1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại khoa nội hô hấp, bệnh viện nhi đồng 1 năm 2017

106 22 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại khoa nội hô hấp, bệnh viện Nhi Đồng 1 năm 2017
Tác giả Nguyễn Thị Rảnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Hữu Nguyệt Diễm
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện, Y học nội hô hấp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế đánh giá kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen là công việc quan trọng cần được quan tâm thực hiện Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2017 đề tài nghiên cứ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ RẢNH

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC QUẢN LÝ VÀ THỰC HÀNH PHUN THUỐC HEN CỦA BÀ MẸ CÓ CON BỊ HEN TẠI KHOA NỘI HÔ HẤP, BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ RẢNH

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC QUẢN LÝ VÀ THỰC HÀNH PHUN THUỐC HEN CỦA BÀ MẸ CÓ CON BỊ HEN TẠI KHOA NỘI HÔ HẤP, BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHAN HỮU NGUYỆT DIỄM

HÀ NỘI, 2017

HUPH

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ECRHS European Community Respiratory

GINA Global Initiative for asthma Tổ chức hen toàn cầu

ICON The International consensus on

pediatric asthma

Hội đồng thuận quốc tế về hen trẻ em

ICS Inhaled corticost roids Corticoid hít

ISAAC International Study of Asthma and

PEF Peak expiratory flow Lưu lượng thở ra đỉnh

PRACTALL The Practical Allergy initiative Tổ chức dị ứng thực hành

SABA Short acting beta agonist Đồng vận beta tác dụng ngắn

WHO World Health Organisation Tổ chức Y tế

HUPH

Trang 4

DALYS Disability adjusted life years Phí tổn thất những năm tàn tật

GDSK Education health Giáo dục sức khỏe

BVNĐ1 Children 's Hospital 1 Bệnh viện Nhi Đồng 1

NCKH Scientific research Nghiên cứu khoa học

GVHD The teacher's guide Giáo viên hướng dẫn

GDSK Health education Giáo dục sức khỏe

KTVHXH Economic cultural social Kinh tế văn hóa xã hội

CNVC State employees Công nhân viên chức

TĐHV Education Levels Trình độ học vấn

YTKPH Ashma triggers HUPHYếu tố khởi phát hen

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

TÓM TẮT viii

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đại cương về hen 4

1.1.1 Định nghĩa hen 4

1.1.2 Cơ chế bệnh sinh cơn HPQ cấp 4

1.2 Yếu tố nguy cơ gây hen phế quản 5

1.2.1 Yếu tố nguy cơ gây mắc hen phế quản 5

1.2.2 Yếu tố khởi phát cơn hen phế quản cấp 6

1.2.3 Yếu tố nguy cơ tử vong cao do hen phế quản 6

1.3 Chẩn đoán hen phế quản 7

1.4 Đặc điểm dịch tễ học hen phế quản 8

1.4.1 Tình hình hen trên thế giới 8

1.4.2 Tình hình Hen trong nước 10

1.5 Phân loại Hen 11

1.6 Quản Lý Hen của bà mẹ 11

1.7 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 15

1.7.1 Ở Nước Ngoài 15

1.7.2 Tại Việt Nam 16

1.8.Tổng quan về Bệnh Viện Nhi Đồng 1 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1.Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn 20

2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.2.Thiết kế nghiên cứu 20

2.3.Phương pháp chọn mẫu: 20

2.4.Phương pháp thu thập số liệu 21

2.4.1.Thu thập kiến thức quản lý hen: 21

2.4.2.Thu thập thực hành phun thuốc: 21

HUPH

Trang 6

2.5 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả 21

2.6 Phương pháp đánh giá 22

2.6.1 Đánh giá kiến thức về quản lý hen của bà mẹ 22

2.6.2 Đánh giá thực hành phun thuốc của bà mẹ: 22

2.7 Điều tra thử 22

2.8 Phương pháp xử lý số liệu 23

2.9 Đạo đức nghiên cứu 23

2.10 Tính ứng dụng của nghiên cứu 23

2.11 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 23

2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu 23

2.11.2 Sai số có thể gặp 24

2.11.3 Biện pháp khắc phục sai số 24

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1.Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 25

3.2 Kiến thức đúng về quản lý hen và thực hành phun thuốc của bà mẹ 29

3.3 Thực hành phun thuốc của bà mẹ 37

3.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về quản lý hen của bà mẹ 44

3.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến bảng kiểm thực hành phun thuốc của bà mẹ 49

CHƯƠNG 4 : BÀN LUẬN 54

4.1 Kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi Đồng 1, năm 2017 54

4.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 54

4.1.2 Kiến thức đúng quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ 56

4.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi Đồng 1, năm 2017 60

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 61

1 Kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ 61

2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ: 61

CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

HUPH

Trang 7

DỰ TRÙ KINH PHÍ 69 PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ

HEN CỦA BÀ MẸ CÓ CON BỊ HEN TẠI KHOA NỘI HÔ HẤP BỆNH VIỆN

NHI ĐỒNG 1 70 PHỤ LỤC 2: BẢNG KIỂM THỰC HÀNH 74 PHỤC LỤC 3: CÁC BIẾN SỐ CHI TIẾT 76

HUPH

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH, BIỂU ĐỒ DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1.1 Nhóm tuổi và trình độ của bà mẹ chăm sóc trẻ bị hen 25

Bảng 3.1.2 Nghề nghiệp và nơi sống của bà mẹ 26

Bảng 3.1.3 Mức thu nhập và tiếp cận thông tin của bà mẹ 26

Bảng 3.1.4 Sử dụng thuốc của bà mẹ 27

Bảng 3.1.5 Đặc điểm tuổi , giới tính của trẻ bị hen 27

Bảng 3.1.6 Tiền sử gia đình, tiền sử dị ứng và số lần nhập viện của trẻ 28

Bảng 3.1.7 chẩn đoán mức độ kiểm soát hen của trẻ khi nhập viện 28

Bảng 3.4.1 Yếu tố ảnh hưởng giữa nhóm tuổi của mẹ với điểm kiến thức về quản lý hen 44

Bảng 3.4.2 Yếu tố ảnh hưởng giữa trình độ học vấn với điểm kiến thức về quản lý hen 44

Bảng 3.4.3 Yếu tố ảnh hưởng giữa nghề nghiệp với điểm kiến thức về quản lý hen (n=228) 45

Bảng 3.4.4 Yếu tố ảnh hưởng giữa nơi cư trú với điểm kiến thức về quản lý hen 45

Bảng 3.4.5 Yếu tố ảnh hưởng giữa thu nhập của mẹ với điểm kiến thức về quản lý hen 46

Bảng 3.4.6 Yếu tố ảnh hưởng giữa nguồn tiếp cận thông tin với điểm kiến thức về quản lý hen 46

Bảng 3.4.7 Yếu tố ảnh hưởng giữa việc sử dụng thuốc điều trị với điểm kiến thức về quản lý hen 47

Bảng 3.4.8 Yếu tố ảnh hưởng giữa tiền sử gia đình có người bị hen với điểm kiến thức về quản lý hen 47

Bảng 3.4.9 Yếu tố ảnh hưởng giữa bé đã từng nhập viện vì hen với kiến thức về quản lý hen 48

Bảng 3.4.10 Yếu tố ảnh hưởng giữa tiền sử dị ứng của bé với điểm kiến thức về quản lý hen 48

Bảng 3.5.1 Yếu tố ảnh hưởng giữa nhóm tuổi của bà mẹ với điểm thực hành phun thuốc 49

Bảng 3.5.2 Yếu tố ảnh hưởng giữa trình độ học vấn của bà mẹ với điểm thực hành phun thuốc 49

Bảng 3.5.3 Yếu tố ảnh hưởng giữa nghề nghiệp của bà mẹ với điểm thực hành phun thuốc 50

Bảng 3.5.4 Yếu tố ảnh hưởng giữa nơi sống của bà mẹ với điểm thực hành phun thuốc 50

Bảng 3.5.5 Yếu tố ảnh hưởng giữa mức thu nhập của bà mẹ với điểm thực hành phun thuốc 51

Bảng 3.5.6 Yếu tố ảnh hưởng giữa tiếp nhập thông tin về hen của bà mẹ với điểm thực hành phun thuốc 51

HUPH

Trang 9

Bảng 3.5.7 Yếu tố ảnh hưởng giữa việc sử dụng các dạng thuốc điều trị hen cho con

với điểm thực hành phun thuốc 52

Bảng 3.5.8 Yếu tố ảnh hưởng giữa tiền sử gia đình có người bị hen với điểm thực hành phun thuốc 52

Bảng 3.5.9 Yếu tố ảnh hưởng giữa bé đã từng nhập viện vì hen với điểm thực hành phun thuốc 53

Bảng 3.5.10 Yếu tố ảnh hưởng giữa tiền sử dị ứng của trẻ với điểm thực hành phun thuốc 53

