ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu diễn ra từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020, với giai đoạn thu thập số liệu được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020 Địa điểm nghiên cứu là Bệnh viện đa khoa Phố Nối, tỉnh Hưng Yên.
Phương pháp và cỡ mẫu nghiên cứu
Thiết ế nghi n cứu: Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang có phân tích.
Phương ph p chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống chung cho cả quần thể
Để thực hiện nghiên cứu, bước đầu tiên là thu thập danh sách nhân viên từ tất cả các khoa và phòng của bệnh viện Tiếp theo, cần tính toán hệ số kE0/182=2,47 (theo phần 2.3.2 cỡ mẫu nghiên cứu) và chọn 1 người tham gia nghiên cứu từ mỗi 3 người cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu cần thiết.
Sử dụng công thức tính ước tính tỷ lệ:
- Trong đó: n: Số đối tượng nghiên cứu tối thiểu phải điều tra p: Tỷ lệ căng thẳng ở NVYT ở bệnh viện Việt Đức năm 2015 là 18,5% nên tôi
HUPH chọn p = 0,185 (37) d: Là sai số tuyệt đối giữa mẫu và quần thể nghiên cứu, ở đây tôi chọn d = 0,05 Z(1-α/2) = giá trị giới hạn với Với α = 0,05 thì Z(1- α /2) = 1,96
Áp dụng công thức điều chỉnh tỷ lệ với cỡ mẫu giới hạn, ta có n = 231 cho số lượng nhân viên y tế (NVYT) của bệnh viện đa khoa Phố Nối là 450 nhân viên.
Cỡ mẫu nghiên cứu ban đầu là 182 NVYT, sau khi cộng thêm 20% d phòng, tổng số NVYT tham gia là 220 Sau khi loại trừ các phiếu không đủ tiêu chuẩn, cỡ mẫu cuối cùng được xác định là 206 NVYT.
Các biến số nghiên cứu
2.4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học đối tƣợng nghiên cứu:
Các yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu bao gồm nhóm tuổi (dưới 30 tuổi và từ 30 tuổi trở lên), giới tính (nam, nữ), tình trạng hôn nhân (độc thân, có gia đình, đã li thân/li dị, góa), số con trong gia đình (< 2 con, ≥ 2 con), trình độ chuyên môn (Bác sỹ, Điều dưỡng, Dược sỹ), trình độ học vấn (dưới THPT, Tốt nghiệp THPT, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học) và thu nhập tại bệnh viện (dưới 5 triệu, 5 triệu trở lên).
2.4.1.2 Yếu tố liên quan đến áp lực công việc:
Yếu tố về đặc điểm công việc:
Các nhóm thông tin bao gồm đặc điểm công việc như chuyên môn hay hành chính, loại hình lao động (hợp đồng hoặc biên chế), thâm niên công tác (dưới 10 năm hoặc từ 10 năm trở lên), và đơn vị công tác (khoa làm việc trực tiếp với bệnh nhân hoặc không) Ngoài ra, còn có khu vực bệnh nhân được phân công điều trị và chăm sóc (bệnh nặng hoặc bệnh nhẹ) Đặc điểm công việc trong quá trình làm việc cũng được xem xét, bao gồm việc làm ca đêm (có hoặc không), thời gian mỗi ca trực đêm (≤ 12 giờ hoặc > 12 giờ), số tua trực mỗi tháng (dưới 5 tua, từ 5-8 tua, hoặc trên 9 tua), và lượng bệnh nhân phục vụ mỗi ngày (từ dưới 10 bệnh nhân).
Bài viết này đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân tại HUPH, bao gồm số lượng bệnh nhân (trên 10 bệnh nhân), thời gian nghỉ ngơi sau mỗi ca làm việc (≤ 12 giờ hoặc > 12 giờ), và việc có đủ thời gian nghỉ ngơi giữa các ca (có/không) Ngoài ra, nó cũng xem xét công việc yêu cầu làm việc vào cuối tuần (có/không) và số ngày làm việc vào cuối tuần trong tháng (1-2 ngày hoặc từ 3 ngày trở lên) Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm thêm giờ được chi trả hợp lý (có/không) và làm việc với nhịp độ cao (thường xuyên, thỉnh thoảng, không bao giờ) Cuối cùng, nó đề cập đến việc tiếp xúc với bệnh nhân cấp cứu hoặc bệnh nhân nặng (thường xuyên, thỉnh thoảng, không bao giờ) cũng như việc tiếp xúc với người chết và các vấn đề tử vong (thường xuyên, thỉnh thoảng, không bao giờ).
