ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
Nhân viên Trung tâm y tế Huyện Đông Anh
Đang làm việc tại Trung tâm Y tế Huyện Đông Anh, tôi là một trong những cán bộ được biên chế, tức là số lượng nhân viên được cấp có thẩm quyền giao và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Tôi đồng ý tham gia nghiên cứu để đóng góp cho sự phát triển của ngành y tế.
- Nhân viên y tế vì những lý do bất khả kháng không tham gia được phòng vấn ở thời điểm nghiên cứu (nghỉ ốm, nghỉ vì những lý do khác…)
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
- Giám đốc TTYT, Trưởng khoa Kiểm soát dịch bệnh (KSDB), Trưởng khoa Xét nghiệm (XN), Trưởng phòng Tổ chức-hành chính (TCHC), Nhân viên Trạm Y tế (TYT) xã
- Nhân viên y tế thuộc biên chế TTYT huyện Đông Anh
- Giám đốc Trung tâm Y tế, Trưởng khoa Kiểm soát dịch bệnh, Trưởng khoa Xét nghiệm, Trưởng phòng Tổ chức-hành chính:
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Có đầy đủ sức khỏe thể chất và tinh thần để trả lời phỏng vấn
+ Phân theo nhân viên khoa Kiểm soát dịch, xét nghiệm, khối hành chính, và nhân viên trạm y tế xã
+ Đồng ý tham gia và có mặt tại thời điểm nghiên cứu
2.1.2.2 Tiêu chí loại trừ chung
- Không có đủ sức khỏe, khả năng để tham gia tại thời điểm nghiên cứu: mắc bệnh, bận công việc, đi công tác,…
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Nghiên cứu từ 02/2022 đến 08/2022
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y tế huyện Đông Anh.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính
Tiến trình nghiên cứu được thực hiện theo hai giai đoạn: đầu tiên là phần định lượng nhằm thu thập dữ liệu, sau đó là phần định tính để khám phá sâu hơn các nội dung liên quan và làm rõ các kết quả đã đạt được từ phần định lượng.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng Được tính theo công thức một tỷ lệ:
+ n1: số nhân viên y tế tối thiểu cần tham gia nghiên cứu về KSNN; n2: Số mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu về căng thẳng
Tỷ lệ nhân viên y tế mắc kiệt sức nghề nghiệp được xác định là p1=0,626, dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Trần Ngọc Diễm tại Bệnh viện quận Thủ Đức vào năm 2019 Bên cạnh đó, tỷ lệ cán bộ gặp tình trạng căng thẳng được ghi nhận là p2=0,435, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Bích và Trần Thị Hà My.
+ Z là hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96
+ d là sai số tuyệt đối chấp nhận Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn sai số tuyệt đối d = 0,06
Cỡ mẫu được lựa chọn là 262, với dự kiến 10% mất mẫu, do đó cỡ mẫu tối thiểu cần có là 300 nhân viên y tế Trên thực tế, chúng tôi đã thu thập thông tin từ 314 nhân viên y tế.
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
- 01 Giám đốc TTYT, 01 Trưởng Khoa Xét nghiệm, 01 Trưởng phòng Tổ chức – Hành chính, 01 Trưởng Khoa Kiểm soát dịch bệnh
Đã tiến hành 04 cuộc thảo luận nhóm với nhân viên y tế, không bao gồm các cán bộ đã tham gia phỏng vấn trước đó Mỗi cuộc thảo luận được tổ chức theo từng nhóm: Khoa Kiểm soát dịch bệnh, Khoa Xét nghiệm, Phòng Tổ chức Hành chính và Nhân viên Trạm Y tế xã, với mỗi nhóm có 05 cán bộ tham gia.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Phương pháp chọn mẫu định lượng
Theo danh sách nhân viên y tế đủ điều kiện tiêu chuẩn lựa chọn do Trung tâm
Tại thời điểm khảo sát, y tế huyện Đông Anh có tổng cộng 314 nhân viên y tế So với cỡ mẫu tối thiểu dự tính là 300 người, con số này là tương đương Do đó, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ nhân viên y tế với 314 người tham gia.
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu định tính
Chọn chủ đích đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)
Giám đốc TTYT, Trưởng Khoa Xét nghiệm, Trưởng Khoa Kiểm soát dịch bệnh và Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính sẽ được chọn làm các cấp trưởng Hẹn gặp theo lịch để thực hiện phỏng vấn riêng.
Thảo luận nhóm nhân viên y tế được tổ chức bằng cách phân nhóm theo khoa/phòng, bao gồm Khoa Kiểm soát dịch bệnh, Khoa xét nghiệm, Phòng Tổ chức hành chính và Nhân viên Y tế xã Mỗi nhóm sẽ chọn ra 5 cán bộ đại diện để tham gia vào các cuộc thảo luận nhóm.
Phương pháp, công cụ và quy trình thu thập số liệu
2.6.1 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.6.1.1 Với cấu phần định lượng
Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu định lượng bằng cách sử dụng công cụ Google Form, thông qua việc gửi bộ câu hỏi trực tuyến được thiết kế sẵn cho ĐTNC (Phụ lục 1).
BCH bao gồm ba phần chính: Phần 1 cung cấp thông tin tổng quan về ĐTNC, trong khi Phần 2 giới thiệu bộ công cụ đánh giá tình trạng căng thẳng thông qua thang đo DASS-21, với 07 câu hỏi nhằm đo lường mức độ căng thẳng và đánh giá tình trạng kiệt sức.
Nghề nghiệp của C Maslach và cộng sự được đề cập trong phần thứ 3, trong đó có các câu hỏi sử dụng công cụ Brief-COPE Mục đích là để tìm hiểu về các phương pháp ứng phó mà nhân viên y tế đã áp dụng nhằm giảm thiểu căng thẳng và tình trạng kiệt sức.
2.6.1.2 Với cấu phần định tính
Lập danh sách các đối tượng được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu định tính để tiến hành PVS và TLN
Bộ công cụ PVS và TLN được sử dụng để khai thác thông tin về các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế trong đợt dịch Các câu hỏi mở trong bộ hướng dẫn này nhằm tìm hiểu quan điểm và kinh nghiệm của đối tượng nghiên cứu, từ đó đề xuất các biện pháp giảm bớt hoặc hạn chế vấn đề này.
2.6.2 Quy trình thu thập số liệu
Quy trình thu thập số liệu định lượng:
Chọn 2 giám sát viên có kinh nghiệm trong các cuộc điều tra, đặc biệt là trong lĩnh vực Y tế.
