QUAN TÀI LIỆU
Giới thiệu chung về công tác xã hội
1.1.1 Khái niệm về công tác xã hội
Công tác xã hội đã trở thành một nghề chuyên nghiệp tại nhiều quốc gia trong gần một thế kỷ qua, nhằm giải quyết các vấn đề như nghèo đói, bất bình đẳng giới và hỗ trợ những nhóm dễ bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ em đường phố và trẻ em bị lạm dụng.
Công tác xã hội, theo Hiệp hội quốc gia Nhân viên xã hội Mỹ (NASW), là một chuyên ngành nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng trong việc cải thiện hoặc phục hồi các chức năng xã hội của họ, đồng thời tạo ra những điều kiện thuận lợi để đạt được các mục tiêu này.
Tại Hội nghị Quốc tế Montreal - Canada vào tháng 7/2000, Hiệp hội cán sự công tác xã hội quốc tế (IFSW) đã định nghĩa nghề công tác xã hội là một lĩnh vực thúc đẩy sự thay đổi xã hội và giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ giữa con người Nghề này nhằm tăng cường năng lực và giải phóng người dân, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của họ Công tác xã hội áp dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, tương tác giữa con người và môi trường xung quanh Nhân quyền và cân bằng xã hội được coi là những nguyên tắc cốt lõi của nghề này.
CTXH, với nhiều hình thức đa dạng, ảnh hưởng đến các tương tác phức tạp giữa con người và môi trường, giúp phát triển tiềm năng tối đa và làm phong phú đời sống Nhân viên CTXH đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới xã hội và cải thiện cuộc sống của cá nhân, gia đình, và cộng đồng mà họ phục vụ.
1.1.2 Khái niệm về công tác xã hội trong bệnh viện
CTXH trong y tế là một nhánh của công tác xã hội, thường được gọi là công tác xã hội trong bệnh viện Nhân viên CTXH làm việc tại các bệnh viện, phòng khám ngoại trú, cơ sở y tế công cộng, và các cơ sở chăm sóc dài hạn Họ hỗ trợ bệnh nhân và gia đình trong việc giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người cần trợ giúp.
HUPH thực hiện đánh giá hoạt động tâm lý xã hội của bệnh nhân và gia đình, đồng thời can thiệp khi cần thiết Can thiệp bao gồm kết nối bệnh nhân và gia đình với các nguồn lực hỗ trợ trong cộng đồng, cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý, tư vấn hỗ trợ hoặc tư vấn đau buồn, và giúp bệnh nhân mở rộng mạng lưới hỗ trợ xã hội Nhân viên CTXH tại bệnh viện thường làm việc nhóm liên ngành với các chuyên gia từ các lĩnh vực khác như y học, điều dưỡng, vật lý trị liệu, nghề nghiệp, ngôn ngữ và liệu pháp giải trí.
1.1.3 Mục đích, chức năng và nhiệm vụ của công tác xã hội a) Mục đích của công tác xã hội
Công tác xã hội nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực trong xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người, đặc biệt là các nhóm yếu thế Hoạt động này tập trung vào hai mục đích cơ bản.
- Nâng cao năng lực cho các nhóm đối tƣợng nhƣ cá nhân, gia đình và cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn
Cải thiện môi trường xã hội là cần thiết để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện hiệu quả các chức năng và vai trò của họ trong xã hội Công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc này, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững.
Chức năng phòng ngừa đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm và kiểm soát các yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến chức năng xã hội Điều này được thực hiện thông qua việc nâng cao nhận thức cho cá nhân và gia đình, giúp loại bỏ những rào cản trong quá trình phát triển xã hội.
Chức năng can thiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng vượt qua những vấn đề hiện tại, đồng thời giúp loại bỏ những khó khăn mà họ đang gặp phải Qua đó, chức năng này cũng góp phần nâng cao khả năng tự giải quyết vấn đề của từng cá nhân.
- Chức năng phục hồi: giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng khôi phục lại chức năng xã hội đã bị suy giảm [18]
Chức năng phát triển nhằm tăng cường năng lực và khả năng ứng phó với các tình huống có vấn đề, cũng như những sự việc có nguy cơ cao Điều này giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng và phát huy tính chủ động.
HUPH c) Các nhiệm vụ của công tác xã hội:
- Nâng cao năng lực, thúc đẩy khả năng tự giải quyết vấn đề của cá nhân, gia đình và cộng đồng
- Nối kết con người với hệ thống nguồn lực, dịch vụ và cơ hội trong xã hội
- Thúc đẩy sự hoạt động có hiệu quả và tính nhân văn của các hệ thống cung cấp nguồn lực và dịch vụ xã hội
- Phát triển và cải thiện chính sách xã hội [18]
1.1.4 Sự khác biệt giữa công tác xã hội và từ thiện xã hội
Hoạt động CTXH và hoạt động từ thiện xã hội có những điểm khác biệt đƣợc trình bày trong bảng 1.1 nhƣ sau:
Bảng 1.1.Sự khác biệt giữa công tác xã hội và từ thiện xã hội Hoạt động Công tác xã hội Từ thiện xã hội Động cơ giúp đỡ
- Trách nhiệm và nghĩa vụ đƣợc phân công, xác định rõ ràng
- Lấy lợi ích của đối tƣợng tác động làm trọng tâm, đảm bảo sự công bằng xã hội
- Xuất phát từ sự thương cảm, tấm lòng muốn sẻ chia Có thể mang màu sắc tôn giáo, chính trị
- Tự khẳng định mình, tạo uy tín
- Có tổ chức, có hệ thống, có tính khoa học
- Tuân thủ các nguyên tắc, kiến thức, kỹ năng và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
- Tự phát, cảm tính, thiếu tính hệ thống và chuyên nghiệp
- Dựa trên nền tảng cho và nhận là chính, làm việc thiên về cảm tính, thiếu kỹ năng
Mối quan hệ giúp đỡ
- Bình đẳng, tôn trọng, không kỳ thị, phân biệt đối xử
- Chủ thể tự quyết định, chủ động tham gia giải quyết vấn đề
- Mối quan hệ cho và nhận, có tính trên – dưới, ban phát
Hoạt động Công tác xã hội Từ thiện xã hội
- Đƣợc đào tạo bài bản, chuyên nghiệp
- Không yêu cầu chuyên môn, hoạt động dựa vào kinh nghiệm của bản thân
Kết quả của sự giúp đỡ
- Trực tiếp, lâu dài và bền vững
- Nâng cao năng lực tự ứng phó và vươn lên của đối tượng được giúp đỡ, giảm thiểu nguy cơ: dựa dẫm, ỷ lại, thụ động
- Mang tính xoa dịu, tức thời, không bền vững
- Tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến thái độ trông chờ, ỷ lại.
