PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
Phiếu thanh toán ra viện và HSBA của người bệnh BPTNMT, viêm phổi và UTP trong thời gian nghiên cứu (phụ lục 5)
Thông tin thu thập bao gồm số liệu chi phí y tế trực tiếp từ phiếu thanh toán ra viện và đặc điểm lâm sàng trong hồ sơ bệnh án của bệnh nhân.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu thập thông tin thông qua phỏng vấn bệnh nhân và người nhà của họ Các bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), viêm phổi và ung thư phổi (UTP) đang điều trị tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện đã được thông báo ra viện trong thời gian nghiên cứu, đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.
Thông tin thu thập trong nghiên cứu bao gồm dữ liệu chung về bệnh nhân, chi phí trực tiếp không liên quan đến y tế, và chi phí mất thu nhập do nghỉ việc của bệnh nhân và người nhà Những thông tin này được lấy qua phỏng vấn bệnh nhân và người nhà trước khi ra viện, trong khoảng thời gian từ 01/03/2014 đến 15/05/2014.
- người bệnh được Bác sĩ chẩn đoán khi ra viện mắc 1 trong 3 bệnh sau: BPTNMT (mã ICD: j44), viêm phổi (mã ICD: j15) và UTP (mã ICD: c34)
2.1.1.4 Các tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh có bệnh kèm theo
- Người bệnh có phẫu thuật
- Người bệnh trốn viện hoặc xin ra viện sớm
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
Mục đích của nghiên cứu này là làm rõ các vấn đề liên quan đến tính phù hợp của từng khoản mục chi phí, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng chi.
HUPH đề cập đến phí của hộ gia đình (HGĐ) và bảo hiểm y tế (BHYT), cùng với các giải pháp can thiệp nhằm giảm gánh nặng chi phí cho HGĐ Bài viết cũng xem xét quan điểm của lãnh đạo bệnh viện, cán bộ y tế và người bệnh về vấn đề BHYT.
- Đối tượng: lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo/bác sĩ các khoa lâm sàng và người bệnh; người nhà người bệnh BPTNMT/viêm phổi/ung thư phổi.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 9 năm 2014
Nghiên cứu được thực hiện tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện 74 Trung ương, bao gồm Khoa Cấp cứu hồi sức, Khoa Điều trị tích cực, Khoa Bệnh phổi ngoài lao, Khoa Nội chung – Nhi và Khoa Ung bướu.
- Địa chỉ: Phường Hùng Vương – Thị xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu chi phí bệnh tật áp dụng cách tiếp cận từ dưới lên để tính toán chi phí từ phía hộ gia đình và bảo hiểm y tế Phương pháp này dựa trên quan điểm của nhà cung cấp dịch vụ và cá nhân/hộ gia đình Để thực hiện, nghiên cứu viên sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp với phân tích.
