SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG RUBRIC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG MÔN
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG RUBRIC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG MÔN GIÁO DỤC
Trang 2GD KT &PL Giáo dục kinh tế và pháp luật
Trang 3MỤC LỤC
1.1.2 Cơ sở lý luận về năng lực và đánh giá theo năng lực 6
1.2.1 Thực trạng kiểm tra đánh giá môn GDCD và Giáo dục
kinh tế và pháp luật ở trường THPT hiện nay
9
1.2.2 Thực trạng về vấn đề sử dụng rubric trong kiểm tra đánh
giá năng lực của giáo viên GDCD và Giáo dục kinh tế và pháp
luật ở trường THPT Diễn Châu 4 và một số trường THPT trên
địa bàn Diễn Châu
10
CHƯƠNG II THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG RUBRIC ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CỦA
HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC DỰ ÁN MÔN GIÁO
DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT THPT
14
2.1 Cơ sở thiết kế rubric đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án
14
2.2 Thiết kế rubric để đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án trong dạy học
Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 10 THPT
16
2.2.1 Nguyên tắc và quy trình xây dựng rubric 16
2.2.2 Xác định cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
của học sinh
2.2.3 Xác định tiêu chí và mức độ đánh giá năng lực giải quyết
vấn đề và sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án trong
môn Giáo dục kinh tế và pháp luật
17
2.2.4 Thiết kế phiếu quan sát đánh giá năng lực giải quyết vấn
đề và sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án trong môn
Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 10 THPT
22
2.2.5 Thiết kế rubric tự đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo trong thực hiện dự án của học sinh
24
Trang 42.2.6 Thiết kế rubric đánh giá sản phẩm dự án của học sinh 25
2.3 Cách sử dụng rubric đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và
sáng tạo trong dạy học dự án môn Giáo dục kinh tế và pháp luật
10
31
2.3.1 Hướng dẫn HS sử dụng rubric đánh giá và tự đánh giá 32
2.3.2 Hướng dẫn quy trình đánh giá năng lực giải quyết vấn đề
và sáng tạo thông qua dạy học dự án trong môn Giáo dục kinh tế
3.1 Mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ thực nghiệm 37
3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 37
3.4 Thiết kế kế hoạch bài dạy thực nghiệm 38
Trang 5PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Đổi mới giáo dục từ lâu đã là một yêu cầu thiết yếu của xã hội Điều này đã
được nêu ra trong Nghị quyết số 29-NQ/TW (ngày 4.11.2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế và được quy định cụ thể trong
Chương trình GDPT chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo thông tư số 32/2018/TT-BGDDT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo), Luật giáo dục (ban hành 6/2019) Theo các văn bản này, việc đổi mới giáo dục phải được tiến hành đồng bộ từ nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá (KTĐG) Trong đó việc đổi mới kiểm tra KTĐG là vấn đề cốt lõi vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả dạy học
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo khẳng định: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra
và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội”
Để đánh giá (ĐG) phẩm chất, năng lực (NL) của học sinh (HS) yêu cầu thiết yếu là phải xây dựng được bộ công cụ ĐG phù hợp, có giá trị, có độ tin cậy cao và phù hợp với thực tiễn dạy học ở Việt Nam Có rất nhiều phương pháp và công cụ để KTĐG NL của học sinh như: Bài kiểm tra, sản phẩm học tập, bảng kiểm, thang đo, phiếu đánh giá (rubric),… Trong đó, rubric là một công cụ hiệu quả, có độ tin cậy cao, đáp ứng các yêu cầu nêu trên, bởi vì rubric giúp giáo viên (GV) trình bày rõ những gì họ mong muốn từ HS và thông báo cho HS cần phải làm gì và cần đạt được gì trong quá trình học tập Ngay cả khi GV thiết kế rubric nhưng không thông báo đến HS thì quá trình thiết kế, sử dụng rubric cũng có tác động tích cực, giúp GV
có thể lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù hợp Rubric còn giúp GV nhận biết đặc điểm của một sản phẩm học tập đạt yêu cầu, giúp HS tự học và tự ĐG kết quả học tập của mình Rubic còn có thể minh chứng kết quả học tập ở các mức
độ khác nhau, từ đó hạn chế sự chênh lệch quá lớn ở các HS với nhau
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Thiết kế
và sử dựng Rubric đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 10 THPT.”
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 6Đề tài đưa ra nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng Rubric trong dạy học Giáo dục kinh tế và pháp luật để đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của
HS
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng được ma trận nội dung kiến thức, năng lực cần hình thành cho học sinh
- Nắm được đặc điểm, nguyên tắc và quy trình thiết kế, sử dụng rubric đánh
giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh trong dạy học môn Giáo dục
kinh tế và pháp luật
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Quy trình thiết kế và sử dụng rubric trong quá trình tổ chức hoạt động dạy Giáo dục kinh tế và pháp luật THPT
3.2 Khách thể nghiên cứu
+ Học sinh, giáo viên dạy bộ môn Giáo dục kinh tế và pháp luật tại trường THPT Diễn Châu 4 và các trường THPT trên địa bàn huyện Diễn Châu
3.3 Thời gian nghiên cứu và thực nghiệm:
Đề tài được nghiên cứu từ năm học 2021 - 2022 và tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu với các tài liệu khoa học, sách báo tạp chí, các trang web,…
- Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp quan sát: quan sát thái độ, quá trình và kết quả thực hiện ĐG và tự
ĐG của HS bằng công cụ rubric …
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5 Tính mới của đề tài
- Là đề tài đầu tiên của nhóm tác giả và cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu
- Thiết kế và hướng dẫn cách sử dụng bộ tiêu chí đánh giá năng lực năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS trong dạy học Giáo dục kinh tế và pháp luật nói chung và thông qua dạy học dự án nói riêng
Trang 7tế và pháp luật THPT phù hợp với mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông 2018
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 8CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở lí luận về rubric
+ Khái niệm rubric
Rubric là một thuật ngữ có nguồn gốc là từ rubrica, theo tiếng Latin có nghĩa
là “vùng đất đỏ”, “phần viết bằng mực đỏ trong các cuốn Kinh thánh, sách cổ”; “tập tục hoặc quy tắc được thiết lập để thực hiện” Sau đó, có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về rubric Tuy nhiên, giữa các định nghĩa đó ta vẫn thấy có những điểm chung
