1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017

99 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao bệnh viện đa khoa Đồng Nai năm 2017
Tác giả Đỗ Thị Trần Hoàn
Người hướng dẫn TS. Lưu Tuyết Minh
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Tổng quan về nhiễm khuẩn bệnh viện (14)
    • 1.2. Tác nhân vi sinh vật gây nhiễm khuẩn bệnh viện (15)
    • 1.3. Cơ chế lây truyền nhiễm khuẩn bệnh viện (15)
    • 1.4. Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện (15)
    • 1.5. Vai trò vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện (18)
    • 1.6. Định nghĩa một số thuật ngữ về dung dịch vệ sinh tay (22)
    • 1.7. Sự lây truyền tác nhân gây bệnh trên tay (22)
    • 1.8. Vai trò vệ sinh tay trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện (23)
    • 1.9. Thực trạng công tác vệ sinh tay tại các cơ sở y tế (25)
    • 1.10. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay và biện pháp tăng cường tuân thủ VST (29)
    • 1.11. Vài nét về Khu vực dịch vụ chất lượng cao bệnh viện đa khoa Đồng Nai (34)
  • Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (37)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (38)
    • 2.4. Tiêu chuẩn đánh giá (39)
    • 2.5. Cỡ mẫu (40)
    • 2.6. Phương pháp chọn mẫu (40)
    • 2.7. Phương pháp thu thập số liệu (41)
    • 2.8. Nhóm biến số nghiên cứu (41)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (42)
    • 2.10. Đạo đức nghiên cứu (42)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (43)
    • 3.2. Tình hình tuân thủ vệ sinh tay trước can thiệp (44)
    • 3.3. Thực hiện chương trình can thiệp vệ sinh tay (49)
    • 3.4. Đánh giá kết quả can thiệp Vệ Sinh Tay (51)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (60)
    • 4.1. Khảo sát trước can thiệp (60)
    • 4.2. Kết quả sau can thiệp và một số yếu tố liên quan (64)
  • KẾT LUẬN (70)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (73)
  • PHỤ LỤC (79)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

NVYT cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân với đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng chuyên nghiệp Các chuyên khoa bao gồm Sản, Phụ khoa, Nội Nhiễm, Ngoại Tổng hợp và Ngoại Chấn thương chỉnh hình, tất cả đều nằm trong khu dịch vụ.

Bác sĩ và điều dưỡng là hai đối tượng tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, và việc chăm sóc tay của họ là yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa nhiễm khuẩn chéo Nếu không tuân thủ vệ sinh tay (VST), nguy cơ lây nhiễm cho bệnh nhân sẽ tăng cao.

Hộ lý có nhiệm vụ: vệ sinh môi trường bệnh viện nên cơ hội tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân là rất ít Định tính:

Chủ tịch hội đồng KSNK, trưởng khoa KSNK tại khu vực dịch vụ chất lượng cao bệnh viện đa khoa Đồng Nai (phỏng vấn sâu)

Nhân viên y tế trực tiếp điều trị chăm sóc người bệnh tại khoa Sản, Phụ khoa, Nội Nhiễm, Ngoại Tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình

Phương tiện VST: bồn rửa tay, dung dịch khử khuẩn, khăn lau tay tại khoa Sản, Phụ khoa, Nội Nhiễm, Ngoại Tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: thực hiện từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2017 Địa điểm: Các khoa Sản, Phụ khoa, Nội Nhiễm, Ngoại Tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu can thiệp: nghiên cứu can thiệp, có đánh giá trước và sau kết hợp phương pháp định lượng và định tính:

Giai đoạn 1 : đánh giá trước can thiệp Nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính

Nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá thực trạng phương tiện và trang thiết bị vệ sinh tay (VST), cũng như việc tuân thủ VST của nhân viên y tế (NVYT) thông qua việc phết mẫu vi sinh vật trên tay Nghiên cứu định tính được thực hiện trước can thiệp để thu thập thông tin hỗ trợ lập kế hoạch can thiệp và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay Tiến hành phỏng vấn với chủ tịch hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và trưởng khoa KSNK để nắm bắt công tác KSNK tại bệnh viện, cũng như sự ủng hộ của lãnh đạo nhằm xây dựng biện pháp can thiệp khả thi và hiệu quả Cuối cùng, thực hiện thảo luận với bác sĩ và điều dưỡng của 5 khoa nghiên cứu để đánh giá kiến thức và đề xuất giải pháp can thiệp VST phù hợp, đồng thời tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ VST của NVYT.

Giai đoạn 2: giai đoạn can thiệp

Sau khi có kết quả giai đoạn 1, lập kế hoạch can thiệp, dự kiến thực hiện:

- Tập huấn cho nhân viên y tế;

+ Nội dung tập huấn: NKBV, chỉ định và quy trình VST;

+ Số buổi tập huấn: 02 buổi cho 02 đối tượng BS và ĐD

- Tăng cường trang thiết bị VST, số lượng sẽ được lên danh sách sau khi thực hiện xong giai đoạn 1

- Ban hành quy định, quy trình về tuân thủ VST trong đơn vị

- Tăng cường giám sát định kỳ và đột xuất vào các thời điểm khác nhau (trong giờ hành chính, ngoài giờ hành chính)

Giai đoạn 3: đánh giá sau can thiệp

Sử dụng phương pháp định lượng để khảo sát tình trạng tuân thủ vệ sinh tay (VST) sau can thiệp, chúng tôi đã thực hiện phết mẫu vi sinh vật trên bàn tay của nhân viên y tế (NVYT) và so sánh với kết quả trước can thiệp.

Tiêu chuẩn đánh giá

Theo WHO và BYT, việc đánh giá thực trạng vệ sinh tay (VST) dựa trên hai chỉ số: tỷ lệ tuân thủ VST và tỷ lệ tuân thủ đúng quy trình VST Nghiên cứu của chúng tôi cũng tiến hành phết mẫu bàn tay của nhân viên y tế (NVYT) để đánh giá tỷ lệ đạt yêu cầu trước và sau can thiệp Đây là một phương pháp quan trọng để đánh giá hiệu quả của VST, vì bàn tay của NVYT có thể là nguồn lây nhiễm chéo.

Tỷ lệ tuân thủ VST (%) được tính bằng tổng số tình huống có VST trên tổng số tình huống cần VST [1]

VST bằng xà phòng là cần thiết trong các tình huống sau: trước khi tiếp xúc với bệnh nhân, trước khi thực hiện các thao tác vô khuẩn, sau khi tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân, sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh bệnh nhân, và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân.

Trong các tình huống cần thiết, việc sát khuẩn tay nhanh bằng cồn là rất quan trọng Cụ thể, cần thực hiện sát khuẩn tay trước và sau khi thăm khám từng bệnh nhân, cũng như trước và sau khi tiến hành các thủ thuật chăm sóc cho mỗi người bệnh.