- Thu thập số liệu định lượng và và thông tin định tính
Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả đặc điểm nhân khẩu học, hình thức chi trả viện phí, đặc điểm lâm sàng, các khoản chi phí và các yếu tố liên quan đến chi phí điều trị nội trú tại Bệnh viện 74 Trung ương Sau khi thu thập và phân tích sơ bộ dữ liệu định lượng, nghiên cứu tiếp tục với phương pháp phỏng vấn sâu (PVS) đối với lãnh đạo bệnh viện và bác sĩ lâm sàng, cùng với thảo luận nhóm (TLN) với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng giá trị trung bình của quần thể để tính cỡ mẫu cho việc thu thập thông tin về chi phí của người bệnh điều trị tại Bệnh viện:
N: Là số đối tượng cần điều tra
Z: Hệ số tin cậy (Với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z = 1,96) σ: Giá trị ước lượng độ lệch chuẩn (ĐLC) của đặc tính nghiên cứu trong quần thể (BPTNMT: 3.906.230; viêm phổi: 3.218.800; UTP: 3.189.180) [31] ε: Độ chính xác tương đối (0,15) à: Giỏ trị trung bỡnh của đặc tớnh nghiờn cứu trong quần thể (BPTNMT: 4.947.500; viêm phổi: 4.600.000; UTP: 4.217.900) [31]
Cỡ mẫu của bệnh BPTNMT: 117 người bệnh
Cỡ mẫu của bệnh viêm phổi: 91 người bệnh
Cỡ mẫu của bệnh UTP: 107 người bệnh
Tổng số đối tượng cần chọn cho nghiên cứu: N = 316 người bệnh
Trong thực tế, nhóm nghiên cứu đã thu thập thông tin của 335 người bệnh (BPTNMT: 128; viêm phổi: 100 và ung thư phổi: 107)
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
+ 02 trưởng; phó khoa lâm sàng
+ 04 Bác sĩ khoa lâm sàng
- Thảo luận nhóm người bệnh; người nhà người bệnh:
+ 1 cuộc TLN: 03 người bệnh; người nhà người bệnh BPTNMT và 03 người bệnh; người nhà người bệnh viêm phổi
+ 01 cuộc TLN: 06 người bệnh; người nhà người bệnh ung thư phổi.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng
Chúng tôi đã chọn mẫu toàn bộ với 128 bệnh nhân BPTNMT, 100 bệnh nhân viêm phổi và 107 bệnh nhân UTP đủ tiêu chuẩn tham gia phỏng vấn.
Tiến hành lập và cập nhật danh sách người bệnh chuẩn bị ra viện điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng, dựa trên mã HSBA, nhằm đảm bảo quản lý thông tin hiệu quả và chính xác.
HUPH mắc bệnh BPTNMT (ICD: j44), viêm phổi (ICD: j15) và UTP (ICD: c34) đã đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ trong quá trình thu thập dữ liệu từ ngày 01/03/2014 đến ngày 15/05/2014.
Khi bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn ra viện, họ sẽ nhận giấy mời tham gia nghiên cứu Từ ngày 01/3/2014 đến 15/5/2014, tất cả bệnh nhân đồng ý tham gia sẽ được phỏng vấn tại các khoa lâm sàng, đồng thời thu thập phiếu thanh toán ra viện qua hệ thống mạng nội bộ của bệnh viện trong khoảng thời gian này.
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu, chọn mẫu có chủ đích:
+ 01 lãnh đạo (Phó giám đốc chuyên môn, kiêm Tổ trưởng Tổ viện phí) + 02 trưởng khoa lâm sàng (khoa Cấp cứu hồi sức và khoa Ung bướu)
+ 04 Bác sĩ khoa lâm sàng (Khoa Điều trị tích cực, khoa Bệnh phổi ngoài lao, Khoa Nội chung - Nhi và Khoa Ung bướu)
- Thảo luận nhóm, chọn mẫu có chủ đích (có sự cân bằng về nhóm tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, có và không có BHYT):
+ chọn 03 người nhà người bệnh BPTNMT tại khoa Điều trị tích cực và 03 người bệnh viêm phổi tại khoa Nội chung – Nhi
+ chọn 03 người bệnh ung thư phổi – HTL và 03 người nhà người bệnh ung thư phổi - CSGN tại khoa Ung bướu.
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng
- Sử dụng thư mời phỏng vấn người bệnh để mời người bệnh tham gia vào nghiên cứu (phụ lục 4)
Bộ câu hỏi và bảng kiểm được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, nhằm thu thập thông tin chính xác Trước khi tiến hành phỏng vấn chính thức, bộ công cụ này đã được thử nghiệm trên 10 người bệnh và điều chỉnh phù hợp.
Sử dụng Bảng kiểm có sẵn để thu thập thông tin về chi phí trực tiếp cho y tế của bệnh nhân từ phiếu thanh toán ra viện (Phụ lục 5).
Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc để phỏng vấn bệnh nhân và người nhà của họ trước khi ra viện một ngày, nhằm thu thập số liệu nghiên cứu.