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Bản đồ tỷ lệ hiện mắc hen lâm sàng trên thế giới [5] 9

Hình 1.2: Hướng dẫn xử trí suyễn 14

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.2.1 Kiến thức chung của bà mẹ chăm sóc con bị hen phế quản 29

Biểu đồ 3.2.2 Sự hiểu biết của bà mẹ về các biều hiện của hen 30

Biểu đồ 3.2.3 Hiểu biết của bà mẹ về yếu tố khởi phát cơn hen 31

Biểu đồ 3.2.4 Hiểu biết của bà mẹ về hiều hiện nặng của trẻ khi lên cơn hen 32

Biểu đồ 3.2.5 Hiểu biết của bà mẹ về kiến thức sử dụng thuốc 33

Biểu đồ 3.2.6 Hiểu biết của bà mẹ về kiến thức thời gian chữa bệnh 34

Biểu đồ 3.2.7 Hiểu biết của bà mẹ về theo dõi chăm sóc trẻ bị hen tại nhà 35

Biểu đồ 3.2.8 Hiểu biết của bà mẹ xử trí cơn hen tại nhà 36

Biểu đồ 3.2.9 Phân loại mức độ hiểu biết về kiến thức chung về quản lý hen của bà mẹ 37

Biểu đồ 3.3.1 Xác định thuốc Ventolin là thuốc cắt cơn khi trẻ lên cơn 37

Biểu đồ 3.3.2 Xác định thuốc Flixotide hoặc Seretide là thuốc ngừa cơn , dùng hàng ngày 38

Biểu đồ 3.3.3 Kiểm tra thuốc cho lần sử dụng lần đầu hoặc sau một thời gian dài không dùng 39

Biểu đồ 3.3.4 Kiểm tra hạn dùng và lượng thuốc còn của lọ thuốc 39

Biểu đồ 3.3.5 Kiểm tra việc bà mẹ có lắc kỹ chai thuốc trước khi xịt không 40

Biểu đồ 3.3.6 Kiểm tra việc bà mẹ có gắn đúng chai thuốc vào buồng đệm 40

Biểu đồ 3.3.7 Kỹ thuật chụp mask lên mũi , miệng khi xịt thuốc của bà mẹ 41

Biểu đồ 3.3.8 Kiểm tra việc ấn xịt một nhát thuốc 41

Biểu đồ 3.3.9 Kiểm tra số nhịp thở của trẻ cho một nhát xịt thuốc của bà mẹ 42

Biểu đồ 3.3.10 Kiểm tra việc súc họng sau khi xịt thuốc của bà mẹ 42

Biểu đồ 3.3.11 Kiểm tra việc vệ sinh mask với nước ấm hàng tuần của bà mẹ 43

Biểu đồ 3.3.12 Kiểm tra vệ sinh buồng đệm hàng tháng của bà mẹ 43

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT

Hen là bệnh thường gặp trong cộng đồng, đặc biệt ở trẻ từ 2-5 tuổi Đây là một bệnh mạn tính độ lưu hành ngày càng tăng, theo thống kê tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 số bệnh nhân nhập viện từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 11 năm 2016 là 4403 ca nhập viện điều trị Một trong những nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ này là sự hiểu biết về kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ còn hạn chế Vì thế đánh giá kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen là công việc quan trọng cần được quan tâm thực hiện

Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2017 đề tài nghiên cứu “ Đánh giá kiến thức quản

lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1, năm 2017” được thực hiện Với thiết kế cắt ngang mô tả, đề tài sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc soạn sẵn để thực hiện phỏng vấn 228 bà mẹ có con bị hen

và bảng kiểm thực hành để quan sát động tác đúng của 114 bà mẹ khi thực hành phun thuốc nhằm mục tiêu mô tả kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ

có con bị hen và các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ làm cơ sở lập kế hoạch, xây dựng giải pháp tuyên truyền tư vấn, GDSK cho bà mẹ có con bị hen đang điều trị tại bệnh viện và tại cộng đồng

Kết quả cho thấy kiến thức đúng về quản lý hen của bà mẹ còn thấp: Tốt 21,5%, khá 20,2%, trung bình 15,4%, kém 35,1% và rất kém 7,9% Về thực hành phun thuốc: bà mẹ thực hành đúng 26,3%, trong đó tốt 59,6%, khá chiếm tỷ lệ 17,5%, trung bình 7,9%, kém 14,9% Có yếu tố liên quan giữa kiến thức quản lý với đặc điểm của bà mẹ và bé: trình độ học vấn, tuổi bà mẹ, mức thu nhập, việc sử dụng thuốc của

bà mẹ, bà mẹ có con từng nhập viện, tiền sử gia đình, tiền sử dị ứng của trẻ Bên cạnh

đó yếu tố đặc điểm của bà mẹ: trình độ học vấn của bà mẹ, bà mẹ từng sử dụng nhiều dạng thuốc cho con, bà mẹ có con từng nhập viện vì hen có ảnh hưởng đến thực hành phun thuốc

Từ kết quả trên, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị: nhân viên y tế lập kế hoạch và tổ chức chương trình GDSK về hen tại khoa, tại bệnh viện, cộng đồng Xây dựng nhóm NVYT chuyên tư vấn hen, quan tâm nhiều đến đối tượng trình độ thấp, ,thu nhập thấp, tiền căn hen gia đình, trẻ có tiền sử dị ứng Về phía bà mẹ phải tuân thủ điều trị, theo

HUPH

Trang 11

dõi tái khám kiểm soát yếu tố môi trường biết, thực hành phun thuốc đúng và đặc biệt biết cách xử trí cơn hen cấp tại nhà

HUPH

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 2007 trên thế giới có khoảng

300 triệu người mắc hen, chiếm 6-8% dân số ở người lớn và hơn 10% ở trẻ em dưới

15 tuổi, ước tính đến năm 2025 con số này tăng lên đến 400 triệu người [12], [20], [21]

Không phải ngẫu nhiên mà cứ vào tuần đầu tiên của tháng 5 hằng năm là Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lại nhắc nhở chúng ta hãy nâng cao ý thức phòng tránh hen bởi ngay một nước được tiếng hiện đại như Mỹ mà trong số hơn 300 triệu dân cũng đang có khoảng 22 triệu người mắc và mỗi năm, hen gây ra khoảng 5.000 ca tử vong cùng 2 triệu lần cấp cứu, 500.000 trường hợp nhập viện

Hen ảnh hưởng đến con cái nhiều hơn bất kỳ bệnh mãn tính nào khác và đang gia tăng về số lượng mỗi năm [39] Hen là một trong những lý do nhập viện thường gặp nhất ở trẻ em [50] Ở Hidalgo County tỷ lệ nhập viện bệnh hen ở trẻ em (< 18 tuổi) là cao nhất bang Texas (năm 2009 là 26,2%) [36] Hen có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và dân số đặc biệt là trẻ em

Ở Việt Nam theo điều tra của Hội Hen, dị ứng miễn dịch lâm sàng, trung bình

có 5% dân số bị hen, trong đó có 11% trẻ dưới 15 tuổi và số người tử vong hàng năm không dưới 3000 người Nhiều người còn giấu bệnh nên dễ bị bỏ sót trong điều tra dịch tễ học cũng như chẩn đoán bệnh [9] Và hậu quả là 25% người bệnh hen phế quản cần nhập viện, 42% người bệnh phải nghỉ học và 29% người bệnh phải nghỉ làm [22] Hen phế quản nếu không kiểm soát tốt, có thể dẫn đến tắc nghẽn đường thở người bệnh phải nhập viện, cấp cứu và gia tăng tỷ lệ tử vong [7]

Hen phế quản đặt ra một gánh nặng chính đối với trẻ em về các vấn đề sức khoẻ thể chất, lo âu, trầm cảm và chi phí dùng thuốc [10] nghỉ học và chất lượng cuộc sống kém [52] Và cơn hen kịch phát có thể gây nguy hiểm đến tính mạng trẻ [7]

Việc quản lý hen phế quản chưa thực sự hiệu quả, trẻ thường đến cơ sở y tế vì cơn hen phế quản cấp [3] Hơn 50% số trẻ vào cấp cứu vì cơn hen phế quản cấp ở độ tuổi trước tuổi đi học [30] Hen phế quản là bệnh mạn tính điều trị không hết Vì vậy, quản lý điều trị và chăm sóc cho bệnh nhi tại nhà là rất quan trọng Điều này chủ yếu

do người trực tiếp chăm sóc trẻ và kiến thức của người trực tiếp chăm sóc sẽ hỗ trợ tốt trong việc chăm sóc bệnh nhi Thực tế hiện nay là số lượng lớn bệnh nhi hen phế

