xâm hại cần được chăm sóc sức khỏe khẩn cấp.

Nhân viên công tác xã hội tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa nắm rõ cách tiếp nhận và xác minh thông tin của trẻ, đặc biệt là trẻ bị xâm hại, và chưa thông báo kịp thời tới Ủy ban nhân dân cấp xã theo nghị định Số: 56/2017/NĐ-CP Họ cũng thiếu kỹ năng đánh giá nguy cơ ban đầu để thực hiện các biện pháp can thiệp khẩn cấp nhằm đảm bảo an toàn tạm thời cho trẻ Bên cạnh đó, vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc cung cấp thông tin cho công an và pháp y về tình trạng tâm lý, hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ của trẻ và năng lực bảo vệ trẻ em của gia đình vẫn chưa được thể hiện rõ ràng.

Chúng tôi gặp khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp cho trẻ bị xâm hại, bao gồm tiếp nhận và thu thập thông tin ban đầu, thông báo cho các bên liên quan, và đảm bảo an toàn tạm thời cho trẻ Tại bệnh viện, Phòng kế hoạch-tổng hợp là đơn vị chính phụ trách công việc này, trong khi Phòng công tác xã hội chủ yếu kêu gọi từ thiện để cung cấp sữa, bỉm và thuốc men cho trẻ em bị xâm hại.

- Dịch vụ bảo vệ quyền, lợi ích của trẻ

Hầu hết các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh tuyến trung ương cũng như tuyến tỉnh/thành phố đã chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, bao gồm quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được nuôi dưỡng, quyền được giáo dục và học tập, cũng như quyền vui chơi giải trí Các khoa nhi tại những cơ sở này đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các quyền này.

12 tuyến trung ương, tuyến tỉnh/thành phố đã chăm sóc sức khỏe về mặt thể chất cho trẻ một cách kịp thời, tận tình

Trong trường hợp trẻ không có người chăm sóc, lãnh đạo khoa nhi đã chỉ định điều dưỡng để chăm sóc trẻ trong suốt quá trình điều trị nội trú tại bệnh viện.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội với trẻ em tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Việt Nam

* Văn bản pháp lý về công tác xã hội trong bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Hầu hết lãnh đạo và nhân viên công tác xã hội tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đều nắm rõ một số văn bản pháp lý liên quan đến công tác xã hội trong bệnh viện, đặc biệt là Đề án 2514 của Bộ Y tế về phát triển nghề này.

Thông tư 43 của Bộ Y tế quy định về công tác xã hội trong lĩnh vực y tế, đặc biệt là trong bệnh viện, hiện đang được áp dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em Tuy nhiên, nhiều cơ sở đánh giá rằng thông tư này còn tồn tại nhiều hạn chế, như việc chưa quy định cụ thể về các dịch vụ công tác xã hội và thiếu hướng dẫn chi tiết cho việc triển khai các dịch vụ này trong các cơ sở y tế.

Đề án 2514 và thông tư 43 của Bộ Y tế liên quan đến công tác xã hội trong bệnh viện, nhưng thông tư 43 còn khá chung chung và thiếu rõ ràng Điều này dẫn đến việc mỗi người có thể hiểu khác nhau về nội dung của nó, gây ra sự khác biệt trong mô hình công tác xã hội giữa các bệnh viện Nhân viên công tác xã hội thường phải cung cấp dịch vụ không hoàn toàn phù hợp với giá trị và triết lý của nghề.

Hầu hết lãnh đạo khoa Nhi của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa biết đến thông tư 43 của Bộ Y tế

Thông tư 43 của Bộ Y tế quy định về hình thức và nhiệm vụ của công tác trong bệnh viện, nhưng tôi chưa nắm rõ nội dung này và không biết vai trò của mình trong thông tư này.

(PVS Lãnh đạo Khoa Nhi_04)

Lãnh đạo và nhân viên công tác xã hội tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho biết Bộ Y tế hiện chưa có văn bản pháp lý nào về việc bảo vệ trẻ em bị xâm hại và trẻ em bị bỏ rơi tại các cơ sở này.

Bệnh viện đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc hợp tác với các ngành liên quan như lao động, thương binh và xã hội, trường học, công an, tư pháp, và chính quyền địa phương Điều này ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em bị xâm hại và trẻ bị bỏ rơi trong quá trình điều trị nội trú cũng như sau khi xuất viện.

Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa Nhi ở tuyến trung ương và tỉnh/thành phố đã chủ động xây dựng quy trình hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em bị xâm hại và trẻ em bị bỏ rơi.

19 bệnh, chữa bệnh đa khoa chưa thực sự quan tâm để xây dựng và ban hành quy trình để trợ giúp nhóm đối tượng này

Mặc dù là bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, chúng tôi vẫn chưa thiết lập quy trình hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em bị xâm hại và trẻ em bị bỏ rơi Điều này khiến chúng tôi gặp khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho nhóm đối tượng này.

Đối tượng khảo sát cho thấy phần lớn nhân lực tại Phòng/tổ công tác xã hội của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đào tạo từ các chuyên ngành khác nhau như khoa học sức khỏe, luật, ngôn ngữ, và kế toán, trong khi chỉ một số ít được đào tạo chuyên sâu về công tác xã hội Hơn nữa, nhiều nhân viên tại các phòng/tổ này chưa được trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết về công tác xã hội trong bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Do đó, họ gặp rất nhiều khó khăn khi làm việc với trẻ

Phòng công tác xã hội của bệnh viện hiện có 34 nhân viên, trong đó chỉ 03 người được đào tạo chuyên ngành công tác xã hội Số còn lại có nền tảng từ các chuyên ngành khoa học sức khỏe, tâm lý và văn học Đáng chú ý, tất cả nhân viên trong phòng chưa từng tham gia các khóa đào tạo về công tác xã hội liên quan đến bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám, chữa bệnh.

Nghiên cứu định tính cho thấy nhân viên công tác xã hội tại các cơ sở khám bệnh chuyên khoa nhi có sự tự tin cao hơn so với nhân viên tại các cơ sở đa khoa trong việc hỗ trợ trẻ em gặp khó khăn, trẻ em bị xâm hại và trẻ em bị bỏ rơi.

Bệnh viện chuyên khoa nhi của chúng tôi có nhiều kinh nghiệm trong việc làm việc với trẻ em, nhờ vào quy trình hỗ trợ từ Phòng công tác xã hội, giúp giảm thiểu khó khăn so với các bệnh viện đa khoa Tuy nhiên, tại một số cơ sở khám bệnh tuyến quận/huyện, số lượng nhân viên công tác xã hội còn hạn chế, chủ yếu làm việc bán thời gian.

Do đó, họ không nhiều thời gian để chăm sóc, bảo vệ trẻ em

Tổ công tác xã hội của bệnh viện gồm 03 người làm việc bán thời gian, đồng thời hỗ trợ các khoa lâm sàng Bệnh nhân tại đây rất đa dạng, bao gồm cả trẻ em và người lớn, dẫn đến việc hạn chế thời gian cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ.

Nhân viên y tế trong mạng lưới cộng tác viên công tác xã hội tại các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh chưa tích cực hợp tác với Phòng/tổ công tác xã hội để triển khai dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em.

Chúng tôi đang bận rộn với việc khám và điều trị cho bệnh nhân, vì vậy không có đủ thời gian để tham gia các hoạt động công tác xã hội với trẻ em tại bệnh viện Tôi cũng chưa hiểu rõ về công tác xã hội là gì.

- Cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết

Nhu cầu xây dựng tài liệu công tác xã hội trong trợ giúp, bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

* Sự cần thiết của việc xây dựng cuốn tài liệu

Tất cả những người tham gia khảo sát đều nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc xây dựng tài liệu công tác xã hội nhằm hỗ trợ và bảo vệ trẻ em tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Việc xây dựng cuốn tài liệu này là rất cần thiết, vì hiện tại chưa có tài liệu nào trong ngành y tế hướng dẫn quy trình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Cuốn tài liệu sẽ trang bị cho sinh viên công tác xã hội của Nhà trường kiến thức và kỹ năng cần thiết để bảo vệ trẻ em tại bệnh viện, giúp họ tự tin hơn khi ra trường và thực hiện công việc của mình.

22 việc, các em không còn bỡ ngỡ khi làm việc trực tiếp với nhóm đối tượng này”(PVS Lãnh đạo Phòng Công tác xã hội_04)

Tôi tốt nghiệp cử nhân công tác xã hội tại Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn TP Hồ Chí Minh Mặc dù chương trình đào tạo không bao gồm môn học về công tác xã hội trong trợ giúp và bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nhưng tôi nhận thấy rằng việc giảng dạy nội dung này là rất cần thiết cho sinh viên công tác xã hội, đặc biệt trong chương trình đào tạo cử nhân công tác xã hội định hướng y tế tại Trường Đại học Y tế công cộng.