01/3/2014 đến tháng 15/5/2014 (Phụ lục 6) để thu thập thông tin liên quan đến chi phí trực tiếp không dành cho y tế và chi phí gián tiếp
Nghiên cứu viên và điều tra viên, bao gồm hai điều dưỡng trưởng khoa, sẽ trực tiếp thu thập số liệu Nếu đối tượng người bệnh không thể cung cấp thông tin về chi phí, như người già, trẻ nhỏ hoặc những bệnh nhân không đủ khả năng trả lời, nhóm nghiên cứu sẽ phỏng vấn người chăm sóc chính của bệnh nhân.
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện sau khi phân tích sơ bộ số liệu định lượng Bộ công cụ phỏng vấn đã được xây dựng cho từng đối tượng nghiên cứu (Phụ lục 7).
Nghiên cứu viên đã thực hiện phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng nghiên cứu, bao gồm Phó giám đốc bệnh viện, hai Bác sĩ Trưởng khoa và bốn Bác sĩ từ các khoa lâm sàng.
Mục đích của PVS là làm rõ sự khác biệt về chi phí trực tiếp trong y tế và từng loại dịch vụ điều trị giữa các nhóm bệnh nhân Bài viết sẽ phân tích nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch chi phí, ảnh hưởng của chúng đến bệnh nhân, và xác định các hoạt động có thể làm gia tăng chi phí Đồng thời, sẽ đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm giảm gánh nặng chi phí cho hộ gia đình và bảo hiểm y tế, từ góc nhìn của lãnh đạo bệnh viện và cán bộ y tế.
- Nghiên cứu viên chủ trì 2 cuộc TLN: nhóm người bệnh BPTNMT, viêm phổi và nhóm người bệnh UTP
Mục đích của thảo luận nhóm người bệnh là để đánh giá tính phù hợp của viện phí tại Bệnh viện 74 Trung ương, cũng như phân tích sự khác biệt giữa các khoản chi phí trực tiếp không dành cho y tế và chi phí mất thu nhập liên quan đến từng loại dịch vụ Bài nghiên cứu cũng đưa ra những đề xuất nhằm giảm gánh nặng chi phí cho hộ gia đình và xem xét quan điểm của người bệnh về bảo hiểm y tế (BHYT) trong việc giảm thiểu gánh nặng chi phí điều trị Cuối cùng, nhận thức của người bệnh về vai trò của BHYT đối với chi phí bệnh tật cũng được thảo luận.
Trước khi PVS và TLN, nghiên cứu viên thông báo mục đích PVS, TLN và xin phép khi PVS, TLN được ghi âm
Các nhóm biến số nghiên cứu
2.7.1 Các biến số trong nghiên cứu định lượng
- Thông tin chung về đặc điểm nhân khẩu học, hình thức chi trả viện phí và đặc điểm lâm sàng
- Thông tin về chi phí điều trị: chi phí trực tiếp dành cho y tế, chi phí trực tiếp không dành cho y tế và chi phí gián tiếp
2.7.2 Các biến số trong nghiên cứu định tính
- Đánh giá của nhà quản lý, cán bộ y tế và người bệnh về cấu phần chi phí đợt điều trị đợt điều trị nội trú
- Sự khác nhau giữa các nhóm chi phí theo đặc điểm nhân khẩu, hình thức chi trả và đặc điểm lâm sàng
- Nguyên nhân làm gia tăng chi phí đợt điều trị nội trú
- Giải pháp giúp giảm bớt chi phí đợt điều trị nội trú.
Các khái niệm, tiêu chí và phương pháp tính toán chi phí
- Phương thức chi trả của người bệnh :
+ Người bệnh có BHYT: người bệnh có thẻ BHYT và thuộc tất cả các đối tượng được cơ quan BHYT chi trả viện phí theo các mức 100%; 95%; 80% và 30%
+ Người bệnh không có BHYT: người bệnh không có thẻ BHYT, người bệnh trực tiếp chi trả chi phí KCB cho bệnh viện
Hộ gia đình là tập hợp các thành viên sở hữu tài sản chung và cùng nhau đóng góp công sức cho các hoạt động kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, cũng như các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác theo quy định của pháp luật Họ là chủ thể tham gia vào các quan hệ dân sự trong những lĩnh vực này.