Sự hình thành và phát triển CTXH trong lĩnh vực y tế
1.2.1 Giới thiệu về CTXH trong lĩnh vực y tế
Các dịch vụ CTXH trong y tế nhằm mục đích sau:
Tạo sự chấp nhận và có điều chỉnh tích cực của người bệnh trong khi điều trị
Nhân viên y tế cần hiểu rõ hoàn cảnh của người bệnh để chẩn đoán nhanh chóng và chính xác, đồng thời tăng cường sự hợp tác của gia đình trong quá trình điều trị và phục hồi sức khỏe.
Tăng cường kiến thức sức khỏe cho bệnh nhân và gia đình thông qua giáo dục là rất quan trọng Việc sử dụng dịch vụ cộng đồng không chỉ hỗ trợ phục hồi mà còn giúp ngăn ngừa bệnh tật Đồng thời, cần giúp đỡ bệnh nhân và gia đình họ trong việc giải quyết các vấn đề tâm lý – xã hội khi đối mặt với bệnh tật.
Các hoạt động công tác xã hội trong lĩnh vực y tế bao gồm can thiệp khủng hoảng, đánh giá tâm lý xã hội, cung cấp dịch vụ tham vấn và hỗ trợ tinh thần, cũng như kết nối các chương trình hỗ trợ vận động chính sách và theo dõi, giám sát việc xuất viện của người bệnh.
Theo Lê Chí An và Nguyễn Thị Vân Hạnh, công tác xã hội (CTXH) trong chăm sóc sức khỏe (CSSK) cần được thực hiện một cách toàn diện, bao gồm các lĩnh vực như tại bệnh viện, trong gia đình có người bệnh và trong cộng đồng.
HUPH lĩnh vực sức khỏe công cộng [9]
Trong lĩnh vực y tế, công tác xã hội (CTXH) được triển khai tại nhiều cơ sở y tế với các định hướng và phát triển đa dạng Cụ thể, CTXH tại bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ bệnh nhân và gia đình họ.
Sự quan tâm và giúp đỡ của nhân viên y tế (NVYT) là nguồn động lực lớn cho bệnh nhân trong quá trình điều trị tại bệnh viện Tuy nhiên, hạ tầng y tế tại Việt Nam không theo kịp tốc độ tăng dân số, dẫn đến tình trạng quá tải tại các bệnh viện, làm giảm hiệu quả hỗ trợ bệnh nhân Do đó, vai trò của nhân viên công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện trở nên rất quan trọng Họ giúp bệnh nhân và gia đình hiểu rõ về bệnh tật, tư vấn các bước cần thực hiện và sử dụng kỹ năng để xác định và giải quyết các vấn đề xã hội, tài chính, tâm lý liên quan đến sức khỏe Nhân viên CTXH còn là thành viên của nhóm liên ngành, phối hợp chặt chẽ với đội ngũ y bác sĩ trong quá trình chăm sóc và điều trị, đồng thời là cầu nối giúp các nhà cung cấp dịch vụ hiểu rõ hơn về khía cạnh cảm xúc và xã hội của bệnh tật.
Khi trong gia đình có người ốm, mọi hoạt động thường xoay quanh việc chăm sóc người bệnh, dẫn đến việc tổ chức lại cuộc sống gia đình Sự hỗ trợ từ các dịch vụ cộng đồng giúp gia đình tận dụng nguồn tài nguyên chăm sóc cho người bệnh và trẻ em khuyết tật, từ đó tăng cường sự đoàn kết và tình yêu thương giữa các thành viên.
CSSK cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Các hoạt động trong CSSK cộng đồng bao gồm: hỗ trợ trẻ em và trẻ em cần bảo vệ đặc biệt, chăm sóc người khuyết tật, người cao tuổi, người nhiễm HIV/AIDS, người sử dụng ma túy, đối tượng mại dâm, và hỗ trợ gia đình.
HUPH xác định nhu cầu an sinh xã hội của người dân, đặc biệt là những người ốm đau, khuyết tật và cao tuổi, khi gia đình không thể chi trả chi phí chăm sóc y tế Thiếu sự chăm sóc cần thiết sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của họ, làm giảm khả năng đóng góp cho cộng đồng Việc phòng chống dịch bệnh và tư vấn dinh dưỡng phù hợp với tình trạng kinh tế và nguồn lực của cộng đồng là rất quan trọng để duy trì và nâng cao sức khỏe cộng đồng Nhân viên CTXH sẽ hợp tác với các chuyên gia khác để theo dõi và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, đồng thời hỗ trợ họ tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội.
1.2.2 Hoạt động CTXH trong bệnh viện của một số nước trên thế giới
Theo Trung tâm thúc đẩy nghiên cứu khoa học của Hiệp hội Quốc gia Công tác xã hội Mỹ (NASW), nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện và trung tâm y tế có vai trò quan trọng trong việc sàng lọc và đánh giá ban đầu bệnh nhân cùng gia đình họ.
Đánh giá toàn diện tâm lý xã hội của người bệnh và gia đình là rất quan trọng Hỗ trợ người bệnh và gia đình hiểu rõ về bệnh, quá trình điều trị, cũng như các tai biến có thể xảy ra nếu từ chối điều trị Cần giúp đỡ trong quá trình nhập viện, điều chỉnh tâm lý và tham gia vào quá trình điều trị Giáo dục người bệnh trở thành thành viên tích cực trong nhóm chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ giao tiếp với nhóm chăm sóc Truyền thông về các cấp độ chăm sóc y tế, bao gồm cấp cứu và chăm sóc tại nhà, cũng rất cần thiết Hỗ trợ can thiệp khi có khủng hoảng tâm lý và xác định các vấn đề tâm lý xã hội để giới thiệu tham gia trị liệu Phối hợp với người bệnh và gia đình lập kế hoạch chăm sóc, đồng thời tổ chức huy động nguồn lực cho thuốc và thiết bị y tế Cuối cùng, ủng hộ quyền chăm sóc sức khỏe của người bệnh và vận động xây dựng chính sách hỗ trợ dịch vụ xã hội cho họ.
Tại Philippines, công tác xã hội được quy định rõ ràng trong Điều 13 của Hiến pháp năm 1987, nhấn mạnh rằng "Nhà nước áp dụng tích hợp và toàn diện" để phát triển xã hội.
HUPH phát triển dịch vụ y tế nhằm cung cấp các dịch vụ xã hội với chi phí hợp lý cho mọi người Năm 1954, Chính phủ Philippines ban hành nghị định số 578 yêu cầu các bệnh viện công lập từ 100 giường trở lên phải có đơn vị y xã hội học Sứ mệnh của nhân viên công tác xã hội bao gồm: duy trì và phục hồi chức năng xã hội của bệnh nhân trong thời gian nằm viện; cung cấp dịch vụ hỗ trợ xã hội cho bệnh nhân cấy ghép nội tạng; trao quyền cho bệnh nhân tham gia vào quá trình điều trị; và lập kế hoạch giúp bệnh nhân trở lại cuộc sống bình thường, phát huy khả năng hòa nhập và đóng góp cho xã hội.