Tỷ lệ tuân thủ VST đúng quy trình (%) được tính bằng tổng số tình huống

VST đúng quy trình trên tổng số tình huống có VST [1]

- Đối với VST bằng xà phòng, phải thực hiện đủ 06 bước (phụ lục 4), nếu sai hay thiếu 1 bước thì xem như không tuân thủ đúng quy trình

Để thực hiện việc sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch, cần tuân thủ đầy đủ 06 bước theo quy định (phụ lục 5) Nếu thiếu hoặc sai sót ở bất kỳ bước nào, quy trình sẽ không được coi là đúng.

Cỡ mẫu

Cỡ mẫu định lượng được xác định bằng cách chọn toàn bộ bác sĩ và điều dưỡng làm việc tại 05 khoa nghiên cứu, với mỗi người được quan sát 02 lần, cả trong và ngoài giờ hành chính Tổng cộng, cỡ mẫu đạt 360 lần quan sát.

02 cuộc PVS: 01 cuộc PVS chủ tịch hội đồng KSNK, 01 cuộc PVS trưởng khoa KSNK

02 cuộc TLN: 01 cuộc TLN bác sỹ điều trị; 01 cuộc TLN điều dưỡng chăm sóc

Phương pháp chọn mẫu

Giai đoạn 1: đánh giá trước can thiệp

Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách chọn mẫu toàn bộ bác sĩ và điều dưỡng làm việc tại năm khoa nghiên cứu thuộc trung tâm dịch vụ chất lượng cao, bao gồm khoa Sản, Phụ khoa, Nội, Ngoại Tổng hợp và Ngoại Chấn thương chỉnh hình.

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua việc chọn mẫu chủ đích, bao gồm hai cuộc phỏng vấn sâu (PVS) với một cuộc phỏng vấn chủ tịch hội đồng KSNK và một cuộc phỏng vấn trưởng khoa KSNK Ngoài ra, còn có hai cuộc thảo luận nhóm (TLN), trong đó một cuộc với bác sĩ và một cuộc với điều dưỡng.

Giai đoạn 2 sẽ được thực hiện sau khi nhận được kết quả từ giai đoạn 1 Dự kiến sẽ có 02 buổi tập huấn cho 02 nhóm đối tượng khác nhau Số lượng trang thiết bị và vật dụng VST sẽ được thống nhất sau khi có kết quả từ PVS, TLN và khảo sát thực tế.

Giai đoạn 3: Đánh giá sau can thiệp Sau khi thực hiện can thiệp, cần tiến hành điều tra cắt ngang và áp dụng phương pháp định lượng tương tự như giai đoạn I để đánh giá kết quả đạt được sau can thiệp.

Phương pháp thu thập số liệu

Sử dụng bảng kiểm quan sát quy trình tuân thủ vệ sinh tay là cần thiết, với bảng kiểm VST được xây dựng dựa trên bộ công cụ giám sát tuân thủ VST theo 5 thời điểm của WHO Bảng kiểm sẽ khác nhau tùy thuộc vào tính chất của dung dịch rửa tay.

Mỗi đối tượng sẽ được quan sát vào 02 thời điểm là trong giờ hành chính và ngoài giờ hành chính

Quan sát phương tiện vệ sinh tay: bồn rửa tay, nước, xà phòng, bảng quy trình VST

Sử dụng số liệu thứ cấp năm 2015, 2016 để thu thập thông tin về trang thiết bị, vật tư, khăn lau có liên quan đến quy trình vệ sinh tay

Trước khi can thiệp, TLN và PVS sẽ được thực hiện để thu thập thông tin hỗ trợ lập kế hoạch can thiệp và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay Việc nắm rõ chủ trương của bệnh viện và sự ủng hộ từ lãnh đạo là cần thiết để triển khai các biện pháp can thiệp hiệu quả Tiến hành TLN với sự tham gia của bác sĩ và điều dưỡng từ 5 khoa nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức và thảo luận các giải pháp can thiệp VST phù hợp cho nhân viên y tế Đồng thời, cần tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ VST của nhân viên y tế.

Nhóm biến số nghiên cứu

Nhóm biến số NC gồm 05 nhóm biến số chính:

- Nhóm 1: Thông tin cá nhân của đối tượng NC – 04 biến số

- Nhóm 2: Thực hành VST – 04 biến số

- Nhóm 3: Các phương tiện VST – 03 biến số

- Nhóm 4: Các biến thông tin định tính – 05 biến số

Phương pháp phân tích số liệu

Nghiên cứu định lượng sẽ thu thập số liệu và nhập liệu bằng Epi data 3.1, sau đó xử lý bằng SPSS 16.0 Các phương pháp thống kê được sử dụng bao gồm kiểm định chi-square và t-test để phân tích mối liên quan giữa tuân thủ và các yếu tố nhân khẩu học, cũng như đánh giá sự khác biệt trước và sau can thiệp.

Nghiên cứu định tính: sẽ được gỡ băng, mã hóa theo chủ đề và trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu.

Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành sau khi nhận được sự đồng ý từ Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng và sự chấp thuận của ban giám đốc khu dịch vụ chất lượng cao Đồng Nai.

Nghiên cứu sẽ được thực hiện dựa trên sự tự nguyện của các đối tượng tham gia Những đối tượng đồng ý hợp tác sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích của cuộc điều tra trước khi tham gia phỏng vấn và thảo luận Tất cả thông tin thu thập được sẽ chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

Kết quả sẽ được gửi đến đơn vị để đưa ra quyết định thích hợp, nhằm nâng cao tình hình kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong khu vực dịch vụ chất lượng cao tại tỉnh Đồng Nai.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Thông tin chung Số lượng (N = 182) Tỷ lệ (%)

Trình độ Bác sĩ 43 23,6 Điều dưỡng/ NHS 139 76,4

Nghiên cứu được thực hiện tại 05 khoa với 182 đối tượng, bao gồm 43 bác sĩ (23,6%) và 139 điều dưỡng cùng nữ hộ sinh (76,4%) Trong số đó, nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn với 65,9%, trong khi nam giới có 62 người (34,1%) Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người dưới 30 tuổi, chiếm 57,1% (104 người), tiếp theo là nhóm tuổi từ 30-40 với 50 người (27,5%) và nhóm trên 40 tuổi có 28 người (15,4%).

Thâm niên làm việc dưới 5 năm chiếm tỷ lệ cao 90,1%; trên 5 năm là 9,9%

Tình hình tuân thủ vệ sinh tay trước can thiệp

Theo WHO và BYT, để đánh giá thực trạng VST sử dụng 2 chỉ số:

Tỷ lệ tuân thủ VST (%) được tính bằng tổng số tình huống có VST trên tổng số tình huống cần VST [55]

Tỷ lệ tuân thủ VST đúng quy trình (%) được tính bằng tổng số tình huống VST đúng quy trình trên tổng số tình huống có VST

Bảng 3.2 Tỷ lệ tuân thủ VST theo khoa

Tình huống tuân thủ VST (N/%) Tuân thủ VST Không tuân thủ VST

Trong tổng số 182 tình huống cần vệ sinh tay trước can thiệp, khoa Sản ghi nhận 70 tình huống với tỷ lệ tuân thủ đạt 78,6% Khoa Phụ khoa có 72 tình huống nhưng chỉ đạt tỷ lệ tuân thủ 68,7% Khoa Nội có 24 tình huống với tỷ lệ tuân thủ 75% Khoa Ngoại Tổng hợp dẫn đầu với tỷ lệ tuân thủ cao nhất là 93,3%, tiếp theo là khoa Ngoại Chấn thương với 84,6% Tổng tỷ lệ tuân thủ cho tất cả các tình huống cần vệ sinh tay là 79,7%.