2.8.2 Phương pháp tính chi phí
- Tổng chi phí điều trị = Chi phí trực tiếp dành cho y tế + Chi phí trực tiếp không dành cho y tế + Chi phí gián tiếp
Chi phí trực tiếp cho y tế là khoản chi phí được ghi nhận trong bệnh án, phản ánh các dịch vụ y tế đã được cung cấp và sử dụng trong quá trình điều trị nội trú.
HUPH chi phí thuốc, máu, dịch truyền, chi phí xét nghiệm, CĐHA và thăm dò chức năng (TDCN), PTTT và VTTH
+ Chi phí trung bình (CPTB) cho thuốc, dịch truyền/1 người bệnh /1 đợt điều trị = tổng chi phí thuốc, dịch truyền của toàn bộ người bệnh / tổng số người bệnh
+ CPTB cho xét nghiệm/1 người bệnh/1 đợt điều trị = tổng chi phí xét nghiệm của toàn bộ người bệnh/tổng số người bệnh
+ CPTB cho CĐHA và TDCN/1 người bệnh/1 đợt điều trị = tổng chi phí CĐHA và TDCN của toàn bộ người bệnh/tổng số người bệnh
+ CPTB cho ngày giường/1 người bệnh/1 đợt điều trị = tổng chi phí ngày giường của toàn bộ người bệnh/tổng số người bệnh
+ CPTB cho PTTT/1 người bệnh/1 đợt điều trị = tổng chi phí PTTT của toàn bộ người bệnh/tổng số người bệnh
+ CPTB cho VTTH/1 người bệnh/1 đợt điều trị = tổng chi phí VTTH của toàn bộ người bệnh/ tổng số người bệnh
Chi phí trực tiếp không liên quan đến y tế bao gồm các khoản như chi phí ăn uống, chi phí di chuyển, và các chi phí khác như cảm ơn nhân viên y tế hoặc các chi tiêu cá nhân khác.
+ Chi phí cho ăn uống của 1 người bệnh /1 đợt điều trị = Chi phí ăn uống của người bệnh + Chi phí ăn uống của người nhà người bệnh
+ CPTB cho ăn uống 1 người bệnh /1 đợt điều trị = tổng chi phí ăn uống của toàn bộ người bệnh/tổng số người bệnh
+ Chi phí cho đi lại của 1 người bệnh/1 đợt điều trị = Chi phí đi lại của người bệnh + Chi phí đi lại của người chăm sóc
+ CPTB cho đi lại 1 người bệnh /1 đợt điều trị = tổng chi phí đi lại của toàn bộ người bệnh/ tổng số người bệnh
Chi phí gián tiếp bao gồm những khoản mất thu nhập do việc nghỉ việc, chẳng hạn như khi người bệnh phải nằm viện và khi người thân của họ phải nghỉ việc để chăm sóc.
+ Chi phí mất thu nhập của 1 người bệnh/1 đợt điều trị = Chi phí mất thu nhập của người bệnh + Chi phí mất thu nhập của người nhà người bệnh
+ CPTB mất thu nhập 1 người bệnh /1 đợt điều trị = tổng chi phí mất thu nhập của của toàn bộ người bệnh/ tổng số người bệnh
+ Công thức tính chi phí mất thu nhập:
Chi phí mất thu nhập do nghỉ việc trong một đợt điều trị của người bệnh được tính bằng số ngày nghỉ việc để điều trị nhân với thu nhập bình quân hàng tháng của người bệnh chia cho 22.
Chi phí mất thu nhập do nghỉ việc của người nhà người bệnh/1 đợt điều trị =
Số ngày nghỉ việc để chăm sóc người bệnh của người nhà người bệnh * (Thu nhập bình quân hàng tháng của HGĐ/22/Số người của HGĐ)
2.8.3 Phương pháp quy đổi ngoại tệ sang Việt Nam đồng
Sử dụng tỷ giá bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố vào ngày 01/6/2013 để quy đổi giá trị ngoại tệ sang tiền VNĐ, và làm tròn đến hàng nghìn trong quá trình phân tích số liệu.