1.2.3 Hoạt động CTXH tại một số bệnh viện ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, nhiều bệnh viện tuyến trung ương đã triển khai hoạt động công tác xã hội (CTXH) với sự tham gia của nhân viên y tế và tình nguyện viên Hoạt động này nhằm hỗ trợ bác sĩ trong việc phân loại bệnh nhân, tư vấn và giới thiệu dịch vụ chuyển tiếp, cũng như chăm sóc người bệnh Những nỗ lực này giúp giảm bớt khó khăn cho bệnh nhân trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Một số mô hình CTXH đã được hình thành trong bệnh viện như phòng CTXH, phòng Công tác từ thiện, phòng Chăm sóc khách hàng, tổ Từ thiện xã hội và đơn vị Y xã hội.
Vào ngày 22/4/2015, Bộ Y tế đã tổ chức một Hội nghị trực tuyến với sự tham gia của hơn 13.000 nhân viên y tế từ trung ương đến các tỉnh, thành phố và huyện, tại 750 điểm cầu trên toàn quốc, nhằm phát động Chương trình.
Những yếu tố tác động đến kết quả hoạt động CTXH trong bệnh viện 11 1.4 Một số nghiên cứu về công tác xã hội
Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 32/2010/QĐ-Ttg phê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam, giai đoạn 2010-2020” Đây
HUPH đánh dấu một mốc quan trọng trong sự phát triển nghề công tác xã hội tại Việt Nam Kể từ thời điểm này, nhiều văn bản pháp lý đã được xây dựng và ban hành bởi các Bộ khác nhau, nhằm đưa nghề công tác xã hội vào đời sống thực tiễn Những văn bản này là nền tảng cho sự hình thành và phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế.
- Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ban hành ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển nghề CTXH ở Việt Nam, giai đoạn 2010-2020”
- Thông tƣ số 08/2010/TT-NBV ban hành ngày 25/8/2010 của Bộ Nội vụ ban hành chức danh, mã số các ngạch viên chức công tác xã hội
Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT/BTC-BLĐTBXH, ban hành ngày 26/01/2011, của liên Bộ Tài chính và Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí cho Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào ngày 25/3/2010 Quyết định này liên quan đến "Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020".
- Quyết định số 2514/QĐ-BYT ban hành ngày 15/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020”
Thông tư liên tịch số 30/2015/TTLT-BLĐTBXH-NBV, ban hành ngày 19/08/2015, quy định mã số tiêu chuẩn và chức danh nghề nghiệp cho viên chức chuyên ngành công tác xã hội, được phát hành bởi Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội và Bộ Nội vụ.
- Thông tƣ số 43/2015/TT-BYT ban hành ngày 26/11/2015 của Bộ Y tế quy định nhiệm vụ và hình thức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện
Sự ra đời đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật về công tác xã hội (CTXH) đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này tại các bệnh viện Nhờ đó, cán bộ chuyên trách có đủ thẩm quyền thực hiện công việc chuyên môn, và các phòng ban trong bệnh viện chủ động lựa chọn cán bộ tham gia phối hợp với phòng CTXH một cách chính thức Hơn nữa, các đơn vị tài trợ và thiện nguyện cũng có được một đầu mối hợp tác rõ ràng, không còn dựa vào cảm tính như trước đây.
Quyền con người trong lĩnh vực y tế bao gồm quyền được bảo vệ sức khỏe và quyền khám chữa bệnh tại bệnh viện khi ốm đau Nhân viên công tác xã hội (CTXH) tại bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người bệnh, từ việc hướng dẫn và tư vấn chính sách bảo hiểm y tế đến cung cấp dịch vụ hỗ trợ Khi người bệnh phải nhập viện, họ mong muốn được sống trong tình yêu thương của cộng đồng và nhận sự sẻ chia từ gia đình để vượt qua bệnh tật Nhân viên CTXH giúp người bệnh tham gia khám chữa bệnh hiệu quả hơn, kết nối thông tin với nhân viên y tế để cải thiện quá trình điều trị Họ cũng hỗ trợ tâm lý cho người bệnh trong những lúc khủng hoảng, hướng dẫn tuân thủ phác đồ điều trị và hỗ trợ trong quá trình nhập và xuất viện Ngoài ra, nhân viên CTXH còn tư vấn về chế độ bảo hiểm và viện phí, cũng như các dịch vụ liên quan đến người bệnh và gia đình.
Theo thống kê của ngành y tế, cả nước hiện có hơn 1000 bệnh viện với gần 300.000 giường bệnh, trong đó có 42 bệnh viện Trung ương và 348 bệnh viện tuyến tỉnh Tuy nhiên, hoạt động công tác xã hội (CTXH) tại cả ba cấp độ của ngành y tế vẫn còn thiếu sự tham gia đáng kể Việc hình thành bộ máy và hoàn thiện phương thức làm việc phù hợp với từng bệnh viện là một thách thức lớn, đòi hỏi thời gian và đầu tư từ cả bệnh viện lẫn cán bộ CTXH Điều này càng trở nên quan trọng khi hoạt động CTXH trong bệnh viện vẫn còn mới mẻ, ngay cả tại các cơ sở lớn.
1.4 Một số nghiên cứu về công tác xã hội
1.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Nhu cầu và sự phát triển không ngừng trong lĩnh vực y tế đã làm tăng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong các cơ sở y tế Năm 2003, hơn 40 triệu người Mỹ, tương đương 15% dân số, không có bảo hiểm y tế, dẫn đến sự chênh lệch trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế Mặc dù công nghệ y học đã cải thiện chất lượng cuộc sống, nhưng cũng làm gia tăng chi phí và đặt ra nhiều vấn đề đạo đức, pháp lý và xã hội Các nhân viên công tác xã hội được đào tạo để giải quyết những hệ quả tâm lý - xã hội từ hoạt động chăm sóc y tế này.
Nghiên cứu của Elizabeth Fusenig (2012) về "Vai trò của nhân viên CTXH trong phòng cấp cứu" đã phỏng vấn sâu 7 nhân viên để xác định rào cản và cách họ nhận thức vai trò của mình Kết quả cho thấy vai trò của nhân viên CTXH trong phòng cấp cứu không rõ ràng so với các nghề khác, đồng thời đề xuất nghiên cứu vai trò của họ như một giáo viên và liên lạc viên văn hóa Ngược lại, nghiên cứu của Hamilton và cộng sự (2015) khẳng định rằng nhân viên CTXH đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.
Vào năm 2009, khi so sánh hệ thống chăm sóc sức khoẻ tâm thần giữa Anh và Mỹ, Beinecke và Huxley đã chỉ ra sự khác biệt rõ rệt Ở Anh, điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ tâm thần, trong khi tại Mỹ, vai trò chủ yếu thuộc về các nhân viên công tác xã hội.
Sự khác biệt này có thể xuất phát từ hệ thống tổ chức y tế của hai quốc gia, dẫn đến chức năng, nhiệm vụ và vai trò của nhân viên y tế (NVYT) cũng khác nhau.