Bước 2: Tập huấn cho giám sát viên là rất quan trọng Cần tổ chức một buổi tập huấn trực tiếp để hướng dẫn giám sát viên về nội dung của BCH, cách hỗ trợ nhân viên y tế trong việc điền câu hỏi và cách tổ chức, giám sát quá trình điền BCH Mọi thắc mắc cần được giải đáp ngay trong buổi tập huấn.
Bước 3: Điều tra thử nhằm dự đoán các tình huống ngoài dự kiến và tạo thuận lợi cho quá trình thu thập số liệu Việc này cũng giúp hiệu chỉnh bộ công cụ cho phù hợp hơn với thực tế Chọn ngẫu nhiên 15 cán bộ đạt tiêu chuẩn để thực hiện điều tra thử, từ đó đã điều chỉnh một số câu hỏi chưa hợp lý.
Bước 4: Chỉnh sửa và thống nhất kế hoạch điều tra thông tin tại Trung tâm Y tế, giám sát/nghiên cứu viên đã hợp tác với Giám đốc TTYT để đảm bảo sự đồng nhất trong công tác tổ chức điều tra.
Nhóm giám sát viên đã thực hiện việc gửi link câu hỏi thiết kế online cho các cán bộ để thu thập số liệu theo kế hoạch trong thời gian điều tra.
Để tiến hành khảo sát, cần gửi link phiếu khảo sát cho đối tượng nghiên cứu theo danh sách đã được chuẩn bị Trước khi gửi, cán bộ sẽ giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu, và sau khi nhận được sự đồng ý từ đối tượng, họ sẽ thực hiện và hoàn thành phiếu khảo sát.
- Các câu trả lời được link đến trang tính đảm bảo tính bảo mật thông tin và đảm bảo đủ số lượng phiếu
Quy trình thu thập số liệu định tính:
Liên hệ trước để sắp xếp lịch phỏng vấn với các đối tượng tham gia Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ được thực hiện tại phòng họp của Trung tâm Y tế, đảm bảo sự riêng tư và thuận tiện Bộ hướng dẫn nghiên cứu định tính được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu, với các câu hỏi mở và rõ ràng Máy ghi âm sẽ được sử dụng với sự đồng ý của đối tượng để hỗ trợ quá trình thu thập thông tin, giúp tránh bỏ sót nội dung.
Các biến số/Chỉ số nghiên cứu
2.7.1 Biến số trong nghiên cứu định lượng
- Nhóm biến số về đặc điểm cá nhân của nhân viên y tế;
- Đặc điểm công việc tại cơ quan;
- Tình trạng căng thẳng và kiệt sức của nhân viên y tế
- Một số biện pháp ứng phó của cá nhân và tổ chức:
Nhóm biện pháp đào tạo và tập huấn nhằm trang bị cho nhân viên y tế những kỹ năng tự ứng phó với căng thẳng và khủng hoảng sức khỏe tâm thần Các chương trình này giúp nâng cao nhận thức và khả năng quản lý stress, từ đó cải thiện sức khỏe tâm lý cho bản thân nhân viên.
+ Nhóm hỗ trợ về sức khỏe tinh thần/không gian làm việc: Tổ chức các buổi du lịch, làm đẹp lại không gian làm việc cho nhân viên,…;
+ Nhóm hỗ trợ về kinh tế (chế độ khen thưởng, làm ngoài giờ,…);
+ Nhóm hỗ trợ về sắp xếp/điều phối phân công công việc phù hợp;
+ Nhóm về công tác xác hội (hỗ trợ các hoàn cảnh nhân viên đặc biệt khó khăn), + Nhóm biện pháp ứng phó khác
(Chi tiết được trình bày trong phụ lục 2)
2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính:
+ Đánh giá về tình trạng căng thẳng, KSNN của NVYT tại Trung tâm Y tế huyện Đông Anh;
+ Nguyên nhân dẫn đến tình trạng căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế;
Trung tâm Y tế huyện Đông Anh đã triển khai nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp cho nhân viên y tế, bao gồm việc tổ chức các buổi tập huấn về quản lý stress, cung cấp hỗ trợ tâm lý và tạo môi trường làm việc thân thiện Ngoài ra, cần thảo luận thêm về việc cải thiện chế độ đãi ngộ và tăng cường giao tiếp giữa các nhân viên để nâng cao tinh thần làm việc và sự gắn kết trong đội ngũ.
Một số thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá về căng thẳng:
Nghiên cứu này sử dụng bộ công cụ DASS-21, áp dụng 07 câu hỏi thuộc phần DASS-Căng thẳng Mỗi lựa chọn cho từng câu hỏi được chấm điểm từ 0 đến 3 và được khảo sát trong khoảng thời gian 1 tuần vừa qua.
- 0 là Không đúng với tôi (tôi ở đây là NVYT) chút nào (Hoặc hiếm khi, chưa từng gặp phải các tình trạng như vậy);
- 1 là đúng với tôi phần nào (Đôi khi - 1-2 ngày một tuần), hoặc thỉnh thoảng mới đúng;
- 2 là Đúng với tôi phần nhiều hoặc phần lớn thời gian là đúng (Thỉnh thoảng hoặc một nửa thời gian);
Điểm Căng thẳng được tính bằng cách cộng điểm các đề mục thành phần và nhân hệ số 2, với tổng điểm dao động từ 0 đến 42 Dựa vào thang điểm này, mức độ stress được phân loại rõ ràng.
STT Mức độ Căng thẳng
- Từ cách phân chia điểm này, ngoài phân theo mức độ, sẽ phân thành 2 nhóm: Không stress (điểm từ 0-14) và Có mắc stress (từ 15 điểm trở lên)
2.8.2 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá về kiệt sức nghề nghiệp
Bộ công cụ đánh giá tổng cộng 22 câu hỏi, trong đó kiệt sức nghề nghiệp được xác định qua ba cấu phần chính: Suy kiệt cảm xúc, Cảm giác sai lệch về bản thân và Cảm giác về hiệu suất công việc cá nhân Tổng điểm kiệt sức nghề nghiệp được tính bằng cách cộng điểm của các tiểu mục trong từng cấu phần.
STT Cấu phần Các tiểu mục Ghi chú
14, 16 và 20 Điểm EE càng cao thì mức độ KSNN càng lớn
2 Cảm giác hoài nghi/sai lệch về bản thân (DP)
22 Điểm DP càng cao thì mức độ KSNN càng lớn
3 Thành tựu cá nhân suy giảm (PA)
Điểm PA thấp hơn dẫn đến mức độ KSNN cao hơn, do các tiêu mục của cấu phần thành tựu cá nhân bị suy giảm và được tính điểm ngược lại.