Phương pháp phân tích số liệu
2.9.1 Phân tích số liệu định lượng
Số liệu sau thu thập được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 Số liệu được tổng hợp, làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
Sử dụng các thuật toán thống kê để mô tả tần suất và tỷ lệ cho các biến phân loại, cũng như trung bình, độ lệch chuẩn và tứ phân vị cho các biến liên tục Trong nghiên cứu chi phí, số liệu thu được thường là các số liên tục không phân bố chuẩn điển hình Nhóm nghiên cứu áp dụng kiểm định phi tham số Mann – Whitney để so sánh hai giá trị trung vị và kiểm định phi tham số Kruskal – Wallis để so sánh nhiều hơn hai giá trị trung vị.
2.9.2 Phân tích số liệu định tính
Sau khi PVS cán bộ y tế và TLN người bệnh, nghiên cứu viên tiến hành gỡ băng và phân tích, tổng hợp thông tin cần thiết cho nghiên cứu, đồng thời loại bỏ những nội dung không liên quan.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sau khi nhận được sự chấp thuận từ Hội đồng nghiên cứu khoa học và Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng, đảm bảo tuân thủ quy trình xét duyệt.
Trước khi phỏng vấn, đối tượng sẽ được giới thiệu chi tiết về nghiên cứu và nhận giấy mời tham gia (xem phụ lục 4) Nếu người bệnh đồng ý tham gia, họ sẽ đánh dấu vào ô đồng ý, sau đó điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn.
Phiếu điều tra không yêu cầu ghi tên người bệnh, đảm bảo thông tin cá nhân được bảo mật Các thông tin liên quan chỉ được sử dụng để mô tả chung về người bệnh và không phục vụ cho mục đích nào khác ngoài nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu chỉ nhằm mục đích phân tích chi phí điều trị cho bệnh BPTNMT, viêm phổi và UTP, đồng thời đưa ra các khuyến nghị phù hợp Những kết quả này không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.
Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh được xây dựng dựa trên các nghiên cứu về chi phí điều trị nội trú, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm và điều chỉnh để đảm bảo phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện 74 Trung ương từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2014, tập trung vào ba bệnh thường gặp và chỉ tính chi phí điều trị nội trú từ phía hộ gia đình và bảo hiểm y tế Tuy nhiên, do nghiên cứu chỉ diễn ra tại một bệnh viện, tính đại diện của kết quả chưa cao Cần tiến hành các nghiên cứu sâu hơn để tính toán đầy đủ các chi phí từ phía cơ sở y tế, nhằm đánh giá chính xác giá trị kinh tế của các bệnh này.
Nghiên cứu về ba bệnh BPTNMT, viêm phổi và UTP cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà quản lý về tỷ trọng chi phí trực tiếp cho y tế trong quá trình điều trị Kết quả cũng chỉ ra các yếu tố liên quan đến GNKT từ phía hộ gia đình và bảo hiểm y tế Dựa trên những thông tin này, các nhà quản lý có thể xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.
HUPH bổ nguồn lực KCB hợp lý và tìm các giải pháp đảm bảo cho công tác KCB được hiệu quả để giảm GNKT cho HGĐ
Bộ câu hỏi nghiên cứu được tham khảo từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Thủy tại Bệnh viện Thanh Nhàn, với một số nội dung dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn, phụ thuộc vào câu trả lời của người bệnh và người nhà Việc yêu cầu người bệnh và người nhà trả lời chính xác các khoản mục chi phí trong bộ câu hỏi nghiên cứu là rất khó khăn và có thể dẫn đến sai số trong quá trình nhớ lại.
Đối tượng nghiên cứu trong phỏng vấn có thể dựa vào cảm tính, dẫn đến khả năng đưa ra kết quả không chính xác cho nghiên cứu.
