1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến vận dụng các hình mẫu kiến tạo giờ học gây hứng thú và phát triển các kỹ năng mềm cho học sinh trong dạy học địa lí 10 ct 2018 ở trường thpt nguyễn đức mậu

94 66 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng kiến vận dụng các hình mẫu kiến tạo giờ học gây hứng thú và phát triển các kỹ năng mềm cho học sinh trong dạy học địa lí 10 CT 2018 ở trường THPT Nguyễn Đức Mậu
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông Nguyễn Đức Mậu
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022 - 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 9,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong các phương pháp mà tôi nhận thấy rất hiệu quả đó là vận dụng kỹthuật biến hình với 6 hình mẫu: người nông dân, diễn viên, họa sĩ, kiến trúc sư, thợsăn và nhà tư vấn trong các g

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài:

VẬN DỤNG CÁC HÌNH MẪU KIẾN TẠO GIỜ HỌC GÂY HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 - CT 2018 Ở TRƯỜNG THPT

NGUYỄN ĐỨC MẬU

Lĩnh vực/ Môn: Địa lí

Năm học: 2022 - 2023

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài:

VẬN DỤNG CÁC HÌNH MẪU KIẾN TẠO GIỜ HỌC GÂY HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 - CT 2018 Ở TRƯỜNG THPT

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ1

PHẦN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÝ LUẬN………3

1 Khái niệm kỹ năng mềm……….3

5

3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong phương pháp dạy học theo dự án 8

6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án 14

7 Các năng lực được hình thành trong dạy học dự án 15

Trang 4

1 Thực trạng dạy và học Địa Lí theo phương pháp dự án ở trường THPT hiện nay.

17

2 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế khi tổ chức hoạt động dạy học dự án trong

3 Một số giải pháp tổ chức có hiệu quả dạy học dự án trong môn Địa Lí 20III – THỰC NGHIỆM: DẠY HỌC DỰ ÁN BÀI 9 NHẬT BẢN ( ĐỊA LÍ LỚP 11 – BAN CƠ BẢN) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH

1.7 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 34

Trang 5

2 Hiệu quả của đề tài khi áp dụng vào thực tiễn 41

2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện đề tài 42

Trang 6

CT Chương trìnhPTDH phương tiện dạy học

TN thực nghiệm

ĐC đối chứngSKKN sáng kiến kinh nghiệm

DH dạy họcGDP tổng sản phẩm trong nướcGNI tổng thu nhập quốc gia

Trang 7

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đang được triển khai đồng

bộ trong hệ thống giáo dục ở nước ta Sự đổi mới được nhấn mạnh trên cả mục tiêugiáo dục và chương trình giáo dục; đặc biệt là sự đổi mới về phương pháp dạy học,giáo dục nhằm phát triển năng lực của học sinh Chương trình giáo dục phổ thôngtổng thể đã chỉ rõ hệ thống năng lực chung và năng lực đặc thù của các môn học

mà học sinh cần đạt, đồng thời cũng nhấn mạnh việc tổ chức hoạt động dạy học đểphát triển năng lực của học sinh

Theo UNESCO mục đích học tập là: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” Nếu xem nhận định trên là một định

nghĩa và đối chiếu định nghĩa này với nền giáo dục của Việt Nam ngày nay thìmục đích học tập của ta mới chỉ là học để biết, học để làm, nghĩa là mới đạt đượchai trong bốn mục tiêu của UNESCO Chính vì vậy, trong quá trình học tập, họcsinh luôn gặp áp lực học tập, nhồi nhét kiến thức, xem nặng điểm số… Thế nhưng,thực tế cho thấy rằng, năng lực của con người được đánh giá trên cả 3 khía cạnh:kiến thức, kỹ năng và phẩm chất Điều đó khẳng định: học không chỉ để biết màhọc còn để làm việc, để chung sống và để tự khẳng định mình Những năm gầnđây, các phương tiện thông tin đại chúng nhắc nhiều đến cụm từ “kỹ năng”, “kỹnăng mềm”…

"Kỹ năng mềm là những kỹ năng con người tích lũy được để làm cho mình

dễ dàng được chấp nhận, làm việc thuận lợi và đạt được hiệu quả" Kỹ năng mềmrất cần thiết với con người, đặc biệt đối với học sinh THPT

Hiện nay, nhiều trường học giáo dục học sinh nghiêng về giáo dục lý thuyết,

vì vậy việc rèn luyện cho các em kỹ năng “mềm” càng trở lên quan trọng Một sốtrường học có quan tâm đến giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh thông qua cáchoạt động ngoại khóa Tuy nhiên, các hoạt động ngoại khóa không thể tổ chứcthường xuyên, chiếm phần nhỏ thời gian trong năm học Vậy làm thế nào để duytrì, rèn luyện thường xuyên các kĩ năng mềm cho học sinh? Làm thế nào để khơidậy khả năng chủ động học tập, sáng tạo, tính tự lập và khả năng kết nối, tương tác