Nhân viên CTXH đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng, như đã được chứng minh qua mô hình chăm sóc sức khỏe tại nhà được triển khai tại một bệnh viện lớn ở New York vào năm 2011 Để đạt hiệu quả cao trong lĩnh vực này, ngoài kiến thức chuyên môn, nhân viên CTXH cần được trang bị kiến thức về tâm lý xã hội và có đạo đức nghề nghiệp cao Điều này thể hiện qua các hành động chăm sóc chu đáo, giúp người bệnh cảm thấy thoải mái và hài lòng, thay vì chỉ tập trung vào lợi nhuận.
Nhân viên CTXH đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề tâm lý – xã hội liên quan đến hoạt động chăm sóc sức khỏe Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, họ không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải có đạo đức nghề nghiệp và được trang bị thêm kiến thức về tâm lý và xã hội.
1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về CTXH trong các lĩnh vực khác nhƣ phát triển cộng đồng, hỗ trợ các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, các chủ đề hỗ trợ xã hội liên quan đến các vấn đề xã hội cũng đã đƣợc tiến hành và báo cáo Tuy nhiên, trong lĩnh vực y tế, số nghiên cứu còn ít vì mới đƣợc đề cập và triển khai trên qui mô nhỏ.Các nghiên cứu chủ yếu tập trung đánh giá về nhu cầu chăm sóc của người bệnh nội trú
Năm 2005, Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc đã hợp tác với các cơ quan như Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em, và Bộ Giáo dục và Đào tạo để thực hiện nghiên cứu về nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo cho phát triển Công tác xã hội ở Việt Nam Kết quả cho thấy lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em có nhu cầu đào tạo cao nhất (55%), tiếp theo là hôn nhân và gia đình (36%), người khuyết tật (33%), HIV/AIDS (30%) và nghèo đói (29%).
CTXH là sự thấu cảm và đạo đức, cần được thực hiện bằng cả trái tim với tình yêu nghề và con người Nghiên cứu của Vũ Thị Minh Hạnh cho thấy tình trạng quá tải tại các bệnh viện đã tạo áp lực lớn lên cán bộ y tế, làm giảm chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh Để cải thiện, một số bệnh viện đã triển khai hoạt động CTXH nhằm giảm áp lực công việc cho nhân viên y tế và hỗ trợ bệnh nhân Tuy nhiên, hoạt động CTXH đang gặp khó khăn như thiếu cơ sở pháp lý, chế độ đãi ngộ không hợp lý, và nguồn lực phụ thuộc vào từ thiện Nhu cầu phát triển nghề CTXH rất lớn, với ước tính cần trên 3000 nhân viên chuyên nghiệp và hơn 12.000 nhân viên kiêm nhiệm trên toàn quốc.
Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh, được thành lập vào ngày 20/1/1994, có nguồn gốc từ một phòng khám đa khoa có giường lưu Vào ngày 18/10/2000, theo quyết định 3639/QĐ-BYT, bệnh viện chính thức được thành lập trên cơ sở sáp nhập Phòng khám đa khoa ĐHYD và phòng khám bệnh ngoài giờ thuộc khoa Điều dưỡng.
Kỹ thuật Y học và cơ sở khám chữa bệnh nội ngoại trú thuộc Khoa Y học cổ truyền đã được nâng cấp theo quyết định 3448/QĐ-BYT của Bộ Y tế vào ngày 21/9/2009, chuyển đổi thành Bệnh viện công lập hạng 1 trực thuộc Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh Đến ngày 24/4/2013, bệnh viện đã chính thức được công nhận là bệnh viện hạng 1, hoạt động theo mô hình tiên tiến và cung cấp dịch vụ đa khoa.
Bệnh viện HUPH kết hợp với các trường và viện nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học Hiện tại, bệnh viện có 3 cơ sở với 11 phòng chức năng, 36 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, cùng 25 trung tâm và đơn vị Tính đến 31/12/2015, bệnh viện có 2.917 nhân sự, bao gồm 89 giáo sư và phó giáo sư, 64 tiến sĩ, 50 chuyên khoa 2, 300 thạc sĩ và 180 chuyên khoa 1 Với quy mô 1.000 giường bệnh và 67 phòng khám, 16 phòng mổ đạt tiêu chuẩn quốc tế, bệnh viện phục vụ khoảng 5.990 bệnh nhân ngoại trú mỗi ngày.
Nhiều bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo đang gặp khó khăn do không có bảo hiểm y tế và thiếu kinh phí điều trị Một số người có khả năng tài chính nhưng lại thiếu người thân chăm sóc, trong khi nhiều bệnh nhân khác cần được thông tin chính xác về tình trạng sức khỏe của họ và sự quan tâm từ người xung quanh Đặc biệt, những bệnh nhân là người nước ngoài hoặc đồng bào dân tộc thiểu số thường gặp rào cản ngôn ngữ và khác biệt văn hóa, ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và tiếp cận dịch vụ y tế.
Từ khi thành lập, bệnh viện đã chú trọng đến việc hỗ trợ người bệnh thông qua các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng Ban lãnh đạo đã chỉ đạo Công Đoàn, Đoàn Thanh niên và phòng Kế hoạch phát triển thực hiện nhiều chương trình như hỗ trợ viện phí cho bệnh nhân nặng và bệnh lạ có hoàn cảnh khó khăn, khám và phát thuốc miễn phí cho người dân ở vùng sâu, chăm sóc và trao nhà tình thương cho các gia đình chính sách, cùng với việc tư vấn sức khỏe cho bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính.
Năm 2009, Bệnh viện đã tiên phong triển khai mô hình “Đội thanh niên tình nguyện hỗ trợ người bệnh” trên toàn quốc Phòng Kế hoạch phát triển và Đoàn thanh niên BV, cùng với Hội sinh viên Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh, đã tích cực phối hợp để tập huấn quy trình và kỹ năng tư vấn giao tiếp, cũng như kiến thức y tế cơ bản cho các tình nguyện viên là sinh viên Mỗi buổi sáng, từ 5 giờ 30 đến 10 giờ, các tình nguyện viên đảm nhận nhiệm vụ hướng dẫn bệnh nhân quy trình khám chữa bệnh, hỗ trợ những bệnh nhân gặp khó khăn trong di chuyển, và tiếp nhận các thắc mắc cũng như góp ý từ bệnh nhân.
NB, hướng dẫn NB sử dụng thuốc, tư vấn dinh dưỡng cho NB, Mô hình này đến nay được Bộ Y tế nhân rộng trong cả nước
Sau khi Bộ Y tế ban hành Thông tư 43/2015/TT-BYT, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh đã thành lập Phòng Công tác xã hội trực thuộc, với chức năng và nhiệm vụ theo quy định của Thông tư này Phòng Công tác xã hội kế thừa hoạt động từ Phòng Kế hoạch phát triển và Bộ phận chăm sóc khách hàng.