2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục
Một số biện pháp khắc phục, hạn chế sai số:
Bảng 2.1 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Sai số Biện pháp khắc phục
Sai số do điền phiếu điều tra (do không nắm được khái niệm các biến số và điền không chính xác)
-Phiếu điều tra được thử nghiệm và điều chỉnh trước khi tiến hành thu thập số liệu
Hai điều tra viên đã được đào tạo bài bản trước khi bắt đầu thu thập dữ liệu Nghiên cứu viên trực tiếp tham gia thu thập thông tin từ hơn 60% đối tượng nghiên cứu.
-Nghiên cứu viên trực tiếp giám sát trong thời gian thu thập số liệu
- Phiếu điều tra được thiết kế sao cho đảm bảo đơn giản nhất, không có bước chuyển rắc rối để tránh nhầm lẫn
- Các thông tin thu thập từ HSBA, phiếu thanh toán ra viện được khai thác và thu thập chính xác, cẩn thận
Để thu thập thông tin từ phỏng vấn bệnh nhân và người nhà, điều tra viên cần được đào tạo bài bản, có khả năng khai thác thông tin hiệu quả Trước khi tiến hành thu thập số liệu, việc thảo luận nhóm để rút kinh nghiệm là rất quan trọng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về người bệnh BPTNMT Đặc điểm chung N
Tình trạng việc làm Đang làm việc 15 11,7
Phân loại kinh tế HGĐ Nghèo và cận nghèo 10 7,8
Hình thức chi trả Có BHYT 122 95,3
Tình trạng nhiễm khuẩn bệnh viện
Tình trạng thở máy Có 13 10,2
Bảng 3.1 cho thấy: người bệnh BPTNMT trong nghiên cứu chủ yếu là nam giới (83,6%) Trong đó, nhóm tuổi từ 61 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 88% cao hơn gấp gần
8 lần so với nhóm từ 45 – 60 tuổi và chỉ có 01 người bệnh dưới 45 tuổi
Hầu hết những người không làm việc, bao gồm người già và người đã nghỉ hưu, chiếm 88,3%, gấp gần 8 lần so với tỷ lệ người đang làm việc là 11,7% Đáng chú ý, 95,3% người bệnh có bảo hiểm y tế (BHYT), trong khi chỉ có 4,7% người bệnh không có BHYT.
Trong nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân BPTNMT, 64,8% người bệnh thuộc giai đoạn III và IV, trong khi 35,2% còn lại ở giai đoạn II Đáng chú ý, 10,2% bệnh nhân nặng cần thở máy và 5,5% mắc phải nhiễm khuẩn bệnh viện.
Bảng 3.2 Thông tin chung về người bệnh viêm phổi Đặc điểm chung N
Tình trạng việc làm Đang làm việc 30 30,0
Phân loại kinh tế HGĐ Nghèo và cận nghèo 6 6,0
Hình thức chi trả Có BHYT 84 84,0
Tình trạng thở máy Có 4 4,0
Bảng 3.2 cho thấy sự phân bố người bệnh viêm phổi khá đồng đều giữa nam giới (48,0%) và nữ giới (52,0%) Nhóm tuổi từ 61 trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (56,0%), gấp hơn 2,5 lần so với nhóm từ 45 – 60 tuổi và nhóm dưới 45 tuổi (22,0%) Đối tượng cư trú tại tỉnh Vĩnh Phúc chiếm 49,0%, gần tương đương với tỷ lệ người đến từ các tỉnh khác (51,0%) Về tình trạng việc làm, phần lớn đối tượng không làm việc (già yếu, đã nghỉ hưu hoặc chưa đến tuổi đi làm) chiếm 70,0%, gấp hơn 2 lần so với những người hiện đang làm việc (30,0%).
Hình thức chi trả viện phí cho người bệnh cho thấy 84,0% bệnh nhân có bảo hiểm y tế (BHYT) được thanh toán viện phí, trong khi đó, 16,0% vẫn là những người không có BHYT.