2 cấu phần còn lại, vì vậy, sẽ đảo người điểm PA trước khi tính điểm KSNN tổng thể Do đó, điểm thành tựu cá nhân suy giảm = 48 – PA
Tổng điểm KSNN chung = EE + DP + (48 – PA) Có thể thấy, tổng điểm KSNN chung càng lớn thì mức độ KSNN càng cao và ngược lại
Để thực hiện chuẩn phần tính toán sau này, hướng dẫn sử dụng của Maslach Burnout Inventory cần được coi là một biến liên tục.
HUPH được phân loại thành ba mức độ: cao, trung bình và thấp, dựa trên điểm số Điểm số được coi là cao khi nằm trong 1/3 trên của thang điểm, trung bình khi ở 1/3 giữa, và thấp khi ở 1/3 dưới Các điểm cutoff của KSNN được xác định cụ thể như sau:
STT Cấu phần Mức độ cao Mức độ trung bình
1 Kiệt sức nghề nghiệp chung ≥88 45 – 87 ≤44
2 Suy kiệt cảm xúc (EE) ≥36 19 – 35 ≤18
3 Cảm giác hoài nghi/sai lệch về bản thân (DP)
4 Thành tựu cá nhân suy giảm
2.8.3 Thước đo, bảng kiểm đánh giá về ứng phó với căng thẳng/kiệt sức
Bộ công cụ Brief-COPE bao gồm có 28 câu, được chia theo các nhóm nội dung như sau (62):
STT Cấu phần Các tiểu mục/Câu hỏi
Trong đó có các nội dung nhỏ hơn:
Tự đánh lạc hướng 1 và 19
Giải phóng hành vi 6 và 16
2 Ứng phó tập trung vào vấn đề
Trong đó có các nội dung nhỏ hơn:
2, 7, 10, 12, 14, 17, 23, 25 Đối phó tích cực/linh hoạt/thiết thực
Sử dụng hỗ trợ thông tin 10 và 23
“Chỉnh khung nhận thức” tích cực 12 và 17
3 Ứng phó tập trung vào cảm xúc 5, 9, 13, 15, 18, 20, 21, 22, 24, 26, 27,
STT Cấu phần Các tiểu mục/Câu hỏi
Trong đó có các nội dung nhỏ hơn: 28
Hỗ trợ cảm xúc 5 và 15
Tự trách bản thân 13 và 26
Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu đã được làm sạch và nhập vào phần mềm Epidata, sau đó chuyển sang Stata 14.0 Một số giá trị không hợp lý đã được so sánh với phiếu phỏng vấn gốc để phát hiện và sửa chữa các lỗi.
Với số liệu định lượng: Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm Stata
14.0 Sử dụng các thuật toán thống kê phù hợp để phân tích Cụ thể:
Phân tích thống kê mô tả bao gồm việc áp dụng các thuật toán để tính toán tần số, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và tỷ lệ phần trăm một cách phù hợp Ngoài ra, cần thực hiện kiểm định khi sử dụng phương pháp bình phương.
OR (CI 95%) được dùng để xác định mối liên quan
Với số liệu định tính:
Thông tin được tổng hợp từ các tệp ghi âm đã được nhập vào máy tính và mã hóa theo các ý chính Nghiên cứu viên đã thực hiện việc đọc, mã hóa và tổng hợp các nội dung liên quan đến chủ đề Các trích dẫn phù hợp được sử dụng để đạt được mục tiêu nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng xét duyệt và thông qua theo quyết định số 286/2022/YTCC-HD3
- Nghiên cứu nhận được sự đồng ý của Ban lãnh đạo Trung tâm y tế huyện Đông Anh;
Nhân viên y tế đã được thông tin đầy đủ và tự nguyện tham gia nghiên cứu, với quyền dừng tham gia bất kỳ lúc nào mà không ảnh hưởng đến quyền lợi đã nhận trước đó.
- Kết quả nghiên cứu hoàn toàn phục vụ cho mục đích vì cộng đồng và nghiên cứu khoa học, không vì bất kỳ mục đích nào khác
Kết quả nghiên cứu đã được thông báo đến các bên liên quan nhằm tìm ra các giải pháp khắc phục những vấn đề hiện tại và làm nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Một số thông tin chung của nhân viên y tế
Bảng 3.1 Thông tin về đặc điểm nhân khẩu học của nhân viên y tế (n14)
TT Nội dung Số lượng (SL) Tỷ lệ %
1 Tuổi (TB ± SD) 38,4 ± 8,1 (Min!; MaxY)
4 Tình trạng hôn nhân Độc thân 12 3,8
Có vợ/chồng 290 92,4 Đã ly hôn/ly dị 6 1,9
Có con 8h ngày)
5 Chế độ làm việc hiện tại
Tại Trung tâm Y tế huyện Đông Anh, phần lớn cán bộ có thời gian làm việc trên 10-20 năm, chiếm 43,6% Tương tự, tỷ lệ cán bộ làm việc tại các Khoa/phòng trực thuộc TTYT trong khoảng thời gian này cũng cao, đạt 36,3% Đội ngũ nhân viên chủ yếu là điều dưỡng, chiếm hơn 39%, tiếp theo là Y sĩ với khoảng 16% và bác sĩ chiếm hơn 14% Các vị trí khác như kỹ thuật viên, cán bộ hành chính và dược sĩ cũng có mặt trong đội ngũ Đáng chú ý, hơn 72% nhân viên làm thêm giờ ngoài thời gian quy định.
HUPH chuyên môn có trực ca đêm chiếm 69,7%, NVYT làm hành chính không phải trực đêm là 30,3%
Bảng 3.3 Đánh giá của nhân viên y tế về một số công tác liên quan đến phòng chống COVID-19 (n14)
TT Nội dung SL Tỷ lệ %
Công việc NVYT đã tham gia trong đợt phòng chống dịch
Tiêm vắc xin chiến dịch 243 77,4 Truy vết/điều tra dịch tễ 203 64,7
Tần suất tham gia các công việc liên quan đến phòng chống COVID-19 trong vòng 1 tháng đợt dịch
Thường xuyên (Hầu hết các ngày) 234 74,5
Phần lớn các ngày trong 1 tháng 41 13,1
Một vài ngày trong 1 tháng 12 3,8
3 Đánh giá về khối lượng công việc phòng chống
Vẫn còn khả năng đảm nhiệm thêm 9 2,9
4 Cảm nhận về chế độ lương thưởng
Cảm thấy hài lòng, thỏa đáng 7 2,2
Chưa thấy hài lòng, thỏa đáng 214 68,2
5 Đánh giá về đồ bảo hộ, dụng cụ phòng chống lây nhiễm trong quá trình làm việc Đã được trang bị và cảm thấy hoàn toàn yên tâm 173 55,1
Cảm thấy lo lắng, chưa an toàn 141 44,9
Sự hỗ trợ khi thực hiện công tác phòng chống dịch COVID-
Có, cảm thấy hài lòng 41 13,1
Có nhưng chưa hài lòng 243 77,4
Trong đợt dịch, đội ngũ cán bộ của TTYT đã thực hiện nhiều công việc quan trọng, với 77,4% tham gia tiêm vắc xin, 71,7% thực hiện việc lấy mẫu cộng đồng, và 64,7% tham gia các hoạt động khác.