Tác giả Tôn Quang Cường có đưa ra khái niệm về rubric cụ thể, chi tiết hơn:
“Rubric là một cách ĐG, công cụ ĐG, được sử dụng khá rộng rãi trong thực tiễn GD
và dạy học trên thế giới Rubric là bảng mô tả chi tiết có tính hệ thống (theo chuẩn, tiêu chí và mức) những kết quả (kiến thức, kĩ năng, thái độ) mà người học nên làm
và cần phải làm để đạt được mục tiêu cuối cùng khi thực hiện nhiệm vụ cụ thể”
Như vậy, ta có thể hiểu rubric là một tập hợp các tiêu chí thể hiện mức độ đạt được của mục tiêu học tập và được sử dụng để ĐG hoặc thông báo về sản phẩm, NL thực hiện và quá trình thực hiện nhiệm vụ của HS
+ Vai trò của rubric
Giáo dục kinh tế và pháp luật là môn học có nhiều ưu thế trong việc góp phần hình thành và phát triển toàn diện các NL chung được nêu trong chương trình tổng thể Với tiêu chí đổi mới của chương trình GDPT 2018 là tập trung hướng vào phát triển NL người học cả NL cốt lõi và NL chuyên biệt Trong quá trình dạy học Giáo dục Kinh tế và pháp luật, người dạy không chỉ phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học mà còn đổi mới hình thức KTĐG Trong đó, rubric được xem
là một công cụ hiệu quả để ĐGNL HS bởi vì:
- Rubric với việc thiết kế các tiêu chí ĐG dựa vào mục tiêu bài học và các thang bậc ĐG từ thấp đến cao sẽ giúp phân loại HS một cách rõ ràng, chính xác
- Rubric được thiết kế theo thang bậc Bloom, đòi hỏi HS không chỉ nhớ, hiểu kiến thức mà còn phải biết vận dụng, phân tích, ĐG, có đủ kỹ năng giải quyết một vấn đề gặp trong đời sống xã hội
- Sử dụng rubric giúp HS làm chủ việc học, nhận biết các mục tiêu cần đạt, nhận biết điểm mạnh, điểm yếu của mình từ đó khắc phục những hạn chế, yếu kém
để tiến bộ
- Rubric góp phần thúc đẩy việc học của HS Nhìn vào bảng rubric những HS khá, giỏi sẽ có kì vọng đạt được những thang bậc cao nhất trong các tiêu chí ĐG Những HS trung bình, yếu cũng sẽ cố gắng để vượt qua các giới hạn để đạt được kết quả cao hơn
Trang 9- Mô hình rubric trong ĐG giáo dục góp phần phát triển NL người học một cách toàn diện Ngoài việc lĩnh hội kiến thức bài học, HS còn được phát triển, hoàn thiện các kỹ năng khác như: hợp tác làm việc nhóm, giao tiếp, chia sẻ, giải quyết vấn đề
và sáng tạo
Có thể nói, việc sử dụng rubric trong đánh NL rất phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, phù hợp với xu thế đổi mới GD nhằm phát triển NL người học hiện nay Rubric cũng là công cụ phát huy tính hiệu quả đối với GV, HS
có thể khác nhau
Bảng1.1 Rubric định lượng/phân tích
Ưu điểm của loại rubric này là nó cung cấp thông tin phản hồi chi tiết ứng với mỗi tiêu chí và mức ĐG giúp HS tự hoàn thiện tốt hơn Mặt khác, đảm bảo độ tin cậy tốt khi ĐG bởi điểm được chia nhỏ theo các mức đạt tiêu chí, độ lệch điểm sẽ thấp Tuy nhiên, việc thiết kế sẽ mất nhiều thời gian
- Rubric định tính/ tổng hợp (Holistic rubric) là bảng cung cấp mô tả tổng hợp ứng với mỗi mức trên thang ĐG, là công cụ dùng để đánh giá một cách tổng thể toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ hoặc sản phẩm cụ thể mà không mô tả chi tiết
về các tiêu chí (chỉ số) thực hiện của từng công đoạn hay kết quả trung gian
Trang 10Bảng 1.2 Rubric định tính/ tổng hợp
Ưu điểm của loại rubric này là dễ xây dựng, ĐG hơn, có thể cung cấp cái nhìn tổng quan về thành tích học tập của HS Tuy nhiên, ngược lại, nó không chỉ ra được mức độ đạt được ứng với mỗi nội hàm trong thông tin phản hồi tổng hợp nên kém hữu ích hơn đối với HS
+ Một số lưu ý khi thiết kế rubric:
- GV nên xác định tiêu chí cùng với HS;
- Việc lựa chọn tiêu chí nào đưa vào rubric phụ thuộc vào mong đợi của HS
và mục tiêu của đánh giá;
- Rubric cần thể hiện rõ chức năng, không những đánh giá kiến thức, kĩ năng
mà còn đánh giá năng lực thực hiện và các năng lực khác nhau của HS
1.1.2 Cơ sở lý luận về năng lực và đánh giá theo năng lực
1.1.2.1 Khái niệm năng lực và các loại năng lực cơ bản
Khoa học giáo dục trên thế giới cũng như trong nước đã có rất nhiều các tác giả, các nghiên cứu đưa ra định nghĩa năng lực theo những cách hiểu khác nhau vô cùng đa dạng và phong phú
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân, thể hiện mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chín chắn một số dạng hoạt động nào đó”
- Tiếp thu quan niệm về năng lực của các nước phát triển tài liệu hội thảo chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể trong chương trình giáo dục phổ thông
2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Có 2 loại năng lực lớn:
- Năng lực cốt lõi: là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có
để sống, học tập và làm việc hiệu quả
- Năng lực đặc biệt: là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kỹ
năng sống, … nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người
Trang 11Cũng theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực cốt lõi gồm năng lực chung và năng lực chuyên môn
- Năng lực chung: là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục
góp phần hình thành, phát triển như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Năng lực chuyên môn: là năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thông
qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất
1.1.2.2 Các loại năng lực cần đạt thông qua dạy học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật
Thông qua chương trình môn Giáo dục kinh tế và pháp luật, học sinh cần hình thành và phát triển được thế giới quan khoa học; có ý thức sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; có nhận thức đúng và thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân; rèn luyện được sự tự tin, trung thực, khách quan Đồng thời môn Giáo dục kinh tế và pháp luật còn hình thành và phát triển được các năng lực chung như:
- Năng lực tự chủ và tự học: Trong dạy học Giáo dục kinh tế và pháp luật,
năng lực tự chủ được hình thành thông qua các hoạt động thực hành, làm dự án, thiết kế các hoạt động, đặc biệt trong tổ chức tìm tòi khám phá Định hướng tự chủ, tích cực, chủ động trong phương pháp dạy học mà môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật chú trọng là cơ hội thường xuyên giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự học
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Năng lực này được hình thành và phát triển