HUPH

Trang 13

quản phải nhập viện, do sự hiểu biết của người trực tiếp chăm sóc trẻ về bệnh hen phế quản còn chưa đúng và chưa đầy đủ Do đó, việc cung cấp kiến thức cho người trực tiếp chăm sóc trẻ bị hen và cách dự phòng hen phế quản là rất quan trọng

Theo thống kê tại phòng Kế Hoạch Tổng hợp Bệnh viện Nhi đồng 1 số bệnh nhân hen nhập viện tại khoa Nội Hô Hấp ngày càng tăng: năm 2014 là 3914 ca, năm

2015 là 4405 ca và từ tháng 1 /2016 đến tháng 11/2016 là 4403 ca Cho nên tác giả muốn tìm hiểu kiến thức quản lý hen và thực hành phun thuốc của bà mẹ và đồng thời phân tích một số yếu tố ảnh hưởng Qua kết quả nghiên cứu này xác định được kiến thức bà mẹ, các yếu tố ảnh hưởng từ đó có chương trình giáo dục sức khoẻ phù hợp

Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi chọn đề tài:“Đánh giá kiến thức quản lý và thực

hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại Khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1, năm 2017”

HUPH

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại Khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1, năm 2017

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại Khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1, năm 2017

HUPH

Trang 15

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương về hen

1.1.1 Định nghĩa hen

Hen là một rối loạn viêm mạn tính của đường thở trong đó có nhiều tế bào và thành phần tế bào chịu trách nhiệm, đặc biệt là tương bào, bạch cầu ái toan, lympho bào T, đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính và tế bào biểu mô Ở những cơ thể nhạy cảm, tình trạng viêm gây ra các đợt tái đi tái lại khò khè, ho, khó thở, nặng ngực, đặc biệt về đêm hoặc sáng sớm Những đợt bệnh này thường liên quan với sự tắc nghẽn lan tỏa luồng khí nhưng thay đổi và thường có thể phục hồi tự nhiên hoặc với điều trị Tình trạng viêm cũng dẫn đến sự tăng đáp ứng đường thở với những mức độ kích thích khác nhau Sự tương tác giữa các đặc điểm tắc nghẽn luồng khí, tăng đáp ứng đường thở và hiện tượng viêm quyết định biểu hiện lâm sàng, độ nặng và sự đáp ứng với điều trị hen Khả năng phục hồi sự giới hạn luồng khí có thể không hoàn toàn

ở một số bệnh nhân hen [26], [44], [46]

Trước đây, tình trạng viêm mạn tính được xem là sinh bệnh học trung tâm của hen Tuy nhiên gần đây, trong định nghĩa về hen của JGCA và y văn, hen trẻ em đặc trưng bởi tình trạng viêm đường thở mạn tính và hiện tượng tái cấu trúc đường thở [37], [48]

Trước tình trạng đa dạng và phức tạp về định nghĩa hen, Hội đồng thuận quốc

tế về hen trẻ em ICON 2012 đã đưa ra định nghĩa “Hen là một rối loạn mạn tính do sự tắc nghẽn luồng khí và tăng đáp ứng đường thở với những mức độ khác nhau Nó biểu hiện bằng các đợt tái đi tái lại triệu chứng khò khè, ho, khó thở và đau ngực” [46]

1.1.2 Cơ chế bệnh sinh cơn HPQ cấp

Viêm đường thở mạn tính là yếu tố chính trong cơ chế bệnh sinh HQP Làm tăng tính đáp ứng của đường thở, gây co thắt, phù nề, xuất tiết, dẫn đến tắc nghẽn, hạn chế khí lưu thông và làm xuất hiện triệu chứng hen phế quản nhiều tế bào và hoá chất trung gian gây viêm tham gia như các tế bào viêm, các tế bào cấu trúc đường thở, chúng tiết ra các cytokine, leukotriene, chemokine, histamin,NO…gây nên các biến đổi sinh lý và giải phẩu đặc trưng của bệnh Cơn HPQ cấp bao gồm pha co thắt phế quản sớm, người bệnh thường đáp ứng tốt với thuốc giãn phế quản trong pha này và

HUPH

Trang 16

pha viêm muộn, do đáp ứng miễn dịch không thích hợp Những đợt hẹp đường thở cấp tínhđược bắt đầu với sự kết hợp của các hiện tượng phù nề, thâm nhiễm của các tế bào viêm, tăng tiết nhầy, co thắt cơ trơn và bong tróc của tế bào biểu mô Những thay đổi này phần lớn có thể đảo ngược được Tuy nhiên khi bệnh càng tăng thì mức độ hẹp đường thở càng tiến triển và có thể trở nên hằng định [56]

1.2 Yếu tố nguy cơ gây hen phế quản

1.2.1 Yếu tố nguy cơ gây mắc hen phế quản

 Nhửng trẻ có tiền sử bệnh loạn sản phế quản – phổi hay những tổn thương phổi cấp tính khác (hít khói thuốc, uống hydrocarbon, suýt chết đuối) có nguy cơ cao đáp ứng đường thở quá mức hay HQP [31]

 Sinh non và cân nặng lúc sinh thấp là những tố nguy cơ gây khò khè tái diễn ở trẻ dưới 2 tuổi [55] Theo ICON những trẻ nhũ nhi có khò khè tái diễn thì có nguy cơ phát triển thành HQP dai dẳng cao hơn so với khi chúng đến tuổi vị thành niên và những trẻ có cơ địa dị ứng nói riêng thì

có khả năng tiếp tục khò khè hơn [56]

HUPH

Trang 17

Môi trường, kinh tế- tâm lý xã hội

- Thay đổi thời tiết

- Thuốc ( Aspirin, chẹn beta)

1.2.2 Yếu tố khởi phát cơn hen phế quản cấp

Các yếu tố thường gặp gây khởi phát cơn HQP cấp:

1.2.3 Yếu tố nguy cơ tử vong cao do hen phế quản

- Có tiền sử CHPQC nguy kịch, phải đặt nội khí quản và thông khí cơ học

- Trong năm qua từng nhập viện hoặc vào cấp cứu vì CHPQC

- Đang sử dụng hoặc mới ngưng sử dụng corticoids uống

- Hiện đang không sử dụng corticoids hít

HUPH

Trang 18

- Phụ thuộc quá mức đồng vận B2 tác dụng nhanh, đặc biệt những NB sữ dụng hơn 1 bình salbutamol ( hoặc tương đương )/tháng

- Có tiền sử bệnh tâm thần hoặc có vấn đề tâm lý xã hội, bao gồm cả sử dụng thuốc an thần

- Tiền sử không tuân thủ thuốc dự phòng HPQ

- Nguy cơ tử vong cũng cao ở những trẻ có tiền sử suy hô hấp hay co giật do thiếu oxy, điều trị kém tại nhà hay sau khi di khám) hoặc trì hoãn tìm kiếm sự chăm sóc y tế [33]

1.3 Chẩn đoán hen phế quản

Cần nghĩ đến HPQ nếu trẻ có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào sau :

+ thường bị các đợt khò khè Hơn 1 đợt trong 1 tháng

+ Ho hoặc khò khè do gắng sức

+ Ho đặc biệt về đêm ở thời điểm không có nhiễm khuẩn hô hấp do virus + Khò khè không thay đổi theo mùa

+ triệu chứng kéo dài sau 3 tuổi

+ Triệu chứng xuất hiện hoặc xấu hơn khi có:

Các dị nguyên hít (mạc bụi nhà, súc vật nuôi, gián, nấm)

 Cảm lạnh kèm tức ngực lập đi lập lại hoặc trên 10 ngày mới khỏi

 Triệu chứng cải thiện khi điều trị thuốc HPQ [19]

Những triệu chứng sớm của CHPQC có thể là :

+ Khò khè và hụt hơi gia tăng

+ Ho tăng, đặc biệt ho về đêm

+ Giảm sức chịu đựng hoạt động thể lực

+ Yếu hơn trong hoạt động sống hàng ngày

+ Đáp ứng kém với thuốc làm dịu cơn

HUPH

Trang 19

1.4 Đặc điểm dịch tễ học hen phế quản

HQP thường phát triển vào giai đoạn sớm của tuổi ấu thơ Hơn ¾ trẻ có triệu chứng HQP xuất hiện trước 7 tuổi thì không có triệu chứng lúc 16 tuổi [51] Bệnh tương đối nặng ở các quốc gia có thu nhập thấp hơn Khoảng 70% người mắc HPQ có kèm theo dị ứng Tính chung, HPQ gặp ở nữ 13,5% nhiều hơn nam 12,2% Nếu tính theo tuổi, HQP gặp ở bé trai 16% nhiều hơn bé gái 11% [51] Dù cơn HPQ cấp xảy ra quanh năm, nhưng đỉnh vào chớm thu tháng 9, liên quan với việc trở lại trường của trẻ cũng như sự trỗi dậy nhiễm khuẩn hô hấp do virus [50],[35]