Bảng 3.3 Tỷ lệ tuân thủ VST theo chỉ định chuyên môn trước can thiệp

Tình huống tuân thủ VST (N/%) Tuân thủ Không tuân thủ

Trước thao tác vô khuẩn 27 24 (88,9) 03 (11,1)

Sau tiếp xúc môi trường 11 09 (81,8) 02 (18,2)

Trong nghiên cứu về việc tuân thủ vệ sinh tay theo chỉ định chuyên môn, tỷ lệ tuân thủ ở nhóm trước tiếp xúc bệnh nhân chỉ đạt 32,4% trong 37 tình huống Ngược lại, nhóm sau tiếp xúc dịch có tỷ lệ tuân thủ cao nhất, đạt 94,4% với 71 tình huống Tỷ lệ tuân thủ ở nhóm sau tiếp xúc bệnh nhân là 91,6% trong tổng số 36 tình huống Đối với nhóm sau tiếp xúc môi trường, có 11 tình huống cần vệ sinh tay, đạt tỷ lệ 81,8%.

Bảng 3.4 Tỷ lệ tuân thủ đúng quy trình VST theo chỉ định chuyên môn trước can thiệp

Tình huống tuân thủ VST (N/%)

Tổng Tuân thủ đúng Tuân thủ sai

Trước tiếp xúc BN 11 (91,7) 01 (8,3) 12 (100,0) Trước thao tác vô khuẩn 09 (37,5) 15 (62,5) 24 (100,0)

Sau tiếp xúc môi trường 09 (100,0) 0 (0) 09 (100,0)

Tỷ lệ tuân thủ quy trình vệ sinh tay trước can thiệp đạt 64,8%, với mức cao nhất là 91,7% ở nhóm trước tiếp xúc bệnh nhân và thấp nhất là 37,5% ở nhóm trước thao tác vô khuẩn Tỷ lệ tuân thủ sau tiếp xúc bệnh nhân chỉ đạt 48,5%, trong khi nhóm tiếp xúc môi trường có tỷ lệ tuân thủ 100%.

Bảng 3.5 Tỷ lệ tuân thủ theo thời điểm quan sát

Trong giờ hành chính (N/%) Ngoài giờ hành chính

Tuân thủ đúng Tuân thủ sai Tuân thủ đúng

Trước tiếp xúc BN 06 (100,0) 0 (0) 05 (83,3) 01 (16,7) Trước thao tác vô khuẩn 05 (41,7) 07 (58,3) 04 (33,3) 08 (66,7) Sau tiếp xúc dịch 25 (73,5) 09 (26,5) 24 (72,7) 09 (27,3) Sau tiếp xúc BN 10 (55,6) 08 (44,4) 06 (40,0) 09 (60,0) Sau tiếp xúc môi trường 04 (100,0) 0 (0) 05 (100) 0 (0)

Tỷ lệ tuân thủ đúng trong giờ hành chính đạt 32,4%, trong khi ngoài giờ hành chính là 38,0%, cho thấy sự chênh lệch không đáng kể Đặc biệt, tỷ lệ tuân thủ sai trong nhóm thao tác vô khuẩn là cao nhất, với 58,3% trong giờ hành chính và 66,7% ngoài giờ hành chính.

Bảng 3.6 Thực trạng trang thiết bị VST trước can thiệp

Hộp đựng khăn lau tay vô khuẩn (hộp)

Dung dịch sát khuẩn tay nhanh

Trang thiết bị VST được phân bổ theo chỉ tiêu định kỳ, dẫn đến tình trạng thừa thiếu trong các khoa Đặc biệt, hộp đựng khăn lau vô khuẩn không được sử dụng, thay vào đó là khăn giấy cá nhân Chúng tôi sẽ tập trung vào việc bổ sung hoặc loại bỏ những yếu tố này trong quá trình can thiệp.

Bảng 3.7 Kết quả phết mẫu vi sinh vật bàn tay NV trước can thiệp

Kết quả phết mẫu (N/%) Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu

Trước thao tác vô khuẩn 03 (50,0) 07 (50,0)

Sau tiếp xúc môi trường 07 (80,0) 03 (20,0)

Trước khi can thiệp, chúng tôi đã phối hợp với khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn để tiến hành phết mẫu vi sinh vật trên tay nhân viên tại 05 khoa nghiên cứu Tổng số mẫu phết tay là 50, trong đó có 28 mẫu (56,0%) không đạt yêu cầu Vi khuẩn được phát hiện trên tay nhân viên chủ yếu là Staphylococci coagulase (-).

Thực hiện chương trình can thiệp vệ sinh tay

Dựa trên tình hình thực tế của đơn vị và tham khảo từ một số bệnh viện khác như Bệnh viện tỉnh Khánh Hoà, chúng tôi đã xác định chương trình can thiệp bao gồm các hoạt động sau:

Phòng Điều dưỡng đã phối hợp với khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn để tham mưu ban giám đốc ban hành quy định vệ sinh tay (VST), được sự ủng hộ từ lãnh đạo Quy định này đã được thông báo đến toàn bộ khoa phòng và dán tại bảng thông tin chung của viện, giúp nhân viên KSNK và các khoa phòng triển khai công tác VST một cách thuận lợi và hiệu quả hơn Kết quả phỏng vấn lãnh đạo khu vực dịch vụ cho thấy công tác tuân thủ VST nhận được sự quan tâm từ cấp trên.

Theo tôi, cần phải thực hiện triệt để và nghiêm túc, không chỉ dừng lại ở việc ban hành văn bản Nếu bàn tay không được vệ sinh sạch sẽ, sẽ dẫn đến lây nhiễm chéo và gây bệnh cho nhiều người.

Bệnh nhân HUPH đang đối mặt với gánh nặng điều trị gia tăng do nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện Để nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành vệ sinh tay (VST) cho nhân viên y tế, đã tổ chức 02 lớp đào tạo với 25 bác sĩ và 100 điều dưỡng Hoạt động này nhằm cải thiện thái độ đối với công tác VST Ngày hội rửa tay được tổ chức với các hoạt động vui chơi và thi đấu như nhảy flashmob và rung chuông vàng để nâng cao nhận thức về kiểm soát nhiễm khuẩn Chương trình tập huấn với phương pháp học tập sinh động đã thu hút sự tham gia của nhân viên y tế và đạt được những thành tựu nhất định Một nhân viên đã chia sẻ kinh nghiệm tích cực từ việc tham gia thảo luận nhóm.

Cuộc thi nhảy và rửa tay mang lại sự hào hứng cho người tham gia, kết hợp giữa học hỏi và giải trí thông qua trò chơi "Rung chuông vàng" Đây là một hình thức hiệu quả để tiếp thu kiến thức Do đó, nên tổ chức cuộc thi này hàng năm.