HUPH cho thấy tỷ lệ cán bộ tham gia hành chính-hậu cần và kiểm soát nhiễm khuẩn đều trên 50% Hơn 74% cán bộ tham gia thường xuyên vào các công việc phòng chống COVID-19 trong vòng 1 tháng đợt dịch Tuy nhiên, 75,8% nhân viên cảm thấy khối lượng công việc quá sức Về chế độ lương, thưởng, hơn 68% nhân viên không hài lòng với mức đãi ngộ Gần 45% nhân viên cho rằng đồ bảo hộ và dụng cụ phòng chống lây nhiễm chưa an toàn Hơn 77% nhân viên nhận thấy có sự hỗ trợ trong công tác phòng chống dịch COVID-19 nhưng vẫn cảm thấy chưa thỏa đáng, và gần 10% cho biết không nhận được hỗ trợ.
Nghiên cứu định tính cũng cho thấy tình trạng “áp lực” mà nhân viên y tế của TTYT đã gặp phải:
Trong bối cảnh dịch COVID-19, nhân viên y tế (NVYT) tại Trung tâm Y tế huyện Đông Anh phải đối mặt với khối lượng công việc khổng lồ trong thời gian ngắn, dưới áp lực từ chính quyền địa phương và chỉ đạo của ngành y tế Số lượng NVYT, đặc biệt là tại tuyến y tế cơ sở, lại rất hạn chế, dẫn đến áp lực lớn cho họ trong giai đoạn khó khăn này.
Cán bộ y tế tham gia công tác phòng chống dịch phải nỗ lực hết mình để hoàn thành nhiệm vụ, làm việc gần như không nghỉ suốt 24 giờ mỗi ngày Họ trải qua những tháng ngày căng thẳng, không có ngày nghỉ, thường xuyên nhận cuộc gọi từ bệnh nhân để tư vấn, cấp cứu và chuyển bệnh nhân Tình trạng này thực sự rất vất vả và quá tải.
Trong giai đoạn dịch bệnh, nhân viên y tế đã phải đối mặt với áp lực lớn từ nhiều phía, bao gồm áp lực công việc, gia đình, cũng như từ lãnh đạo ngành và địa phương Những chia sẻ của cán bộ y tế trong thời điểm này cho thấy sự căng thẳng và khó khăn mà họ phải trải qua.
Áp lực từ gia đình khiến người phụ nữ phải làm việc suốt cả ngày, không có thời gian dành cho chồng và con cái Sự thiếu vắng trong cuộc sống gia đình tạo ra không khí không vui vẻ, khi chồng cảm thấy bị bỏ rơi và không được chăm sóc Những lời trách móc từ chồng về việc không có mặt ở nhà vào buổi tối và không chuẩn bị bữa ăn cho con càng làm tăng thêm căng thẳng trong mối quan hệ gia đình.
HUPH Áp lực từ gia đình, công việc, bệnh nhân rất nhiều áp lực dẫn đến kiệt quệ về tinh thần, thể chất” (TLN – Nhân viên TYT xã).
Thực trạng căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế trực tiếp tại
Bảng 3.4 Thực trạng căng thẳng của nhân viên y tế (n14)
TT Nội dung Không đúng Đúng 1 phần Đúng phần nhiều
1 Cảm thấy khó mà thoải mái được 22 (7,0) 178
2 Có xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống 86 (27,4) 173
3 Cảm thấy đang suy nghĩ quá nhiều 51 (16,2) 176
4 Cảm thấy bản thân dễ bị kích động 84 (26,8) 175
5 Cảm thấy khó thư giãn được 37 (11,8) 184
Không chấp nhận được việc cái gì đó xen vào cản trở việc tôi đang làm
7 Cảm thấy mình khá dễ phật ý, tự ái
Tất cả 314 nhân viên y tế tham gia khảo sát đều cho biết họ đã trải qua ít nhất một biểu hiện của căng thẳng trong thời gian khảo sát Đặc biệt, 93,0% nhân viên y tế cảm thấy tâm trạng không vui hoặc không thoải mái Trong số đó, 56,7% cho biết dấu hiệu này xuất hiện thỉnh thoảng, 26,4% thường xuyên, và 9,9% cho biết họ hầu như lúc nào cũng cảm thấy như vậy.
NVYT có xu hướng phản ứng thái quá với mọi tình huống đạt 72,6% Trong số đó, 55,1% cho biết hiện tượng này xảy ra thỉnh thoảng, trong khi 13,8% cảm thấy thường xuyên hoặc đúng phần lớn thời gian.
Theo khảo sát, 83,8% người tham gia cảm thấy mình đang suy nghĩ quá nhiều Trong số đó, 56,05% cho biết hiện tượng này xảy ra thỉnh thoảng, 17,5% thường xuyên cảm thấy như vậy, và 10,2% cho biết hầu như lúc nào cũng có cảm giác này.
Theo khảo sát, 81,2% người tham gia cảm thấy dễ bị kích động Trong số đó, 55,7% cho biết dấu hiệu này xuất hiện thỉnh thoảng, trong khi 12,7% cho rằng họ thường xuyên gặp phải tình trạng này.
Tỷ lệ nhân viên y tế cảm thấy khó thư giãn lên tới 88,2% Trong đó, 58,6% cho biết cảm giác này xuất hiện thỉnh thoảng, 20,7% thường xuyên cảm thấy như vậy, và 8,9% hầu như lúc nào cũng gặp phải tình trạng này.
Theo khảo sát, 76,8% người tham gia cảm thấy không chấp nhận được khi có điều gì đó xen vào cản trở công việc của họ Trong số đó, 54,1% cho biết hiện tượng này xảy ra thỉnh thoảng, 15,9% thường xuyên cảm thấy như vậy, và 6,7% cho biết hầu như lúc nào cũng cảm thấy bị cản trở.