Trang 8

của học sinh; hướng các em trở thành một con người hoàn thiện phát triển toàndiện, dễ dàng chung sống và trở thành công dân toàn cầu? Tôi thiết nghĩ, việc giáodục và phát triển các kĩ năng mềm cho học sinh cần được chú trọng lồng ghép vàocác môn học chính khóa Và để lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng “mềm” trongcác giờ học chính khóa thầy cô giáo cần phải linh hoạt, không ngừng sáng tạo, đam

mê trong công việc, nhiệt huyết với mỗi giờ lên lớp, tận tâm với mỗi học trò Vaitrò của thầy, cô không chỉ dừng lại ở việc dạy chữ, mà còn rèn người, là ngườikhơi gợi, phát hiện, nhận ra và phát triển những năng lực sở trường ở từng họcsinh Thầy cô thực sự là người truyền lửa, giúp học sinh phấn đấu cho mục tiêu caođẹp trong cuộc sống và trở thành người có ích cho xã hội

Với trải nghiệm 2 năm dạy học trong điều kiện dịch covid kéo dài, nhiều hệlụy kèm theo của việc dạy học online liên tục, chúng ta càng thấy rõ việc trang bịcác kĩ năng mềm cho học sinh thực sự là cần thiết và rất quan trọng Trong quátrình dạy học của mình, tôi đã không ngừng cố gắng, nỗ lực tìm kiếm các giảipháp, phương pháp để lồng ghép giáo dục kỹ năng mềm trong môn học cho họcsinh Một trong các phương pháp mà tôi nhận thấy rất hiệu quả đó là vận dụng kỹthuật biến hình với 6 hình mẫu: người nông dân, diễn viên, họa sĩ, kiến trúc sư, thợsăn và nhà tư vấn trong các giờ học và tổ chức lớp… giúp học sinh phát triển đượccác kỹ năng mềm cần thiết của thế kỉ XXI Thông qua đó, thầy cô kiến tạo nênnhững giờ học thực sự hứng thú, hạnh phúc, giúp cho học sinh biến áp lực học tậpthành động lực phấn đấu, hạn chế căng thẳng, mệt mỏi cho học sinh

Đó là lí do tôi chọn đề tài “Vận dụng các hình mẫu kiến tạo giờ học gâyhứng thú và phát triển các kỹ năng mềm cho học sinh trong dạy học địa lí 10 – CT

2018 ở trường THPT Nguyễn Đức Mậu” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tạo hứng thú cho học sinh thông qua các hình mẫu: người họa sĩ, người diễnviên, người tư vấn, kiến trúc sư, thợ săn và người nông dân

Trang 9

Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và góp phần nâng cao việc hình thànhphát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh THPT thông qua việc đổi mới, sángtạo trong những giờ học

Đổi mới phương pháp dạy học, tập trung phát triển các năng lực chuyên biệtcủa từng bộ môn, đề cao hoạt động chủ động tích cực, sáng tạo của học sinh, hìnhthành và phát triển cho các em học sinh các phẩm chất chủ yếu, biết xây dựng vàphát triển hài hòa các mối quan hệ xã hộị, có nhân cách và đời sống tâm hồn phongphú nhờ đó các em có được cuộc sống có ý nghĩa Đồng thời cũng giúp các emhình thành nhân cách công dân, nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, sẵnsàng đóng góp sức mình vào công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng: Hs lớp 10

- Quá trình dạy học sử dụng các hình mẫu kiến tạo để phát triển các kỹ năngmềm cho học sinh trong dạy học địa lí ở trường THPT

- Phạm vi nghiên cứu: trường THPT Nguyễn Đức Mậu, Nghệ An

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Vận dụng các hình mẫu trong dạy học nhằm phát triển những kĩ năng mềmcần thiết của thế kỉ XXI cho học sinh Đồng thời, thông qua đó phát triến phẩmchất tốt đẹp cho người học

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu

+ Phương pháp điều tra thực tế, khảo sát, thu thập thông tin

+ Phương pháp thực nghiệm, trải nghiệm

+ Phương pháp tổng hợp, đánh giá, rút kinh nghiệm

VI NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

- Góp phần tích cực trong việc tạo động cơ và sự hứng thú học tập bộ mônĐịa lí cho học sinh, đổi mới và đa dạng hóa phương pháp dạy học Địa lí của giáoviên tại trường THPT

Trang 10

- Đề ra một số giải pháp trong việc nâng cao hiệu quả của việc vận dụngphương pháp dạy học trong dạy học Địa lí.

- Có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên Địa Lý ở trường THPT vàbản thân tác giả để vận dụng trong quá trình giảng dạy bộ môn

PHẦN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm kỹ năng mềm.

