1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015

111 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố Tân An, tỉnh Long An năm 2015
Tác giả Nguyễn Thanh Sơn
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thanh Hương
Trường học Trường đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1.................................................................................................................... 4 (13)
    • 1.1. Một số khái niệm (13)
    • 1.2. Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS (13)
      • 1.2.1. Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS trên thế giới (13)
      • 1.2.2. Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS tại Việt Nam (15)
      • 1.2.3. Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS tại Long An (16)
    • 1.3. Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone (17)
      • 1.3.1. Thông tin chung về Methadone (17)
      • 1.3.2. Tình hình triển khai chương trình điều trị Methadone trên thế giới (18)
      • 1.3.3. Tình hình triển khai chương trình điều trị Methadone tại Việt Nam (20)
      • 1.3.4. Tình hình triển khai chương trình điều trị Methadone ở tỉnh Long An (21)
    • 1.4. Một số nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng (22)
      • 1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới (22)
      • 1.4.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam (25)
    • 1.5. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (27)
    • 1.6. Khung lý thuyết nghiên cứu (29)
  • Chương 2.................................................................................................................. 22 (31)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (31)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (31)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (31)
    • 2.4. Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu (31)
      • 2.4.1. Nghiên cứu định lượng (31)
      • 2.4.2. Nghiên cứu định tính (32)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (33)
      • 2.5.1. Nghiên cứu định lượng (33)
      • 2.5.2. Nghiên cứu định tính (34)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (35)
      • 2.6.1. Nghiên cứu định lượng (35)
      • 2.6.2. Nghiên cứu định tính (36)
    • 2.7. Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá (36)
      • 2.7.1. Thước đo (36)
      • 2.7.2. Tiêu chuẩn đánh giá (36)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (37)
      • 2.8.1. Số liệu định lượng (37)
      • 2.8.2. Số liệu định tính (38)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (38)
    • 2.10. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (38)
      • 2.10.1. Hạn chế (38)
      • 2.10.2. Sai số (39)
      • 2.10.3. Cách khắc phục (39)
  • Chương 3.................................................................................................................. 31 (40)
    • 3.1. Một số thông tin chung của BN (40)
    • 3.2. Kết quả điều trị Methadone (42)
      • 3.2.1. Tình hình sử dụng CGN của BN (42)
      • 3.2.2. Tình trạng sức khỏe của BN (45)
      • 3.2.3. Điều kiện nhà ở và phương tiện đi lại của BN (49)
      • 3.2.4. Tình trạng việc làm của BN (50)
    • 3.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị Methadone (51)
      • 3.3.1. Các yếu tố từ BN (51)
      • 3.3.2. Các yếu tố từ gia đình và bạn bè (52)
      • 3.3.3. Các yếu tố từ phía cung cấp dịch vụ điều trị Methadone (54)
      • 3.3.4. Các yếu tố về môi trường chính sách và xã hội (59)
  • Chương 4.................................................................................................................. 53 (62)
    • 4.1. Kết quả điều trị Methadone (62)
      • 4.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (62)
      • 4.1.2. Tình hình sử dụng CGN của BN trong quá trình điều trị Methadone (62)
      • 4.1.3. Tình trạng sức khỏe của BN (64)
      • 4.1.4. Tình trạng việc làm và phương tiện đi lại của BN (66)
    • 4.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị Methadone (67)
      • 4.2.1. Các yếu tố từ BN (67)
      • 4.2.2. Các yếu tố từ gia đình và bạn bè (70)
      • 4.2.3. Các yếu tố từ phía cung cấp dịch vụ điều trị Methadone (71)
      • 4.2.4. Các yếu tố về môi trường chính sách và xã hội (75)
  • KẾT LUẬN (79)
    • 1. Kết quả điều trị Methadone (79)
    • 2. Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị Methadone (79)

Nội dung

4

Một số khái niệm

Trong Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone năm 2010, Bộ Y tế đã thống nhất đưa ra một số khái niệm như sau [4]:

Chất ma tuý: là các chất gây nghiện (CGN) được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành

Chất dạng thuốc phiện, bao gồm các loại như thuốc phiện, Morphin, Heroin, Methadone, Buprenorphine, Codein, Pethidine và Fentanyle, là nhóm chất có tác động lâm sàng tương tự và ảnh hưởng đến các điểm tiếp nhận giống nhau trong não.

Người nghiện ma túy: là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các chất này

Dung nạp là khả năng của cơ thể trong việc đáp ứng với một chất, thể hiện qua sức chịu đựng ở liều lượng nhất định Khả năng này phụ thuộc vào cơ địa và tình trạng sức khỏe của mỗi người Khi khả năng dung nạp thay đổi, cần điều chỉnh liều lượng của chất để duy trì hiệu quả mong muốn.