1.4.1 Tình hình hen trên thế giới

Hen là một trong những bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới Ước tính có khoảng 300 triệu người trên thế giới mới mắc hen Trong những thập niên gần đây hen

đã trở nên phổ biến ở cả trẻ em và người lớn trên cả thế giới, ở một số quốc gia tỷ lệ hen lên đến 1/10 người lớn và 1/3 trẻ em Dự tính tần suất hen trên toàn cầu tăng 50% mỗi thập kỷ Việc tăng tỷ lệ mới mắc hen liên quan với sự tăng tính nhạy cảm dị ứng song song với sự tăng các bệnh lý dị ứng như chàm và viêm mũi dị ứng Tỷ lệ hen gia tăng có thể vì nhiều cộng đồng tiếp nhận lối sống phương Tây và trở nên đô thị hóa [28], [29], [42], [43], [44],[45], [47]

Với khuynh hướng tăng tỷ lệ dân số đô thị trên thế giới từ 45% đến 59% vào năm 2025, dường như sẽ có sự tăng đáng kể số lượng bệnh hen khắp thế giới trong 2 thập niên sắp tới, ước tính có thể có thêm 100 triệu người bị hen vào năm 2025 [42], [43]

Sự bùng nổ của hen ở nhiều quốc gia trầm trọng đến mức cần cảnh báo việc nhận thức nó như một bệnh lý ưu thế trong chiến lược sức khỏe của chính phủ Cần cung cấp các nguồn lực đặc biệt để cải thiện việc chăm sóc những nhóm người thiệt thòi có bệnh suất cao, bao gồm các dân tộc thiểu số và những nhóm người ít học, sống

ở những thành phố lớn và người nghèo Cũng cần đầu tư nhiều nguồn lực vào các yếu

tố khởi phát cơn hen mà có thể ngăn ngừa như là vấn đề ô nhiễm không khí Sự tăng trưởng về kinh tế và cải thiện sự hợp tác giữa các nước thể hiện tiềm năng cung cấp chế độ chăm sóc sức khỏe tốt hơn [42]

HUPH

Trang 20

Hình 1.1 Bản đồ tỷ lệ hiện mắc hen lâm sàng trên thế giới [5]

Theo GINA, khảo sát trên 10 quốc gia khu vực Đông Nam Á (Brunei, Lào, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Myanmar, Singapore, Thái Lan, Việt Nam) thấy tỷ lệ hiện mắc hen lâm sàng trung bình là 3,3%, khác biệt nhiều giữa các quốc gia (cao nhất là Thái Lan, Philippines và Singapore, thấp nhất là Indonesia và Việt Nam) Hen là 1 trong số 25 nguyên nhân hàng đầu có tổn phí cho số năm sống điều chỉnh do tàn tật (DALYS) cao trên thế giới,ước tính khoảng 15 triệu mỗi năm Trên thế giới, hen chiếm khoảng 1% tổng phí DALYs, điều này phản ánh tần suất cao

và độ nặng của hen Luợng phí DALYs do hen tương đương với đái tháo đường, xơ gan và tâm thần phân liệt [42]

Theo các nghiên cứu ISAAC ở 56 quốc gia và ECRHS ở 25 quốc gia cho thấy

có sự khác biệt lớn về tỷ lệ hiện mắc hen trên toàn cầu, giữa các quốc gia với nhau và giữa các nơi khác nhau trong mỗi quốc gia, với khuynh hướng trội hơn ở những quốc gia đã phát triển và Tây hóa, cao gấp 20 – 60 lần Triệu chứng hen gặp nhiều nhất (gần 20%) ở Vương quốc Anh, Úc, New Zealand, Ireland, và thấp nhất (khoảng 2% – 3%)

ở Đông Âu, Indonesia, Đài Loan, Hy Lạp, Uzbekistan, Ấn Độ và Ethiopia [45]

HUPH

Trang 21

So với người lớn, trẻ em có tỷ lệ khám bác sĩ gia đình và nhập khoa cấp cứu vì hen nhiều hơn, tỷ lệ nhập viện thì tương đương và tỷ lệ tử vong thì thấp hơn[45] Hàng năm, có gần 250.000 người tử vong sớm vì hen Ở nhiều nơi trên thế giới, bệnh nhân hen không được tiếp cận chăm sóc y tế hoặc thuốc hen cơ bản GINA ước tính hen chiếm khoảng 1/250 người tử vong trên thế giới Nhiều trường hợp tử vong do việc chăm sóc y tế lâu dài không tốt và chậm trễ nhận được sự trợ giúp trong cơn hen cuối cùng, mà những vấn đề này thì có thể ngăn ngừa được [42], [43]

So với các bệnh mạn tính khác, hen có tỷ lệ tử vong thấp hơn (chiếm 0,4% các

trường hợp tử vong) và góp 1% vào gánh nặng bệnh tật toàn cầu (Masoli và cộng sự

2004) Nhìn chung, tử suất có giảm so với những thập niên 1980 ở những nước phát triển và điều này có thể do những thay đổi trong điều trị hen, đặc biệt là tăng sử dụng phác đồ điều trị và Corticoid hít (Masoli và cộng sự 2004) [43]

Tỷ lệ hiện mắc hen nhìn chung ở vùng đô thị cao hơn ở vùng sâu vùng xa Hen

đã trở thành gánh nặng ở khu vực vì có 1/4 người lớn bị hen phải nghỉ làm và 1/3 trẻ

em bị hen phải nghỉ học trong năm qua vì hen Tỷ lệ nhập viện vì hen khá cao và điều trị nội trú chiếm khoảng lớn chi phí chăm sóc bệnh nhân hen Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc thiết lập các chiến lược chăm sóc sức khỏe dựa theo các chế độ điều trị và chăm sóc đã chứng tỏ có hiệu quả trong việc giảm tỷ lệ nhập viện Việc nhận thức chưa đúng mức độ nặng của bệnh và điều trị chưa đầy đủ là nguyên nhân đưa đến bệnh suất và tử suất cao của hen trong khu vực [42]

1.4.2 Tình hình Hen trong nước

Ở Việt Nam theo điều tra của Hội Hen, dị ứng miễn dịch lâm sàng, trung bình

có 5% dân số bị hen, trong đó có 11% trẻ dưới 15 tuổi và số người tử vong hàng năm không dưới 3000 người Nhiều người còn giấu bệnh nên dễ bị bỏ sót trong điều tra dịch tễ học cũng như chẩn đoán bệnh [9] Và hậu quả là 25% người bệnh hen phế quản cần nhập viện, 42% người bệnh phải nghỉ học và 29% người bệnh phải nghỉ làm [22] Hen phế quản nếu không kiểm soát tốt, có thể dẫn đến tắc nghẽn đường thở người bệnh phải nhập viện, cấp cứu và gia tăng tỷ lệ tử vong [7]

Theo báo cáo của Sở Y tế Hà Nội năm 2009, tỷ lệ HPQ ở trẻ từ 5 đến 11 tuổi là13,9% Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nghiên cứu của Phạm Hoàng Khánh và cộng sự (2012)

HUPH

Trang 22

[17] Tại Bệnh Viện Đại HọcY Dược Thành Phố Hồ Chí Minh trên 4554 người bệnh HPQ

1.5 Phân loại Hen

Hiện nay có nhiều cách phân loại hen [46]

- Theo kiểu hình: hen do siêu vi, hen do gắng sức, hen do dị ứng nguyên, hen ở người béo phì, hen do nhiều yếu tố kích gợi, hen chưa rỏ ràng

- Theo độ nặng: hen cơn, hen dai dẳng nhẹ, hen dai dẳng vừa, hen dai dẳng nặng

- Theo mức kiểm soát: hen đã được kiểm soát, hen kiểm soát một phần, hen chưa được kiểm soát (theo phân độ của Bộ YTế năm 2016)

1.6 Quản Lý Hen của bà mẹ

Bệnh nhân và cha mẹ cũng như người chăm sóc trẻ nên được để cùng với quản

lý bệnh cho trẻ cách tốt nhất Việc cung cấp kiến thức và thiết lập mối liên hệ giữa gia đình và nhân viên y tế là điều cốt yếu cho chiến lược và sự thành công của công tác quản lý hen

Nhận diện và tránh các yếu tố khởi phát cơn hen (ví dụ: các dị ứng nguyên) và không chuyên biệt (ví dụ: khói thuốc lá) cũng như các yếu tố nguy cơ cũng rất quan trọng, vì những yếu tố này có thể gây ra hoặc làm nặng thêm tình trạng hen

Thuốc góp phần trong quá trình điều trị Trong hầu hết các trường hợp, việc dùng thuốc hiệu quả có thể giúp bệnh nhân kiểm soát triệu chứng và giảm nguy cơ nhập viện, ngăn ngừa xảy ra những cơn hen nặng