thông qua các hoạt động như quan sát, xây dựng giả thuyết khoa học, lập và thực hiện kế hoạch kiểm chứng giả thuyết, thu thập và xử lý dữ liệu, tổng hợp kết quả và trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu Đó là những kỹ năng thường xuyên được rèn luyện trong dạy học các chủ đề môn Giáo dục kinh tế và pháp luật Khi thực hiện các hoạt động học tập nói trên cần làm việc theo nhóm, trong đó mỗi thành viên thực hiện các phần khác nhau của cùng một nhiệm vụ, người học được trao đổi, trình bày, chia sẽ ý tưởng, nội dung học tập Đây là những cơ hội thuận lợi để người học có thể hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Giải quyết vấn đề và sáng tạo là
hoạt động đặc thù trong quá trình tìm hiểu và khám phá tri thức, giải quyết các tình huống thực tiễn Vì vậy, phát triển năng lực này là một trong những nội dung giáo dục cốt lõi của môn Giáo dục kinh tế và pháp luật Năng lực chung này được thể hiện trong việc tổ chức học sinh đề xuất vấn đề, nêu giả thuyết, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch tìm tòi, khám phá các tri thức, giải quyết các tình huống gần gũi với cuộc sống hàng ngày
Trang 12- Đồng thời với việc hình thành và phát triển được các năng lực chung môn Giáo kinh tế và pháp luật còn hình thành và phát triển các năng lực đặc thù:
+ Năng lực điều chỉnh hành vi;
+ Năng lực phát triển bản thân;
+ Năng lực tìm hiểu và tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội
1.1.2.3 Đánh giá năng lực
+ Định nghĩa đánh giá năng lực
Theo quan điểm giáo dục hướng vào người học, đánh giá kết quả giáo dục phải hướng tới việc sau khi học xong, người học có thể vận dụng kiến thức, kĩ năng học được vào thực tiễn cuộc sống
Các tác giả Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2016) chỉ ra các đặc điểm
cơ bản của đánh giá năng lực như sau:
- Đánh giá năng lực người học bao gồm đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ
và các kĩ năng học tập, đo lường các khả năng tiềm ẩn của người học và xác định các năng lực sử dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện việc học đạt tới một chuẩn nào đó
Như vậy, đánh giá năng lực người học là đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đặt ra biểu hiện trên sản phẩm tương ứng với chuẩn đầu ra của người học
+ Hình thức đánh giá năng lực
Trong các loại hình thức đánh giá trong giáo dục, hình thức phù hợp với đánh giá năng lực học sinh trong dạy học môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật là: Đánh giá tổng kết và đánh giá hình thành (đánh giá quá trình), đánh giá theo tiêu chí, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng
1.1.2.4 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh trung học phổ thông
Hiện nay, khái niệm năng lực và năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (NL GQVĐ&ST) có nhiều định nghĩa khác nhau, phản ánh các khía cạnh khác nhau của
vấn đề này Tuy nhiên, theo khái niệm năng lực được nêu ra trong tài liệu: Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể - Bộ GD&ĐT, chúng tôi quan niệm: “NL GQVĐ&ST của HS là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, cảm xúc để phân tích, đề xuất các biện pháp, lựa chọn giải pháp và thực hiện giải quyết những tình huống, những vấn đề học tập và thực tiễn mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường, đồng thời đánh giá giải pháp GQVĐ để điều chỉnh và vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh, nhiệm vụ mới”
Theo tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể - Bộ
GD&ĐT, chúng tôi đã xác định cấu trúc NL GQVĐ&ST của HS gồm sáu thành tố: nhận ra ý tưởng mới; phát hiện và làm rõ vấn đề; hình thành và triển khai ý tưởng
Trang 13mới; đề xuất, lựa chọn giải pháp; thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ; tư duy độc lập Mỗi thành tố bao gồm một số hành vi của cá nhân khi làm việc nhóm hoặc làm việc độc lập trong quá trình GQVĐ
Năng lực GQVĐ&ST giúp HS có ý thức, trách nhiệm với cá nhân, gia đình
và xã hội; ý thức nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc; có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào việc phát hiện và giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn để đáp ứng yêu cầu trong xã hội tri thức và hội nhập quốc tế
1.1.3 Khái niệm dạy học dự án
Dạy học dự án là một hình thức, phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, tham vấn, tạo môi trường, tạo tình huống có vấn đề, còn người học tích cực, chủ động lĩnh hội tri thức, kỹ năng thông qua các dự án gắn nội dung học tập với các vấn đề có thật trong thực tiễn trong cuộc sống Từ đó tạo ra sản phẩm để báo cáo, trình bày…
1.2.1.1.Phương pháp khảo sát
- Sử dụng phiếu khảo sát để lấy ý kiến của GV và HS (Phụ Lục 1)
- Dùng phương pháp thống kê số liệu để có được kết quả cụ thể
1.2.1.2.Kết quả khảo sát
Tôi đã gửi phiếu khảo sát tới 14 GV ở 5 trường: THPT Diễn Châu 1, THPT Diễn Châu 2, THPT Diễn Châu 3, THPT Diễn Châu 4, THPT Diễn Châu 5 trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và 127 HS trường THPT Diễn Châu 4 trong năm học 2022 - 2023 để lấy ý kiến (Phụ lục 1)
Đối với GV tôi gửi phiếu khảo sát gồm các câu hỏi khảo sát về việc KTĐG, những hiểu biết về rubric, những thuận lợi khó khăn khi sử dụng rubric vào ĐGNL
HS trong dạy học GDCD và giáo dục Kinh tế và Pháp luật Đối với HS, tôi gửi
phiếu khảo sát gồm các câu hỏi mong muốn của HS ở mỗi bài kiểm tra, những hiểu biết về rubric
Kết quả thu được như sau:
* Về thực trạng KTĐG trong môn GDCD và giáo dục kinh tế và pháp luật ở trường THPT
Ở câu hỏi “Thầy/cô ĐG về hiệu quả và sự cần thiết của việc áp dụng phương
pháp KTĐG mới (ĐGNL) vào dạy học môn GDCD và Giáo dục kinh tế và pháp luật như thế nào?” có đến 12/14 GV (85,71%) cho rằng phương pháp KTĐG mới
Trang 14(ĐGNL) là phương pháp đạt hiệu quả cao cần thường xuyên được áp dụng, 2 GV còn lại chọn phương án có hiệu quả tốt khi áp dụng vào đối tượng phù hợp - thỉnh thoảng áp dụng và không có GV nào chọn phương án không mấy hiệu quả - hầu như không áp dụng Điều này chứng tỏ các thầy cô đều đã nhận ra sự quan trọng và cần thiết của phương pháp KTĐG NL của HS, thay vì KTĐG kiến thức như trước đây Tuy nhiên, thực trạng gặp phải là việc KTĐG lâu nay ở trường phổ thông chỉ chú trọng điểm số và mục đích của KTĐG chủ yếu để phục vụ việc xếp loại HS, xét lên lớp, ở lại Trong khi đó, chức năng cung cấp thông tin phản hồi cho HS và GV về quá trình dạy học hầu như bị bỏ qua hay ít được quan tâm đến Theo khảo sát ở câu hỏi:
“Mục đích chung của việc KTĐG trong thực tế lâu nay là gì?” có 7/14 GV(50%) và 106/127 HS(83,5%) HS chọn phương án A: Đánh giá, ghi điểm số, xếp loại chất lượng học tập Hơn nữa, nhiều thầy cô cũng cho rằng việc tổ chức kiểm tra, ĐGNL
của HS cũng gặp một số khó khăn
Bảng 1.3 Mong muốn của HS ở mỗi bài kiểm tra
Những khó khăn trong ĐG HS Học sinh lựa chọn
Số lượng Tỉ lệ
A Thầy/ cô đưa ra các tiêu chí cụ thể, rõ ràng ở mỗi bài
kiểm tra
Bảng 1.4 Các cách đánh giá học sinh