Yếu tố về tổ chức công việc:
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức công việc bao gồm: sự kiêm nhiệm trong quản lý, phân công công việc hợp lý hay không, độ rõ ràng trong phân công, tính công bằng trong giao nhiệm vụ, và việc giao công việc không thuộc chức năng Ngoài ra, sự phù hợp của công việc với chuyên môn, chế độ lương thưởng hợp lý, và cơ hội học tập, nâng cao trình độ cũng là những yếu tố quan trọng cần xem xét.
Về các mối quan hệ trong công việc
Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ trong công việc bao gồm việc liệu công việc có nhận được sự tôn trọng từ đồng nghiệp hay không, cũng như mức độ hỗ trợ từ cấp trên và đồng nghiệp, có thể được phân loại thành thường xuyên, thỉnh thoảng hoặc không bao giờ.
Nhân viên y tế thường phải đối mặt với nhiều áp lực trong công việc, bao gồm việc chịu đựng những phản ứng tiêu cực từ bệnh nhân, có thể xảy ra thường xuyên, thỉnh thoảng hoặc không bao giờ Ngoài ra, họ cũng phải đối mặt với áp lực từ gia đình bệnh nhân với các phản ứng tương tự Thêm vào đó, yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn thường xuyên cũng tạo ra áp lực cho nhân viên y tế.
2.4.2 Biến phụ thuộc: Tình trạng căng thẳng ở NVYT
Các khái niệm, thang đo, tiêu chuẩn đánh giá
NVYT trong nghiên cứu này bao gồm tất cả nhân viên đang làm việc tại bệnh viện đa khoa Phố Nối Hưng Yên, từ những người trực tiếp chăm sóc như bác sĩ, y tá, điều dưỡng đến những người làm công việc gián tiếp như kỹ thuật y học, y học dự phòng, y tế cộng đồng, dược sỹ và nhân viên hành chính.
Tình trạng căng thẳng ở nhân viên y tế được đánh giá thông qua thang đo PSS, bao gồm 10 câu hỏi với điểm số từ 0 đến 4 Tổng điểm có thể dao động từ 0 đến 40, với điểm số cao hơn chỉ ra mức độ căng thẳng cao hơn Phân loại mức độ căng thẳng dựa trên tổng số điểm được trình bày chi tiết.
Bảng 1 Bảng phân loại mức độ căng thẳng dựa vào tổng điểm thang đo PSS Điểm Phân loại
0-13 Căng thẳng ở mức độ thấp 14-26 Căng thẳng ở mức độ trung bình 27-40 Căng thẳng ở mức độ cao
Trong nghiên cứu này, nhân viên y tế được phân loại thành hai nhóm dựa trên mức độ căng thẳng: nhóm 1 có căng thẳng với điểm số từ 14 đến 40, trong khi nhóm 2 không có căng thẳng với điểm số từ 0 đến 13.
Phương pháp phân tích số liệu
Áp dụng các phân tích mô tả: Tính tần số (n), tỷ lệ phần trăm (%) đối với biến định tính;
Phân tích đơn biến được sử dụng để đo lường mối liên quan giữa tình trạng căng thẳng ở nhân viên y tế và các yếu tố liên quan như đặc điểm đối tượng nghiên cứu, tính chất công việc và áp lực công việc Các phương pháp thống kê như test χ2 hoặc test chính xác Fisher được áp dụng để tính toán tỷ lệ rủi ro (PRR) và chỉ số p.
Các kết quả phân tích số liệu được trình bày dưới dạng các bảng và biểu đồ
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata sau đó chuyển sang SPSS để làm sạch và phân tích.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Đối tượng được mời tham gia nghiên cứu sẽ được giải thích đầy đủ về mục
Nghiên cứu HUPH bao gồm tiêu chí, nội dung, quy trình và ý nghĩa quan trọng Các công cụ và quy trình nghiên cứu đã được chuẩn hóa nhằm đảm bảo an toàn cho đối tượng tham gia Trước khi bắt đầu, đối tượng nghiên cứu sẽ ký vào bản đồng ý tham gia Trong suốt quá trình nghiên cứu, họ có quyền dừng tham gia bất cứ lúc nào và vì bất kỳ lý do nào.
- Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
Trong quá trình thu thập số liệu, nghiên cứu viên cam kết bảo mật thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu Tên của đối tượng được mã hóa bằng các con số trên phiếu thu thập, nhằm loại bỏ thông tin cá nhân Khi nhập và phân tích số liệu, chỉ có mã số được sử dụng, không có tên của đối tượng Quyền truy cập vào thông tin cá nhân chỉ thuộc về chủ nhiệm đề tài.
Nghiên cứu được thực hiện sau khi nhận được sự đồng ý của Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y Sinh Trường Đại học Y Tế Công Cộng Hà Nội (mã số 020-131/DD-YTCC) Quá trình nghiên cứu, công bố và lưu trữ thông tin luôn tuân thủ quy trình đã cam kết với Hội đồng Đạo đức.
- Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi và báo cáo cho Ban Giám đốc của Bệnh viện đa khoa Phố Nối Hưng Yên khi kết thúc nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Một số mối liên quan
3.3.1 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và mức độ căng thẳng Bảng 3.11 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và căng thẳng ở NVYT
Trung cấp, Cao đẳng, THPT 34 (37,8) 56 (62,2) 0,6 0,88 (0,63-1,22) 0,440 Đại học, Sau đại học 50 (43,1) 66 (56,9)
Tình trạng hôn nhân Đã kết h n 82 (40,8) 119 (59,2) 0,0 1,02 (0,34-3,02) p>0,
05 Chưa kết h n, Ly hôn/ly thân 2 (40,0) 3 (60,0)
1,56 (1,12-2,17) 0,016 Điều dưỡng, Dược sĩ, Khác 60 (36,6) 104 (63,4)
Thu nhập cá nhân hàng tháng
Không có mối liên hệ thống kê có ý nghĩa giữa nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, số con hiện tại và thu nhập cá nhân hàng tháng với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) với p>0,05 Tuy nhiên, có sự liên quan giữa trình độ chuyên môn và tình trạng căng thẳng của NVYT với p0,05 Tuy nhiên, có sự liên quan giữa khoa đang công tác, khu vực bệnh phụ trách chính và tình trạng căng thẳng của NVYT (p 12 giờ 40(44,9) 49(55,1) Đủ thời gian nghỉ ngơi sau mỗi tua trực (n5)
Không có mối liên hệ thống kê có ý nghĩa giữa công việc ca đêm, số giờ làm việc trung bình hàng tháng, thời gian nghỉ ngơi sau mỗi ca và thời gian nghỉ ngơi đủ sau mỗi ca với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (p>0,05) Tuy nhiên, có sự liên quan giữa làm việc với nhịp độ cao và thời gian hoàn thành gấp gáp.
HUPH tr c mỗi ca tr c đêm, số bệnh nhân phải chăm sóc mỗi tua tr c và tình trạng căng thẳng NVYT (p0,05) Tuy nhiên, có sự liên quan giữa việc làm vào cuối tuần và tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (p 0,05.
3.3.4 Mối liên quan giữa các mối quan hệ trong công việc với căng thẳng ở NVYT Bảng 3.18 Mối liên quan áp lực liên quan đến các mối quan hệ công việc và căng thẳng ở NVYT Nội dung
Công việc không nhận đƣợc sự tôn trọng của đồng nghiệp
Không 47(38,8) 74(61,2) Đánh giá mức độ hỗ trợ của đồng nghiệp
Không có mối liên hệ thống kê có ý nghĩa giữa việc không nhận được sự tôn trọng từ đồng nghiệp và tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế, với giá trị p > 0,05 Tuy nhiên, có sự liên quan giữa đánh giá mức độ hỗ trợ của đồng nghiệp và tình trạng căng thẳng, với giá trị p < 0,05.
3.3.5 Mối liên quan giữa áp lực công việc và tình trạng căng thẳng ở NVYT Bảng 3.19 Mối liên quan giữa áp lực và tình trạng căng thẳng
Chịu áp lực với những phản ứng tiêu cực từ bệnh nhân
Chịu áp lực với những phản ứng tiêu cực từ gia đình bệnh nhân
Chịu áp lực từ việc công việc yêu cầu thường xuyên nâng cao trình độ
Có mối liên quan thống kê giữa áp lực từ gia đình bệnh nhân và tình trạng căng thẳng trong nhân viên y tế (p