Tại Pháp, nghiên cứu ELIOS cho thấy tiếp xúc khói thuốc lá thụ động từ cha

mẹ, có bệnh dị ứng kèm theo, tần suất nhiễm trùng hô hấp và kinh tế xã hội thấp làm tăng nguy cơ nhập viện [26]

Tại Trung Quốc, nghiên cứu cắt ngang trên 2.960 trẻ em 0 – 14 tuổi bị hen tại các cơ sở y tế của 29 thành phố, các tác giả thấy rằng kiến thức, thái độ và thực hành quản lý hen của cha mẹ bệnh nhi còn kém, có 1 khoảng cách lớn trong thực hành quản

lý hen giữa khuyến cáo và thực tế Vì vậy, họ cho rằng việc cải thiện kiến thức và thái

độ về hen có thể khuyến khích cha mẹ trực tiếp theo dõi tình trạng hen của con họ, quản lý và tuân thủ phác đồ điều trị hen tốt hơn, các tác giả đã đề nghị rằng thành phần quan trọng nhất trong điều trị hen trẻ em là giáo dục, cung cấp kiến thức cho cha mẹ của bệnh nhi để cải thiện việc thực hành quản lý hen của họ [37]

HUPH

Trang 23

Tại thành phố Hồ Chí Minh, trong 1 nghiên cứu mô tả cắt ngang và theo dõi dọc ở bệnh nhân hen dưới 5 tuổi được quản lý tại bệnh viện Nhi Đồng 2 (10/2010 – 05/2011) tác giả Nguyễn Thanh Phước và Phạm Thị Minh Hồng cho thấy [13]:

Trẻ tái khám thường xuyên có tỷ lệ kiểm soát hen tốt cao hơn trẻ tái khám không thường xuyên

 Trẻ tuân thủ điều trị có tỷ lệ kiểm soát tốt cao hơn và tỷ lệ kiểm soát kém thấp hơn so với trẻ không tuân thủ điều trị

 Trẻ dùng thuốc đúng kỹ thuật có tỷ lệ kiểm soát tốt cao hơn và tỷ lệ không kiểm soát thấp hơn so với trẻ dùng thuốc sai kỹ thuật

Theo EPR – 3 (2007) thì việc cung cấp kiến thức cho bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân là một thành phần quan trọng để quản lý hen thành công, nó cung cấp những kỹ năng cần thiết để kiểm soát hen và cải thiện cuộc sống Các tiếp cận điều trị hiện nay đòi hỏi bệnh nhân và gia đình thực hiện một cách hiệu quả những hướng dẫn

sử dụng thuốc, các chiến lược kiểm soát môi trường tại chỗ, phát hiện và tự xử trí hầu hết các cơn hen kịch phát, và tạo quan hệ thích hợp với nhân viên chăm sóc y tế Việc giáo dục bệnh nhân là cơ chế mà thông qua đó bệnh nhân học cách thực hiện những nhiệm vụ đó một cách hiệu quả [46]

Qua nhiều nghiên cứu cho thấy giáo dục sức khoẻ là một công cụ rất hiệu quả

để giúp bệnh nhân và thân nhân tăng trưởng bản lĩnh, kỹ năng, sự tự tin và tuân thủ điều trị để kiểm soát bệnh hen của họ [11],[28],[42] Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu cho thấy việc giáo dục quản lý hen có hiệu quả kinh tế và có thể giảm bệnh suất, giảm

tỷ lệ nhập viện và nhập cấp cứu ở trẻ em và người lớn, đặc biệt ở những bệnh nhân nguy cơ cao [8], [2828], [42], [31], [32] Theo EPR – 3, việc giáo dục sức khoẻ tự quản lý hen nên được lồng ghép vào trong tất cả các lĩnh vực của chăm sóc hen và cần phải được nhắc lại và củng cố Việc giáo dục nên [46]:

 Bắt đầu từ lúc chẩn đoán và tiếp tục suốt quá trình theo dõi

 Bao gồm tất cả các thành viên của đội ngũ chăm sóc sức khỏe

Nhân viên Y tế sẽ đưa ra những thông điệp giáo dục chính yếu và có sự nhất trí về các mục tiêu điều trị, các thuốc đặc trị và các việc bệnh nhân cần làm để đạt được mục tiêu

đề ra để kiểm soát hen

HUPH

Trang 24

Tất cả các thành viên của đội ngũ chăm sóc sức khỏe củng cố và mở rộng các thông điệp chính yếu như: mức độ kiểm soát hen của bệnh nhân, kỹ thuật dùng buồng hít đúng, việc tự theo dõi, việc xử trí của bà mẹ khi trẻ lên cơn hen cấp…

Nói chung, những cách tiếp cận khác nhau nên được lập ra cho những nhóm tuổi khác nhau, đặc biệt, JGCA và PRACTALL đã khuyến cáo sự phân tầng đặc hiệu theo tuổi về các mục tiêu giáo dục, và trẻ lớn hơn thì tham gia nhiều hơn vào chương trình tự quản lý Ngoài ra, giáo dục hen không phải là một sự kiện riêng lẻ mà nó là một quá trình liên tục, lặp lại và bổ sung ở mỗi lần thảo luận Có 1 sự đồng thuận chung về các thành phần cơ bản của giáo dục hen: nó nên bao gồm những thông tin cần thiết về đặc điểm của bệnh, nhu cầu điều trị lâu dài và các loại thuốc khác nhau (thuốc ngừa cơn và thuốc cắt cơn) Quan trọng, việc giáo dục nên nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc dùng thuốc đều đặn, ngay cả khi không có triệu chứng; nên giải thích bằng từ ngữ dễ hiểu và hướng dẫn cụ thể cách dùng hiệu quả phun thuốc Giáo dục nên cụ thể phù hợp với nền tảng văn hóa xã hội riêng của mỗi gia đình [48] Bên cạnh đó giáo dục cho bà mẹ xử trí hen là một phần của việc giúp bà mẹ tự quản lý hen cho trẻ đã cho thấy cải thiện các tiên lượng sức khỏe cho bệnh nhân hen Bằng chứng cho thấy nó chủ yếu tốt cho những bệnh nhân hen trung bình – nặng điều trị ở

cơ sở y tế tuyến trên và ở những bệnh nhân có cơn kịch phát hen gần đây, giảm nhập viện và nhập cấp cứu ở những bệnh nhân hen nặng Có một phát hiện hằng định qua nhiều nghiên cứu là sự cải thiện về bản lĩnh, kiến thức và sự tự tin của bệnh nhân hoặc thân nhân Bệnh nhân hen nên được giáo dục tự quản lý tập trung vào những nhu cầu cá nhân, và hỗ trợ thêm bằng một bản kế hoạch xử trí hen [46]

EPR – 3 khuyến cáo trước khi xuất viện, bệnh nhân nội trú nên được bác sĩ, điều dưỡng chuyên về hen cung cấp những kế hoạch theo dõi xử trí hen và bác sĩ, điều dưỡng nên giới thiệu về kế hoạch xử trí hen như là một phần trong việc GDSK bệnh nhân Kế hoạch xử trí hen được khuyến cáo chủ yếu cho bệnh nhân trung bình – nặng,

có tiền căn cơn kịch phát nặng, hoặc kiểm soát hen kém [46] Số điện thoại cấp cứu (dịch vụ cấp cứu, khoa cấp cứu, bác sĩ hoặc người nào đó ) có thể đưa bệnh nhân đến

cơ sở y tế nhanh chóng

HUPH

Trang 25

Hình 1.2: Hướng dẫn xử trí suyễn

(Nguồn: khoa Hô Hấp bệnh viện Nhi Đồng 1)

HUPH

Trang 26

1.7 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.7.1 Ở Nước Ngoài

Nghiên cứu của Mavale – Manuel S và cộng sự (2004)tại khoa Nhi, BV trung tâm Maputo (Mozambique) trên 52 cha mẹ BN bị HPQ cho thấy kiến thức về HPQ rất thấp 11% cha, mẹ BN nghĩ bệnh HPQ là bệnh truyền nhiễm, 4% nghĩ bệnh lây truyền bởi thức ăn, hơn một nữa cha, mẹ BN nghĩ trẻ không thể làm chủ cuộc sống bình thường Bên cạnh đó việc sử dụng thuốc còn thiếu hiểu biết Từ đó, cho thấy kiến thức cha, mẹ về HPQ còn thấp và có một số hiểu biết chưa đúng về HPQ

Dr Amira Ahmed Idriss nghiên cứu ảnh hưởng kiến thức thái độ thực hành trên

bà mẹ có con hen nhập khoa cấp cứu trẻ em BV Khartoum cho thấy: Tất cả các bà mẹ

có kiến thức về triệu chứng dấu hiệu bệnh và yếu tố khởi phát cơn hen, 42% biết dấu hiệu nặng, thực hành > 80% hướng về chăm sóc thuốc ngoại trừ dấu hiệu cảnh báo, Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ về hen không ảnh hưởng đến trình độ giáo dục, nghề nghiệp, tiền sử gia đình về hen, cũng như độ nặng của bệnh nhưng ảnh hưởng trên thời gian nằm bệnh của trẻ [25]