Những khó khăn trong ĐG HS GV áp dụng
Số lượng Tỉ lệ
B Giáo viên đánh giá học sinh, kết hợp học sinh tự
đánh giá chính mình
C Giáo viên đánh giá học sinh, kết hợp với học sinh
đánh giá lẫn nhau, học sinh tự đánh giá mình
Từ bảng 1.3 và bảng 1.4 sẽ thấy có điểm chung giữa mong muốn của HS và những điều băn khoăn chưa giải quyết được triệt để của GV đó là: ĐG công bằng giữa các HS và giúp HS nhận diện được hết các ưu, nhược điểm trong bài làm của mình Số đông HS muốn thầy cô đưa ra các tiêu chí cụ thể, rõ ràng ở mỗi bài kiểm tra để có những phương hướng làm bài hiệu quả hơn Và nhìn vào các tiêu chí đó,
Trang 15HS cũng sẽ dễ dàng nhận ra những ưu nhược điểm của chính bản thân mình Chính
vì không có các tiêu chí cụ thể nên ở câu hỏi khảo sát HS: “Theo em, điểm số, kết quả ĐG của thầy/ cô đã phản ánh đúng NL của em chưa?” thì chỉ có 23 HS (18,1%) trả lời rất chính xác, 64 HS (50,4%) trả lời tương đối chính xác và có đến 40 HS (31,5%) trả lời là không chính xác
Tìm hiểu về cách thức và công cụ GV thường sử dụng để ĐG HS tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1.5 Công cụ để đánh giá năng lực học sinh
Những công cụ trong ĐG HS Học sinh lựa chọn
Từ bảng 1.5 ta cũng thấy, công cụ chủ yếu mà GV sử dụng trong ĐG HS là câu hỏi (100%), bài tập (92,9%) và đề kiểm tra (100%), sản phẩm học tập (64,28%) Đây cũng là những công cụ truyền thống mà từ trước tới nay GV hay dùng Chỉ có
số ít dùng hồ sơ học tập (14,29%), bảng kiểm (14,29%), thang đánh giá (14,29%), phiếu đánh giá theo tiêu chí (21,42%) Thực ra, những công cụ ĐG này không mới nhưng nhiều GV có tâm lí ngại tìm hiểu, sợ mất nhiều thời gian nên hầu hết vẫn sử dụng những công cụ ĐG quen thuộc
1.2.2 Thực trạng về vấn đề sử dụng rubric trong kiểm tra đánh giá năng lực của giáo viên GDCD và Giáo dục kinh tế và pháp luật ở trường THPT Diễn Châu 4 và một số trường THPT trên địa bàn Diễn Châu
Để đánh giá, tìm hiểu thực trạng về sử dụng Rubic trong kiểm tra đánh giá năng lực của giáo viên GDCD và Giáo dục Kinh tế và Pháp luật ở trường THPT Diễn Châu 4 một số trường THPT trên địa bàn Diễn Châu, tôi đã sử dụng phiếu khảo sát (phụ lục 1) và thu được kết quả như sau:
Bảng 1.6 Mức độ hiểu biết về rubric
Mức độ hiểu biết về rubric Số lượng lựa chọn
Trang 16Giáo viên
Tỉ lệ Học
sinh
Tỉ lệ
C Đã tìm hiểu nhưng chưa sử dụng 3 21,42% 7 5,5%
2021 - 2022 đã nói đến rubric là một công cụ trong ĐG HS theo hướng phát triển
NL Tuy nhiên, một nửa GV được khảo sát mới chỉ nghe qua (7 GV chiếm 50 %) và
đã tìm hiểu nhưng chưa sử dụng (3 GV chiếm 21,42 %), chỉ có 4 GV đã từng sử dụng rubric nhưng cũng chưa thật sự hiểu rõ
Tỉ lệ hiểu về rubric ở HS lại không giống với GV Có đến 94 HS (74%) không biết về rubric, 24 HS (18,9%) mới nghe qua và chỉ có 2 HS (1,6%) biết rất rõ về rubric Điều này chứng tỏ HS hầu hết chưa được sử dụng rubric hoặc đã sử dụng một vài lần nhưng chính bản thân HS cũng không biết đó chính là rubric
Bảng 1.7 Mức độ quan tâm của giáo viên trong việc ĐGNL HS trong môn GD KT&PL ở trường THPT
Mức độ quan tâm của GV trong việc
Bảng 1.8 Những thuận lợi khi sử dụng rubric để đánh giá năng lựcHS
Những thuận lợi khi sử dụng rubric để
đánh giá NL học sinh
Mức độ tán thành Tán thành Trung lập Không tán
thành
Trang 17A.Rubric đảm bảo tính chính xác, khoa
B.Rubric đảm bảo tính khách quan khi
Bảng 1.9 Những khó khăn khi sử dụng rubric để đánh giá năng lực HS
Những khó khăn khi sử dụng rubric để
đánh giá NL của học sinh
Mức độ tán thành
Tán thành
B.Thiết kế rubric lần đầu tiên rất khó và
mất nhiều thời gian
Khi nhìn vào rubric thiết kế mẫu, hầu hết GV đều nhận thấy mô hình này không
xa lạ Thực ra, khái niệm “rubric” còn khá mới mẻ, song mỗi GV đều đã từng dùng
mô hình rubric để đánh giá HS ở mức độ đơn giản mà họ không ý thức được đó là rubric Nhìn vào tỉ lệ %, chúng tôi nhận thấy các giáo viên đều biết rõ về lợi ích của rubric trong đánh giá HS Đó là sự chính xác, khách quan, nhất quán khi chấm điểm Song bên cạnh đó, họ cũng thừa nhận rằng thiết kế một rubric đánh giá mất nhiều thời gian và công sức Mặt khác, việc xác định các tiêu chí và các mức độ đạt được tiêu chí của rubric khá phức tạp Vì những lý do đó, việc giáo viên áp dụng rubric vào dạy học GD KT&PL nói chung và trong ĐG NL GQVĐ & ST nói riêng còn nhiều hạn chế
Bảng 1.10 Kết quả phiếu điều tra tính cần thiết của việc thiết kế và sử dụng rubric trong dạy học phát triển năng lực
Các câu hỏi khảo sát Rất cần thiết Cần thiết Không
Trang 18cần thiết
Thầy (cô) có cho rằng thiết
thiết kế và sử dụng rubric
trong dạy học phát triển năng
lực cho học sinh là rất cần thiết
hay không?
5 GV 35,71%
9 GV 64,29%
0 GV 0,0%
Qua khảo sát cả 14 giáo viên được hỏi có 35,71% trả lời là rât cần thiết và 64,29% cho là cần thiết Điều đó chứng tỏ rằng các thầy cô đã nhận thức rõ vai trò của rubric trong KTĐG học sinh, thấy được tính cần thiết trong việc thiết kế và sử dụng rubric để đánh giá HS trong dạy học phát triển năng lực
Đánh giá chung về thực trạng:
Với kết quả khảo sát sự hiểu biết và việc áp dụng rubric vào dạy học GDCD và Giáo dục kinh tế và pháp luật còn thấp Như vậy có thể thấy được, mặc dù các trường đã chú trọng đổi mới phương pháp, hình thức dạy học nhưng việc ứng dụng các công cụ KTĐG mới theo hướng phát triển NL người học còn nhiều hạn chế Việc đổi mới chương trình phải thực hiện đồng bộ, toàn diện, hiệu quả, bắt đầu từ khâu kiểm tra ĐG Sử dụng công cụ rubric vào ĐGNL sẽ góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới dạy học bộ môn Giáo dục kinh tế và pháp luật từ đó kích thích hứng thú cho
HS trong việc học tập bộ môn ở trường THPT
CHƯƠNG II THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG RUBRIC ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC DỰ ÁN MÔN GIÁO DỤC KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT THPT
2.1 Cơ sở thiết kế rubric đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án
Để thiết kế rubric đánh giá NL GQVĐ&ST của HS cần dựa vào các cơ sở sau:
- Đặc điểm và tiến trình của DHDA:
+ Đặc điểm của DHDA được mô tả theo sơ đồ sau:
Trang 19Sơ đồ 1 Đặc điểm của Dạy học dự án
+ Tiến trình của dạy học theo dự án gồm 6 bước cơ bản: Lựa chọn chủ đề, lập kế hoạch, thu thập thông tin, xử lí thông tin, trình bày kết quả, đánh giá kết quả
- Biểu hiện NL GQVĐ&ST của HS thông qua DHDA:
Từ kết quả nghiên cứu về NL GQVĐ&ST và thực tiễn dạy học môn Giáo dục Kinh tế
và Pháp luật ở trường THPT và đặc điểm nhận thức của HS THPT tôi xác định 10 biểu hiện NL GQVĐ&ST của HS trong DHDA như sau:
+ Phân tích, xác định được mục tiêu, tình huống, nhiệm vụ học tập của dự án;