Kỹ năng mềm (Soft Skills) là thuật ngữ để chỉ một số những kĩ năng cần thiếtphục vụ cuộc sống hàng ngày của con người Về bản chất, kỹ năng mềm là khảnăng mà một người có được để làm việc, giao tiếp, và tương tác với người khác.Những kĩ năng mềm cần thiết của thế kỉ XXI cần trang bị cho học sinh THPT là:

Kĩ năng lắng nghe, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giảiquyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng linh hoạt, thích nghi nhanh vớithay đổi, kỹ năng học tập, làm việc dưới áp lực, kỹ năng thể hiện sự tự tin, kỹ nănglắng nghe tích cực, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng quản

lý thời gian…

2 Tầm quan trọng của kỹ năng mềm.

Ngày nay, kỹ năng mềm thường xuyên được ứng dụng trong cuộc sống,chúng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả công việc và sự thành công của mỗi người.Theo nghiên cứu chỉ ra rằng, đa số những người thành công, họ chỉ có 25% làkiến thức chuyên môn, còn lại là những kỹ năng mềm mà họ học tập và đúc kếtđược trong cuộc sống Do vậy, việc trau dồi, trang bị, giáo dục kỹ năng mềm chohọc sinh từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường rất quan trọng, nó đưa học sinh đến sựthành công nhanh nhất, dễ dàng nhất khi ra cuộc sống

Có kiến thức chuyên môn, sách vở là tốt nhưng chưa đủ, chúng ta cần phải tựtạo cho học sinh mình những kỹ năng mềm Vậy nên chưa chắc nhiều em khi ngồitrên ghế nhà trường học rất giỏi, nhiều thành tích học tập xuất sắc nhưng ngoài đờilại không thể thành công

Trang 11

Xã hội hiện đại có sự thay đổi toàn diện về nhiều lĩnh vực như: kinh tế, vănhóa và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây conngười chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu Hoặc có nhữngvấn đề đã xuất hiện trước đây, nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và đầy tháchthức như trong xã hội hiện đại, nên con người dễ hành động theo cảm tính vàkhông tránh khỏi rủi ro, nguy cơ, thách thức trong cuộc sống Khi đó, kỹ năng sốngchính là hành trang giúp con người chuyển những điều đã biết đến để thay đổihành vi, nhờ đó mà đạt được lối sống lành mạnh, đảm bảo chất lượng cuộc sống,

kỹ năng mềm trở thành một phần quan trọng trong nhân cách con người trong xãhội hiện đại

Kỹ năng mềm góp phần thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội, ngăn ngừacác vấn đề xã hội, sức khỏe và bảo vệ quyền con người Các cá nhân thiếu kỹ năngmềm là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội Người có kỹ năngmềm sẽ thực hiện những hành vi mang tính xã hội tích cực, góp phần xây dựng cácmối quan hệ tốt đẹp và do vậy giảm bớt tệ nạn xã hội làm cho xã hội lành mạnh

Kỹ năng mềm là những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội cần thiết đốivới thanh thiếu niên giúp họ có khả năng học tập tốt hơn, ứng xử một cách tự tinđồng thời là một phương sách để hoàn thiện bản thân mình trước mọi người Đồngthời, kỹ năng mềm cũng giúp biến kiến thức thành những hành động cụ thể, nhữngthói quen lành mạnh Những người có kỹ năng mềm là những người biết làm chomình và những người khác được hạnh phúc Họ thường thành công hơn trong cuộcsống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của họ

Kỹ năng mềm càng tốt, học sinh càng trưởng thành và phát triển, tự tin trong giao tiếp và hòa nhập trong những môi trường sống khác nhau

Kỹ năng mềm với học sinh cấp THPT như một hành trang vững chắc, tiếp thêm sự tự tin để dễ dàng hòa nhập với môi trường mới Quá trình chuyển cấp từ cấp 3 lên Đại học sẽ trở nên đơn giản và bớt áp lực hơn rất nhiều nếu trang bị cho mình kỹ năng mềm đủ vững.

Trang 12

Bên cạnh đó, kỹ năng mềm còn giúp học sinh THPT sớm nhìn nhận được điểm mạnh, điểm yếu của bản thân Đây là hai yếu tố vô cùng quan trọng mà không phải ai cũng khám phá ra, góp phần không nhỏ trong việc định hướng tương lai, định hướng nghề nghiệp Bạn sẽ chọn được một ngành/một nghề phù hợp với bản thân, có thể phát triển điểm mạnh và khắc phục điểm yếu.

Cuối cùng, kỹ năng mềm giúp học sinh THPT phát triển tự tin và tự tin trong giao tiếp, làm chủ mọi cuộc hội thoại và vững vàng trong mọi môi trường Kỹ năng tự tin, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng lãnh đạo,… là những điều mà kỹ năng mềm sẽ trang bị cho người học Đó là những viên gạch đầu tiên giúp học sinh THPT phát triển và hoàn thiện bản thân.

3 Đặc điểm và các loại kỹ năng mềm.

3.1 Đặc điểm của kỹ năng mềm:

a Kỹ năng mềm không phải là yếu tố bẩm sinh.

Như khái niệm đã đề cập, kỹ năng hình thành theo sự trải nghiệm, áp dụngkiến thức vào giải quyết tình huống từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm chính

vì vậy nó không phải là yếu tố bẩm sinh Kỹ năng là những thao tác để thực hiệncông việc, bạn cần nhận thông tin, nhận thức, tư duy về vấn đề đó để đưa ra hànhđộng

b Kỹ năng mềm chỉ là một phần của biểu hiện của trí tuệ cảm xúc.