Tỷ lệ nhân viên y tế cảm thấy dễ phật ý và tự ái lên tới 64,0% Trong số đó, 51,0% cho biết cảm giác này xuất hiện thỉnh thoảng, 10,2% thường xuyên cảm thấy như vậy, và 2,9% hầu như lúc nào cũng có cảm giác này.
Theo thang đo DASS 21, mỗi dấu hiệu được đánh giá với các mức điểm từ 0 đến 3 Tổng điểm của 7 dấu hiệu được nhân với 2, và những người có điểm số từ 15 trở lên được xác định là mắc căng thẳng.
Biểu đồ 3.1 Phân loại mức độ căng thẳng của nhân viên y tế (n14)
Tại Trung tâm y tế huyện Đông Anh, 41,7% cán bộ nhân viên có biểu hiện mắc căng thẳng Trong số đó, 4,1% gặp căng thẳng rất nặng, 8,0% ở mức độ nặng, và 12,4% cùng 17,2% lần lượt thuộc mức độ trung bình và nhẹ.
Bảng 3.5 Thực trạng căng thẳng theo một số đặc điểm nhân khẩu học của nhân viên y tế (n14)
TT Nội dung Có Căng thẳng Không căng thẳng
3 Tình trạng hôn nhân Độc thân/ly hôn/hóa 7 29,2 17
TT Nội dung Có Căng thẳng Không căng thẳng
Có con 20 năm có tỷ lệ căng thẳng lên tới 65%, cao nhất so với các nhóm khác Bác sĩ có tỷ lệ mắc căng thẳng cao hơn (8h/ngày có tỷ lệ căng thẳng 49,8%, trong khi nhóm không làm thêm ngoài giờ chỉ khoảng 21% Tỷ lệ căng thẳng ở nhóm cán bộ trực đêm là 48,86%, trong khi nhóm không trực đêm chỉ có 25,26%.
3.2.2 Thực trạng kiệt sức nghề nghiệp của Nhân viên y tế
Bảng 3.7 Phân bố nội dung nhóm tiểu mục “Suy kiệt cảm xúc” của nhân viên y tế (n14)
Không bao giờ/hầu như không
Hàng ngày đều gặp phải n (%) n (%) n (%) n (%)
Về mặt cảm xúc, cảm thấy trống rỗng trong công việc
Trong một ngày làm việc cảm thấy
Mỗi sáng thức dậy, đối diện với một ngày làm việc mới, cảm thấy mệt mỏi
Làm việc suốt ngày với mọi người là sự căng thẳng
Cảm thấy bị suy sụp là vì công việc 145
Cảm thấy không hài lòng trong công việc
Cảm thấy công việc của mình đang làm là quá sức
Làm việc tiếp xúc trực tiếp với người khác làm bản thân quá căng thẳng
Cảm thấy kiệt sức trong công việc 107
Tỷ lệ nhân viên cảm thấy công việc quá sức và kiệt sức trong công việc đang ở mức cao, với 8,0% và 7,6% tương ứng.
Bảng 3.8 Phân bố nội dung nhóm tiểu mục “Cảm giác hoài nghi/sai lệch về bản thân” của nhân viên y tế (n14)
Không bao giờ/hầu như không
Hàng ngày đều gặp phải n (%) n (%) n (%) n (%)
Cảm thấy mình chăm sóc một số người quá thờ ơ như thể họ là các vật thể
Trở nên vô cảm hơn với mọi người kể từ khi anh/chị làm công việc này
Lo lắng công việc này làm chai lì cảm xúc anh/chị
Không quan tâm đến những gì xảy ra với người dân
Cảm thấy người dân đổ lỗi cho mình về các vấn đề liên quan đến họ
Nhóm “Cảm giác hoài nghi/sai lệch về bản thân” cho thấy rằng khoảng 8,3% nhân viên y tế cảm thấy bị người dân đổ lỗi cho mình về các vấn đề liên quan đến họ Ngược lại, chỉ có 1,9% nhân viên cho biết họ trở nên vô cảm hơn với mọi người kể từ khi làm công việc này.
Bảng 3.9 Phân bố nội dung nhóm tiểu mục thuộc nhóm “Thành tựu cá nhân suy giảm” của nhân viên y tế (n14)
Không bao giờ/hầu như không
Hàng ngày đều gặp phải n (%) n (%) n (%) n (%)
Dễ dàng hiểu được cảm nhận của người dân 25 (8,0) 85
Chăm sóc rất hiệu quả những vấn đề của nhân dân 17 (5,4) 63
Cảm thấy có ảnh hưởng tích cực với người khác qua công việc đang làm
Cảm thấy đầy nghị lực 59
Có thể tạo ra bầu không khí thư giãn, thoải mái với người dân 21 (6,7) 90
Cảm thấy thoải mái sau khi được hợp tác với người dân trong công việc 30 (9,6) 88
Có đạt được nhiều điều có giá trị trong công việc của mình
Bình tĩnh xử lý vấn đề về cảm xúc trong công việc 19 (6,1) 70
Tỷ lệ nhân viên y tế cảm thấy không có ảnh hưởng tích cực đến người khác qua công việc của họ lên tới 25,2%, đây là con số cao nhất trong các tiểu mục của phần “Thành tựu cá nhân suy giảm”.
2 là tiểu mục “cảm thấy đầy nghị lực” (18,8%)
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ kiệt sức nghề nghiệp chung của nhân viên y tế (n14)
Biểu đồ trên cho thấy, phần lớn NVYT KSNN ở mức độ thấp là 53,5%, mức độ trung bình 46,5%, không có NVYT bị kiệt sức nghề nghiệp ở mức độ cao
Bảng 3.10 Phân loại mức độ kiệt sức nghề nghiệp của nhân viên y tế ở từng cấu phần (n14)
Mức độ cao Mức độ trung bình Mức độ thấp
1 Suy kiệt cảm xúc (EE) 42 13,4 93 29,6 179 57,0
Cảm giác hoài nghi/sai lệch về bản thân (DP)
3 Thành tựu cá nhân suy giảm (PA) 29 9,2 104 33,1 181 57,7
Tỷ lệ nhân viên y tế trải qua tình trạng “suy kiệt cảm xúc” ở mức độ cao chiếm tỷ lệ lớn hơn so với hai yếu tố Cảm giác hoài nghi/sai lệch về bản thân và “Thành tựu cá nhân suy giảm” (13,4% so với 4,8% và 9,2%) Đặc biệt, tỷ lệ nhân viên có “Cảm giác hoài nghi/sai lệch về bản thân” ở mức độ thấp chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 71,3%.