+ Đề xuất được câu hỏi nghiên cứu và xác định các nội dung cụ thể cho đề tài dự án; + Xác định, thu thập và xử lí thông tin, đảm bảo sự phù hợp cho việc thực hiện dự án; + Đề xuất được phương án GQVĐ đặt ra trong dự án và lựa chọn được phương án phù hợp;
+ Lập được kế hoạch thực hiện dự án;
+ Thực hiện được kế hoạch dự án đề ra theo phương án đã chọn một cách hiệu quả, đúng tiến độ với sự nỗ lực của cá nhân và hợp tác trong nhóm;
+ Xây dựng sản phẩm dự án, báo cáo kết quả thể hiện được nội dung hoạt động nghiên cứu, đầy đủ, khoa học, có sáng tạo;
+ Trình bày sản phẩm dự án rõ ràng, logic, khoa học và lôi cuốn;
+ Sử dụng các tiêu chí trong đánh giá và tự đánh giá kết quả trong dạy học theo dự án; + Điều chỉnh trong quá trình thực hiện dự án và vận dụng vào giải quyết các tình huống hoạt động khác
2.2 Thiết kế rubric để đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án trong dạy học Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp
10 THPT
2.2.1 Nguyên tắc và quy trình xây dựng rubric
-Nguyên tắc thiết kế rubric:
Trang 20+ Muốn Rubric thực sự phát huy hết hiệu quả, GV cần quan tâm đến việc thiết kế Rubric sao cho các tiêu chí có thông tin mô tả rõ ràng, phản ánh đầy đủ các nội dung, mục tiêu trong dạy học Bên cạnh đó, ngôn ngữ sử dụng trong Rubric phải
- Quy trình thiết kế rubric: Gồm 10 bước
Dựa trên ý tưởng các bước xây dựng rubric của TS Tôn Quang Cường và qua quá trình nghiên cứu tài liệu về rubric tôi đã xây dựng được một quy trình thiết kế rubric hoàn chỉnh Dưới đây là quy trình xây dựng rubric:
Bước 1: Xác định các chuẩn học tập mà GV và HS cần đáp ứng Xây dựng
Rubric dựa vào các chuẩn học tập để đảm bảo HS được học những nội dung và kĩ năng thích hợp Điều này sẽ tạo ra sự phù hợp giữa hướng dẫn cho điểm với các mục tiêu và chỉ dẫn thực tế
Bước 2: GV phát triển các mục tiêu học tập Phác thảo những nội dung cần
thiết trong sản phẩm hay trong quá trình HS hoàn thành nhiệm vụ học tập Chỉ rõ các đặc điểm, kĩ năng hoặc hành vi mà GV mong đợi, cũng như những sai lầm phổ biến mà HS thường gặp
Bước 3: Xác định nhiệm vụ, đối tượng đánh giá
Bước 4: Lập bảng các tiêu chí (mô tả lại mục tiêu một cách chi tiết) Giai
đoạn này GV nên thảo luận cùng học sinh để xây dựng các tiêu chí phù hợp, từ đó
HS cũng nắm vững được các tiêu chí để cùng tham gia vào quá trình đánh giá và điều chỉnh hoạt động học tập của mình đáp ứng được các yêu cầu mong đợi
Bước 5: Xác định mức đạt mục tiêu (xếp hạng các tiêu chí) (Ở bước này
bảng rubric đã được GV xây dựng xong Tuy nhiên bảng rubric này vẫn chưa được
sử dụng chính thức) Trước khi phát cho HS thì GV sẽ hỏi ý kiến của các chuyên gia
về các bảng rubric để thống nhất chuẩn chung mà HS cần phải đạt được
Bước 6: GV phát trước cho mỗi HS một bảng rubric trước ngày dạy 2 tuần
Khi giao bảng rubric thì GV sẽ yêu cầu HS thực hiện các công việc sau đây: Thứ nhất, HS đọc trước bảng rubric; Thứ hai, sau khi đã đọc xong yêu cầu HS nêu ý kiến của mình về bảng rubric Cụ thể là HS sẽ nêu ưu điểm, khuyết điểm và góp ý kiến
về bảng rubric
Bước 7: Thu lại các bảng rubric của các HS Sau đó ghi nhận và tổng hợp lại
các ý kiến của HS
Trang 21Bước 8: Thảo luận trên lớp giữa GV và HS về bảng rubric để từ đó giúp cho
GV điều chỉnh bảng rubric cho phù hợp với trình độ của HS Sau quá trình thảo luận các ý kiến với HS thì GV sẽ đưa ra quyết định thêm hoặc bỏ bớt phần nội dung nào Công việc này có sự thống nhất ý kiến của cả thầy lẫn trò
Bước 9: GV chỉnh sửa lại các bảng rubric cho thật sự phù hợp với sức học của
HS và theo sự thống nhất giữa ý kiến của cả thầy và trò
Bước 10: GV phát lại bảng rubric đã chỉnh sửa cho các em HS Và yêu cầu
các em phải đọc lại và chuẩn bị bài học trước dựa trên bảng rurbic đã hoàn chỉnh Đến bước này thì HS sẽ chính thức được sử dụng rubric
2.2.2 Xác định cấu trúc năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh
Theo tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể - Bộ
GD&ĐT, tôi đã xác định cấu trúc NLGQVĐ&ST của HS gồm sáu thành tố: nhận ra
ý tưởng mới; phát hiện và làm rõ vấn đề; hình thành và triển khai ý tưởng mới; đề xuất, lựa chọn giải pháp; thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ; tư duy độc lập Mỗi thành tố bao gồm một số hành vi của cá nhân khi làm việc nhóm hoặc làm việc độc lập trong quá trình GQVĐ
Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 chuẩn năng lực NLGQVĐ&ST cho cấp học THPT được xác định như sau:
Phát hiện và làm
rõ vấn đề
Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống
Đề xuất, lựa chọn
giải pháp
Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề; biết
đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất
Thực hiện và
đánh giá giải
Lập được kế hoạch hoạt động có mục tiêu, nội dung, hình thức, phương tiện hoạt động phù hợp;
Trang 22pháp GQVĐ Tập hợp và điều phối được nguồn lực (nhân lực, vật lực) cần
thiết cho hoạt động
Biết điều chỉnh kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch, cách thức
và tiến trình giải quyết vấn đề cho phù hợp với hoàn cảnh để đạt hiệu quả cao
Đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động
Tư duy độc lập Biết đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận
thông tin một chiều; không thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn đề; biết quan tâm tới các lập luận và minh chứng thuyết phục; sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề…
2.2.3 Xác định tiêu chí và mức độ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật
Mục tiêu: Để thiết kế được phiếu đánh giá theo tiêu chí (rubric) một cách khoa học,
GV cùng học sinh phải xác định được các tiêu chí cụ thể và mức độ đánh giá của từng tiêu chí
Cách tiến hành:
Muốn Rubric thực sự phát huy hết hiệu quả, GV cần quan tâm đến việc thiết
kế rubric sao cho các tiêu chí có thông tin mô tả rõ ràng, phản ánh đầy đủ các nội dung, mục tiêu trong dạy học
Từ các biểu hiện và cấu trúc của GQVĐ và ST, tôi đã cùng với HS nghiên cứu thảo luận đề xuất các tiêu chí, mức độ đánh giá NL GQVĐ&ST như sau:
+ Tiêu chí 1: Phân tích, xác định mục tiêu, tình huống, nhiệm vụ học tập của dự
án
+ Tiêu chí 2: Đề xuất câu hỏi nghiên cứu cho đề tài dự án và xác định nội dung cụ thể
+ Tiêu chí 3: Xác định, thu thập và xử lí thông tin
+ Tiêu chí 4: Đề xuất phương án và lựa chọn được phương án GQVĐ
+ Tiêu chí 5: Lập kế hoạch thực hiện dự án
+ Tiêu chí 6: Thực hiện kế hoạch dự án
+ Tiêu chí 7: Xây dựng sản phẩm dự án/báo cáo kết quả nghiên cứu
Trang 23Mỗi tiêu chí được chia làm 4 mức độ:
Mức 1: tương đương với mức chưa đạt, được 0 - 4 điểm
Mức 2: tương đương với mức độ đạt, được 5 - 6 điểm
Mức 3: : tương đương với mức độ khá, được 7 - 8 điểm
Mức 4: tương đương với mức độ tốt, được 9 - 10 điểm