Kỹ năng mềm không chỉ là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc mà nó còn thể hiện

sức mạnh của việc thiết lập và duy trì mối quan hệ xã hội Kỹ năng mềm giúp họcsinh thích ứng nhanh với từng hoàn cảnh khác nhau như khi làm việc nhóm, xử lýtình huống bất ngờ, xử lý dữ liệu công việc, hay thậm chí là những thay đổi ngoạicảnh, thay đổi môi trường sống và làm việc,

Người có kỹ năng mềm linh hoạt sẽ làm chủ được tình huống, biết tìm racách để giải quyết vấn đề hợp lý, hiệu quả, khéo léo khi ứng xử với mọi người,

c Kỹ năng mềm được hình thành từ những trải nghiệm thực tế.

Trang 13

Các kỹ năng mềm không dễ để có được vì nó được hình thành từ những trải

nghiệm thực tế, trong mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh xác định nên Đểlàm tốt công việc trong thời đại 4.0 hiện nay thì kiến thức chuyên môn là chưa đủ.Những kỹ năng mềm hỗ trợ công việc của học sinh sau này trở nên thuận lợi, dễdàng và hiệu quả hơn Thực tế sự thiếu hụt kỹ năng mềm đang xảy ra ở học sinhrất nhiều

d Kỹ năng mềm là “đòn bẩy” phát triển tư duy và “kỹ năng cứng”.

Kỹ năng cứng là những kỹ năng cơ bản trong nghề nghiệp, thuộc về chuyênmôn, nghiệp vụ Ngược với nó thì kỹ năng mềm là những kinh nghiệm, sự thànhthạo chuyên môn, tính linh hoạt trong xử lý tình huống thực tế Trong CV nhàtuyển dụng không chỉ quan tâm về trình độ học vấn mà kỹ năng mềm cũng nhưkinh nghiệm công việc cũng là những yếu tố rất quan trọng được chú ý, quan tâm

Kỹ năng mềm còn là sự đánh giá cao hơn từ kiến thức chuyên môn nền tảng

mà bạn đã có Chính vì vậy kỹ năng mềm sẽ “đòn bẩy” phát triển tư duy và kỹnăng cứng lên một cách hiệu quả Chìa khóa đi đến thành công nhanh nhất đó làtrau dồi và bồi dưỡng 2 nhóm kỹ năng này nhuần nhuyễn, hiệu quả

e Kỹ năng mềm dành cho mọi ngành nghề

Những kỹ năng như giao tiếp, lắng nghe, kỹ năng thuyết trình, giúp conngười dễ dàng thích ứng, hòa nhập với mọi người, linh hoạt vận dụng, triển khaicông việc Nên giữa các nghề nghiệp sẽ có sự giao thoa của những kỹ năng mềm

3.2 Các loại kỹ năng mềm

Chúng ta có thể thấy có rất nhiều kỹ năng mềm, chính vì vậy chúng ta cần

phân loại thành các nhóm kỹ năng mềm như sau:

Kỹ năng mềm gắn chặt với các kỹ năng lao động chuyên nghiệp

Đây là những kỹ năng cần thiết để tạo nên sự thành công trong công việc

●Kỹ năng tự học, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình

●Kỹ năng giải quyết vấn đề, Kỹ năng tư duy sáng tạo

Trang 14

●Kỹ năng quản lý bản thân; Kỹ năng lập mục tiêu, động lực làmviệc

●Kỹ năng định hướng phát triển sự nghiệp và con người

●Kỹ năng giao tiếp hiệu quả để tạo lập mối quan hệ

●Kỹ năng phối hợp, làm việc cùng đồng đội

●Kỹ năng tổ chức, quản lý công việc hiệu quả

●Kỹ năng lãnh đạo , Kỹ năng thương lượng

4 Các hình mẫu kiến tạo.

Cụ thể giáo viên đã áp dụng các hình mẫu sau:

- Hình mẫu người nông dân, hình mẫu người họa sĩ

- Hình mẫu kiến trúc sư, hình mẫu diễn viên

- Hình mẫu người thợ săn, hình mẫu nhà tư vấn

Ở mỗi hình mẫu đều có những điểm mạnh và những hạn chế Giáo viên nắm

rõ những điểm mạnh và hạn chế của từng hình mẫu không chỉ để vào vai, biếnhình tốt trong các khâu lên lớp, mà còn giúp giáo viên có những giả định khi phânloại học sinh theo hình mẫu, khơi gợi, khai thác, thúc đẩy phát triển những kỹ năngthế mạnh của học sinh đồng thời giúp học sinh dần khắc phục những kỹ năng cònhạn chế

Khi thầy cô đặt mình vào vị trí là người nông dân gieo trồng những hạtgiống, là người kĩ sư thiết kế những phương án triển khai bài học mới, các hìnhthức kiểm tra đánh giá với nhiều đối tượng học sinh khác nhau, là diễn viên trênbục giảng, là người họa sĩ vẽ bức tranh, bán ước mơ free 0 đồng cho học trò củamình, là người tư vấn giúp học sinh giải quyết các vấn đề của bài học và cuộcsống, là anh thợ săn truyền động lực mạnh mẽ cho học sinh quyết tâm chinh phụcmục tiêu học tập tôi tin chắc thầy cô luôn tràn đầy nhiệt huyết, đam mê và khôngngừng sáng tạo ở mỗi giờ lên lớp, học trò sẽ được cộng hưởng nguồn năng lượng

từ các thầy cô mà thấy hứng khởi, tích cực và chủ động, sáng tạo trong mỗi giờ

Trang 15

học Mọi xúc cảm riêng biệt, cá tính sáng tạo của thầy và trò phải luôn được tôntrọng, không bị áp đặt một cách máy móc, rập khuôn theo phương cách giáo dụcxưa cũ lỗi thời, lạc hậu.