Nghiên cứu trên 171 bà mẹ có con hen phế quản ở BV trung tâm Aseer - Saudi Arabia [54] và Al-Binali [24] và cộng sự khảo sát ở cộng đồng Chicago về kiến thức

và hành vi của bà mẹ có con bị hen phế quản đều có kết quả cho thấy rằng: Hiểu biết

về biến chứng của hen là ít nhất; tập thở trong cơn hen khởi phát là hành vi thực hành

ít nhất Trong phân tích đa biến, yếu tố nguy cơ có ý nghĩa cho kiến thức và hành vi kém của bà mẹ là con là nữ, bà mẹ thất học và bà mẹ trẻ dưới 30 tuổi Trình độ giáo dục là cần thiết giúp bà mẹ đạt được kiến thức cần thiết để thực hành chăm sóc con

Nghiên cứu khác của Ashutosh Lai về kiến thức thái độ về hen của ba mẹ của trẻ bị hen thấy rằng: 34,1% tin rằng hen suyễn là bệnh truyền nhiễm, 48,2% bậc cha

mẹ do dự khi đề cập đến bệnh của con em mình Họ tin rằng hen là bệnh lâu dài (35,3%); các thức ăn là yếu tố quan trọng khởi phát cơn cấp tính (88,2%); cơn nhẹ cần điều trị với thuốc giãn phế quản (6,3%); thuốc giãn phế quản nên được bắt đầu ở nhà trước khi tham vấn bác sĩ trong trường hợp cơn cấp (61,2%), bệnh hen là có thể chữa khỏi thông qua loại thuốc hiện đại (30,6%) hoặc thông qua hệ thống thay thế y học (65%) 91% cha mẹ thiếu nhận thức về tác dụng phụ của thuốc Nghiên cứu kết luận

HUPH

Trang 27

rằng giáo dục cho cha mẹ thông qua hiểu biết cha mẹ về bệnh là cần thiết để nâng cao chất lượng chăm sóc cho trẻ em [27]

GehanM Amin Đại học Cairo nghiên cứu mô tả với 70 bà mẹ có con hen phế quản thấy rằng hầu hết các bà mẹ có kiến thức nghèo nàn về định nghĩa bệnh, triệu chứng, yếu tố khởi phát, thuốc điều trị suyễn, và phòng ngừa [36]

Jing Zhao kiến thức và thái độ kém thường đóng góp vào thực hành không thích hợp dẫn đến chăm sóc trẻ không đầy đủ [50]

Tại South-West Saudi Arabia, khi nghiên cứu bằng bảng câu hỏi khảo sát về hen phế quản trên 171 bà mẹ có con liên tục nhập viện đã cho thấy rằng các bà mẹ rất cần được tiếp cận các thông tin chăm sóc về bệnh hen phế quản thông qua các buổi giáo dục truyền thông [41]

1.7.2 Tại Việt Nam

Năm 2013, Bộ Y Tế Việt Nam công bố số người bệnh hen tại Việt Nam chiếm khoảng 5% dân số, khoảng 4 triệu người, và cảnh báo con số này đang có chiều hướng gia tăng tới mức báo động, chỉ đứng sau ung thư Người bệnh cũng bị trẻ hóa khi có tới 10% trẻ <15 tuổi bị hen Kết quả điều tra khoa học mới đây cho thấy khoảng 10 – 15% trẻ lứa tuổi 13 – 14 ở Hà Nội có biểu hiện khò khè – một trong những dấu hiệu bệnh hen, còn ở thành phố Hồ Chí Minh con số lên tới 20%, một phần bởi tốc độ phát triển đô thị ở đây quá nhanh và mật độ dân số ở đây quá dày đặc Với trẻ em, con số này cũng không khả quan hơn Đây là con số báo động, đặc biệt khi mà mỗi năm có khoảng 3 – 4 nghìn người tử vong do căn bệnh này [49] Theo Bộ Y Tế Việt Nam thì

có khoảng 65% bệnh nhân theo nhóm tuổi: hen nhũ nhi (<2 tuổi), 2 - <5 tuổi, 5 - <12 tuổi, ≥12 tuổi Hen chưa được dự phòng dài hạn dẫn đến phải nhập viện Nhìn chung người bệnh biết về tên bệnh hen với kiến thức bệnh còn hạn hẹp và kỹ năng tự quản lý theo dõi còn hạn chế và chưa được quan tâm tư vấn giáo dục sức khỏe đúng mức

Nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh hen phế quản của bệnh nhân

mắc HPQ” của tác giả: Phan Thu Phương, Trịnh Thị Ngọc được tiến hành mô tả cắt

ngang trên 96 bệnh nhân HPQ tạị Bệnh viện Bạch Mai từ 10/2012 đến 03/2012 cho thấy có 94,8% bệnh nhân biết và gọi đúng tên bệnh, 88,5% bệnh nhân biết HPQ không thể chữa khỏi, 12,5% bệnh nhân không biết yếu tố nguy cơ của bệnh Bệnh nhân HPQ tìm hiểu thông tin sức khỏe qua truyền thông: 47,9%, qua tư vấn của y tế 34,4%, tìm

HUPH

Trang 28

hiểu qua bạn bè và người thân 11,5% 76,5% bệnh nhân được hướng dẫn sử dụng dụng cụ phân phối thuốc, trong đó 38,5% thực hành đúng 39,2% được yêu cầu dùng dụng cụ phân phối thuốc khi khám lại, trong đó 65% thực hành đúng Kỹ năng thực hành sử dụng dụng cụ phân phối thuốc đúng cách: bình xịt định liều: 24% (6/25 bệnh nhân), bình hít Accuhaler 26,7% (4/15 bệnh nhân), bình hít Tubuhaler 54,5% (6/11 bệnh nhân) [9]

Một nghiên cứu khác phỏng vấn 120 bà mẹ có con bị hen điều trị tại bệnh viện Phong Điền cho thấy: số bà mẹ biết con bị hen khi các dấu hiệu ho 73,3%; khò khè 94,2% và khò khè tái đi tái lại 66,7% Có khoảng 85,8% bà mẹ cho rằng hen là bệnh

do thời tiết, 29,2% bà mẹ cho rằng hen có yếu tố gia đình và 4,2% bà mẹ cho rằng hen

có liên quan đến môi trường Các dấu hiệu giúp bà mẹ nhận biết dấu hiệu nặng bệnh hen của con lần lượt là: khò khè nhiều 40,8%; khó thở 40%; thở mệt 10,8%; thở gắng sức 5,8% và tím tái 1,7% [8]

Bên cạnh đó nghiên cứu Trương Thị Bích Uyên tại bệnh viện Sản Nhi Trà Vinh cho thấy kiến thức về hen của bà mẹ rất thấp, trong đó tốt: 0, khá: 22,3%, trung bình: 37,25, yếu: 40,5%, [23]

1.8.Tổng quan về Bệnh Viện Nhi Đồng 1

Bệnh viện Nhi đồng 1 là bệnh viện chuyên khoa nhi, được xây dựng năm 1954 Bệnh viện được xếp hạng là bệnh viện chuyên khoa nhi hạng 1, tuyến cuối về nhi khoa do Sở Y tế Tp.Hồ Chí Minh trực tiếp quản lý, được giao nhiệm vụ khám chữa bệnh cho trẻ em của Tp.Hồ Chí Minh và các tỉnh ở khu vực phía Nam Theo thống kê

mô hình bệnh tật của bệnh viện năm 2016 có 4.403 bệnh nhi hen, đứng hàng thứ bảy trong các bệnh nhập viện Khoa Hô hấp tiếp nhận 2.733 bệnh nhi hen phế quản, tỷ lệ 14,16% Riêng khoa Nội Hô Hấp trong năm 2016, tổng số giường bệnh tại khoa là 108 giường và đã tiếp nhận 1600 bệnh gồm 400 bệnh ngoại trú và 1200 bệnh nội trú Khoa chuyên điều trị về các bệnh đường hô hấp như: hen phế quản, viêm phổi, viêm phế quản cấp, viêm phế quản mãn Năm 2016 khoa đã tiếp nhận điều trị 649 bệnh nhi hen,

tỷ lệ 14,41% đứng hàng thứ 3 trong số các bệnh nhập viện của khoa

Theo quan sát và nhìn nhận thực tế về công tác chăm sóc sức khỏe bệnh nhi chúng tôi thấy rằng vẫn còn nhiều bà mẹ chưa có kiến thức đúng về quản lý hen và thực hành phun thuốc đúng Tuy nhiên từ trước đến nay tại bệnh viện cũng như tại