Bảng 2.1 Tiêu chí và các mức độ NLGQVĐ&ST của HS thông qua DHDA trong môn Giáo dục Kinh tế và Pháp luật
dự án chưa rõ ràng, xác định mục tiêu chưa đầy đủ
Phân tích được tình huống, nhiệm
vụ của dự án nhưng xác định mục tiêu chưa đầy đủ,
rõ ràng
Phân tích được tình huống, nhiệm vụ của
dự án, xác định mục tiêu tương đối đầy đủ, rõ ràng
Phân tích được tình huống, nhiệm vụ của
dự án và xác định mục tiêu đầy đủ, rõ ràng
Đề xuất được câu hỏi thể hiện định hướng nghiên cứu và xác định được một
số nội dung nghiên cứu nhưng chưa đầy đủ
Đề xuất được câu hỏi thể hiện định hướng nghiên cứu và xác định được nội dung nghiên cứu tương đối
rõ ràng, đầy đủ
và hiểu được câu hỏi, yêu cầu của nhóm đưa ra
Đề xuất được câu hỏi thể hiện định hướng nghiên cứu và xác định được nội dung nghiên cứu rõ ràng và đầy đủ, hiểu được câu hỏi nghiên cứu
thông tin chưa phù hợp
Xác định và thu thập được nguồn thông tin có liên quan đến vấn đề ở mức kinh nghiệm bản thân; lựa chọn, sắp xếp, kết nối, thông tin
Xác định và thu thập được nguồn thông tin Biết tìm kiếm các thông tin có liên quan đến vấn đề ở sách giáo khoa
và thảo luận với bạn; lựa chọn,
Xác định và thu thập tìm kiếm được nguồn thông tin có liên quan đến vấn đề ở sách giáo khoa, tài liệu tham khảo khác và thông qua thảo luận
Trang 24chưa phù hợp sắp xếp, kết nối
thông tin một cách tương đối phù hợp
với người khác; lựa chọn, sắp xếp, kết nối, thông tin một cách phù hợp
Đề xuất và lựa chọn được 1 phương án tương đối phù hợp để GQVĐ đặt ra trong dự
án
Đề xuất được một số phương
án GQVĐ
Lựa chọn được phương án tương đối phù hợp để GQVĐ đặt ra trong dự
án
Đề xuất được phương án tối
ưu để GQVĐ Lựa chọn được phương án phù hợp để GQVĐ đặt ra trong dự
đủ, chi tiết, hoặc chưa đầy đủ các điều kiện đảm bảo thực hiện nhiệm
vụ của dự án, còn lúng túng
Lập được kế hoạch thực hiện dự án đảm bảo GQVĐ đặt ra nhưng chưa đầy đủ, chi tiết
Lập được kế hoạch thực hiện dự án đảm bảo GQVĐ đặt ra tương đối đầy
đủ, chi tiết
Lập được kế hoạch thực hiện dự án chi tiết, đầy đủ, đảm bảo các điều kiện để giải quyết được các nhiệm vụ đặt
vụ được giao phải cần sự hỗ trợ nhiều
từ các thành viên trong nhóm
Thực hiện kế hoạch, hoàn thành nhiệm
vụ được giao nhưng còn lúng túng trong phối hợp với các thành viên khác
Thực hiện kế hoạch, hoàn thành nhiệm
vụ được giao
Có sự hợp tác nhóm với các thành viên khác tương đối hiệu quả, sáng tạo
Thực hiện kế hoạch, hoàn thành nhiệm
vụ được giao một cách độc lập theo cá nhân và hợp tác nhóm hiệu quả, sáng tạo
đủ, chưa sắp xếp theo logic hợp lí
Tổng hợp được kết quả nghiên cứu tương đối đầy đủ nhưng sắp xếp chưa
Tổng hợp kết quả nghiên cứu đầy đủ, sắp xếp theo logic nhưng chưa
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu chi tiết đầy đủ, sắp xếp theo logic,
Trang 25sơ lược cách trình bày chưa thật
rõ ràng, cấu trúc chưa hợp lí
Sử dụng các phương tiện trực quan trong báo cáo nhưng chưa nêu được đầy đủ kết quả nghiên cứu, cách trình bày cấu trúc rõ ràng nhưng chưa ấn tượng, sáng tạo
Sử dụng các phương tiện trực quan trong báo cáo nêu tương đối đầy
đủ kết quả nghiên cứu, cách trình bày
đa dạng, cấu trúc rõ ràng, tương đối ấn tượng
Sử dụng các phương tiện trực quan, sơ
đồ tư duy, hình ảnh, biểu bảng kết quả nghiên cứu dự án Trình bày rõ ràng, logic chặt chẽ, thể hiện sự sáng tạo (minh họa hình ảnh, mẫu vật, video, )
và sản phẩm dự án chưa đầy đủ và chi tiết, chưa biết lập luận giải thích
Sử dụng được các tiêu chí trong phiếu đánh giá NLGQVĐ&ST
và sản phẩm
dự án để tự đánh giá nhưng chưa chi tiết, có lập luận, giải thích nhưng chưa rõ ràng
Sử dụng được các tiêu chí trong phiếu đánh giá NLGQVĐ&ST
và sản phẩm
dự án để tự đánh giá tương đối đầy đủ, có lập luận, giải thích tương đối
rõ ràng
Sử dụng được các tiêu chí trong phiếu đánh giá NLGQVĐ&ST
và sản phẩm
dự án để tự đánh giá một cách đầy đủ, chi tiết và có lập luận giải thích rõ ràng
Chưa đánh giá được giải pháp và chưa vận dụng được trong tình huống tương tự
Biết tự điều chỉnh các hoạt động trong thực hiện giải pháp GQVĐ, nhưng chưa đánh giá được giải pháp Vận dụng được trong tình huống tương
Biết tự điều chỉnh các hoạt động trong thực hiện giải pháp GQVĐ,
đã đánh giá được giải pháp Vận dụng tương đối tốt trong một
số tình huống
Tự điều chỉnh các hoạt động trong thực hiện giải pháp GQVĐ hợp lí, nhận ra được
sự phù hợp và không phù hợp của giải pháp Vận dụng được trong
Trang 26thực tế
khác
tự nhưng còn lúng túng
tương tự tình huống
tương tự
` Với bảng tiêu chí được mô tả chi tiết như trên tôi đã thiết kế phiếu quan sát đánh giá
NL GQVĐ&ST của GV đối với HS, phiếu tự đánh giá NL GQVĐ&ST của HS trong quá trình thực hiện dự án, phiếu đánh giá của GV, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của
HS đối với sản phẩm dự án
2.2.4 Thiết kế phiếu quan sát đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật lớp 10 THPT
* Mục tiêu: Việc thiết kế phiếu quan sát giúp GV đánh giá được NL GQVĐ&ST
trong cả quá trình thực hiện dự án của HS, kịp thời điều chỉnh và giúp HS biết được mục tiêu cần đạt, nhận biết điểm mạnh, điểm yếu cũng như có khả năng tự điều chỉnh trong thực hiện nhiệm vụ học tập
* Cách thức tiến hành:
Từ các tiêu chí và các mức độ NLGQVĐ&ST của HS đã xây dựng ở mục 2.2.3, tôi đã thiết kế phiếu quan sát theo các tiêu chí đánh giá NLGQVĐ&ST trong DHDA cho HS THPT trong dạy học môn Giáo dục kinh tế và pháp luật như sau: Phiếu quan sát gồm 10 tiêu chí đã được xây dựng, mỗi tiêu chí GV phân chia 4 mức độ
để đánh giá HS
Bảng 2.2 Phiếu quan sát đánh giá NLGQVĐ&ST trong DHDA
(Sử dụng trong đánh giá cá nhân HS, nhóm HS) Trường: Tỉnh:
Họ tên GV:
Tên bài học/chủ đề dự án: Đối tượng quan sát: Lớp: Nhóm:
TT Tiêu chí thể hiện
NLGQVĐ&ST của
HS
Đánh giá mức độ phát triển NLGQVĐ&ST/điểm đạt được
2 Đề xuất câu hỏi định
hướng nghiên cứu cho
đề tài dự án đã chọn
Trang 27có giá trị như nhau Như vậy, tổng điểm cao nhất (điểm kì vọng) về quá trình thực hiện dự án của HS là 10 x 4 = 40
Điểm TB = Tổng điẻm các tiêu chí: 40 x 100%
- Mức độ tốt: Đạt từ khoảng 85-100% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 8,5-10 điểm)
- Mức độ khá: Đạt từ khoảng 65 - dưới 85% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 6,5 - dưới 8,5 điểm)
- Mức độ đạt: Đạt từ khoảng 45 - dưới 65% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 4,5 - dưới 6,5 điểm)
Trang 28- Mức độ chưa đạt: Đạt từ dưới 45% yêu cầu (hoặc tổng điểm từ 0 - dưới 4,5 điểm)
Khi đánh giá HS A, tổng tất cả các tiêu chí của HS đó được 35, thì HS A sẽ
có điểm số là: 35 : 40 x 100 = 87,5 % (9 điểm tương ứng với mức Tốt)
2.2.5 Thiết kế rubric tự đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong thực hiện dự án của học sinh