Phòng CTXH của bệnh viện hiện có 55 cán bộ viên chức , trong đó có 01 Trưởng phòng là Cử nhân hành chính –luật, 11 nhân viên phụ trách 05 tổ công tác :
- Tổ vận động và tiếp nhận tài trợ
- Tổ hỗ trợ và chăm sóc người bệnh
- Tổ huấn luyện kiến thức về CTXH
Hiện tại, có 33 nhân viên phụ trách tiếp nhận và vận chuyển, chủ yếu đến từ Phòng CTXH, Phòng Kế hoạch phát triển, Phòng Hành chính, và Phòng Điều Dưỡng Ngoài ra, Khoa khám bệnh của bệnh viện cũng có 22 nhân viên chuyên trách chăm sóc khách hàng, hỗ trợ và đón tiếp người bệnh.
Bệnh viện có mạng lưới CTXH với 39 thành viên từ các khoa phòng, được thành lập theo quyết định số 986/QĐ-BVĐHYD ngày 17 tháng 5 năm 2016 Mạng lưới này có nhiệm vụ nắm bắt thông tin về sức khỏe và hoàn cảnh của bệnh nhân, hỗ trợ tư vấn các vấn đề liên quan đến CTXH, tâm lý, pháp lý, và giám định pháp y Ngoài ra, họ còn hướng dẫn và giới thiệu các dịch vụ khám chữa bệnh, cung cấp thông tin về chính sách và quyền lợi cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Các thành viên cũng tham gia các lớp tập huấn về kiến thức và kỹ năng CTXH, cũng như sinh hoạt định kỳ để cập nhật thông tin về các vấn đề thuộc mạng lưới CTXH.
Phòng CTXH Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh cam kết cung cấp dịch vụ y tế toàn diện, đảm bảo mỗi khách hàng nhận được sự chăm sóc tốt nhất Chúng tôi tổ chức các hoạt động kết nối và tài trợ để hỗ trợ vật chất và tinh thần cho người bệnh, đồng thời cung cấp thông tin giáo dục sức khỏe và giới thiệu hình ảnh, hoạt động của bệnh viện.
Phòng CTXH của bệnh viện HUPH đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển mối quan hệ công chúng, với tầm nhìn là nhịp cầu nhân ái kết nối bệnh viện, người bệnh và cộng đồng Mục tiêu của phòng là nâng cao chất lượng cuộc sống cho từng cá nhân và toàn xã hội Giá trị cốt lõi của Phòng CTXH bao gồm lắng nghe, thấu hiểu, chăm sóc và sẻ chia.
Mặc dù mới thành lập, Phòng CTXH đã hoạt động hiệu quả và tuân thủ đầy đủ 7 chức năng nhiệm vụ theo Thông tư 43/2015/TT-BYT Tuy nhiên, công tác đào tạo vẫn chưa phát triển, với số lượng cán bộ viên chức được cấp chứng chỉ về CTXH còn hạn chế Mặc dù số lượng cán bộ viên chức của phòng nhiều hơn so với các bệnh viện khác, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng khối lượng công việc hiện tại Ngoài ra, lực lượng tình nguyện viên còn ít và thiếu kinh nghiệm, gây khó khăn trong việc hỗ trợ người bệnh.
Hiện nay, sự quá tải tại các bệnh viện tuyến trên và áp lực công việc nặng nề đối với bác sĩ đã ảnh hưởng đến quá trình khám chữa bệnh Việc có sự tham gia của nhân viên phụ trách công tác xã hội sẽ gia tăng sự hài lòng của bệnh nhân, từ đó nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị và cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, góp phần nâng cao y đức của người thầy thuốc.
Khung lý thuyết của nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu dựa trên các văn bản sau:
Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của phòng Công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện theo thông tư số 43/2015/TT-BYT, ngày 26 tháng 11 năm 2015 Hướng dẫn này nhằm đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của phòng CTXH, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị.
2015 quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ CTXH của BV
- Đề án phát triển ngành CTXH trong y tế giai đoạn 2011 – 2020
- Thông tƣ 43/2015/TT-BYT của
- Định hướng phát triển và các quy định riêng của BV nhằm nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân
Phương thức triển khai, phối hợp và các hoạt động và hỗ trợ:
- Các khoa/ phòng trong BV: Phòng Điều dƣỡng, Phòng Hành chính, Phòng KHTH, Các Khoa lâm sàng
- Các nhà tài trợ, các tổ chức từ thiện, các tổ chức quốc tế
Nguồn lực cho hoạt động CTXH:
- Cơ sở vật chất, hạ tầng, thiết bị
Thực trạng hoạt động CTXH theo hướng dẫn Thông tƣ 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế
- Hỗ trợ, tƣ vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho NB và NNNB
- Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật
- Vận động tiếp nhận tài trợ
- Hỗ trợ nhân viên y tế
Tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm CTXH của BV
- Tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của BV tại cộng đồng
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đốitƣợngnghiêncứu
Báo cáo hoạt động của bệnh viện năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017 gồm: báo cáo chung của bệnh viện, hoạt động phòng CTXH, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên
Những đối tƣợng trong và ngoài bệnh viện có liên quan đến hoạt động CTXH của bệnh viện
- Đối với nghiên cứu định lƣợng:
+ Báo cáo của bệnh viện: được cung cấp bằng đường chính thức do các phòng chức năng của bệnh viện cung cấp
- Đối với nghiên cứu định tính: là những người được biết về nội dung, mục đích nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu Gồm những thành phần sau:
+ Đại diện Ban giám đốc BV phụ trách CTXH
+ Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, Điều dưỡng
+ Trưởng Khoa Phẫu thuật tim mạch
Người bệnh nội trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh đã trải qua các giai đoạn khám bệnh, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh, cũng như nhập viện và thực hiện các thủ tục tại các khoa liên quan Họ có hiểu biết sâu sắc về quy trình và dịch vụ của bệnh viện, do đó ưu tiên chọn những bệnh nhân sắp ra viện.
Người bệnh ngoại trú được lựa chọn từ tháng 2/2017 đến tháng 5/2017, bao gồm những bệnh nhân không nhập viện nội trú, có và không có bảo hiểm y tế.
+ Nhà tài trợ: Là những người có đóng góp cho hoạt động CTXH tại bệnh viện (đóng góp vật chất, tiền bạc hoặc hoạt động thiện nguyện, )
Những đối tượng không tham gia nghiên cứu bao gồm: những người không có mặt tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu, những người không có khả năng giao tiếp bằng lời nói, và những người không thể đọc hiểu tiếng Việt.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2017 Địa điểm: BV Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh
Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu định tính kết hợp với việc hồi cứu số liệu thứ cấp từ các báo cáo liên quan đến hoạt động khám chữa bệnh, công tác xã hội, hoạt động của công đoàn và đoàn thanh niên.
Việc thu thập số liệu định tính và định lƣợng đƣợc thực hiện đồng thời để so sánh, đối chiếu kết quả.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu định tính
Đối tượng tham gia nghiên cứu định tính bao gồm cán bộ lãnh đạo và nhân viên y tế của bệnh viện, những người tham gia vào các hoạt động công tác xã hội, các nhà hảo tâm đóng góp cho hoạt động này, cùng với bệnh nhân nội trú và ngoại trú được hưởng lợi từ các hoạt động công tác xã hội của bệnh viện.