Cai nghiện là quá trình ngừng hoặc giảm đáng kể việc sử dụng chất ma túy mà người nghiện thường tiêu thụ, dẫn đến sự xuất hiện của hội chứng cai Do đó, người bệnh cần được điều trị kịp thời để vượt qua giai đoạn này.

Quá liều là tình trạng sử dụng một lượng chất ma túy vượt quá khả năng dung nạp của cơ thể, gây nguy hiểm đến tính mạng người sử dụng nếu không được cấp cứu kịp thời.

Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS

1.2.1 Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS trên thế giới

Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), năm 2012, số người nghiện ma túy trên toàn cầu ước tính từ 16 đến 39 triệu.

Theo ước tính của các tổ chức UNODC, UNAIDS, WB và WHO, hiện có khoảng 12,7 triệu người tiêm chích ma túy (TCMT) trên toàn cầu Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, con số này khoảng 3,8 triệu, trong đó 2,5 triệu người sống tại Trung Quốc Đặc biệt, ba quốc gia là Liên Bang Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ chiếm tới 46% tổng số người TCMT trên thế giới.

Tử vong do ma túy là một vấn đề nghiêm trọng, với khoảng 183.000 trường hợp tử vong liên quan được ghi nhận trong năm 2012 Sử dụng ma túy quá liều là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong toàn cầu Hành vi tiêm chích ma túy không an toàn, như việc dùng chung bơm kim tiêm, có thể gây ra các bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng như HIV, viêm gan B và viêm gan C Nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho thấy, trong năm 2010, có 1.980.000 năm sống bị mất do hành vi tiêm chích không an toàn dẫn đến nhiễm HIV, và 494.000 năm sống bị mất do viêm gan C.

Theo thống kê của UNAIDS, tính đến cuối năm 2013, thế giới có khoảng 35 triệu người sống chung với HIV, trong đó có khoảng 3 triệu người nhiễm viêm gan B và 4,5 triệu người nhiễm viêm gan C Năm 2013 ghi nhận 2,1 triệu ca nhiễm HIV mới, giảm 38% so với năm 2011, và trong 3 năm qua, số ca nhiễm HIV mới đã giảm 13%.

Trong số 12,7 triệu người tiêm chích ma túy (TCMT) trên toàn thế giới, khoảng 13,1% đang sống chung với HIV, tương đương với 1,7 triệu người TCMT bị nhiễm HIV theo ước tính của các tổ chức UNODC, WB, WHO, và UNAIDS Báo cáo của UNAIDS năm 2012 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người TCMT cao hơn ít nhất 22 lần so với dân số chung ở 49 quốc gia, và cao hơn ít nhất 50 lần ở 11 quốc gia Tại Liên Bang Nga, chính sách nhà nước không hỗ trợ cung cấp dịch vụ điều trị thay thế cho người TCMT đã dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV cao trong nhóm này.

HUPH ước tính tỷ lệ người sử dụng ma túy có nguy cơ cao (TCMT) khoảng 18-31% Trong khi đó, các quốc gia ở Tây và Trung Âu có tỷ lệ bao phủ cao các dịch vụ can thiệp giảm tác hại như phân phát, trao đổi bơm kim tiêm sạch và chương trình điều trị Methadone, dẫn đến số ca nhiễm HIV mới thấp.

1.2.2 Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS tại Việt Nam

Vấn đề sử dụng thuốc phiện đã trở thành một thách thức xã hội nghiêm trọng tại Việt Nam từ những năm 90 Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến cuối tháng 8/2014, cả nước ghi nhận 185.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý Tuy nhiên, con số thực tế có thể cao hơn nhiều do nhiều người không nằm trong danh sách quản lý của Bộ Công an.

Số người nghiện ma túy được quản lý tại Việt Nam đang gia tăng trong 3 năm qua, mặc dù tốc độ tăng đã giảm Cụ thể, năm 2011 có 158.414 người, năm 2012 tăng lên 172.000 (tăng 8,57%), năm 2013 đạt 181.396 (tăng 5,46%), và trong 8 tháng đầu năm 2014, tăng 0,8% Thống kê cho thấy gần 90% quận, huyện và 60% xã, phường, thị trấn có người nghiện ma túy Hiện cả nước có 142 trung tâm cai nghiện đang quản lý 32.200 người, với hầu hết học viên phải chấp hành cai nghiện đủ 24 tháng tại trung tâm.