5 Vai trò của giáo viên và học sinh trong xây dựng các hình mẫu kiến tạo 5.1 Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học theo hình mẫu kiến tạo

- Tạo không khí dạy học, tạo điều kiện để học sinh bộc lộ quan niệm riêng

- Tổ chức cho học sinh tranh luận về những quan niệm của mình

- Là trọng tài trong những trường hợp ý kiến tranh luận không ngã ngũ

- Tạo điều kiện và giúp học sinh nhận ra các quan niệm sai lệch của mình và

tự giác khắc phục chúng

- Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm khoa học

- Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức thu nhận

Trong quan điểm dạy học theo hình mẫu kiến tạo người thầy giáo phải làngười tổ chức, điều khiển sự thảo luận của học sinh trong quá trình học tập, đồngthời người thầy giáo là người thiết kế những chỉ dẫn, chuẩn bị cho học sinh những

cơ hội để tự xây dựng cho mình những tri thức mới Trong quá trình dạy học,người thầy hãy tạo ra môi trường học tập mang tính kiến tạo, ví như tạo ra một bầukhông khí vui vẻ và thoải mái trong lớp học, tất nhiên điều này là trong một giớihạn nhất định, thầy giáo phải là người xác nhận tính đúng đẵn của tri thức mới màhọc sinh thu nhận được

5.2 Vai trò của học sinh trong quá trình dạy học theo hình mẫu kiến tạo

- Học sinh phải chủ động và tích cực trong việc đón nhận, huy động nhữngkiến thức, kỹ năng đã có vào khám phá tình huống học tập mới

- Học sinh phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăn củamình khi đứng trước tình huống học tập mới

Học sinh phải chủ động và tích cực trong việc thảo luận, trao đổi thông tin với bạnhọc và với giáo viên Việc trao đổi này phải xuất phát từ nhu cầu của chính họcsinh trong việc tìm những biện pháp để giải quyết những tình huống học tập mới

Trang 16

hoặc khám phá sâu hơn những tình huống đó.

- Người học phải tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi đã lĩnh hộiđược các tri thức mới thông qua việc giải quyết các tình huống học tập

6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo hình mẫu kiến tạo.

sự thích ứng cao để đáp ứng sự đòi hỏi của xã hội

Đây là cách dạy học tích cực, ở đó học sinh tự hoà mình vào các hoạt động trí tuệcủa những người xung quanh Trong một lớp học hình mẫu kiến tạo thì học sinhtham gia vào việc khám phá, phát minh; đồng thời học sinh còn tham gia vào cảquá trình xã hội bao gồm cả việc giải thích, trao đổi, đàm phán và đánh giá Từ đóhọc sinh được phát triển các kỹ năng giao tiếp, trao đổi, tìm kiếm và chia sẻ thôngtin, kỹ năng hợp tác theo nhóm Do đó kiến thức mà học sinh cá nhân tìm ra mangtính chất xã hội, khách quan hơn, tức là xã hội hoá việc học

- Dạy học theo hình mẫu kiến tạo thì ngoài việc cung cấp cho học sinh hệthống tri thức mà còn rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh thể hiện ở việc họcsinh biết cách học; biết cách tìm ra những tri thức đó

- Trong dạy học theo hình mẫu kiến tạo việc học sinh đưa ra các dự đoán vềmột vấn đề cần giải quyết, sau đó được kiểm nghiệm, vấn đề đưa ra là sai lầm có ýnghĩa của học sinh và buộc học sinh phải đưa ra các dự đoán khác Do đó học sinh

sẽ học được tri thức cho bản thân thông qua các sai lầm do chính mình tạo ra Đây

là điều thú vị trong quan điểm kiến tạo

6.2 Nhược điểm

- Dạy học theo hình mẫu kiến tạo coi trọng vốn tri thức kinh nghiệm của họcsinh, chưa thật sự coi trọng đến tri thức khách quan

Trang 17

- Đề cao việc học tập theo nhóm, trong khi năng lực tư duy, khả năng giảiquyết vấn đề của cá nhân là rất quan trọng.