Bảng 2.1 Số lƣợng mẫu của nghiên cứu định tính
STT Số lƣợng Số lƣợng Số lƣợng cuộc
1 Đại diện Ban giám đốc bệnh viện phụ trách hoạt động CTXH 01 người 1 cuộc PVS
2 Đại diện lãnh đạo các
Khoa/Phòng chức năng thường xuyên tham gia hoạt động CTXH
(Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, Trưởng phòng Điều Dưỡng,
Trưởng Khoa Phẫu thuật tim mạch)
3 Đại diện các Bác sĩ tại Khoa 03 người 3 cuộc PVS
STT Số lƣợng Số lƣợng Số lƣợng cuộc
Khám bệnh, Khoa lâm sàng(1 Bs
Khoa Khám bệnh, 1 BS Khoa
Chấn thương chỉnh hình, 1 BS
Khoa Phẫu thuật tim mạch)
4 Đại diện Điều dƣỡng, Kỹ thuật viên, nhân viên (1 KTV Khoa
Xét nghiệm, 1 ĐD Khoa Gây mê hồi sức, 1 ĐD Khoa khám bệnh,
5 Đại diện Nhân viên phòng
CTXH (1 Cử nhân Điều dƣỡng, 1
Cử nhân quản lý BV)
6 Đại diện NB/NNNB ngoại trú có
7 Đại diện NB/NNNB ngoại trú không có BHYT 02 người 2 cuộc PVS
8 Đại diện NB/NNNB nội trú 04 người 4 cuộc PVS
9 Đại diện nhà hảo tâm 02 người 2 cuộc PVS
10 Thảo luận nhóm NB/NNNB
Khoa phẫu thuật Tim Mạch 07 người 1 cuộc TLN
KHTH, 2 Điều dƣỡng, 2 Kỹ thuật viên)
36 người 23 cuộc PVS và 2 TLN
Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu viên đã sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích bằng cách tiếp cận ban đầu thông qua phòng CTXH và xin ý kiến chỉ đạo từ Lãnh đạo BV Sau đó, NCV đã tiếp xúc trực tiếp với nhân viên y tế Đối với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, NCV đã làm việc với Điều dưỡng Trưởng Khoa để được giới thiệu những đối tượng phù hợp cho phỏng vấn Khi đã tiếp cận được đối tượng cần phỏng vấn, nghiên cứu viên mời họ tham gia nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn với những người đồng ý.
Phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) là hai phương pháp chính được áp dụng trong nghiên cứu, do NCV phối hợp với CTV thực hiện trong khoảng thời gian từ 30 đến 60 phút Quá trình này được ghi chép và ghi âm (nếu có sự đồng ý của đối tượng) với sự hỗ trợ của bộ công cụ hướng dẫn PVS, TLN cho từng nhóm đối tượng Trước khi tiến hành, các CTV đã được tập huấn về cách tiếp cận và phỏng vấn Bộ công cụ nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết và đã được thử nghiệm trước khi thu thập thông tin Thông tin sẽ được thu thập cho đến khi NCV nhận thấy đã đạt được sự bão hòa.
23 cuộc PVS (23 người) và 2 cuộc TLN (02 người) hoạt động CTXH của bệnh viện
Bảng 3.2 Các chủ đề của nghiên cứu định tính
STT Các chủ đề Định nghĩa Phương pháp thu thập
Hỗ trợ, tƣ vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh
Các đối tượng nghiên cứu đã đưa ra ý kiến về kết quả đạt được, nhu cầu thực tế, cũng như những khó khăn và thuận lợi trong các hoạt động hỗ trợ và tư vấn giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh và người nhà bệnh nhân trong quá trình khám chữa bệnh.
Thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật
Các đối tượng nghiên cứu đã đưa ra ý kiến về hiệu quả của công tác truyền thông và giáo dục pháp luật thông qua các kênh truyền thông đại chúng Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của hình thức tổ chức, tần suất triển khai, nhu cầu của đối tượng, cũng như những khó khăn và thuận lợi trong hoạt động này.
3 Vận động tiếp nhận tài trợ
Các đối tượng nghiên cứu đã đưa ra ý kiến về hoạt động vận động tiếp nhận tài trợ, bao gồm hình thức hoạt động, nguồn kinh phí, cũng như những khó khăn và thuận lợi trong quá trình này.
Hỗ trợ nhân viên y tế
Các đối tượng nghiên cứu đã đưa ra ý kiến về hiệu quả của hoạt động hỗ trợ nhân viên y tế, nhu cầu của họ đối với hoạt động này, cũng như những khó khăn và thuận lợi mà họ gặp phải.
Các đối tượng nghiên cứu đã đưa ra ý kiến về hoạt động đào tạo công tác xã hội (CTXH) tại bệnh viện, bao gồm hiệu quả của công tác đào tạo, hình thức tổ chức, nhu cầu, cũng như những khó khăn và thuận lợi trong quá trình này.
CTV làm CTXH của bệnh viện
Các đối tượng nghiên cứu đã đưa ra ý kiến về hiệu quả của hoạt động tổ chức đội ngũ CTV, nhấn mạnh nhu cầu thực tiễn và các góp ý nhằm phát triển hoạt động này, đồng thời chỉ ra những khó khăn và thuận lợi trong quá trình thực hiện.
Tổ chức các hoạt động từ thiện,
CTXH của bệnh viện tại cộng đồng
Là ý kiến của đối tƣợng nghiên cứu về hình thức triển khai, hiệu quả của hoạt động từ thiện, nhu cầu, khó khăn, thuận lợi
Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo của Phòng Hành chính, Phòng CTXH, Công đoàn và Đoàn thanh niên, được tổ chức thành các biến số nghiên cứu trong bảng kiểm thu thập số liệu Các nhóm biến số bao gồm: hỗ trợ và tư vấn giải quyết vấn đề công tác xã hội cho người bệnh và NNNB trong quá trình khám và chữa bệnh; thông tin, truyền thông và giáo dục pháp luật; vận động tiếp nhận tài trợ; hỗ trợ nhân viên y tế; đào tạo và bồi dưỡng; tổ chức đội ngũ cộng tác viên làm công tác xã hội tại bệnh viện; và tổ chức các hoạt động từ thiện, công tác xã hội của bệnh viện tại cộng đồng.
2.5.3 Các biến số nghiên cứu với biến định lƣợng
Bảng 4.3 Các Biến số của nghiên cứu định lƣợng
STT Biến số Định nghĩa Phân loại biến
Hoạt động tƣ vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho
NB/NNNB trong quá trình khám chữa bệnh
Trong hai năm qua, số lượng các hoạt động tư vấn nhằm giải quyết các vấn đề về công tác xã hội cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh đã được triển khai đáng kể.