* Nhu cầu về nội dung kiến thức của cuốn tài liệu

Một số đối tượng tham gia nghiên cứu cho rằng cuốn tài liệu nên bao gồm các vấn đề thường gặp của trẻ em tại các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh.

Trẻ em thường gặp phải nhiều vấn đề sức khỏe tại bệnh viện, bao gồm các bệnh phổ biến như ho gà, viêm họng và tay chân miệng Ngoài ra, một số trẻ có thể trải qua những biểu hiện tâm lý tiêu cực do quá trình điều trị kéo dài, như lo âu, trầm cảm và rối loạn hành vi Nhiều em cũng có thể cảm thấy mặc cảm, tự ti và ngại giao tiếp với người khác Do đó, việc giảng dạy về những vấn đề này cho sinh viên công tác xã hội là rất cần thiết.

Vấn đề tâm lý của trẻ cần được đưa vào trong cuốn tài liệu là ý kiến của hầu hết đối tượng tham gia trong nghiên cứu này

Tâm lý của trẻ em trong quá trình khám và điều trị bệnh rất phức tạp, thường bị ảnh hưởng không chỉ bởi môi trường bên ngoài mà còn bởi chính những người thân trong gia đình như cha mẹ, anh chị em, và họ hàng Sự tác động tiêu cực này có thể tạo ra những cảm xúc khủng khiếp cho trẻ, ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của chúng.

(PVS Lãnh đạo Phòng Công tác xã hội_13)

Sinh viên cần hiểu rõ sự phối hợp liên ngành trong hệ thống bảo vệ trẻ em tại các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh.

Đối với trẻ em bị xâm hại, sinh viên cần nắm vững sự phối hợp liên ngành giữa bệnh viện và các cơ quan như công an, tòa án, và chính quyền địa phương Việc Phòng công tác xã hội của bệnh viện có danh sách địa chỉ liên hệ của các tổ chức này sẽ giúp tăng cường khả năng trợ giúp và bảo vệ trẻ em một cách chủ động.

Hơn 50% người tham gia nghiên cứu đồng ý rằng việc trợ giúp và bảo vệ trẻ em tại các cơ sở y tế cần tuân thủ thông tư 43 của Bộ Y tế, quy định về vai trò và nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện.

Thông tư 43 của Bộ Y tế là nền tảng cho các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa triển khai dịch vụ công tác xã hội nhằm hỗ trợ người bệnh Tuy nhiên, dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em có những đặc thù riêng Sinh viên công tác xã hội cần nắm rõ mục đích của từng loại hình dịch vụ, cách thức cung cấp, ai là người điều phối chính và sự phối hợp giữa các bên liên quan.

* Nhu cầu về nội dung thực hành của cuốn tài liệu

Quy trình thực hành công tác xã hội trong việc trợ giúp và bảo vệ trẻ em tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là yêu cầu chung của hầu hết các đối tượng tham gia nghiên cứu này.

Để cung cấp dịch vụ công tác xã hội hiệu quả cho trẻ, sinh viên cần nắm rõ quy trình thực hiện, bao gồm các hoạt động cụ thể, trách nhiệm của các bên liên quan, và những điểm quan trọng cần lưu ý trong từng bước.

Có quy trình rõ ràng giúp các bên liên quan thực hiện trách nhiệm trong việc hỗ trợ và bảo vệ trẻ em, đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ trong suốt quá trình điều trị nội trú và sau khi xuất viện.

Tuy nhiên, một số ý kiến đã đề cập rằng:

Trẻ em có hoàn cảnh khó khăn có những đặc điểm thể chất, tâm lý và xã hội khác biệt so với trẻ em bị xâm hại hoặc bị bỏ rơi Vì vậy, cần thiết phải xây dựng quy trình riêng biệt cho từng nhóm trẻ em đặc thù trong bệnh viện.

Sinh viên công tác xã hội sau khi ra trường thường thiếu kỹ năng làm việc trực tiếp với trẻ em tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng cần tăng cường thời gian thực hành kỹ năng cho sinh viên trong môi trường làm việc với trẻ.