- Đòi hỏi giáo viên phải có trình độ cao cả về kiến thức và phương pháp, đặcbiệt là phải hiểu biết sâu sắc về thuyết kiến tạo Từ đó, giáo viên có thể xây dựngđược các tình huống học tập, các hình mẫu nhân vật, từ đó tạo lập được môi trườnghọc tập tốt cho học sinh

- Khi vận dụng hình mẫu kiến tạo vào dạy học thì người thầy tốn rất nhiều thờigian chuẩn bị, bởi việc tổ chức các hoạt động trong lớp học là do thầy giáo điềukhiển; định hướng Do đó các pha tình huống học tập được tạo ra phải kích thíchđược khả năng tư duy của các em, mà không trùng lặp, phải có ý nghĩa Đây là mộtviệc cần rất nhiều công sức của người thầy Khi giáo viên đã định hướng quá trìnhkiến tạo của học sinh, tất nhiên không bắt ép các em, tuy tốn nhiều thời gian,nhưng sau khi các em có một hoặc hai lần có niềm vui trong việc tìm cách giảiquyết vấn đề thì các em sẵn sàng làm việc với những vấn đề giáo viên đưa ra.Trong quá trình dạy học việc phối hợp các phương pháp để dạy học là rấtquan trọng Bởi nếu không thì việc dạy và học giữa thầy và trò còn rất nhiều hạnchế không đáp ứng được xu thế đổi mới của phương pháp dạy học Mỗi phươngpháp đều có những điểm ưu thế nổi bật, nếu đề cao quá mức một phương pháp nào

đó thì thật sự là thiểu cận, không mang lại hiệu quả mong muốn

7 Các bước tiến hành xây dựng hình mẫu kiến tạo trong dạy học địa lí THPT.

Bước 1: Lên kịch bản, thiết kế tài liệu học tập và các phương án triển khai bàigiảng: online hay offline, tổ chức những hoạt động nào, sử dụng những phần mềmnào hỗ trợ…?

Bước 2: Dẫn dắt học sinh vào bài và tạo động lực thúc đẩy học sinh nghiêncứu và thiết kế, thể hiện theo cách riêng của mình

Bước 3: Tổ chức, hướng dẫn điều phối học sinh thực hiện các nhiệm vụ họctập

Bước 4: Bao quát lớp học, phát hiện những “hạt giống” cần khai thác, pháthuy và những “hạt” cần kiên trì vun bồi, đa dạng hóa hệ thống câu hỏi, tăng sựtương tác, kết nối với của học sinh

Bước 5: Tập trung vào nội dung trọng tâm của bài học

Trang 18

Bước 6: Nỗ lực chốt kiến thức, củng cố bài và cho học sinh trải nghiệm vậndụng kiến thức vào giải các bài tập trên lớp, hạn chế ra bài tập về nhà.

Bước 7: Phát triển chỉ số hạnh phúc cho học sinh

Bước 8: Lắng nghe và thấu hiểu trò

8 Các kỹ năng mềm được hình thành trong dạy học theo hình mẫu kiến tạo.

Là thế hệ trẻ, tương lai của đất nước, đang sống trong một thế giới hiện đại với

công nghệ 4.0, các em học sinh càng cần phải có nền tảng kỹ năng mềm

Bên cạnh những kiến thức văn hóa, kỹ năng mềm là một trong những yếu tố quan trọng mà học sinh THPT cần quan tâm Chúng không chỉ giúp hs hoàn thiện về nhân cách, đạo đức mà còn là thước đo để mọi người xung quanh cùng nhìn nhận

và đánh giá về hs

Kỹ năng mềm với học sinh cấp THPT như một hành trang vững chắc, tiếpthêm sự tự tin để dễ dàng hòa nhập với môi trường mới Quá trình chuyển cấp từcấp 3 lên các cấp học trên hay đi làm sẽ trở nên đơn giản và bớt áp lực hơn rấtnhiều nếu trang bị cho mình kỹ năng mềm đủ vững

Dưới đây là các kỹ năng mềm mà hs cần được hình thành, phát triển trongdạy học địa lí THPT.:

8.1 Kỹ năng lắng nghe tích cực.

Lắng nghe là một kỹ năng mềm quan trọng, thể hiện hs là người có thái độcầu tiến, cầu thị trong học tập cũng như trong công việc

8.2 Kỹ năng giao tiếp

Rất nhiều bạn học sinh có nền tảng kiến thức tốt, nhưng khả năng giao tiếp lạirất kém Phổ biến nhất là không dám bắt chuyện với người lạ, không hòa đồng vớimọi người, không dám bày tỏ tiếng nói, quan điểm của mình, tâm lý run sợ khigiao tiếp trước đám đông,…

Trau dồi kỹ năng mềm giao tiếp sẽ giúp cho học sinh tự tin hơn Để có được

sự thành công, hs càng phải có nhiều mối quan hệ xã hội Thiếu kỹ năng giao tiếp,chắc chắn các em sẽ trở nên mờ nhạt hơn so với những người khác