HUPH

Trang 29

khoa chưa có nghiên cứu nào đánh giá kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen

của bà mẹ có con bị hen Với những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá

kiến thức quản lý và thực hành phun thuốc hen của bà mẹ có con bị hen tại Khoa Nội Hô Hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1, năm 2017 ’’

Với khung lý thuyết như sau:

HUPH

Trang 30

Kiến thức chung hen: liên quan tiền

căn gia đình, viêm mãn tính, nhiễm

trùng, điều trị khỏi hoàn toàn, có thể

thức ăn, thời tiết

Dấu hiệu nặng: Thở nhanh, thở phập

phồng cánh mũi, nói năng khó nhọc, bứt

rứt, tím tái

Kiến thức sử dụng thuốc: cắt cơn,

thuốc uống, thuốc phun, thuốc hít

Thời gian chữa: Khi hết bệnh, theo lời

khuyên người có con bị hen , NVYT

Theo dõi, chăm sóc: Nhà sạch sẽ, tránh

các yếu tố gây khởi phát, tránh vận động

gắng sức, tuân thủ sử dụng thuốc, tái

Bảng kiểm thực hành phun thuốc (12

bước) dựa theo bảng kiểm thực hành

phác đồ điều trị hen của BYT và phác đồ

điều trị hen tại BV Nhi Đồng 1

Đặc điểm của bà mẹ

Tuổi, trình độ, nghề nghiệp, địa chỉ, mức thu nhập hàng tháng

HUPH

Trang 31

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bà mẹ đang chăm sóc con bị hen đang điều trị tại Khoa Nội hô hấp Bệnh viện Nhi đồng 1 Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3/2017 đến tháng 6/2017

2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn

Chọn những bà mẹ có con bị hen bắt đầu nhập viện và đồng ý tham gia phỏng vấn, nghiên cứu kể từ ngày tiến hành nghiên cứu

Chọn tất cả bệnh nhi trong nước và nước ngoài từ 2 đến 15 tuổi được chẩn đoán hen đang điều trị nội trú tại Khoa Nội hô hấp Bệnh viện Nhi đồng 1 trong thời gian nghiên cứu từ tháng 03/2017 đến tháng 06/2017

2.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ

Các trẻ có các bệnh lý khác: bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính khác (ngoài hen), bệnh lý thần kinh cơ, cơ địa suy giảm miễn dịch, bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản Bệnh nhi dưới 2 tuổi không chọn vì chẩn đoán xác định hen ở trẻ dưới 2 tuổi rất khó, hơn nữa không có các cân lâm sàng, test để hỗ trợ chẩn đoán

2.2.Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3.Phương pháp chọn mẫu:

Chọn mẫu toàn bộ những bà mẹ có con bị hen đạt tiêu chuẩn nghiên cứu trong thời gian nghiên cứu từ tháng 3/2017 đến tháng 7/2017

Các bệnh nhi thỏa đủ tiêu chuẩn sau:

Bệnh nhi từ 2 tuổi đến 15 tuổi có sử dụng thuốc phòng ngừa hay không sử dụng thuốc phòng ngừa

Đang được điều trị hen nội trú tại Khoa Nội hô hấp theo phác đồ điều trị của Bộ

Y tế và Bệnh viện Nhi Đồng 1

Không thuộc tiêu chuẩn loại trừ và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tổng số trẻ chọn 228 trẻ, tương đương 228 bà mẹ Trong đó 114 bà mẹ có thực hành phun thuốc

HUPH

Trang 32

2.4.Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1.Thu thập kiến thức quản lý hen:

BN được nhập viện tại khoa Nội Hô Hấp Chọn bệnh nhân trong 24 giờ sau khi nhập viện

Những bệnh nhân được chọn vào mẫu nghiên cứu được nghiên cứu viên gặp bà

mẹ giới thiệu, giải thích mục đích nghiên cứu, BN không bị ảnh hưởng gì khi tham gia vào nghiên cứu, mọi thông tin liên quan đến BN và bà mẹ được giữ bí mật Nghiên cứu viên yêu cầu bà mẹ tham gia với tinh thần tự nguyện „„Ký tên vào giấy đồng thuận nghiên cứu ‟‟

- Nghiên cứu viên sẽ tiếp xúc với bà mẹ lấy số liệu, khai thác thông tin

- Thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp những bà mẹ HPQ theo

bộ câu hỏi được thiết kế sẵn ( phụ lục 1) Tất cả các câu trả lời của bà mẹ được khoanh tròn vào mội câu trả lời

- Phỏng vấn thử với 30 trường hợp để kiểm tra bộ câu hỏi Điều chỉnh các câu hỏi

- Những bà mẹ tham gia được thu thập trong mẫu hồ sơ riêng trong quá trình điều trị tại BV

Mỗi bà mẹ tham gia phỏng vấn trả lời bằng một bộ câu hỏi

- Thông tin đặc điểm Y học thu thập từ hồ sơ bệnh án

- Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ với bộ câu hỏi, nghiên cứu viên hỏi, câu trả lời được ghi chép lại điền vào bộ câu hỏi Nếu bà mẹ chưa hiểu rõ câu hỏi thì nghiên cứu viên sẽ giải thích cho bà mẹ hiểu

- Thời gian trung bình cho một cuộc phỏng vấn là khoảng 20 phút

- Thời gian lấy mẫu 3 tháng

- Nghiên cứu viên sẽ thu thập các số liệu nghiên cứu

2.4.2.Thu thập thực hành phun thuốc:

Bà mẹ có thực hành phun thuốc khi vào khoa, hoặc trong quá trình nằm viện trước khi xuất viện BS cho sử dụng thuốc phòng ngừa tại nhà Nghiên cứu viên sẽ giải thích cho bà mẹ hiểu và thuyết phục bà mẹ tham gia nghiên cứu với tinh thần tự nguyện

2.5 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả

HUPH

Trang 33

- Bà mẹ hiểu rõ nội dung, ý nghĩa các câu hỏi trong bộ câu hỏi

- Bà mẹ trả lời đầy đủ các thông tin, tất cả các câu trong bộ câu hỏi

- Trả lời các câu hỏi phù hợp theo quy định của nghiên cứu viên

C : kiến thức quản lý hen của bà mẹ

Cho điểm dựa vào số câu trả lời đúng, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, không trả lời hoặc không rỏ thì không có điểm Tổng số điểm là 35 điểm Dựa theo cách tính điểm phân loại trong y tế số điểm tương đương mức độ hiểu biết

- Điểm trung bình 28- 35 điểm tương đương ≥ 80%: tốt

- Điểm trung bình 23 - 27 điểm 65% -< 80%: khá

- Điểm trung bình 18 - 22 điểm 51%-<65% : trung bình

- Điểm trung bình 9 - 17 điểm ~ 25% - < 51%: kém

- Điểm trung bình:<= 8 điểm ~ < 25%: rất kém

2.6.2 Đánh giá thực hành phun thuốc của bà mẹ:

Bảng kiểm thực hành phun thuốc dựa theo phác đồ điều trị hen của Bộ YTế và bảng kiểm thực hành tại Bệnh Viện Nhi Đồng 1

Đánh giá bằng cách quan sát dựa vào bảng kiểm, gồm 12 câu hỏi (phụ lục 2) và điểm được tính cho từng lựa chọn cho mỗi câu Mỗi động tác đúng được 1 điểm, sai sẽ không được điểm Tổng điểm thực hành là 12 điểm Dựa theo cách tính điểm phân loại trong y tế số điểm tương đương mức độ hiểu biết

- Điểm trung bình 10- 12 điểm tương đương ≥ 80%: tốt

- Điểm trung bình 8 - 9 điểm 65% -< 80%: khá

- Điểm trung bình 6 - 7điểm 50%-<65% : trung bình

- Điểm trung bình <=5 điểm < 50%: kém

2.7 Điều tra thử

HUPH

Trang 34

Nhà nghiên cứu tiến hành phỏng vấn thử trên một nhóm 30 đối tượng nghiên cứu để thử nghiệm và hoàn thiện bộ câu hỏi, đánh giá bộ câu hỏi, biên soạn và chỉnh sửa lại bộ câu hỏi hoàn chỉnh trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức

2.8 Phương pháp xử lý số liệu

Các dữ liệu sau khi thu thập sẽ được làm sạch, mã hóa và nhập vào Excel rồi phân tích và thống kê bằng phần mềm SPSS 20.0 Số liệu được phân tích bằng cách sử dụng tần số và tỷ lệ %, kiểm định sự liên quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc sử dụng kiểm định chi bình phương (Chi_Square)

2.9 Đạo đức nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu phù hợp, được lãnh đạo khoa Nội Hô hấp và lãnh đạo bệnh viện Nhi Đồng 1 ủng hộ

Đối tượng nghiên cứu được giải thích một cách rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn Nghiên cứu chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận, hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu

2.10 Tính ứng dụng của nghiên cứu

Đánh giá mức độ hiểu biết kiến thức thực hành của bà mẹ trong quản lý hen Giúp gia đình tích cực tham gia vào quản lý hen sau xuất viện, cụ thể là dùng thuốc hen đúng, tuân thủ tái khám theo dõi, biết và tránh yếu tố khởi phát hen, biết nhận diện và

xử trí cơn hen ngoài viện để giảm hậu quả của cơn hen nặng mà không được xử trí kịp thời, giảm tỷ lệ đến khám và nhập viện không đáng vì cơn hen nhẹ Từ đó, giúp trẻ và gia đình kiểm soát hen tốt hơn, giảm gánh nặng bệnh tật cho gia đình và xã hội

2.11 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục

2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu

Việc sử dụng bộ công cụ phỏng vấn để đánh giá kiến thức, thực hành về phòng ngừa hen của các bà mẹ có con bị hen đang điều trị tại khoa Nội Hô Hấp bệnh viện

Nhi Đồng 1 năm 2016 chỉ mang tính ước lượng tương đối

Nghiên cứu dự tính tiến hành trên các bà mẹ có con bị hen đang điều trị tại khoa Nội Hô Hấp bệnh viện Nhi Đồng 1 trong khoảng thời gian 3 tháng là số lượng khá ít

và thời gian nghiên cứu ngắn nên kết quả chưa đánh giá chính xác được kiến thức, thực hành về quản lý hen của các bà mẹ có con bị hen

HUPH

Trang 35

2.11.2 Sai số có thể gặp

Một số thông tin do đối tượng được phỏng vấn đưa ra có thể gặp sai số nhớ lại Sai số do một số bà mẹ biết thời gian đánh giá nên có sự thay đổi trong lúc làm phỏng vấn do đó dẫn đến sai số

Việc thu thập số liệu qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nên có thể gặp sai số do kỹ năng phỏng vấn của từng điều tra viên cũng như thái độ hợp tác của đối tượng tham gia nghiên cứu

HUPH

Trang 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được triển khai trong thời gian từ tháng 2/ 2017 đến tháng 7/ 2017 trên

228 bà mẹ trực tiếp chăm sóc trẻ, trong đó có 114 bà mẹ có thực hành phun thuốc, sử dụng thuốc phòng ngừa hen Quá trình thu thập số liệu cho thấy không có mất mẫu trong nghiên cứu Kết quả phân tích số liệu được trình bày như sau:

3.1.Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Bảng 3.1.1 Nhóm tuổi và trình độ của bà mẹ chăm sóc trẻ bị hen

mẹ tương đối cao từ trung học phổ thông trở lên chiếm tỷ lệ 76,8%, tiểu học và trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 23,2%

HUPH

Trang 37

Bảng 3.1.2 Nghề nghiệp và nơi sống của bà mẹ

(n=228)

Tỷ lệ %

Công Nhân Viên Chức 78 34.2%

Buôn bán, kinh doanh 70 30.7%

Nơi bà mẹ tập trung sống nhiều nhất là Thành Phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ 56,2% Tỉnh chiếm tỷ lệ 43,8%

Bảng 3.1.3 Mức thu nhập và tiếp cận thông tin của bà mẹ

Bà mẹ tiếp cận thông tin nhân viên y tế chiếm tỷ lệ cao nhất 50,9%, tiếp cận thông tin

từ báo đài,internet chiếm tỷ lệ 34,2% và các nguồn khác 14,9%

HUPH

Trang 38

mẹ biết cả 3 loại thuốc: uống, phun, hít chiếm tỷ lệ 22,8%

Bảng 3.1.5 Đặc điểm tuổi , giới tính của trẻ bị hen

Bảng 3.1.5 cho thấy trong 228 đối tượng tham gia nghiên cứu, độ tuổi trẻ bị hen từ

2-5 chiếm tỷ lệ cao nhất 78,2-5%, độ tuổi 2-5-12 tuổi là 18,9% và thấp nhất trẻ từ 12 – 12-5 tuổi chiếm tỷ lệ 2,6% Trẻ giới tính nam chiếm tỷ lệ cao 62,3% so với giới tính nữ

Trang 39

Bảng 3.1.6 Tiền sử gia đình, tiền sử dị ứng và số lần nhập viện của trẻ

Bảng 3.1.7 chẩn đoán mức độ kiểm soát hen của trẻ khi nhập viện

Hen đã được kiểm soát 21 9,2%

Hen đã được kiểm soát một phần 132 57,9%

Hen chưa được kiểm soát 75 32,9%

Bảng 3.1.7 cho thấy trong 228 đối tượng nghiên cứu có 75 trẻ hen chưa kiểm soát chiếm tỷ lệ 32,9%, 132 trẻ hen đã được kiểm soát một phần chiếm 57,9%, 21 trẻ hen

đã được kiểm soát chiếm tỷ lệ 9,2% HUPH

Trang 40

3.2 Kiến thức đúng về quản lý hen và thực hành phun thuốc của bà mẹ

Biểu đồ 3.2.1 Kiến thức chung của bà mẹ chăm sóc con bị hen phế quản

Bảng 3.2.1 cho thấy trong 228 đối tượng tham gia nghiên cứu thu được được kết quả kiến thức chung của bà mẹ về hen: liên quan đến tiền căn gia đình đúng chiếm tỷ lệ 57%, sai chiếm 25,9%, không rõ 17,1% Viêm mãn tính đường thở đúng chiếm tỷ lệ 58,3%, sai 22,4%, không rõ 19,3% Có 23,7%, bà mẹ hiểu đúng hen phế quản không phải bệnh nhiễm trùng, sai 53,5%, không rõ 22,8% Về hen phế quản được điều trị khỏi hoàn toàn đúng 21,5%, sai 48,2%, không rõ 30.3% và phòng ngừa được đúng chiếm tỷ lệ 61%, sai 21,5% và không rõ 19,5%

Nhiễm trùng

Điều trị khỏi hoàn toàn

Phòng ngừa được

ĐúngSaiKhông rõ

HUPH

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế, Bệnh viện Bạch Mai (2014) “ Dự án phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản”, Hội nghị khoa học Hen phế quản - hưởng ứng ngày Hen toàn cầu 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án phòng chống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản
Tác giả: Bộ Y tế, Bệnh viện Bạch Mai
Năm: 2014
5. Đỗ Ngọc Thanh, Phạm Thị Minh Hồng (2008), "Khảo sát nguyên nhân khò khè ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại khoa hô hấp bệnh viện Nhi đồng 2 từ tháng 6/2007 đến 5/2008", Luận văn bác sỹ chuyên khoa 2, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nguyên nhân khò khè ở trẻ từ 2 tháng đến 15 tuổi tại khoa hô hấp bệnh viện Nhi đồng 2 từ tháng 6/2007 đến 5/2008
Tác giả: Đỗ Ngọc Thanh, Phạm Thị Minh Hồng
Nhà XB: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2008
9. Nguyễn Năng An (2005), “Tổng quan về vấn đề Hen phế quản”,Tạp chí Y học thực hành (số513), tr7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về vấn đề Hen phế quản
Tác giả: Nguyễn Năng An
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2005
10. Nguyễn Năng An (2006), Tiếp cận mới trong chẩn đoán và điều trị hen phế quản theo phác đồ GINA2006, Hội thảo khoa học chuyên đề Hen phế quản, Hà Nội 10/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận mới trong chẩn đoán và điều trị hen phế quản theo phác đồ GINA2006
Tác giả: Nguyễn Năng An
Năm: 2006
3. Bùi Bình Bảo Sơn, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012), “Nhiên cứu hiệu quả của Sabutamol bình hít định liều kèm bầu hít và Sabutamol phun sương bằng máy ở bệnh nhi bị cơn hen phế quản cấp mức độ trung bình”, Y Học TP. Hồ Chí Minh, tập 16 (2), tr.23 Khác
4. Đặng Hương Giang (2009), “ Kiến thức về bệnh hen của các bà mẹ “, Tạp chí y học thực hành, (668) số 7/2009, tr. 63-65 Khác
7. Huỳnh Anh Kiệt, Lê Thị Tuyết Lan (2013), “Sự tương quan giữa mức độ kiểm soát hen phế quản theo ACT và chất lượng cuộc sống liên quan sức khoẻ theo AQLQ(S)”, tập 17 (1), tr.137-139 Khác
8. Lê Trọng Chiểu, Thái Văn Lệ, Nguyễn Thị Phương Lan, Trần Thị Tuyền (2012), “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, hành vi của bố mẹ các trẻ bị hen phế quản điều trị tại bệnh viện Phong điền”, Tạp chí Y học thực hành (số 805) Khác
11. Nguyễn Năng An, Trần Thuý Hạnh, Nguyễn Hoàng Phương (2006), “Những hiểu biết mới về cơ chế hen phế quản”, Tập huấn hen phế quản tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên, 2006.HUPH Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w