Sử dụng ma túy qua đường tiêm chích là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng các trường hợp nhiễm mới HIV tại Việt Nam Tính đến tháng 6 năm 2015, có 227.114 người nhiễm HIV còn sống, trong đó 71.115 người đã phát triển thành AIDS So với cùng kỳ năm 2014, trong 6 tháng đầu năm 2015, số ca nhiễm HIV mới giảm 47% (1.341 trường hợp) và số ca AIDS giảm 49% (797 trường hợp), tuy nhiên, số trường hợp tử vong lại tăng gấp 2,2 lần.

Trong tổng số 772 trường hợp nhiễm HIV được phát hiện, nam giới chiếm 66% và nữ giới chiếm 34% Tỷ lệ nhiễm HIV ở nữ giới đang có xu hướng gia tăng Lây truyền HIV qua đường tình dục chiếm 52%, trong khi lây truyền qua đường máu đã giảm xuống còn 35,4%.

Hình 1.1: Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tại Việt Nam qua các năm

Kết quả giám sát HIV năm 2013 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT giảm xuống 10,3%, giảm 1,3% so với năm 2012 Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV giảm ở tất cả các vùng, nhưng vẫn còn cao tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và thành phố Hồ Chí Minh.

1.2.3 Tình hình sử dụng ma túy và dịch HIV/AIDS tại Long An

Đến cuối năm 2014, tỉnh ghi nhận 1.414 người nghiện ma túy tại 134/192 xã, phường, với 14/15 huyện, thành phố tham gia (trừ Mộc Hóa) Các huyện có tỷ lệ người nghiện cao nhất là Đức Hòa (336 người), Cần Giuộc (204 người) và Bến Lức (183 người).

Theo điều tra của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, số người nghiện ma túy tại tỉnh Long An ước tính cao hơn thực tế từ 1,5 đến 2 lần.

Kết quả điều tra vào tháng 9/2012 cho thấy 76,2% người sử dụng BKT mới trong lần chích đầu tiên và 83,8% trong tháng qua Loại CGN là loại được sử dụng phổ biến nhất.

HUPH là Heroin 96,2% và ma túy đá 28,8% [30]

Từ khi ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 8/1993, đến cuối tháng 12 năm 2014, toàn tỉnh ghi nhận 4.235 người nhiễm HIV, trong đó có 2.443 trường hợp chuyển sang AIDS và 1.326 ca tử vong Hiện tại, có 2.012 bệnh nhân còn sống đang được quản lý, với 1.188 bệnh nhân sống tại địa phương.

Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone

1.3.1 Thông tin chung về Methadone

Methadone được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1937 tại một phòng thí nghiệm dược phẩm ở Đức Thuốc này được phát triển với mục đích giảm đau trong Chiến tranh thế giới thứ II và có tác dụng kéo dài Methadone là một chất đồng vận với các chất dạng thuốc phiện như Morphin và Heroin, nhưng thời gian tác dụng của nó kéo dài hơn.

Methadone được đăng ký vào năm 1941, và được công ty Eli Lilly giới thiệu ở

Vào năm 1947, Methadone được Mỹ sử dụng như một loại thuốc giảm đau và chống ho Trong thập niên 1940, các nghiên cứu tại Vương quốc Anh đã chỉ ra hiệu quả của Methadone trong việc điều trị hội chứng cai cho những người nghiện heroin.

Vào những năm 1950 và thập niên 60, việc sử dụng thuốc phiện đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong các khu đô thị, dẫn đến sự gia tăng đáng kể các vụ phạm tội và tỷ lệ tử vong.

HUPH và các bác sĩ đã nỗ lực tìm kiếm giải pháp y tế cho tình trạng phụ thuộc CDTP Nghiên cứu đầu tiên về Methadone được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Y học Rockefeller vào cuối năm 1963 và đầu năm 1964 bởi tiến sĩ Marie Nyswander và Vincent Dole Kết quả nghiên cứu cho thấy Methadone có khả năng ngăn ngừa hội chứng cai, ức chế hưng phấn do Heroin và giảm cảm giác thèm thuốc ở người nghiện CDTP, xác nhận hiệu quả của Methadone như một phương pháp điều trị duy trì Tuy nhiên, Methadone chỉ có tác dụng điều trị thay thế cho CDTP và không hiệu quả đối với người nghiện các chất ma túy khác như cần sa, cocaine, đặc biệt là ma túy tổng hợp.

Vào năm 1963, Tiến sĩ Robert Holliday, một nhà nghiên cứu người Canada, đã khởi xướng chương trình điều trị Methadone đầu tiên trên thế giới tại British Columbia Kể từ đó, việc sử dụng Methadone như một phương pháp điều trị thay thế cho những người nghiện CDTP đã trở thành một lựa chọn hiệu quả và được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu.