8.3 Kỹ năng quản lý thời gian

Trang 19

Hs cần biết tận dụng triệt để thời gian, phân bổ thời gian khoa học

8.4 Kỹ năng giải quyết vấn đề

Con người càng lớn, có càng nhiều vấn đề xảy ra trong cuộc sống, đặc biệt lànhững vấn đề phát sinh ngoài kế hoạch Bởi vậy, kỹ năng giải quyết vấn đề là mộttrong những kỹ năng cần thiết Đối với học sinh THPT, kỹ năng giải quyết vấn đềgiúp hs tự tin, vững vàng trước mọi tình huống, hình thành khả năng nhìn nhận và

xử lý nhanh nhạy, chính xác

Đây là một kỹ năng mềm quan trọng, đặc biệt là quan trọng đối với các em hschuẩn bị ra trường Khi bước chân vào một công ty nào đó hay trường cao đẳng,đại học, công việc là trách nhiệm và nghĩa vụ bạn phải thực hiện Mọi quyết định,việc làm của hs đều ảnh hưởng tới cả một tập thể Nếu kỹ năng giải quyết vấn đề,tình huống quá kém, hs sẽ mãi chỉ dậm chân tại chỗ, thậm chí là bị sa thải bởikhông có sự tiến bộ, đột phá trong công việc

8.6 Khả năng linh hoạt, thích nghi nhanh với thay đổi

Chỉ thích nghi, linh hoạt kịp thời, hs mới có thể theo kịp với sự phát triển của

xã hội Công nghệ từng ngày phát triển, những phát minh mới liên tục ra đời nhằmphục vụ khách hàng, đáp ứng nhu cầu của con người, đòi hỏi hs phải luôn thay đổi,linh hoạt, thích nghi Một cá nhân muốn tồn tại được lâu, không phải là một ngườikhỏe nhất, thông minh nhất, mà phải là người nhanh nhất

8.7 Kỹ năng xác định giá trị

Học sinh THPT sẽ chỉ mãi dậm chân tại chỗ nếu không biết cách xác định giátrị Giá trị ở đây bao gồm giá trị bản thân, là những điều quan trọng và có ý nghĩavới chính mình Xác định đúng giá trị, tự bạn sẽ vạch ra hướng đi đúng đắn cho

Trang 20

chính mình, điều hướng hành động và lối sống sao cho phù hợp để đi đến thànhcông.

8.8 Kĩ năng kiểm soát cảm xúc.

Kiểm soát cảm xúc là khả năng hs nhận thức rõ cảm xúc của mình trong mộttình hống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và đối vớingười khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cácphù hợp

Kĩ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc , kiềmchế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lí cảm xúc Hs biết kiểm soát cảm xúc thì sẽgóp phần giảm căng thẳng, giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyếtmâu thuẫn một cách hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giảiquyết vấn đề tốt hơn Kĩ năng quản lý cảm xúc cần sự kết hợp với kĩ năng tự nhậnthức, kĩ năng ứng xử với người khác và kĩ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thờigóp phần củng cố các kĩ năng này

8.9 Kỹ năng học tập, làm việc dưới áp lực

Chủ động trong học tập, công việc, dám đối mặt với thử thách để tránh những

cần chủ động trong học tập, đề ra mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, lên kế hoạch rõ

ràng cho việc thực hiện mục tiêu Trên hết, học sinh cần có niềm tin vào bản thânmang đến đam mê và tạo ra sự khác biệt

8.11 Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ.

Trang 21

Trong cuộc sống, nhiều khi hs gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến sự

hỗ trợ, giúp đỡ của những người khác, nếu không tự giải quyết được, hs cần biếttìm sự hỗ trợ

Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ bao gồm các yếu tố sau:

– Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ

– Biết xác định được những địa chỉ đáng tin cậy

– Tự tin và biết tìm đến các địa chỉ đó

– Biết bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp Khi tìm đến các địa chỉcần hỗ trợ, chúng ta cần:

– Cư xử đúng mực và tự tin

– Cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, ngắn gọn

– Giữ bình tĩnh khi gặp sự cố đối xử thiếu thiện chí Nếu vẫn cần sự hỗ trợcủa người thiếu thiện chí, cố gắng tỏ ra bình thường, kiên nhẫn nhưng không sợhãi

– Nếu bị cự tuyệt, đừng nản chí, hãy kiên trì tìm kiếm sự hỗ trợ từ các địa chỉkhác, người khác

8.12 Kỹ năng lãnh đạo

Kỹ năng lãnh đạo là việc dùng năng lực của mình định hướng, tạo ảnh

hưởng và thúc đẩy, dẫn dắt mọi người hành động và nhanh chóng đạt được mụctiêu công việc Học sinh cần được phát huy khả năng tạo tầm nhìn, khả năng chia

sẻ, truyền cảm hứng và khả năng gây ảnh hưởng để tạo sự gắn kết, đồng thuậntrong tập thể lớp và trong các đội nhóm Kĩ năng lãnh đạo được phát triển khi họcsinh là người đại diện, dẫn đầu, có khả năng đề xướng hướng đi cho mọi người, vàquyết định cho các hoạt động nội bộ nhóm, lớp

8.13 Kỹ năng ra quyết định

Chẳng ai có quyết định đúng đắn ở tất cả mọi lúc Nhưng nếu bạn có các kỹnăng ra quyết định và biết cách phát triển các kỹ năng đó, bạn có thể làm cho cơhội thành công trong cuộc sống của bạn tăng lên

8.14 Kĩ năng thể hiện sự tự tin

Trang 22

Kỹ năng thể hiện sự tự tin và kỹ năng mềm cho học sinh THPT cuối cùngchúng tôi muốn giới thiệu trong bài viết Điều quan trọng cần nhận thức được làmỗi người đều có giá trị riêng Việc cần làm là xây dựng niềm tin với bản thân, hàilòng với những gì mình có, không ngừng nỗ lực và nâng cao giá trị bản thân Tựtin là vũ khí quan trọng để thể hiện chính mình và phát triển.