Bàn luận

Dịch vụ công tác xã hội trong trợ giúp, bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Dịch vụ hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho trẻ em trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh

Hiện nay, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý cho trẻ Nghiên cứu cho thấy sự hạn chế trong dịch vụ này (Hue, 2020; Phuong, 2019), và đa phần nhân viên công tác xã hội chưa được đào tạo về hỗ trợ tâm lý cho trẻ Thêm vào đó, thông tư 43 của Bộ Y tế chưa quy định chi tiết về dịch vụ này (Ministry of Health, 2015) Nhân viên công tác xã hội thường xuyên quá tải công việc, dẫn đến thiếu thời gian và kiên nhẫn để hỗ trợ tâm lý cho trẻ Nhiều nhân viên còn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của dịch vụ hỗ trợ tâm lý (Dong, 2020).

Theo quy định, trẻ bị xâm hại cần được giám định pháp y trước khi khâu vá vết thương, nhưng nghiên cứu cho thấy nhiều trẻ có thể mất dấu vết của hành vi xâm hại do cơ chế phối hợp giữa giám định pháp y và cơ sở khám bệnh còn lỏng lẻo Điều này dẫn đến việc đại diện giám định pháp y không kịp thời đến cơ sở khám bệnh để ghi nhận tổn thương, gây khó khăn trong quá trình tố tụng pháp lý Hơn nữa, vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc cung cấp thông tin cho công an và pháp y vẫn chưa rõ ràng Hiện tại, Bộ Y tế chưa ban hành quy trình hỗ trợ trẻ em bị xâm hại tại cơ sở khám bệnh, dẫn đến sự không rõ ràng về vai trò và nhiệm vụ của các phòng/ban trong cơ sở khám bệnh và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan.

26 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với các bên liên quan trong việc giải quyết vấn đề trẻ bị xâm hại

Nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến quận/huyện chưa chú trọng đến quyền của trẻ em trong việc giáo dục, học tập và vui chơi, giải trí, so với các cơ sở tuyến trung ương và tỉnh/thành phố Không gian hạn chế tại các cơ sở này cũng ảnh hưởng đến khả năng tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí cho trẻ Hơn nữa, hầu hết nhân viên công tác xã hội tại đây làm việc bán thời gian, dẫn đến việc họ không có đủ thời gian để tổ chức các hoạt động giáo dục và giải trí cho trẻ em.

Tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tham gia nghiên cứu chưa thực hiện dịch vụ lập kế hoạch xuất viện cho trẻ Nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng hoạt động này rất quan trọng cho bệnh nhân khi trở về cộng đồng (Linton et al., 2015; Soskolne et al., 2010) Tuy nhiên, hoạt động này vẫn chưa được quy định chi tiết trong thông tư 43 của Bộ Y tế.

Năm 2015, các cơ sở khám bệnh và chữa bệnh chưa chú trọng đến việc triển khai hoạt động bảo vệ trẻ em Hệ quả là họ thường thiếu thông tin về tình trạng của trẻ sau khi xuất viện, dẫn đến nguy cơ trẻ tiếp tục bị xâm hại nếu không được bảo vệ an toàn trong gia đình.

- Dịch vụ thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa nhi tập trung nhiều hơn vào việc nâng cao năng lực cho gia đình trẻ, thông qua việc trang bị kiến thức và kỹ năng chăm sóc trẻ, cũng như phòng ngừa xâm hại Với nhiều nguồn lực hơn, các cơ sở này có khả năng tổ chức các buổi truyền thông và giáo dục sức khỏe hiệu quả về nhi.

So với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trung ương và tỉnh/thành phố, các cơ sở tuyến quận/huyện thường ít phổ biến hơn về các chính sách và quyền lợi khám chữa bệnh cho trẻ em và gia đình Nhiều cơ sở tuyến quận/huyện còn thiếu các kênh truyền thông như fanpage và màn hình ti vi để thông tin đến trẻ và gia đình Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sự tương đồng với một nghiên cứu trước đây (Nam et al., 2020a), cho thấy sự khác biệt về nguồn lực và sự ủng hộ từ Ban giám đốc giữa các tuyến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

- Dịch vụ vận động, điều phối nguồn lực

Dịch vụ vận động, điều phối nguồn lực tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được triển khai hiệu quả nhất trong nghiên cứu, theo các tác giả như Hien (2015), Loan (2016), và Liem & Tham (2020) Dịch vụ này khẳng định vai trò và vị thế của Phòng/tổ công tác xã hội trước lãnh đạo cơ sở, do đó được chú trọng triển khai Tuy nhiên, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đa khoa thường có nguồn vận động tài chính thấp hơn so với cơ sở chuyên khoa nhi, điều này phụ thuộc vào quy mô, số lượng trẻ cần trợ giúp, số lượng nhà tài trợ, và mối quan hệ giữa Phòng/tổ công tác xã hội với nhà tài trợ.