Tăng cường kiểm tra giám sát và lập kế hoạch giám sát định kỳ, đồng thời thực hiện nghiêm túc các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tại các khoa Chúng tôi tiến hành giám sát chéo và tổng kết hàng tuần, thực hiện phết mẫu tay ngẫu nhiên của nhân viên y tế trước và sau khi can thiệp Qua đó, đánh giá hiệu quả của các quy chế và tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức.

Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn thực hiện việc giám sát và phối hợp với khoa hóa sinh - vi sinh để tiến hành phết vi sinh trên tay nhân viên y tế, nhằm đánh giá mức độ nhiễm khuẩn.

Bổ sung trang thiết bị phục vụ cho công tác VST: bổ sung dung dịch VST tại

Số lượng khoa đã tăng từ 50 lên 149 lọ, trong khi dung dịch sát khuẩn cũng tăng từ 50 lên 83 lọ Bảng quy trình đã được mở rộng từ 20 bảng lên 115 bảng Trước can thiệp, không có hộp khăn lau vô khuẩn, nhưng sau can thiệp đã bổ sung thêm 85 hộp.

Chương trình can thiệp diễn ra từ ngày 01/05/2017 đến 15/06/2017, tập trung vào việc tập huấn, giám sát, thi đua và trang thiết bị Sau giai đoạn này, chương trình được duy trì và quản lý bởi khoa KSNK.

Đánh giá kết quả can thiệp Vệ Sinh Tay

Bảng 3.8 Kết quả phết mẫu vi sinh vật bàn tay NV sau can thiệp

Kết quả phết mẫu (N/%) Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu

Trước thao tác vô khuẩn

Sau tiếp xúc môi trường 08 (80,0) 02 (20,0)

Sau can thiệp, tỷ lệ mẫu vi sinh vật bàn tay nhân viên đạt yêu cầu tăng lên 76%, trong khi tỷ lệ không đạt yêu cầu giảm xuống còn 24,0% Nhóm trước thao tác vô khuẩn có tỷ lệ bàn tay không đạt yêu cầu cao nhất, đạt 40,0%.

Bảng 3.9 Tỷ lệ tuân thủ VST theo khoa sau can thiệp

Tình huống tuân thủ VST (N/%)

Sau can thiệp, tỷ lệ tuân thủ đã tăng từ 79,7% lên 91,8%, với hầu hết các khoa đạt tỷ lệ tuân thủ trên 90% Khoa Ngoại Tổng hợp ghi nhận tỷ lệ tuân thủ cao nhất là 96,2%, trong khi Khoa Phụ khoa có kết quả thấp nhất với 87,5% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê trước và sau can thiệp (p < 0,05).

Bảng 3.10 Tỷ lệ tuân thủ VST theo chỉ định chuyên môn sau can thiệp

Tuân thủ VST Trước can thiệp P

Trước tiếp xúc BN 11 (91,7) 24 (77,4) < 0,05 Trước thao tác vô khuẩn 09 (37,5) 30 (100,0) < 0,05

Sau tiếp xúc môi trường 09 (100,0) 12 (85,7) > 0,05

Kết quả phân tích tuân thủ VST cho thấy nhóm trước thao tác vô khuẩn có sự cải thiện rõ rệt, từ 37,5% lên 100% Các nhóm khác cũng có sự tiến bộ, tuy nhiên, nhóm sau tiếp xúc môi trường mặc dù tăng nhưng vẫn giảm từ 100% xuống 85,7% so với tỷ lệ trước can thiệp Tương tự, nhóm trước tiếp xúc bệnh nhân cũng ghi nhận tỷ lệ thấp hơn trước can thiệp với 77,4% Sự khác biệt giữa trước và sau can thiệp là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Bảng 3.11 Tỷ lệ tuân thủ đúng VST theo chỉ định chuyên môn sau can thiệp

Trước thao tác vô khuẩn 09 (37,5) 24 (80,0)

Sau tiếp xúc môi trường 09 (100,0) 12 (100,0)

Trước can thiệp, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay đúng kỹ thuật là 64,8%, nhưng sau can thiệp, tỷ lệ này đã tăng lên 94,0% Nhóm trước thao tác vô khuẩn có sự cải thiện từ 37,5% lên 80,0%, mặc dù vẫn thấp hơn so với các nhóm khác Đặc biệt, nhóm sau tiếp xúc bệnh nhân ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể, từ 48,5% lên 97,1%, trong khi nhóm có tỷ lệ tuân thủ cao nhất là sau tiếp xúc môi trường với 100,0%.

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ tuân thủ VST theo thời điểm quan sát sau can thiệp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 43 bác sĩ và 139 ĐD-NHS, tỷ lệ tuân thủ ở nhóm đối tượng BS là 93%, nhóm ĐD-NHS vẫn còn 09% chưa tuân thủ

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tuân thủ đúng VST sau can thiệp theo tính chất công việc

Về tuân thủ đúng, 93% nhóm đối tượng là BS tuân thủ đúng, nhóm ĐD/NHS có 06% chưa tuân thủ đúng quy trình vệ sinh tay thường qui

Bảng 3.12 Tỷ lệ tuân thủ đúng VST theo thời điểm quan sát sau can thiệp

Trước can thiệp (N/%) Sau can thiệp (N/%) Trong giờ

Trước tiếp xúc BN 06 (100,0) 05 (83,3) 10 (90,9) 13 (100,0) Trước thao tác vô khuẩn 05 (41,7) 04 (33,3) 11 (78,6) 13 (81,3) Sau tiếp xúc dịch 25 (73,5) 24 (72,7) 32 (94,1) 33 (100,0) Sau tiếp xúc BN 10 (55,6) 06 (40,0) 19 (100,0) 14 (93,3) Sau tiếp xúc môi trường 04 (100,0) 05 (100) 4 (100,0) 8 (100,0)

Trước can thiệp, tỷ lệ tuân thủ đúng trong giờ hành chính đạt 67,6%, nhưng sau can thiệp đã tăng lên 92,7% Tỷ lệ thực hiện thao tác vô khuẩn trước can thiệp chỉ đạt 41,7%, và mặc dù có sự cải thiện sau can thiệp, nhưng vẫn thấp hơn so với các nhóm chỉ định chuyên môn khác, với tỷ lệ 78,6%.

Tuân thủ quy trình vệ sinh tay ngoài giờ hành chính đã cải thiện đáng kể, từ 62,0% lên 95,3% Sự tăng trưởng mạnh nhất diễn ra ở hai nhóm: trước thao tác vô khuẩn (tăng từ 33,3% lên 81,3%) và sau tiếp xúc với bệnh nhân (tăng từ 40% lên 93,3%) Nhiều nhân viên y tế cho biết việc thực hành rửa tay đúng kỹ thuật không khó, nhưng đôi khi họ lười biếng và nghĩ rằng chỉ cần rửa tay một lần là đủ.

Bệnh nhân thường cảm thấy quá tải và không kịp thời gian, mặc dù họ biết rằng việc rửa tay là cần thiết Tuy nhiên, nếu chỉ thăm khám mà không tiếp xúc với dịch tiết, họ thường lười biếng trong việc sát khuẩn nhanh.