2005, Methadone được WHO xếp vào danh mục thuốc thiết yếu để điều trị nghiện CDTP [39]

1.3.2 Tình hình triển khai chương trình điều trị Methadone trên thế giới

Chương trình điều trị Methadone đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia như Úc, Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc và Hồng Kông Tại những quốc gia này, chương trình đã đóng góp quan trọng trong việc giảm tội phạm và ngăn chặn sự lây lan của HIV trong nhóm người tiêm chích ma túy, cũng như từ nhóm này ra cộng đồng.

Sau khi có bằng chứng khoa học chứng minh hiệu quả của điều trị bằng Methadone, chương trình này đã được triển khai rộng rãi tại hầu hết các bang của Hoa Kỳ và nhận được sự hỗ trợ từ chính phủ.

Mỹ đã công nhận rằng việc điều trị Methadone là một biện pháp quan trọng trong việc ngăn ngừa lây nhiễm HIV Số lượng cơ sở điều trị Methadone và bệnh nhân được điều trị đang ngày càng tăng lên theo thời gian.

Tính đến năm 2004, Mỹ có 1.100 cơ sở điều trị duy trì bằng thuốc Methadone tại 44 bang, con số này đã tăng lên 1.433 cơ sở vào năm 2010 tại 46 bang Chương trình Methadone đã giúp bệnh nhân cải thiện đáng kể sức khỏe, đồng thời giảm tội phạm và tỷ lệ lây nhiễm HIV.

HUPH Úc ban hành hướng dẫn quốc gia đầu tiên về điều trị Methadone vào năm 1985

Kể từ năm 1985, số người tham gia điều trị Methadone tại Úc đã tăng mạnh, từ 2.000 người lên 14.996 người vào năm 1994, và hiện nay có hơn 35.850 người được điều trị tại 2.132 cơ sở Chương trình điều trị Methadone được triển khai trong cả hệ thống y tế công lập và tư nhân.

Hồng Kông đã triển khai chương trình điều trị Methadone từ năm 1972, hiện có 20 cơ sở điều trị đang hoạt động Tổng số người tham gia chương trình Methadone lên tới 8.159, với khoảng 6.214 trường hợp tham gia điều trị mỗi ngày Chương trình này đã giúp điều trị cho khoảng 60% số người nghiện các chất gây nghiện.

Trung Quốc bắt đầu chương trình điều trị Methadone vào năm 2004 với 8 cơ sở Đến cuối năm 2010, số lượng cơ sở điều trị thay thế bằng Methadone đã tăng lên 738 tại 28 tỉnh, phục vụ cho 140.000 người nghiện các chất gây nghiện.

Chương trình điều trị Methadone tại Malaysia được triển khai từ tháng 10/2005, ban đầu có khoảng 4.000 bệnh nhân tham gia Đến năm 2010, Malaysia đã có 95 cơ sở điều trị và dự kiến sẽ tăng lên 674 cơ sở vào năm 2012, phục vụ cho 44.428 người Hiện tại, Malaysia đang chuyển giao mô hình “Trung tâm cai nghiện bắt buộc”.

Indonesia đã triển khai chương trình điều trị Methadone từ năm 2003 và đến năm 2011, đã thiết lập 74 cơ sở điều trị trên toàn quốc, trong đó có 7 cơ sở tại thủ đô Jakarta Hiện tại, khoảng 1.300 người nghiện đang được điều trị bằng Methadone.

Thái Lan đã triển khai chương trình điều trị Methadone từ năm 1979, với hơn 4000 bệnh nhân hiện đang được điều trị Tuy nhiên, quốc gia này không ưu tiên mở rộng chương trình Methadone do đường lây nhiễm HIV chủ yếu qua quan hệ tình dục, dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy vẫn tiếp tục gia tăng.

1.3.3 Tình hình triển khai chương trình điều trị Methadone tại Việt Nam

Một số nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone đã được triển khai ở rất nhiều nước trên thế giới Bên cạnh đó, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chương trình Methadone được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả mà chương trình đã mang lại cho BN, gia đình BN và cho toàn xã hội Chúng ta có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu của Pam Francis và cộng sự năm 2004 tại Canada đánh giá kết quả điều trị Methadone bằng phương pháp mô tả cắt ngang Thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn, 44 bệnh nhân trong độ tuổi 21-62 tại cơ sở Dự phòng và Điều trị nghiện đã được khảo sát Kết quả cho thấy 80% bệnh nhân không sử dụng ma túy hoặc rượu tại thời điểm đánh giá, 95,5% tự nhận thấy hành vi nguy cơ cao giảm đáng kể sau khi tham gia chương trình, và 84,1% báo cáo cải thiện điều kiện nhà ở.