Rời rạc Số liệu thứ cấp
Hoạt động thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật
Là số lƣợng các hoạt động thông tin, truyền thông và phổ biến, giáo dục pháp luật đƣợc triển hai trong 2 năm 2016,
Rời rạc Số liệu thứ cấp
Hoạt động vận động tiếp nhận tài trợ
Là số tiền, số lƣợng hiện vật vận động đƣợc trong 2 năm
Rời rạc Số liệu thứ cấp
4 Là số lƣợng các hoạt động hỗ Rời rạc Số liệu
STT Biến số Định nghĩa Phân loại biến
Hỗ trợ NVYT trợ NVYT đƣợc triển khai thứ cấp
Hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng
Là số lƣợng các khóa đào tạo, bồi dƣỡng, tập huấn đƣợc triển khai trong 2 năm 2016, 2017
Rời rạc Số liệu thứ cấp
Hoạt động tổ chức đội ngũ CTV làm CTXH của bệnh viện
Là số lƣợng CTV và số lƣợng các hoạt động đƣợc CTV triển khai trong 2 năm 2016, 2017
Rời rạc Số liệu thứ cấp
Hoạt động tổ chức các hoạt động từ thiện, CTXH của bệnh viện tại cộng đồng
Là số lƣợng các hoạt động từ thiện, CTXH đƣợc triển khai tại cộng đồng trong 2 năm
Rời rạc Số liệu thứ cấp
2.5.4 Kỹ thuật thu thập thông tin
- Tiến hành TLN và PVS theo các hướng dẫn TLN và PVS
- Mục tiêu: Thu thập đƣợc thông tin cần ở các nhóm đối tƣợng
+ Mỗi cuộc TLN, PVS đƣợc tiến hành bởi: NCV đảm nhiệm vai trò phỏng vấn và
01 ĐTV đảm nhiệm vai trò ghi chép và quan sát Các cuộc PVS và TLN đƣợc ghi âm
+ NCV đã tiến hành gỡ băng, ghi chép và tổng hợp các thông tin cần thiết theo từng chủ đề của nghiên cứu định tính
Phương pháp quan sát tham dự cho phép NCV ghi chép sự thay đổi thái độ của đối tượng trong quá trình phỏng vấn, từ đó thăm dò và hiểu rõ hơn về suy nghĩ của họ.
Phương pháp phân tích số liệu
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua việc ghi âm toàn bộ các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) với sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu Sau mỗi cuộc phỏng vấn, nội dung được đánh máy và lưu trữ dưới dạng văn bản Nghiên cứu viên tiến hành mã hóa thông tin theo các nội dung nghiên cứu, so sánh các chủ đề giữa các đối tượng và tổng hợp để rút ra kết quả nghiên cứu.
Phần mềm Microsoft Office Excel 2010 đƣợc sử dụng để nhập và tổng hợp số liệu thứ cấp từ bảng kiểm về hoạt động CTXH.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội (CTXH) tại bệnh viện, đồng thời đưa ra các đề xuất để triển khai hiệu quả hoạt động CTXH Tất cả thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo quyết định số 041/2017/YTCC-HD3 ngày 10 tháng 3 năm 2017, và nhận được sự ủng hộ từ Ban Lãnh đạo bệnh viện.
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động công tác xã hội (CTXH) trong bệnh viện (BV) tại Việt Nam còn khá mới mẻ, do đó, nội dung và các câu hỏi phỏng vấn sâu (PVS), thảo luận nhóm (TLN) cần phải phù hợp với hiểu biết của đa số người tham gia Để giải quyết vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã thực hiện điều tra thử nghiệm và tham khảo ý kiến từ các chuyên gia nhằm điều chỉnh cho phù hợp nhất.
Việc thu thập thông tin định tính gặp nhiều khó khăn do bệnh nhân (NB) không có đủ thời gian để tham gia phỏng vấn và thông tin nhạy cảm khiến họ không thể chia sẻ hoàn toàn suy nghĩ của mình Nhóm nghiên cứu đã khắc phục vấn đề này bằng cách phỏng vấn NB ngay sau khi họ hoàn tất quá trình khám chữa bệnh hoặc khi họ sắp ra viện, đồng thời hẹn gặp lại khi NB có thời gian để trả lời.
Chủ đề nghiên cứu này chƣa đƣợc thực hiện nhiều, kể từ khi Thông tƣ 43 có
HUPH hiệu lực từ ngày 01/01/2016 đến nay chƣa có tác giả nào công bố kết quả nghiên cứu về chủ đề này
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hành lang pháp lý cho hoạt động công tác xã hội tại bệnh viện ĐHYD31 3.2 Kết quả triển khai hoạt động CTXH
Hoạt động công tác xã hội (CTXH) tại bệnh viện đã nhận được sự quan tâm lớn từ Đảng ủy và Ban Giám đốc, cùng với sự phối hợp hiệu quả từ các khoa, phòng Điều này góp phần vào việc triển khai mô hình chăm sóc toàn diện mà bệnh viện đang thực hiện Lãnh đạo bệnh viện nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hỗ trợ này.
Hoạt động công tác xã hội tại Bệnh viện Đại Học Y Dược đã được duy trì liên tục từ khi thành lập, nhằm nâng cao và chuyên nghiệp hóa dịch vụ xã hội, hướng tới mô hình chăm sóc toàn diện và mang lại sự hài lòng tối đa cho bệnh nhân Sự đồng thuận từ lãnh đạo và nhân viên bệnh viện cho thấy tầm quan trọng của hoạt động này, không chỉ giúp giảm bớt khó khăn cho bệnh nhân mà còn góp phần xây dựng hình ảnh bệnh viện thân thiện và gần gũi hơn.
Nhờ sự chỉ đạo chặt chẽ của Lãnh đạo và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khoa, phòng, hoạt động công tác xã hội (CTXH) tại bệnh viện đã đạt được kết quả tích cực, nâng cao chỉ số hài lòng của người bệnh đối với chất lượng dịch vụ.
Sự ra đời của phòng Công tác xã hội đã tạo ra một mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa các hoạt động xã hội, tài trợ, truyền thông và hỗ trợ người bệnh, góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa thể chất và tinh thần của người bệnh, cũng như giữa người bệnh, người nhà và thầy thuốc, và giữa cơ sở y tế với cộng đồng Đặc biệt, tỷ lệ hài lòng của người bệnh tại BV Đại học Y Dược đã tăng từ 96,99% năm 2015 lên 99,50% năm 2016, cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong chất lượng dịch vụ.
Hành lang pháp lý về hoạt động công tác xã hội (CTXH) đang ngày càng hoàn thiện, nhận được sự quan tâm và ủng hộ từ tập thể cán bộ, viên chức và người lao động của bệnh viện Điều này giúp cho nghề CTXH được công nhận, đồng thời đảm bảo các chế độ chính sách cho người làm CTXH, tạo điều kiện cho họ yên tâm công tác hơn.
“ Trước đây, mặc dù đã có đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-
Mặc dù Chính phủ đã có kế hoạch cho hoạt động công tác xã hội (CTXH) từ năm 2020, nhưng vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể, dẫn đến hiệu quả chưa cao do các bệnh viện vừa làm vừa học Nghề CTXH chưa được công nhận chính thức, nhân viên CTXH không có mã ngạch và bậc lương rõ ràng Tuy nhiên, từ năm 2015 đến nay, nhiều văn bản từ các bộ ngành như Thông tư 30 của Bộ Lao động và Thông tư 43 của Bộ Y tế đã được ban hành, giúp nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động CTXH và tạo sự yên tâm cho những người làm nghề này.