Tương tự một số bác sĩ cho biết có rửa tay bằng dung dịch sát khuẩn nhưng thường thực hiện sau một buổi khám bệnh:

Trong suốt buổi sáng, tôi đã khám bệnh cho nhiều bệnh nhân, và mặc dù số lượng ca bệnh đông, nhưng mỗi khi hoàn thành một ca, tôi lại phải rửa tay, khiến thời gian trôi qua nhanh chóng Trong quá trình thăm khám, tôi luôn đeo găng tay khi gặp các trường hợp có nguy cơ, vì vậy không có gì phải lo lắng.

Bảng 3.13 Số lượng TTB vệ sinh tay sau can thiệp

Trang thiết bị VST Bồn rửa tay khu vực rửa tay của NVYT (cái)

Hộp đựng khăn lau tay vô khuẩn (hộp)

Dung dịch sát khuẩn tay nhanh

Trước Sau Trước Sau Trước Sau Trước Sau Trước Sau

Do điều kiện của cơ quan, chúng tôi không thể lắp đặt thêm bồn rửa tay, nhưng đã thay thế khăn tay cá nhân bằng hộp đựng khăn lau tay vô khuẩn để giảm thiểu nguồn vi khuẩn Bảng quy trình vệ sinh tay (VST) không chỉ được dán ở khu vực của nhân viên y tế mà còn được bổ sung tại các bồn rửa tay của bệnh nhân trong phòng bệnh và tại nơi sát khuẩn tay nhanh khi thực hiện thủ thuật, nhằm đảm bảo dễ quan sát và tuân thủ quy định vệ sinh.

Lãnh đạo đơn vị, khoa KSNK và phòng ĐD đã thể hiện quyết tâm trong việc tăng cường dung dịch rửa và sát khuẩn tay Số lượng dung dịch sát khuẩn được bổ sung trên các xe tiêm, giúp nhân viên y tế thao tác nhanh chóng mà không lo thiếu Dung dịch rửa tay cũng được bổ sung kịp thời khi hết, đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế.

Phong trào VST đang ở thời điểm mạnh mẽ nhất, với sự phối hợp chặt chẽ từ hệ thống mạng lưới KSNK tại khoa nhằm giám sát và thực hiện một cách nghiêm túc, không chỉ mang tính hình thức.

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tuân thủ đúng VST với các yếu tố nhân khẩu học

P Trước can thiệp Sau Can thiệp

Bác sĩ 36 (24,8) 40 (24,0) Điều dưỡng-NHS 109 (75,2) 127 (76,0)

Trước can thiệp, tỷ lệ tuân thủ ở nhóm có thâm niên dưới 5 năm đạt 95,9%, trong khi nhóm trên 5 năm chỉ là 4,1% Sau can thiệp, tổng số trường hợp tuân thủ tăng lên 167, với nhóm thâm niên dưới 5 năm vẫn duy trì tỷ lệ tuân thủ cao hơn.

HUPH tượng có thâm niên trên 5 năm cũng có những cải thiện và tuân thủ tăng từ 4,1% trước

CT lên 7,8% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm thâm niên dưới và trên

Trong 5 năm, mức độ tuân thủ đạt được có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) So sánh mức độ tuân thủ trước và sau can thiệp theo nhóm tuổi cho thấy tỷ lệ tuân thủ giảm dần theo độ tuổi, với nhóm người cao tuổi có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn.

Nhóm tuổi 30 có mức độ tuân thủ cao nhất đạt 56,3%, trong khi nhóm trên 40 tuổi chỉ đạt 15,6% Sự khác biệt về mức độ tuân thủ giữa các nhóm tuổi trước và sau can thiệp là có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05.

Nhóm làm việc có thâm niên dưới 5 năm và dưới 30 tuổi thể hiện tinh thần học hỏi, nhưng do thời gian làm việc chưa lâu, họ vẫn lo lắng về việc bị đánh giá năng lực nếu không hoàn thành tốt nhiệm vụ.

BÀN LUẬN

Khảo sát trước can thiệp

Vệ sinh tay là một thao tác đơn giản nhưng mang lại hiệu quả lớn trong việc phòng ngừa nhiễm khuẩn tại bệnh viện Theo WHO, hàng năm có hàng trăm triệu bệnh nhân nhập viện và có nguy cơ mắc các nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế, dẫn đến gia tăng tình trạng bệnh, chi phí điều trị cao và thậm chí tử vong Hơn một nửa các nhiễm trùng này có thể được phòng ngừa thông qua việc thực hiện vệ sinh tay đúng cách vào những thời điểm quan trọng trong quá trình chăm sóc Do đó, việc tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế là rất quan trọng trong thực hành chăm sóc bệnh nhân.

Theo một số tác giả, hầu hết các bệnh viện nhận thức được tầm quan trọng của việc rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn trong công tác phòng chống lây lan bệnh lây nhiễm Tuy nhiên, nhiều bác sĩ chỉ rửa tay qua loa hoặc không sử dụng xà phòng, và một số bác sĩ không mang găng tay đúng quy định khi khám bệnh Tại khu vực dịch vụ chất lượng cao Đồng Nai thuộc bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai, quy trình kiểm soát dịch bệnh và chất lượng được lãnh đạo nghiêm túc giám sát Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trước can thiệp đạt 79,7%, với tỷ lệ cao nhất ở khoa Ngoại Tổng hợp (93,3%) và Ngoại Chấn thương (84,6%), trong khi khoa Phụ sản có tỷ lệ thấp nhất (68,7%) Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu khác, như nghiên cứu của Dương Nữ Tường Vy (2014) tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hoà chỉ đạt 14,8%.

Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay (VST) trước can thiệp tại một số cơ sở y tế ở Việt Nam rất thấp, chỉ dao động từ 0% đến 22,1%, với trung bình là 12% theo nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự So với các nghiên cứu này, tỷ lệ tuân thủ VST trước nghiên cứu của chúng tôi đạt 79,7%, có thể do khu vực nghiên cứu là đơn vị phát triển theo định hướng bệnh viện khách sạn, nơi có cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và quy trình kỹ thuật được giám sát định kỳ Việc đầu tư vào cơ sở vật chất và nguồn nhân lực có thể là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ tuân thủ cao hơn.