Bảng 3.11 Tỷ lệ kiệt sức nghề nghiệp mức cao ở các cấu phần của nhân viên y tế (n14)
STT Kiệt sức nghề nghiệp Tần số Tỷ lệ %
I Kiệt sức nghề nghiệp mức cao
1 Mức KSNN cao ở cả 3 cấu phần 0 0,0
2 Mức KSNN cao ở 2 cấu phần 14 4,5
3 Mức KSNN cao ở 1 cấu phần bất kỳ 72 22,9
II Mức KSNN trung bình ở cả 3 cấu phần 30 9,6
III Mức KSNN thấp ở cả 3 cấu phần 96 30,6
Có gần 23% nhân viên y tế có tình trạng KSNN ở mức cao với 1 cấu phần bất kỳ,
Phân tích một số biện pháp ứng phó với tình trạng căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp ở Trung tâm Y tế huyện Đông Anh
3.3.1 Ứng phó của cá nhân
Bảng 3.15 Nhóm biện pháp ứng phó né tránh của nhân viên y tế với tình trạng căng thẳng, kiệt sức nghề nghiệp (n14)
TT Nội dung Không làm
Chuyển sang làm việc hoặc các hoạt động khác để giải tỏa tâm trí
3 Tự nói với chính mình “điều này không có thật”
4 Đã sử dụng rượu hoặc các chất gây nghiện khác để giúp bản thân cảm thấy tốt hơn
6 Đã từ bỏ việc đối phó với căng thẳng
8 Đã từ chốt tin rằng nó đã xảy ra 101
Sử dụng rượu hoặc các loại chất gây nghiện khác để giúp bản thân vượt qua cẳng thẳng, kiệt sức
16 Từ bỏ nỗ lực đối phó 107
19 Đã làm vài điều để ít suy nghĩ về căng thẳng hơn như đi xem phim, xem TV, đọc sách, ngủ
TT Nội dung Không làm
Thường xuyên n (%) n (%) n (%) n (%) hoặc mua sắm
Nhân viên y tế thường áp dụng các biện pháp “Ứng phó né tránh” để giảm bớt căng thẳng, với 55,7% thỉnh thoảng và 25,8% thường xuyên thực hiện các hoạt động như xem phim, đọc sách, hoặc mua sắm Tiếp theo, 57,0% nhân viên thỉnh thoảng và 14,6% thường xuyên chuyển sang làm việc hoặc tham gia các hoạt động khác để giải tỏa tâm trí Tuy nhiên, việc sử dụng rượu hoặc chất gây nghiện để đối phó với căng thẳng chỉ được thực hiện bởi 11,5% nhân viên thỉnh thoảng và 1,9% thường xuyên.
Bảng 3.16 Nhóm ứng phó tập trung vào vấn đề của nhân viên y tế với tình trạng căng thẳng, kiệt sức nghề nghiệp (n14)
II Ứng phó tập trung vào vấn đề
2 Đang tập trung nỗ lực để giải quyết tình huống mà tôi gặp phải
7 Đang hành động để cố gắng làm cho tình hình tốt hơn 11 (3,5) 26 (8,3) 113
10 Nhận được sự giúp đỡ và lời khuyên từ những người khác 15 (4,8) 49
12 Đã cố gắng nhìn nhận theo một khía cạnh khác, để làm cho nó có vẻ tích cực hơn
Cố gắng đưa là một chiến lược về những việc cần làm để giải quyết căng thẳng và kiệt sức
TT Nội dung Không làm
17 Đang tìm kiếm một mặt tích cực trong những gì đang xảy ra 19 (6,0) 53
23 Đang có gắng nhận lời khuyên hoặc sự giúp đỡ từ người khác
Suy nghĩ rất nhiều về những bước cần thực hiện để giảm căng thẳng/kiệt sức
Kết quả từ bảng 3.12 cho thấy tỷ lệ nhân viên thường xuyên "hành động để cố gắng làm cho tình hình tốt hơn" thông qua các biện pháp ứng phó tập trung vào vấn đề.
Tỷ lệ cao nhất trong việc giải quyết tình huống mà nhân viên gặp phải là 52,2% và 45,2%, cho thấy sự tập trung nỗ lực của họ Ngược lại, chỉ có 17,8% nhân viên thường xuyên cố gắng nhận lời khuyên hoặc sự giúp đỡ từ người khác, cho thấy xu hướng tự lực trong công việc.
Bảng 3.17 Nhóm ứng phó tập trung vào cảm xúc của nhân viên y tế với tình trạng căng thẳng, kiệt sức nghề nghiệp (n14)
TT Câu hỏi Không làm
III Ứng phó tập trung vào cảm xúc
5 Đã nhận được sự hỗ trợ tinh thần từ những người khác 19 (6,2) 45
9 Nói nhiều điều để cho thoát khỏi cảm giác khó chịu
13 Đã và đang chỉ trích bản thân mình
15 Nhận được sự an ủi và thông cảm từ một người nào đó 19 (6,1) 45
18 Đã nói đùa về nó 101 87 103 23 (7,3)
TT Câu hỏi Không làm
20 Đã và đang chấp nhận thực tế là căng thẳng/kiệt sức đã xảy ra 29 (9,2) 45
21 Đang bày tỏ/thể hiện cảm xúc tiêu cực của mình
22 Đang tìm kiếm sự thoải mái thông qua niềm tin tôn giáo hoặc niềm tin tâm linh của mình
24 Học cách sống chung với căng thẳng/kiệt sức 25 (8,0) 43
26 Tự trách mình về những điều đã xảy ra
27 Cầu nguyện hoặc thiền để giảm căng thẳng/kiệt sức
28 Tạo niềm vui từ tình huống này 55
Trong nhóm Ứng phó tập trung và cảm xúc, nhân viên y tế chủ yếu áp dụng biện pháp “Học cách sống chung với căng thẳng/kiệt sức” với tỷ lệ 34,7% Biện pháp “Chấp nhận thực tế là căng thẳng/kiệt sức đã xảy ra” đứng thứ hai trong sự lựa chọn của họ Ngược lại, cách “Tự trách mình về những điều đã xảy ra” là phương pháp ít được sử dụng nhất, chỉ chiếm 3,5%.
Bảng 3.18 trình bày một số biện pháp cụ thể mà nhân viên y tế áp dụng để đối phó với tình trạng căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp, bao gồm số lượng và tỷ lệ phần trăm tương ứng.