Lãnh đạo Bệnh viện luôn quan tâm và ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gắn kết hoạt động với các Khoa, phòng Nhờ đó, nhiều chương trình tư vấn cho người bệnh và người nhà bệnh nhân đã được thực hiện, cùng với việc triển khai nhiều hoạt động công tác xã hội tại cộng đồng.
Phòng CTXH được thành lập với đội ngũ nhân viên đông đảo và phân công công việc rõ ràng, giúp hoạt động diễn ra bài bản và đa dạng Mặc dù chỉ có một nhân viên tốt nghiệp chuyên ngành CTXH, nhưng tất cả đều tích cực học hỏi và nghiên cứu các văn bản hướng dẫn, dẫn đến hiệu quả trong triển khai hoạt động Đặc biệt, mảng truyền thông đã thu hút sự quan tâm từ nhiều bệnh viện khác, cho thấy sự thành công của mô hình Đội ngũ nhân viên năng động, đoàn kết và có tinh thần nhân ái đã hỗ trợ hiệu quả cho nhiều bệnh nhân.
Tôi rất bất ngờ khi nhận được sự quan tâm từ nhân viên phòng CTXH trong quá trình điều trị tại bệnh viện Họ không chỉ đến thăm hỏi, chia sẻ và động viên tôi, mà còn hỗ trợ tôi khi tôi gặp khó khăn trong việc tiếp tục điều trị Đặc biệt, nhân viên phòng CTXH đã vận động các nhà hảo tâm quyên góp hơn 70 triệu đồng để tôi có thể tiếp tục điều trị Sự chuyên nghiệp và uy tín của họ đã tạo niềm tin cho nhiều người, giúp tôi có được sự hỗ trợ cần thiết để hồi phục.
Hướng dẫn của Bộ Y tế trong Thông tư 43 chưa đề cập đến chức danh nghề nghiệp và số lượng cán bộ phụ trách hoạt động công tác xã hội tại phòng CTXH và các khoa chuyên môn, điều này cần được lưu ý.
Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh (HUPH) hiện có nhiều chức danh nghề nghiệp tại phòng CTXH với năng lực chuyên môn đa dạng Trong số đó, chỉ có một cử nhân chuyên ngành CTXH, trong khi phần còn lại là điều dưỡng và một số ngành khác.
3.2 Kết quả triển khai hoạt động CTXH
Phòng Công tác xã hội đã hoạt động tích cực và hiệu quả từ khi thành lập Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực vẫn tồn tại một số yếu tố khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động theo Thông tư 43 của Bộ.
3.2.1 Hoạt động hỗ trợ, tư vấn cho người bệnh
3.2.1.1 Một số kết quả hỗ trợ, tư vấn cho người bệnh
Bảng 5.1 Kết quả hoạt động hỗ trợ, tƣ vấn trong 2 năm 2016 và 2017
Nội dung CTXH triển khai theo Thông tƣ 43
Hoạt động CTXH đƣợc BV triển khai
6 tháng đầu năm 2017 a) Đón tiếp, chỉ dẫn, cung cấp thông tin, giới thiệu về dịch vụ
Tiếp nhận thƣ góp ý về cơ sở vật chất, suất ăn, thái độ phục vụ, dịch vụ, chi phí, chuyên môn
Cung cấp, giải đáp thông tin qua đường dây nóng
Dịch vụ tin nhắn hẹn tái khám
8.318 tin nhắn 7.433 tin nhắn b) Tổ chức thăm hỏi NB và NNNB, xác định mức độ và có phương án hỗ trợ
Thăm hỏi, hỗ trợ chăm sóc NB nội trú tại các khoa
Thăm hỏi người bệnh nội trú, ghi nhận 24 ý kiến, báo cáo lãnh đạo giải quyết
Thăm hỏi NB tại Khoa Lão hàng tuần, số lƣợng: 500 lƣợt; hỗ trợ tâm lý xã hội:
Miễn giảm chi phí khám chữa bệnh
Ngoại trú: 72 NB, số tiền: 110 triệu đồng
Ngoại trú: 53 NB, số tiền: 84 triệu đồng Nội trú: 25 NB, số
Nội dung CTXH triển khai theo Thông tƣ 43
Hoạt động CTXH đƣợc BV triển khai
Nội trú: 18 NB, số tiền: 235 triệu đồng tiền: 363 triệu đồng
Sinh hoạt NNNB tại khoa gây mê hồi sức
264 lần thực hiện, 2.350 người tham dự, 700 ý kiến đƣợc giải quyết, ghi nhận lại 40 ý kiến
214 lần tƣ vấn, 1.800 người tham dự, giải quyết 680 ý kiến, ghi nhận lại 20 ý kiến
Phối hợp các khoa lâm sàng sinh hoạt
2 lần thực hiện, 40 người tham dự, 8 ý kiến đƣợc giải quyết
4 lần thực hiện, 110 người tham dự, 60 ý kiến đƣợc giải quyết c) Hỗ trợ khẩn cấp cho
NB là nạn nhân của bạo hành, bạo lực gia đình, bạo lực giới
Hỗ trợ về tâm lý, xã hội, tƣ vấn pháp lý và các dịch vụ khác
Chƣa triển khai Chƣa triển khai d) Hỗ trợ, tƣ vấn cho người bệnh về quyền, lợi ích hợp pháp về BHYT, trợ cấp xã hội trong KCB
Tƣ vấn cho NB ngoại trú về việc sử dụng BHYT tại Khoa khám
Triển khai hàng ngày tại khoa Khám bệnh
Hàng ngày, tại khoa Khám bệnh, chúng tôi cung cấp thông tin và tư vấn cho bệnh nhân có chỉ định chuyển viện hoặc xuất viện, đồng thời giới thiệu họ đến các địa điểm hỗ trợ trong cộng đồng.
Hỗ trợ chuyển bệnh Chƣa triển khai việc chuyển bệnh không thu phí
Chuyển bệnh miễn phí: 14 trường hợp chi phí 47 triệu
Nhân viên CTXH hỗ trợ xuất viện
Qua bảng trên, rất nhiều hoạt động hỗ trợ tƣ vấn giải quyết các vấn đề về
CTXH đóng vai trò quan trọng trong quá trình khám chữa bệnh, bao gồm việc hướng dẫn thủ tục hành chính và chỉ dẫn người bệnh đến đúng phòng khám hoặc phòng xét nghiệm Trong 6 tháng đầu năm 2017, số lượng hoạt động đã tăng nhanh, gần đạt mức của cả năm 2016 Kết quả nghiên cứu định tính cũng cho thấy sự phát triển đáng kể trong lĩnh vực này.
Nhiều bệnh nhân tại HUPH đã bày tỏ sự phấn khởi và hài lòng khi nhắc đến các hoạt động hỗ trợ và tư vấn cho người bệnh do phòng CTXH thực hiện.