Sự quan tâm của các đơn vị y tế cùng với các thông tư và quyết định của Bộ Y tế đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát nhiễm khuẩn Trong những năm gần đây, Bộ Y tế đã phát động phong trào vệ sinh tay tại bệnh viện và cộng đồng Đặc biệt, thông tư 18/2009/TT-BYT quy định rằng thầy thuốc, nhân viên y tế, học sinh và sinh viên thực tập tại các cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ quy trình rửa tay đúng chỉ định và kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

Thông tư 19/2013/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về quản lý chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại bệnh viện, đặc biệt nhấn mạnh chương trình giám sát tuân thủ vệ sinh tay Kể từ khi Bộ Y tế ban hành Tiêu chí Quản lý chất lượng bệnh viện vào năm 2013, các cơ sở y tế đã có những cải tiến đáng kể trong việc chuẩn hóa quy trình và nâng cao năng lực, bao gồm kiểm soát nhiễm khuẩn và vệ sinh tay tại 05 thời điểm quan trọng Vệ sinh tay đã trở thành một phong trào rộng rãi trong ngành y tế, với nhiều bệnh viện và trung tâm tổ chức các hoạt động như chiến dịch rửa tay 2016 tại bệnh viện đa khoa Thống Nhất tỉnh Đồng Nai, chiến dịch rửa tay tại bệnh viện Chợ Rẫy, và hội thi rửa tay tại bệnh viện quân đội 108 Một số cơ sở còn áp dụng giám sát vệ sinh tay bằng thiết bị hiện đại.

HUPH di động đã đạt được những thành tựu đáng kể nhờ vào các chính sách và quy định từ cơ quan cấp Bộ, cùng với sự quan tâm của lãnh đạo đơn vị Không chỉ khu vực dịch vụ chất lượng cao tại BV Đa Khoa Đồng Nai, mà nhiều nơi khác cũng ghi nhận sự tiến bộ Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Liên (2013), tỷ lệ tuân thủ VST tại bệnh viện Nhi đồng 2 đạt 55,3%, trong khi tại bệnh viện đa khoa tỉnh KonTum là 75%.

Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay (VST) theo chỉ định chuyên môn ở nhóm trước tiếp xúc bệnh nhân rất thấp, chỉ đạt 32,4% trong 37 tình huống, trong khi nhóm sau tiếp xúc dịch có tỷ lệ tuân thủ cao nhất là 94,4% với 71 tình huống Nhóm sau tiếp xúc bệnh nhân đạt 91,6% trong tổng 36 tình huống, và nhóm sau tiếp xúc môi trường đạt 81,8% với 11 tình huống cần vệ sinh tay Nghiên cứu cho thấy, trước can thiệp, nhân viên y tế (NVYT) có thái độ tuân thủ thực hành cao nhất trong tình huống sau tiếp xúc dịch (94,4%) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu khác, cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST trước tiếp xúc bệnh nhân thấp hơn nhiều so với sau tiếp xúc, lần lượt là 32,4% và 91,6% Theo tác giả Tạ Thị Phương, tỷ lệ tuân thủ VST trước khi chạm vào bệnh nhân là 43,4% và sau khi chạm là 65,1% Nghiên cứu của Dương Nữ Tường Vy cũng cho thấy NVYT thực hành VST sau khi tiếp xúc dịch cao nhất (45,0%) Điều này cho thấy NVYT có thể chỉ chú ý đến việc phòng ngừa phơi nhiễm cho bản thân mà quên mất việc phòng ngừa nhiễm khuẩn chéo cho bệnh nhân, một phần do ý thức cá nhân và sự hiểu biết chưa đầy đủ về tầm quan trọng của VST Cần có sự quan tâm từ lãnh đạo và tăng cường giám sát, tập huấn của khoa kiểm soát nhiễm khuẩn để nâng cao nhận thức và thái độ thực hành cho NVYT.

Trong 145 tình huống tuân thủ VST, tỷ lệ tuân thủ đúng đạt 64,8% Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu khác, mặc dù tỷ lệ tuân thủ VST cao hơn Nghiên cứu của Tạ Thị Thành tại BVĐK tỉnh Kon cũng cho thấy những kết quả tương tự.

Tỷ lệ tuân thủ quy định vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các nhóm khác nhau là 50% ở nhóm bác sĩ, 68,7% ở nhóm điều dưỡng và 44,7% ở nhóm NHS Nhiều trường hợp không tuân thủ đúng quy trình chủ yếu do bỏ qua các bước 2 và 4, do động tác khó nhớ và thói quen rửa tay không đúng cách đã hình thành từ trước Nghiên cứu của Nguyễn Thị An, Đỗ Vân Anh, Nguyễn Thị Ánh Hồng tại Bệnh viện Nhi đồng 2 (2010) cùng nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng việc vệ sinh tay không đúng kỹ thuật không loại bỏ vi khuẩn, từ đó không đảm bảo an toàn trong chăm sóc sức khỏe.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phân chia tình huống quan sát thành hai thời điểm: trong và ngoài giờ hành chính, với mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ VST.

Tỷ lệ tuân thủ đúng quy định trong giờ hành chính là 32,4%, trong khi ngoài giờ hành chính là 38,0%, cho thấy sự chênh lệch không đáng kể Đặc biệt, tỷ lệ tuân thủ sai ở nhóm trước thao tác vô khuẩn trong và ngoài giờ hành chính lần lượt là 58,3% và 66,7%, đây là điểm khác biệt trong nghiên cứu của chúng tôi so với các tác giả khác khi khảo sát vệ sinh tay vào hai thời điểm khác nhau, vì ngoài giờ hành chính, nhân viên y tế phải làm việc chỉ với nhóm nhỏ.

Trong một nhóm gồm 1-2 người, ít bị giám sát, có thể xảy ra tình trạng không tuân thủ hoặc tuân thủ không đúng quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm (VST) khi họ cảm thấy mệt mỏi Tuy nhiên, chỉ có nhóm tiếp xúc với môi trường đều tuân thủ đúng quy định ở cả hai thời điểm.

Rửa tay thường quy là bắt buộc với nhân viên y tế để phòng ngừa NKBV và bảo đảm an toàn cho bệnh nhân, nhân viên y tế và cộng đồng Việc khảo sát vệ sinh tay trước và sau khi rửa tay là cần thiết để nâng cao sự tuân thủ Sự phối hợp giữa khoa Vi sinh và khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn trong việc tầm soát vi khuẩn trên tay nhân viên y tế là điều thiết thực và khác biệt so với các nghiên cứu khác Trước can thiệp, chúng tôi đã tiến hành phết mẫu vi sinh vật trên tay nhân viên tại 05 khoa nghiên cứu, với 50 mẫu được thực hiện, trong đó có 28 mẫu (56,0%) chưa đạt yêu cầu Vi khuẩn chủ yếu được phát hiện là Staphylococci coagulase (-).

Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 vào năm 2010 cho thấy 61,6% nhân viên y tế có từ 1 đến 3 loại vi khuẩn trên tay trước khi can thiệp Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi.

Nhờ vào các văn bản quy định mới của Bộ Y tế và việc áp dụng tiêu chí quản lý chất lượng bệnh viện từ năm 2013, tỷ lệ bàn tay nhân viên y tế có vi khuẩn đã giảm so với các nghiên cứu trước Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ rửa tay vẫn chưa đạt yêu cầu do nhận thức của nhân viên, tần suất giám sát và sự thiếu hụt trang thiết bị, dung dịch sát khuẩn Trước can thiệp, mỗi khoa được trang bị 02 bồn rửa tay và 02 hộp dung dịch rửa tay, nhưng chưa có hộp đựng khăn lau tay vô khuẩn, dẫn đến việc sử dụng khăn tay cá nhân Bảng quy trình hướng dẫn vệ sinh tay được dán trên tường gần bồn rửa tay, không chỉ cho nhân viên y tế mà còn cho bệnh nhân, với hình minh họa giúp dễ dàng thực hiện theo hướng dẫn.