Theo bảng 3.2, tỷ lệ bệnh nhân viêm phổi nặng cần thở máy là 4,0%, trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân mắc nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) trong quá trình điều trị tại bệnh viện là 5,0%.
Bảng 3.3 Thông tin chung về người bệnh UTP Đặc điểm chung
Tình trạng việc làm Đang làm việc 49 45,8
Phân loại kinh tế HGĐ Nghèo và cận nghèo 13 12,1
Hình thức chi trả Có BHYT 98 91,6
Phương pháp điều trị Hóa trị liệu 52 48,6
Cơ quan UTP di căn đến
Bảng 3.3 cho thấy, bệnh nhân UTP chủ yếu là nam giới (74,8%), gấp gần 3 lần so với nữ giới (26,3%) Nhóm tuổi từ 61 trở lên chiếm hơn một nửa (51,4%), trong khi chỉ có 1,9% bệnh nhân dưới 45 tuổi Tỷ lệ người bệnh đang làm việc (45,8%) thấp hơn so với những người không làm việc (54,2%) do lý do già yếu, nghỉ hưu hoặc mắc bệnh Mặc dù 91,6% bệnh nhân có bảo hiểm y tế, vẫn còn 8,4% bệnh nhân không có bảo hiểm.
Hầu hết người bệnh UTP trong điều trị thuộc giai đoạn III (bao gồm IIIa và IIIb) và giai đoạn IV, chiếm 93,5%, trong khi chỉ 8,4% thuộc giai đoạn II Đặc biệt, 53,3% người bệnh đã có di căn đến các cơ quan khác, cao hơn so với 46,7% người bệnh chưa có di căn Tỷ lệ người bệnh điều trị bằng hóa chất là 48,6%, gần tương đương với 51,4% người bệnh được điều trị CSGN.
3.1.2 Thông tin về thu nhập trung bình của Hộ gia đình và người bệnh
COPD Viêm phổi Ung thư phổi Chung
Thu nhập của HGĐ/tháng Thu nhập của NB/tháng
Biểu đồ 3.1 Mức thu nhập trung bình hàng tháng của Hộ gia đình và cá nhân đối tượng nghiên cứu (Đơn vị tính: VNĐ )
Biểu đồ 3.1 cho thấy thu nhập trung bình hàng tháng của hộ gia đình (HGĐ) người bệnh là 7.878.800 VNĐ Trong đó, HGĐ người bệnh viêm phổi có thu nhập cao nhất với 8.817.300 VNĐ, trong khi HGĐ người bệnh ung thư phổi (UTP) có thu nhập thấp nhất là 7.114.400 VNĐ Đối với người bệnh, thu nhập trung bình hàng tháng là 2.314.746 VNĐ, với người bệnh UTP có thu nhập cao nhất (2.822.300 VNĐ) và người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) có thu nhập thấp nhất (1.808.000 VNĐ).
3.1.3 Ngày điều trị trung bình
Do đối tượng dưới 45 tuổi trong bệnh BPTNMT chỉ có 1 bệnh nhân và UTP chỉ có 2 bệnh nhân, chúng tôi đã chia nhóm tuổi của các đối tượng BPTNMT và UTP thành hai nhóm: ≤ 60 tuổi và ≥ 61 tuổi để phục vụ cho việc phân tích.
Bảng 3.4 Ngày điều trị trung bình của người bệnh BPTNMT theo đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm lâm sàng Đặc điểm chung
Trung bình Độ lệch chuẩn p
Tình trạng việc làm Đang làm việc 18,36 7,73
Kinh tế hộ gia đình
Hình thức chi trả Có BHYT 19,26 8,75
Bảng 3.4 chỉ ra rằng, ngày điều trị trung bình của bệnh nhân BPTNMT là 18,38 ngày (ĐLC = 7,81) Đặc biệt, nam giới có thời gian điều trị trung bình (19,15 ngày) cao hơn 1,3 lần so với nữ giới (14,48 ngày), với p