Các biện pháp đã làm để ứng phó khi căng thẳng, KSNN
Nghe nhạc thư giãn/thiền 71 22,6 Đi du lịch, dã ngoại 41 13,1
Chia sẻ với người khác 154 49,0
Nhân viên y tế thường giảm căng thẳng bằng cách chia sẻ với người khác, chiếm hơn 49%, và nghe nhạc thư giãn hoặc thiền với 22,6% Khi cần hỗ trợ, gần 58% nhân viên y tế nhận được sự giúp đỡ từ gia đình, trong khi hơn 40% từ bạn bè và đồng nghiệp, chỉ 4,5% nhận được sự hỗ trợ từ cơ quan hoặc lãnh đạo Khi căng thẳng, họ mong muốn chia sẻ nhất với chồng, vợ hoặc bố mẹ (gần 61%), tiếp theo là bạn thân (27%), lãnh đạo hoặc quản lý (gần 8%), và một tỷ lệ nhỏ (gần 4%) tin tưởng vào chuyên gia tâm lý.
3.3.2 Ứng phó của Tổ chức
Dựa trên thông tin thu thập từ nghiên cứu định tính, bài viết phân tích ý kiến của các nhóm đối tượng về những biện pháp đã thực hiện và chưa thực hiện, đồng thời đánh giá ưu nhược điểm của các biện pháp này.
Đào tạo và tập huấn cho nhân viên y tế là cần thiết để họ nắm vững các biện pháp tự ứng phó với căng thẳng và kiểm soát stress một cách hiệu quả Những chương trình này giúp nâng cao kỹ năng cá nhân, từ đó cải thiện sức khỏe tâm lý và hiệu suất làm việc của họ.
TTYT hiện chưa có biện pháp cụ thể hoặc tổ chức tập huấn để giúp nhân viên y tế giảm bớt căng thẳng Một số cán bộ đã đề xuất cần có những chương trình đào tạo nhằm hỗ trợ tinh thần cho đội ngũ y tế.
Cần tổ chức các buổi tập huấn cho cán bộ y tế về biện pháp phòng chống căng thẳng và kiệt sức, cùng với những bài tập và phương pháp giúp họ tự giải tỏa căng thẳng trong công việc.
Nhận được sự giúp đỡ từ ai
Người thân trong gia đình 181 57,6
NVYT muốn chia sẻ vấn đề với ai nhất khi bị căng thẳng,
Công đoàn nên tổ chức các buổi chia sẻ từ chuyên gia về giảm căng thẳng và kỹ năng sống cho cán bộ y tế Trước đây, Trung tâm Y tế đã từng tổ chức một buổi như vậy, mang lại niềm vui và giúp anh/chị em biết cách ứng xử trong công việc, từ đó hạn chế căng thẳng và nâng cao kỹ năng sống.
Cần triển khai các biện pháp truyền thông hiệu quả để giúp ban ngành và người dân hiểu rõ hơn về công việc của ngành y tế, từ đó giảm bớt áp lực cho nhân viên y tế.
Để giảm áp lực cho cán bộ y tế, cần tuyên truyền cho các ban ngành, đoàn thể và người dân hiểu rõ vai trò của cán bộ y tế cơ sở Khi người dân nhận thức được những công việc mà cán bộ y tế đang thực hiện, họ sẽ thông cảm và sẵn sàng hỗ trợ hơn trong ngành y tế.
Nhóm biện pháp hỗ trợ về tinh thần:
Trung tâm Y tế huyện Đông Anh đã triển khai các biện pháp hỗ trợ sức khỏe tinh thần cho cán bộ y tế, bao gồm việc động viên tinh thần, thường xuyên hỏi thăm nhân viên và chia sẻ những khó khăn, vướng mắc một cách kịp thời.
Các đơn vị đã thể hiện sự quan tâm và động viên tinh thần đối với nhân viên y tế (NVYT) tham gia công tác phòng chống dịch bằng cách hỏi thăm và hỗ trợ vật chất Nhiều đơn vị đã cung cấp nước uống và hoa quả để tiếp sức cho họ trong công việc vất vả này.
BÀN LUẬN
Phân tích một số biện pháp ứng phó với căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp ở
Theo thống kê, căng thẳng nghề nghiệp (KSNN) không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp mà còn đến sức khỏe của người lao động, dẫn đến việc một nửa số nhân viên nghỉ việc và chi phí chăm sóc sức khỏe lên tới 125 đến 190 tỉ USD mỗi năm tại Mỹ Do đó, việc tìm kiếm các biện pháp ứng phó nhằm giảm thiểu căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt là nhân viên y tế, là vô cùng cấp bách và cần thiết.
Các mô hình khái niệm trước đây về giảm thiểu kiệt sức của bác sĩ và nhân viên y tế nhấn mạnh rằng trách nhiệm duy trì lực lượng nhân sự lành mạnh không chỉ thuộc về cá nhân mà còn về Ban Giám đốc và lãnh đạo khoa phòng Do đó, cần nghiên cứu và áp dụng cả chiến lược cá nhân lẫn biện pháp can thiệp dựa trên hệ thống, đặc biệt trong bối cảnh "Dịch chồng Dịch" hiện nay, khi khối lượng công việc y tế và phòng chống dịch bệnh có xu hướng gia tăng Nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung vào các nhóm biện pháp này.
4.2.1 Biện pháp ứng phó của cá nhân
Các biện pháp giúp nhân viên ứng phó với căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp bao gồm: Ứng phó né tránh, Tập trung vào vấn đề, và Tập trung vào cảm xúc Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong nhóm “Ứng phó né tránh”, nhân viên y tế thường xuyên thực hiện các hoạt động như xem phim, đọc sách, hoặc mua sắm để giảm bớt suy nghĩ về căng thẳng, với tỷ lệ cao nhất cho các hành động này.
Tỷ lệ nhân viên HUPH tham gia vào các hoạt động giải tỏa tâm trí là 55,73% và 25,8%, trong đó 57,01% thỉnh thoảng và 14,65% thường xuyên chuyển sang làm việc khác Nhân viên thường áp dụng biện pháp “Ứng phó tập trung vào vấn đề” với tỷ lệ cao trong tiểu nhóm “Đối phó tích cực/linh hoạt/thiết thực”, cụ thể là 52,23% thường xuyên “hành động để cố gắng làm cho tình hình tốt hơn” và 45,22% “tập trung nỗ lực để giải quyết tình huống mà tôi gặp phải”.