Kết quả sau can thiệp và một số yếu tố liên quan

Nghiên cứu đã đạt được các mục tiêu đề ra, cho thấy sự cải thiện rõ rệt về mức độ tuân thủ vệ sinh tay (VST) sau can thiệp Tuy nhiên, để duy trì và nâng cao tỷ lệ tuân thủ VST, cần có thời gian để khẳng định hiệu quả và tính bền vững của các biện pháp can thiệp Qua kết quả định tính từ lãnh đạo trung tâm, trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, bác sĩ và điều dưỡng, chúng tôi đã tổng hợp một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay và thực hiện biện pháp can thiệp.

Phòng Điều dưỡng đã phối hợp với khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn để tham mưu ban giám đốc ban hành quy định vệ sinh tay Quy định này nhận được sự ủng hộ từ lãnh đạo, góp phần nâng cao ý thức vệ sinh cho nhân viên.

KSNK và các khoa phòng đã triển khai công tác vệ sinh an toàn thực phẩm (VST) một cách thuận lợi và hiệu quả hơn Kết quả phỏng vấn lãnh đạo trung tâm cho thấy công tác tuân thủ VST nhận được sự quan tâm từ cấp trên.

Cùng với việc ban hành quy định về vệ sinh tay (VST), việc đào tạo nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành VST cho nhân viên y tế là rất quan trọng Mặc dù nhân viên y tế có thể nắm vững kiến thức, nhưng kỹ năng thực hành, đặc biệt ở bước 2 và 4 trong quy trình VST, thường gặp khó khăn và dễ bị quên Chúng tôi đã tổ chức hai lớp tập huấn về VST, nhằm cung cấp kiến thức và nhấn mạnh sự cần thiết của VST cũng như thực hành quy trình VST thường quy Mỗi lớp học có sự tham gia của 25 bác sĩ.

Chương trình 100 điều dưỡng (công văn số 221/ĐN-BVĐKT) nhằm nâng cao kiến thức và cải thiện thái độ đối với công tác vệ sinh tay (VST) Chúng tôi đã phối hợp với đoàn thanh niên và khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn để tổ chức ngày hội rửa tay, kết hợp các hoạt động vui chơi và thi đấu như nhảy flabmod và thi rung chuông vàng về kiến thức kiểm soát nhiễm khuẩn Phương pháp học tập sinh động trong chương trình tập huấn đã thu hút sự tham gia của nhiều nhân viên y tế (NVT) và đạt được một số thành tựu nhất định Kết quả cho thấy hình thức này được ủng hộ vì nội dung phong phú, không nhàm chán, tạo hứng khởi và dễ nhớ.

Việc ban hành quy định đi đôi với tăng cường kiểm tra giám sát và lập kế hoạch giám sát định kỳ là rất cần thiết và đã được thực hiện nghiêm túc Chúng tôi đã sử dụng hệ thống mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn tại các khoa và thực hiện giám sát chéo Mỗi tuần, chúng tôi tổng kết và thực hiện phết mẫu tay ngẫu nhiên của nhân viên y tế trước và sau khi can thiệp để đánh giá hiệu quả Mặc dù đã đề xuất áp dụng biện pháp chế tài, thưởng phạt trong công tác vệ sinh tay, nhưng lãnh đạo đơn vị chưa đồng ý vì lo ngại ảnh hưởng đến tinh thần làm việc của nhân viên Tuy nhiên, nếu triển khai, hiệu quả sẽ được cải thiện, vì vệ sinh tay là bảo vệ cho cả nhân viên y tế lẫn bệnh nhân.

Sau can thiệp, tỷ lệ tuân thủ trong nghiên cứu này đã tăng từ 79,7% lên 91,8%, với hầu hết các khoa đạt trên 90% Khoa Ngoại Tổng hợp ghi nhận tỷ lệ tuân thủ cao nhất là 96,2%, trong khi Khoa Phụ khoa có kết quả thấp nhất với 87,5% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) và kết quả của chúng tôi cao hơn so với một số nghiên cứu khác, chẳng hạn như nghiên cứu của Dương Nữ Tường Vy với tỷ lệ tuân thủ sau can thiệp chỉ đạt 43,9%.

Nghiên cứu của Võ Thị Hồng Thoa và Lê Thị Anh Thư tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2011 cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn chỉ đạt 70,2% Mặc dù khoa Hồi sức cấp cứu yêu cầu tuân thủ cao, kết quả lại thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Sự khác biệt này có thể do thời điểm nghiên cứu, khi mà công tác vệ sinh và kiểm soát nhiễm khuẩn chưa được chú trọng như hiện nay, cùng với tình trạng quá tải bệnh nhân tại Chợ Rẫy, ảnh hưởng đến việc tuân thủ của nhân viên y tế.

Nhóm trước thao tác vô khuẩn đã đạt được sự tuân thủ 100%, tăng từ 37,5%, trong khi các nhóm khác cũng có cải thiện tích cực Tuy nhiên, nhóm sau tiếp xúc môi trường giảm tỷ lệ tuân thủ từ 100% xuống 85,7%, và nhóm trước tiếp xúc bệnh nhân cũng giảm xuống 77,4% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Nghiên cứu tại các cơ sở y tế khác cho thấy tỷ lệ tuân thủ ở nhóm sau tiếp xúc dịch thường cao nhất, với kết quả của chúng tôi là 97,1%, so với 54,1% của Tường Vy và 73,3% của Nguyễn Thị Kim Liên Nguyên nhân tuân thủ cao ở nhóm này có thể do dịch tiết là một trong những đường lây truyền bệnh nguy hiểm, làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn cho nhân viên y tế nếu không tuân thủ vệ sinh tay đúng cách.

Việc tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh tại HUPH là rất cao, và sự tuân thủ quy định về vệ sinh tay (VST) đã được cải thiện nhờ các hoạt động can thiệp Kết quả định lượng và định tính cho thấy nhân viên y tế có thái độ tuân thủ tích cực hơn thông qua các cuộc thi và văn bản quy định Mục tiêu của chúng tôi không chỉ là tuân thủ VST mà còn thực hành đúng kỹ thuật, vì rửa tay không đúng cách sẽ không tiêu diệt hết vi khuẩn có hại và gây lãng phí phương tiện vệ sinh Sau các can thiệp, tỷ lệ tuân thủ đã tăng từ 64,8% lên 94,0% Nhiều tài liệu đã chứng minh hiệu quả của VST đúng trong việc ngăn ngừa sự lây lan mầm bệnh và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn cho bệnh nhân trong bệnh viện.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình vệ sinh tay ở nhóm bác sĩ đạt 93%, trong khi nhóm điều dưỡng/nhân viên y tế có 9% chưa tuân thủ Đặc biệt, 93% bác sĩ tuân thủ đúng quy trình, nhưng 6% điều dưỡng vẫn chưa thực hiện đúng Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Dương Nữ Tường Vy, cho rằng điều dưỡng có tỷ lệ tuân thủ cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với dịch tiết bệnh nhân Tỷ lệ tuân thủ cao ở cả hai nhóm trong nghiên cứu của chúng tôi có thể được giải thích bởi thời điểm nghiên cứu sau năm 2013, khi tiêu chí chất lượng C4.3 về rửa tay được ban hành, cùng với sự quan tâm của lãnh đạo và các can thiệp nâng cao Trước can thiệp, tỷ lệ tuân thủ trong giờ hành chính là 67,6%, tăng lên 92,7% sau can thiệp Tỷ lệ tuân thủ trước thao tác vô khuẩn cũng cải thiện từ 41,7% lên 78,6%, trong khi tuân thủ ngoài giờ hành chính tăng từ 62,0% lên 95,3%, với nhóm trước thao tác vô khuẩn tăng mạnh từ 33,3% lên 81,3%.