* Mục tiêu: Phiếu tự đánh giá theo tiêu chí của HS trong quá trình thực hiện dự án giúp làm rõ sự phát triển NLGQVĐ&ST của HS trong quá trình thực hiện dự án Việc thiết kế và sử dụng phiếu tự đánh giá theo tiêu chí sẽ mang lại hiệu quả rất lớn cho GV và HS Trong đó, việc xây dựng phiếu theo dạng định tính hay định lượng
sẽ giúp HS tự đánh giá được năng lực của mình và của các thành viên khác, từ đó điều chỉnh quá trình tham gia thực hiện dự án của bản thân, đạt được kì vọng mong đợi
*Cách thức tiến hành:
Dựa vào bảng tiêu chí NLGQVĐ&ST 2.1 đã được xây dựng, GV cùng với
HS thiết kế phiếu tự đánh giá Mỗi tiêu chí được chia thành 4 mức: Tốt, khá, đạt và chưa đạt
Bảng 2.3 Phiếu tự đánh giá NLGQVĐ&ST của HS trong thực hiện dự án
(Dùng cho HS tự đánh giá - đánh giá đồng đẳng) Tên bài học/chủ đề dự án:
2 Đóng góp, đề xuất được câu
hỏi nghiên cứu cho đề tài dự án
Trang 29Tổng điểm đánh giá đồng đẳng
Cách sử dụng thang điểm:
- Mức 4: Làm tốt công việc của mình và giúp đỡ các thành viên khác, tương ứng với
9 - 10 điểm
- Mức 3: Làm đúng và tốt công việc của mình, tương ứng với 7 - 8 điểm
- Mức 2: Làm không bằng các thành viên khác hoặc làm chưa tốt lắm, tương ứng với 5 - 6 điểm
- Mức 1: Chây lười, ỉ lại hoặc thiếu trách nhiệm: tương ứng với 1- 4 điểm
Cách tính điểm:
Trọng số mỗi tiêu chí 1,2,3,4 là 15%, tiêu chí 5 là 40% như vậy khi HS tự đánh giá, điểm số kì vọng là 100% = 10 điểm
Điểm TB được tính: (điểm tiêu chí: 1 + 2 + 3 + 4) x 0,15 + điểm tiêu chí 5 x 0,4
- Mức độ tốt: Đạt từ khoảng 85-100% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 8,5-10 điểm)
- Mức độ khá: Đạt từ khoảng 65 - dưới 85% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 6,5 - dưới 8,5 điểm)
- Mức độ đạt: Đạt từ khoảng 45 - dưới 65% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 4,5 - dưới 6,5 điểm)
- Mức độ chưa đạt: Đạt từ dưới 45% yêu cầu (hoặc tổng điểm từ 0 - dưới 4,5 điểm)
Ví dụ: HS A tiêu chí 1được đánh giá mức 4: 10 điểm, tiêu chí 2 đánh giá ở mức 3: 8 điểm, tiêu chí 3 đánh giá ở mức 3: 8 điểm, tiêu chí 4 đánh giá ở mức 3: 7 điểm, tiêu chí 5 đánh giá ở mức 2: 6 điểm
Điểm được tính như sau: (10 + 8 + 8 + 7) x 0,15 + 6 x 0,4 = 7,35: đạt mức khá
2.2.6 Thiết kế rubric đánh giá sản phẩm dự án của học sinh
* Mục tiêu: Thiết kế phiếu đánh giá và tự đánh giá sản phẩm của HS sau quá trình thực hiện dự án để làm rõ sự phát triển NLGQVĐ&ST của HS Thông qua phiếu đánh giá được thiết kế và kết quả đánh giá, GV điều chỉnh quá trình dạy và HS tự điều chỉnh hoạt động học của mình
* Cách thức tiến hành:
Phiếu đánh giá và tự đánh giá sản phẩm của HS phải có những tiêu chí cụ thể
rõ ràng, sát với tiêu chí đánh giá NLGQVĐ&ST của HS đã được xây dựng
Việc thiết kế phiếu đánh giá sản phẩm dự án được thực hiện theo quy trình sau: Bước 1: Xác định đối tượng, mục tiêu và thời điểm đánh giá
Trang 30Bước 2: Xác định nội dung và các tiêu chí cần đánh giá
Bước 3: Thiết kế các tiêu chí và các mức độ đạt được của tiêu chí tùy theo đặc điểm của mỗi loại sản phẩm hoạt động của HS (báo cáo thuyết trình, bài trình chiếu, sản phẩm vật chất, tranh ảnh, ) và có thêm các tiêu chí khác mang tính đặc thù của sản phẩm
Bước 4: Xác định thang đo mức độ của các tiêu chí của NLGQVĐ&ST và thống nhất với HS để hoàn thiện phiếu đánh giá
Bước 5: Xác định cách thức xử lí dữ liệu đánh giá
2.2.6.1 Thiết kế rubric đánh giá sản phẩm dự án của HS (dùng cho GV đánh giá)
Phiếu đánh giá sản phẩm dự án của HS (dùng cho GV đánh giá) thể hiện ở bảng 2.4
Bảng 2.4 Phiếu đánh giá sản phẩm báo cáo dự án
(Dùng cho GV đánh giá) Tên sản phẩm dự án :
Nhóm (học sinh) được đánh giá:
Tiêu chí Các mức độ đạt được của các tiêu chí Mức
đạt được
đề giải quyết nhưng chưa đầy đủ, cách thức giải quyết chưa thật phù hợp
Nêu được mục tiêu, vấn
đề cần giải quyết và cách thức giải quyết tương đối phù hợp
Xác định được mục tiêu, vấn đề cần giải quyết và cách thức giải quyết hợp lý, khoa học
lý
Hay, sáng tạo, sắp xếp tương đối hợp lý
Độc đáo, sáng tạo, sắp xếp hợp lý
Trình bày rõ ràng, cấu trúc
Trình bày đẹp, đầy đủ,
Trang 31lí Sử dụng màu sắc hài hòa, có hình ảnh minh họa nhưng chưa thật phù hợp
Diễn đạt chưa thật rõ ý, mắc một số lỗi chính tả
tương đối hợp
lí Sử dụng màu sắc hài hòa, hình ảnh minh họa phù hợp, sắp xếp hợp lí, ngôn ngữ sử dụng chưa chuẩn xác, có một vài lỗi chính
tả
rõ ràng độc đáo có cấu trúc logic khoa học Sử dụng màu sắc hài hòa, hình ảnh sinh động phù hợp, sắp xếp hợp lí, ngôn ngữ chuẩn xác không có lỗi chính tả
Tương đối chính xác, đầy
đủ, có tính giáo dục, thuyết phục
Chính xác, đầy đủ, có tính giáo dục, thuyết phục
bố thời gian giữa các phần chưa hợp lí
Đại diện nhóm trình bày tương đối thuyết phục, hấp dẫn Thời gian đảm bảo, phân bố thời gian giữa các phần tương đối hợp lí
Đại diện nhóm cùng trình bày, có tính thuyết phục, hấp dẫn, Thời gian đảm bảo, hợp lí giữa các phần
ý được các ý kiến cho các nhóm khác;
trả lời câu hỏi chưa thuyết phục
Nhóm nhận xét, góp ý hay, ít trùng lặp; trả lời câu hỏi tương đối thuyết phục
Nhóm nhận xét, góp ý hay, không trùng lặp; trả lời câu hỏi thuyết phục
Tổng
điểm
Trang 32GV sử dụng bản rubric có 6 tiêu chí để đánh giá quá trình thực hiện dự án của một hoặc một nhóm học sinh Mỗi tiêu chí được chia làm 4 mức, mỗi mức ứng với một mức điểm từ 1 đến 4, trong đó mức 1 ứng với điểm 1, mức 2 ứng với điểm 2, mức 3 ứng với điểm 3 và mức 4 ứng với điểm 4, các tiêu chí có giá trị như nhau Như vậy, tổng điểm cao nhất (điểm kì vọng) về sản phẩm dự án của HS là 6 x 4 =
24 Điểm TB = Tổng điẻm các tiêu chí: 24 x 100%
Khi đánh giá sản phẩm của nhóm A, tổng tất cả các tiêu chí của sản phẩm đạt được được 20, thì sản phẩm của nhóm A sẽ có điểm số là: 20 : 24 x 100 = 80 % (8 điểm tương ứng với mức Khá)
Xếp loại kết quả theo 4 mức độ:
- Mức độ tốt: Đạt từ khoảng 85-100% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 8,5-10 điểm)
- Mức độ khá: Đạt từ khoảng 65 - dưới 85% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 6,5 - dưới 8,5 điểm)
- Mức độ đạt: Đạt từ khoảng 45 - dưới 65% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 4,5 - dưới 6,5 điểm)
- Mức độ chưa đạt: Đạt từ dưới 45% yêu cầu (hoặc tổng điểm từ 0 - dưới 4,5 điểm)
2.2.6.2 Thiết kế phiếu tự đánh giá sản phẩm dự án của HS (Dùng cho HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng)
Phiếu đánh giá bài trình bày sản phẩm dự án của HS (Dùng cho HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng) được thể hiện qua bảng 2.5
Nêu được mục tiêu, vấn đề giải quyết chưa
Nêu được mục tiêu, vấn đề cần
Nêu được mục tiêu, vấn đề cần
Trang 33đầy đủ, cách thức giải quyết chưa thật phù hợp
giải quyết và cách thức giải quyết tương đối phù hợp