BN báo cáo sự cải thiện rõ rệt trong tình trạng việc làm, với 81,2% BN cho biết đã hỗ trợ gia đình nhiều hơn kể từ khi tham gia điều trị Methadone Hơn nữa, 84,1% BN nhận thấy hành vi phạm tội của họ đã giảm đáng kể, trong khi chỉ có 2,5% BN tiếp tục vi phạm.

HUPH phạm pháp luật kể từ khi tham gia điều trị Methadone [36]

Nghiên cứu của James A Peterson và cộng sự vào năm 2010 đã chỉ ra rằng người nghiện CDTP ở Baltimore không tham gia chương trình điều trị Methadone do khó khăn trong thủ tục đăng ký và chi phí điều trị Nhiều người lo ngại rằng Methadone có thể gây hại cho sức khỏe, thậm chí tồi tệ hơn Heroin, vì dễ dẫn đến gãy xương hoặc răng Họ cũng e ngại rằng việc giảm liều sẽ gây ra hội chứng cai khó chịu hơn so với Heroin Thêm vào đó, việc phải đến cơ sở điều trị hàng ngày cũng là một trở ngại lớn, khiến họ không muốn tham gia chương trình.

Nghiên cứu của Lars Moller và cộng sự năm 2009 đánh giá hiệu quả chương trình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng Methadone tại Cộng Hòa Kyrgyzstan Phương pháp nghiên cứu là mô tả cắt ngang với 701 bệnh nhân tham gia, chiếm 96,2% số bệnh nhân đang điều trị tại các cơ sở cấp phát Methadone Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có việc làm trước điều trị là 39,4%, trong khi trong điều trị tăng lên 53,6% (p

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tại Việt Nam qua các năm - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Hình 1.1 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT tại Việt Nam qua các năm (Trang 16)
Hình 1.2: Khung lý thuyết nghiên cứu - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu (Trang 30)
Bảng 2.1: Mô tả đối tượng tham gia thảo luận nhóm - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 2.1 Mô tả đối tượng tham gia thảo luận nhóm (Trang 32)
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 3.2: Thông tin về việc sử dụng CGN trước điều trị Methadone - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.2 Thông tin về việc sử dụng CGN trước điều trị Methadone (Trang 41)
Bảng 3.3: Thông tin về điều trị Methadone - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.3 Thông tin về điều trị Methadone (Trang 42)
Bảng 3.4: Tình hình sử dụng Heroin trước và sau 6 tháng điều trị - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.4 Tình hình sử dụng Heroin trước và sau 6 tháng điều trị (Trang 42)
Bảng 3.5: Tình hình sử dụng Heroin sau 6 tháng và 12 tháng điều trị - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.5 Tình hình sử dụng Heroin sau 6 tháng và 12 tháng điều trị (Trang 43)
Bảng 3.6: Tình hình sử dụng Methamphetamine trước và sau 6 tháng điều trị - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng Methamphetamine trước và sau 6 tháng điều trị (Trang 44)
Bảng 3.7: So sánh cân nặng của BN trước và sau 6 tháng điều trị - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.7 So sánh cân nặng của BN trước và sau 6 tháng điều trị (Trang 45)
Bảng 3.8: So sánh cân nặng của BN sau 6 tháng và 12 tháng điều trị - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.8 So sánh cân nặng của BN sau 6 tháng và 12 tháng điều trị (Trang 46)
Bảng 3.9: Nguy cơ trầm cảm của BN trước và sau 6 tháng điều trị - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.9 Nguy cơ trầm cảm của BN trước và sau 6 tháng điều trị (Trang 47)
Bảng 3.10: Nguy cơ trầm cảm của BN sau 6 tháng và 12 tháng điều trị - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.10 Nguy cơ trầm cảm của BN sau 6 tháng và 12 tháng điều trị (Trang 48)
Bảng 3.11: Điều kiện nhà ở và phương tiện đi lại của BN trước và sau 6 tháng - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.11 Điều kiện nhà ở và phương tiện đi lại của BN trước và sau 6 tháng (Trang 49)
Bảng 3.12: Tình trạng việc làm của BN trước và sau 6 tháng điều trị - Đánh giá kết quả điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại thành phố tân an, tỉnh long an năm 2015
Bảng 3.12 Tình trạng việc làm của BN trước và sau 6 tháng điều trị (Trang 50)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w