Tỷ lệ tuân thủ rửa tay của bệnh nhân tại HUPH đã tăng từ 40% lên 93,3% Sau can thiệp, tỷ lệ tuân thủ trong và ngoài giờ hành chính gần như tương đương, cho thấy nỗ lực của cả lãnh đạo và nhân viên y tế Mặc dù nhân viên y tế phải làm việc một mình ngoài giờ hành chính với khối lượng công việc nặng nề hơn và ít có sự kiểm tra đột xuất, tỷ lệ rửa tay đúng vẫn đạt 95,3% Điều này chứng tỏ ý thức tuân thủ của nhân viên y tế đã được chuyển thành hành động Kết quả định tính cũng cho thấy nhân viên y tế nhận thức được tầm quan trọng của vệ sinh tay và tham gia các cuộc thi rửa tay, từ đó nâng cao tinh thần và sự hào hứng trong việc thực hiện vệ sinh tay.

Thâm niên có ảnh hưởng rõ rệt đến sự tuân thủ của nhân viên y tế (NVYT) Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ tuân thủ ở NVYT có thâm niên dưới 5 năm đạt 95,9%, trong khi đó, tỷ lệ này ở nhóm thâm niên trên 5 năm chỉ là 4,1% Sau can thiệp, tổng số trường hợp tuân thủ tăng lên 167, với nhóm thâm niên dưới 5 năm vẫn duy trì tỷ lệ cao hơn Tuy nhiên, nhóm thâm niên trên 5 năm cũng cho thấy sự cải thiện, với tỷ lệ tuân thủ tăng từ 4,1% lên 7,8% Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm thâm niên (p < 0,05).

[49] cũng cho kết quả là thâm niên càng cao tỷ lệ tuân thủ càng giảm

Khi so sánh mức độ tuân thủ trước và sau can thiệp theo nhóm tuổi, tỷ lệ tuân thủ giảm dần theo độ tuổi, với nhóm dưới 30 tuổi có mức độ tuân thủ cao nhất (56,3%) và nhóm trên 40 tuổi thấp nhất (15,6%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả định tính cho thấy nhóm làm việc dưới 5 năm và nhóm dưới 30 tuổi có tinh thần học hỏi, nhưng cũng lo ngại về việc bị đánh giá năng lực nếu không tuân thủ tốt Trong khi đó, nhóm điều dưỡng có tỷ lệ tuân thủ tăng nhẹ sau can thiệp (75,2% lên 76%), trong khi nhóm bác sĩ lại giảm (p < 0,05) Về giới tính, nữ giới tuân thủ tốt hơn nam giới (p < 0,05), có thể do đặc điểm tâm lý khác nhau giữa hai giới.

HUPH cũng cẩn thận hơn nam, ngoài ra đặc điểm của ngành y tế là số lượng nữ bao giờ cũng chiếm ưu thế

Kết quả chương trình can thiệp một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ VST Tuy nhiên, việc đạt 100% tuân thủ là rất khó khăn do thiếu sự đồng ý từ lãnh đạo về khen thưởng và chế tài Ý thức thực hành của nhân viên y tế cũng đóng vai trò quan trọng; nếu không hình thành thói quen tuân thủ, việc thực hiện sẽ không bền vững Để VST trở thành phản xạ, khoa KSNK và phòng ĐD cần tăng cường kiểm tra, giám sát và đào tạo liên tục, không chỉ dừng lại sau khi can thiệp Nếu không, tỷ lệ tuân thủ VST sẽ không thể duy trì tốt.

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Thời gian xuất hiện NKBV ....................................................................... - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Sơ đồ 1.1 Thời gian xuất hiện NKBV (Trang 8)
Sơ đồ 1.1: Thời gian xuất hiện NKBV - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Sơ đồ 1.1 Thời gian xuất hiện NKBV (Trang 14)
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 3.2. Tỷ lệ tuân thủ VST theo khoa - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.2. Tỷ lệ tuân thủ VST theo khoa (Trang 44)
Bảng 3.4. Tỷ lệ tuân thủ đúng quy trình VST theo chỉ định chuyên môn - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.4. Tỷ lệ tuân thủ đúng quy trình VST theo chỉ định chuyên môn (Trang 46)
Bảng 3.5. Tỷ lệ tuân thủ theo thời điểm quan sát - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.5. Tỷ lệ tuân thủ theo thời điểm quan sát (Trang 46)
Bảng 3.6. Thực trạng trang thiết bị VST trước can thiệp - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.6. Thực trạng trang thiết bị VST trước can thiệp (Trang 47)
Bảng 3.8. Kết quả phết mẫu vi sinh vật bàn tay NV sau can thiệp - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.8. Kết quả phết mẫu vi sinh vật bàn tay NV sau can thiệp (Trang 51)
Bảng 3.10. Tỷ lệ tuân thủ VST theo chỉ định chuyên môn sau can thiệp - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.10. Tỷ lệ tuân thủ VST theo chỉ định chuyên môn sau can thiệp (Trang 52)
Bảng 3.11. Tỷ lệ tuân thủ đúng VST theo chỉ định chuyên môn sau can thiệp - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.11. Tỷ lệ tuân thủ đúng VST theo chỉ định chuyên môn sau can thiệp (Trang 54)
Bảng 3.12. Tỷ lệ tuân thủ đúng VST theo thời điểm quan sát sau can thiệp - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.12. Tỷ lệ tuân thủ đúng VST theo thời điểm quan sát sau can thiệp (Trang 56)
Bảng 3.13. Số lượng TTB vệ sinh tay sau can thiệp - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
Bảng 3.13. Số lượng TTB vệ sinh tay sau can thiệp (Trang 57)
Phụ lục 4. Bảng kiểm thực hành rửa tay thường quy - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
h ụ lục 4. Bảng kiểm thực hành rửa tay thường quy (Trang 82)
Phụ lục 5. Bảng kiểm sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
h ụ lục 5. Bảng kiểm sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn (Trang 83)
Phụ lục 6: Bảng kiểm Trang thiết bị vệ sinh tay - Đánh giá kết quả can thiệp rửa tay thường quy tại khu vực dịch vụ chất lượng cao  bệnh viện đa khoa đồng nai năm 2017
h ụ lục 6: Bảng kiểm Trang thiết bị vệ sinh tay (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w