giải quyết và cách thức giải quyết thích hợp lý
1.2 Thu
thập thông
tin
Không thu thập đủ thông tin cần thiết
để giải quyết nhiệm vụ dự
án Các thông tin không ghi nguồn gốc cụ thể
Thu thập thông tin phù hợp với nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa đầy đủ, phong phú, thông tin
có nguồn gốc
rõ ràng
Thu thập thông tin đa dạng, gắn với thực tiễn, phù hợp với nhiệm
vụ cần giải quyết nhưng chưa đầy đủ, cập nhật
Thông tin có nguồn gốc rõ ràng
Thu thập thông tin cập nhật đa dạng, phong phú, gắn với thực tiễn phù hợp với nhiệm vụ cần giải quyết, có nguồn gốc đầy đủ, chính xác tin cậy
dữ liệu, không
sử dụng biểu đồ, biểu bảng để xử lí thông tin; bố cục sản phẩm không chặt chẽ, chưa đưa
ra được kết luận phù hợp cho đề tài dự
án
Phân tích được
ít dữ liệu thu thập được nhưng chưa logic khoa học
Các dữ liệu trình bày còn ở dạng thô, bố cục sản phẩm chưa chặt chẽ
và khoa học, kết luận chưa đầy đủ
Phân tích được các dữ liệu, có sử dụng biểu bảng trình bày dữ liệu,
bố cục sản phẩm tương đối chặt chẽ, khoa học, kết luận phù hợp với chủ
đề
Phân tích các dữ liệu logic khoa học, có sử dụng biểu
đồ, bảng biểu để trình bày dữ liệu,
bố cục sản phẩm chặt chẽ, khoa học, kết luận đầy đủ, phù hợp với chủ
và đầy đủ, còn lộn xộn, các nội dung chính chưa được làm rõ
Trình bày rõ ràng nhưng chưa thật đầy
đủ, cấu trúc chưa thật hợp
lí, các tiêu đề, nội dung chính
Trình bày rõ ràng, cấu trúc hợp lí, chưa đầy đủ các tiêu đề
và nội dung chính chưa
Trình bày đẹp, đầy đủ,
rõ ràng độc đáo có cấu trúc logic khoa học;
các tiêu đề
Trang 34chưa được làm nổi bật
được làm nổi bật, dễ theo dõi
và nội dung quan trọng được làm rõ, nổi bật dễ theo dõi
2.2 Hình
thức thể
hiện
Sử dụng màu sắc chưa hài hòa, làm giảm hiệu quả, diễn đạt còn lủng củng, mắc một số lỗi chính tả
Sử dụng màu sắc hài hòa, có hình ảnh minh họa nhưng chưa thật phù hợp Diễn đạt chưa thật rõ ý, mắc một số lỗi chính tả
Sử dụng màu sắc hài hòa, hình ảnh minh họa phù hợp, sắp xếp hợp
lí, ngôn ngữ
sử dụng chưa chuẩn xác, có một vài lỗi chính
tả
Sử dụng màu sắc hài hòa, hình ảnh sinh động phù hợp, sắp xếp hợp lí, ngôn ngữ chuẩn xác không
sơ sài Nêu được tên dự
án, chưa nêu được mục tiêu, các vấn
đề cần giải quyết trong
dự án còn sơ sài
Ý tưởng mới không hấp dẫn
Nội dung giới thiệu chưa được sinh động, còn sơ sài Nêu được tên dự án, mục tiêu, các vấn đề cần giải quyết chưa đầy đủ và
rõ ràng
Ý tưởng mới hấp dẫn Nội dung giới thiệu hấp dẫn, có ý nghĩa Nêu được tên dự
án, mục tiêu, các vấn đề cần giải quyết rõ ràng, chưa thật đầy đủ
và thu hút
Ý tưởng độc đáo, sáng tạo, nội dung giới thiệu sinh động, hấp dẫn có ý nghĩa Giới thiệu tên dự
án, mục tiêu, các vấn đề cần giải quyết rõ ràng, đầy đủ, thu hút
đề, màu sắc,
bố cục chưa đẹp, thẩm mĩ,
và không sáng
Nội dung trình bày chưa thật đầy đủ, chính xác chưa thật gắn liền với chủ đề Màu sắc, bố cục đẹp, có tính
Trình bày nội dung chính tương đối đầy đủ, logic, gắn với chủ đề
Thể hiện tính thẩm mĩ
Trình bày nội dung chính đầy
đủ, chi tiết, chính xác logic và chặt chẽ, gắn liền với chủ đề
Trang 35Bài trình bày chuẩn bị chưa thật chu đáo, trình bày có đôi chỗ còn lúng túng, chỉ có một số thành viên biết cộng tác, phối hợp làm việc với các thành viên khác, không hiểu rõ việc của mình
Bài trình bày được chuẩn
bị chu đáo, trình bày trôi chảy nhưng chưa thật sự lôi cuốn Có
sự phối hợp tích cực giữa các thành viên trong nhóm nhưng chưa thật sự hợp lí và hiệu quả
Thu hút được khán giả bằng bài trình bày được chuẩn
bị chu đáo, diễn đạt trôi chảy, thể hiện sự phối hợp hợp lí, tích cực của các thành viên trong nhóm
3.4 Minh
họa
Không có minh họa hoặc phần minh họa không phù hợp với nội dung trình bày
Có ít minh họa hoặc phần minh họa chưa làm tăng tính hiệu quả của phần trình bày
Có nhiều minh họa phù hợp làm tăng tính hiệu quả trình bày nhưng chưa thật sinh động
Phần nhiều minh họa sinh động, phù hợp và làm tăng tính hiệu quả của phần trình bày
Điểm TB
HS sử dụng bản rubric có 9 tiêu chí để đánh giá một bài báo cáo và mỗi tiêu chí đó được chia làm 4 mức thì mỗi mức ứng với một mức điểm từ 1 đến 4, trong đó mức 1 ứng với điểm 1, mức 2 ứng với điểm 2, mức 3 ứng với điểm 3 và mức 4 ứng với điểm 4, các tiêu chí có giá trị như nhau Như vậy, tổng điểm cao nhất (điểm kì vọng)
về bài báo cáo của nhóm HS là 9 x 4 = 36
Điểm TB = Tổng điẻm các tiêu chí: 36 x 100%
Trang 36Khi tự đánh giá sản phẩm của nhóm A, tổng tất cả các tiêu chí của sản phẩm nhóm đó được 28, thì nhóm A sẽ có điểm số là: 28 : 36 x 100 = 80,5% (tức là 8 điểm) Xếp loại kết quả theo 4 mức độ:
+ Mức độ tốt: Đạt từ khoảng 85-100% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 8,5-10 điểm) + Mức độ khá: Đạt từ khoảng 65 - dưới 85% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 6,5 - dưới 8,5 điểm)
+ Mức độ đạt: Đạt từ khoảng 45 - dưới 65% yêu cầu (hoặc tổng điểm đạt từ 4,5 - dưới 6,5 điểm)
+ Mức độ chưa đạt: Đạt từ dưới 45% yêu cầu (hoặc tổng điểm từ 0 - dưới 4,5 điểm)
2.3 Cách sử dụng rubric đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong dạy học dự án môn Giáo dục kinh tế và pháp luật 10
Trong nội dung này, chúng tôi muốn đề xuất với GV và HS cách sử dụng rubric đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong dạy học dự án môn Giáo dục kinh tế và pháp luật 10 một cách cụ thể, tức là áp dụng khung lý thuyết đã xác lập ở trên vào thực tiễn thực dạy học
2.3.1 Hướng dẫn HS sử dụng rubric đánh giá và tự đánh giá
* Mục tiêu: Giúp HS nắm vững được cách sử dụng rubric, áp dụng một cách có
hiệu quả trong quá trình thực hiện dự án, có khả năng tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng
* Cách thức tiến hành:
Hướng dẫn HS sử dụng rubric đánh giá và tự đánh giá được chúng tôi xác định với năm bước cơ bản :
Bước 1: GV giải thích bảng rubric trước khi giao nhiệm vụ học tập cho HS Hướng
dẫn HS nắm các tiêu chí, mức độ đánh giá năng lực GQVĐ và ST của HS trong rubric khi thực hiện dự án.
Bước 2: Hướng dẫn HS sử dụng phiếu đánh giá thực hiện các dạng đánh giá: tự đánh giá
và đánh giá đồng đẳng
Bước 3: Trong quá trình thực hiện dự án thì bắt buộc phải đem theo bảng rubric HS
thực hiện dựa trên bảng rubric Trong quá trình thực hiện nếu có thắc mắc hoặc không hiểu phần nào thì tô đậm chỗ đó để tao đổi với bạn bè hoặc giáo viên HS sử dụng phiếu đánh giá theo tiêu chí thực hiện các dạng đánh giá: tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng
Bước 4: HS xử lí kết quả đánh giá sau khi thực hiện dự án
Bước 5: Tổng hợp kết quả đánh giá và rút kinh nghiệm
2.3.2 Hướng dẫn quy trình đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua dạy học dự án trong môn Giáo dục kinh tế và pháp luật 10 THPT