Dịch vụ hỗ trợ nhân viên y tế theo Điều 5 thông tư 43 của Bộ Y tế quy định rõ mối quan hệ phối hợp giữa Phòng/tổ công tác xã hội và các khoa/phòng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để trao đổi thông tin về người bệnh Hầu hết các cơ sở tham gia nghiên cứu đã triển khai tốt dịch vụ này, với nhân viên công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tâm lý cho nhân viên y tế Tuy nhiên, nhân viên công tác xã hội tại các cơ sở khảo sát chưa đủ khả năng cung cấp dịch vụ này do phần lớn họ tốt nghiệp chuyên ngành khoa học sức khỏe mà chưa được đào tạo bài bản về hỗ trợ tâm lý Hơn nữa, nhân viên y tế cũng chưa hoàn toàn tin tưởng vào năng lực của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ tâm lý khi gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với một số nghiên cứu trong nước trước đây.

- Dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng

Nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh gặp khó khăn trong việc tổ chức đào tạo về công tác xã hội trong bảo vệ trẻ em Nghiên cứu tại Việt Nam chỉ ra rằng nhân viên công tác xã hội cần tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu để nâng cao kỹ năng trong lĩnh vực này (Nam et al., 2020b; Hue, 2020).

Sự ủng hộ và quan tâm của ban giám đốc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đóng vai trò quan trọng trong 28 khóa đào tạo, bồi dưỡng cho nhân viên công tác xã hội Hơn nữa, Bộ Y tế vẫn chưa phát hành tài liệu hướng dẫn về công tác xã hội trong bảo vệ trẻ em và thiếu đội ngũ giảng viên chất lượng trong lĩnh vực này.

Đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trung ương và tỉnh/thành phố chủ yếu là nhân viên y tế từ các khoa/phòng ban Nghiên cứu cho thấy, nhân viên y tế thường rất bận rộn với công việc chuyên môn, dẫn đến việc họ không có đủ thời gian để phối hợp với nhân viên công tác xã hội trong các hoạt động xã hội Hơn nữa, nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa có kế hoạch rõ ràng cho mạng lưới cộng tác viên làm công tác xã hội Đặc biệt, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến quận/huyện tham gia nghiên cứu chưa tổ chức được đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội cho trẻ em, do chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của họ trong việc bảo vệ trẻ em.

Nhu cầu xây dựng cuốn tài liệu công tác xã hội trong trợ giúp, bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam đang phát triển theo hướng chuyên nghiệp, nhưng tài liệu về lĩnh vực này vẫn còn hạn chế (Nam et al., 2020b) Nhiều bệnh viện gặp khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em, đặc biệt là trẻ bị xâm hại và trẻ bị bỏ rơi Trường Đại học Y tế công cộng là cơ sở đào tạo duy nhất tại Việt Nam cung cấp chương trình cử nhân công tác xã hội định hướng trong y tế.

Hiện tại, Trường Đại học Y tế công cộng chưa có tài liệu tham khảo nào về việc xây dựng cuốn tài liệu công tác xã hội trong trợ giúp và bảo vệ trẻ em tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều nhận thấy sự cần thiết của tài liệu này trong chương trình cử nhân công tác xã hội.

Nghiên cứu cho thấy rằng quy trình và kỹ năng thực hành công tác xã hội là cần thiết trong việc trợ giúp và bảo vệ trẻ em tại các cơ sở y tế Chương trình đào tạo cử nhân công tác xã hội tại Việt Nam hiện nay tập trung quá nhiều vào lý thuyết, trong khi thời gian dành cho thực hành và thực tập lại hạn chế so với tiêu chuẩn quốc tế Điều này dẫn đến việc sinh viên thiếu kỹ năng khi làm việc trực tiếp với đối tượng sau khi tốt nghiệp Các lãnh đạo trong lĩnh vực công tác xã hội và Khoa Nhi đã nhận thức được vấn đề này, nhấn mạnh rằng công tác xã hội trong y tế là một nghề chuyên nghiệp cần chú trọng đến thực hành với trẻ em tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w