Nhân viên y tế tại TTYT huyện Đông Anh thường áp dụng biện pháp "Học cách sống chung với căng thẳng/kiệt sức" với tỷ lệ 34,71%, cho thấy họ có xu hướng sử dụng các phương pháp tích cực hơn tiêu cực Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Tuyền (2021) chỉ ra rằng ứng phó né tránh có mối tương quan thuận với mức độ stress, gợi ý rằng việc thay thế chiến lược này bằng các kiểu ứng phó tích cực có thể giúp giảm bớt stress cho giáo viên Hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2021 cũng nhấn mạnh các biện pháp tích cực như tiếp đất, tháo móc, hành động theo giá trị cá nhân, và thực hiện lòng tử tế để giảm thiểu căng thẳng cho nhân viên y tế.
Nhân viên thường chia sẻ với người khác để giảm căng thẳng, chiếm hơn 49% Những người thân trong gia đình là nguồn hỗ trợ chính, với gần 58% nhân viên tìm đến họ Tiếp theo là sự giúp đỡ từ bạn bè và đồng nghiệp, chiếm hơn 40% Khi gặp căng thẳng, nhân viên y tế thường muốn chia sẻ nhất với chồng, vợ hoặc bố mẹ, đạt tới gần 61% Những lựa chọn này của nhân viên hoàn toàn dễ hiểu.
Người thân trong gia đình, đặc biệt là vợ/chồng hay bố mẹ, thường là những người gần gũi nhất với nhân viên, do đó khả năng tin tưởng sẽ cao hơn Vấn đề căng thẳng hay khủng hoảng sức khỏe tâm thần là những vấn đề nhạy cảm mà nhân viên có thể gặp phải Tuy nhiên, Ban lãnh đạo cần đặc biệt chú ý đến việc chỉ một số ít nhân viên (4,46%) nhận được sự giúp đỡ từ cơ quan hoặc lãnh đạo.
4.2.2 Ứng phó của tổ chức
Các biện pháp ứng phó cá nhân là cần thiết nhưng thường mang tính chất nhỏ lẻ, do đó tác động tích cực không mạnh mẽ Để tăng cường hiệu quả ứng phó, các giải pháp từ Tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhân viên y tế (NVYT) và các nhân viên khác giảm bớt căng thẳng và kiệt sức Việc đào tạo và tập huấn cho NVYT nhằm nâng cao kiến thức sẽ giúp họ ứng phó tốt hơn với căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp.
Giáo dục - đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia và toàn nhân loại Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của khoa học công nghệ và quá trình toàn cầu hóa đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục Giáo dục luôn là yếu tố tiên quyết trong việc phát triển nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
"Thay vì chỉ xin người khác con cá, hãy học cách làm cần câu và câu cá." Do đó, việc đào tạo và nâng cao kiến thức cho nhân viên y tế về các biện pháp ứng phó với căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp là vô cùng cần thiết.
Mặc dù việc giải tỏa căng thẳng cho nhân viên y tế (NVYT) là rất quan trọng, TTYT huyện Đông Anh vẫn chưa tổ chức các buổi tập huấn hay đào tạo cần thiết Cán bộ y tế đã đề xuất cần có những chương trình đào tạo để giúp giảm bớt căng thẳng trong công việc.
HUPH là các buổi nói chuyện nhằm giúp cán bộ giải tỏa căng thẳng và kiệt sức một cách hiệu quả Việc đào tạo và tập huấn về nội dung này có thể nhận được sự đồng thuận từ nhân viên y tế, tạo lợi thế cho Trung tâm Y tế huyện Đông Anh trong việc triển khai các hoạt động này trong tương lai.
Cần tăng cường truyền thông đến cộng đồng để các ban ngành, đoàn thể và người dân hiểu rõ khối lượng công việc lớn mà cán bộ y tế đang đảm nhận hàng ngày Điều này sẽ giúp tạo ra sự thấu hiểu và lắng nghe, từ đó hạn chế xung đột và áp lực không hợp lý đối với nhân viên y tế.
Nhóm hỗ trợ về sức khỏe tinh thần:
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sức khỏe không chỉ là trạng thái không có bệnh tật mà còn bao gồm sức khỏe tinh thần và xã hội Do đó, các yếu tố hỗ trợ sức khỏe tinh thần đóng vai trò rất quan trọng Nghiên cứu của Shanyu Zhou và các cộng sự tại Trung Quốc đã chỉ ra tầm quan trọng của những yếu tố này trong việc duy trì sức khỏe tổng thể.
Năm 2022, việc tăng cường hỗ trợ xã hội cho người lao động có thể giúp giảm tình trạng kiệt sức trong công việc Ban lãnh đạo TTYT huyện Đông Anh đã thực hiện một số biện pháp như động viên tinh thần và chia sẻ khó khăn với nhân viên Tuy nhiên, một số hoạt động như tổ chức tham quan, du lịch và các hoạt động thể thao, văn hóa vẫn chưa được thực hiện đầy đủ Những hoạt động tưởng chừng nhỏ bé này lại thể hiện mong muốn của cán bộ nhân viên, cho thấy rằng những giải pháp đơn giản cũng có thể giúp giảm căng thẳng Hơn nữa, TTYT huyện Đông Anh cần chú trọng hơn đến các công tác xã hội, nhằm hỗ trợ các cá nhân và cộng đồng giải quyết những vấn đề xã hội mà họ đang gặp phải.
HUPH quá trình thực hiện những chức năng xã hội của mình, cụ thể ở đây đối tượng chính là những NVYT
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu này mang tính chất mô tả cắt ngang với cỡ mẫu không lớn, không đại diện cho các đơn vị đồng cấp khác với TTYT huyện Đông Anh Trong quá trình thu thập thông tin, đặc biệt là thông tin định tính, ĐTNC có thể không chia sẻ đầy đủ do ngại va chạm, dẫn đến các câu trả lời không phản ánh đúng thực tế Để khắc phục, học viên cần tạo không gian yên tĩnh và thân mật để ĐTNC cảm thấy thoải mái, từ đó có thể trao đổi thẳng thắn Ngoài ra, việc nhớ lại thông tin có thể gây sai số, do đó cần hỏi kỹ lại để đảm bảo độ chính xác.
HUPH yêu cầu nhập liệu hai lần để giảm thiểu sai số Trong nghiên cứu định tính, học viên chưa phân nhóm đối tượng theo tình trạng căng thẳng và kiệt sức nghề nghiệp, điều này có thể dẫn đến việc chưa khai thác được thông tin đầy đủ và rõ ràng về nguyên nhân khác biệt giữa các nhóm Do đó, một số giải pháp mới có thể chưa được đề xuất.