9 Những lưu ý khi tổ chức dạy học theo hình mẫu kiến tạo.

9.1 Dành thời gian tìm hiểu học sinh và thiết kế kịch bản bài dạy.

Vận dụng các hình mẫu trong dạy học để kiến tạo những giờ học hứng thú vàlồng ghép phát triển các năng lực mềm cho học sinh đòi hỏi giáo viên phải dànhthời gian tìm hiểu đối tượng học sinh, thiết kế kịch bản bài dạy với đa dạng cáchoạt động

Để phát huy cao nhất những kĩ năng là thế mạnh của từng học sinh, giáo viêncần phải phân tích thông tin từng học sinh để đưa ra được hình mẫu giả định củatừng học sinh Trên cơ sở đó, giáo viên tính đến nhu cầu, đặc điểm của mỗi họcsinh để xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giácho phù hợp Để vận hành mô hình học tập theo nhóm Đệ nhị thân, cần mộtkhoảng thời gian đầu năm học để học sinh làm quen và chủ đông, tự giác, tích cựctương tác và chia sẻ với bạn bè

Thông qua thực tế tìm hiểu, phân hóa học sinh theo kỹ năng mềm theo cácmức độ: những hs có kỹ năng mềm tốt (mạnh), khá tốt, trung bình và những họcsinh bị yếu, thiếu nhiều kĩ năng mềm cần được thầy cô, bạn bè hỗ trợ, rèn luyện,hình thành và cải thiện

9.2 Xác định rõ mối quan hệ và nhiệm vụ của GV và HS trong quá trình dạy học

Trong quá trình dạy học luôn luôn tồn tại hai mối quan hệ cơ bản, đó là:Mối quan hệ GV – HS và HS – HS Nhiều nhà nghiên cứu khi phân tích mốiquan hệ trong quá trình dạy học đã thống nhất quan điểm như sau: HS hợp tácvới nhau để tiến hành các hoạt động nhận thức một cách tự giác, tích cực và sángtạo dưới sự hướng dẫn của GV Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối quan

hệ thầy áp đặt – trò phục tùng không phát huy được tính độc lập và sáng tạo của

Trang 23

người học Người học không có được hứng thú, sự tự tin và sự tôn trọng trongquá trình học tập Ngược lại, họ luôn thấy gò bó, lo lắng và thậm chí là sợ hãi.

Do vậy, trong việc tổ chức dạy học theo hình mẫu kiến tạo người GV cần xâydựng được mối quan hệ thầy trò thân thiện, giúp HS tự tin và thoải mái trong quátrình học tập

Trong tiến trình dạy học theo hình mẫu kiến tạo, việc xác định rõ nhiệm vụcủa GV và HS trong quá trình dạy học là một điều hết sức quan trọng, GV và

HS cùng nhau làm việc, tuy nhiên với vai trò và nhiệm vụ khác nhau, GV làngười thiết kế, tổ chức và điều khiển quá trình dạy học nhưng tất cả các hoạtđộng của GV đều phải hướng đến HS, mọi hoạt động của GV sẽ trở nên vô nghĩanếu HS không tích cực chủ động đón nhận nó; HS là người tiếp nhận tình huống

có vấn đề, tích cực, chủ động tiến hành các hoạt động nhận thức: Phát hiện vấn

đề, giải quyết vấn đề, xây dựng kiến thức mới và củng cố hệ thống kiến thức đãcó

9.3 Tạo nhu cầu và hứng thú học tập cho học sinh

Nhu cầu và hứng thú học tập là một điều kiện quan trọng trong quá trình họctập, nó giúp HS hướng sự chú ý của mình vào hoạt động học tập, bồi dưỡng trí tò

mò khoa học và lòng ham hiểu biết, cần cù, nhẫn nại, … Vì vậy, việc tạo nhu cầu

và hứng thú cho người học là vô cùng quan trọng và GVcó thể tạo hứng thú cho

HS bằng nhiều cách như: Gây không khí làm việc một cách nhanh chóng, tácphong chan hòa, … đặc biệt là luôn khéo léo đặt HS vào tình huống có vấn đề

9.4 Coi trọng những kiến thức và kinh nghiệm đã có của người học

Thực tiễn dạy học cho thấy, trước khi dạy về một khái niệm nào đó, HS cóthể đã có những hiểu biết nhất định về vấn đề đó qua kinh nghiệm sống hoặc donhững suy luận về những vấn đề tương tự mà HS đã biết Có những quan niệmđúng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tư duy, nhưng cũng có những khái niệmchưa đầy đủ hoặc sai sẽ gây trở ngại cho quá trình tư duy của HS, nhưng tất cảnhững kinh nghiệm đó đều có tác dụng kích thích tư duy của người học nếu GVbiết cách sử dụng chúng

Do vậy, trong quá trình dạy học GV cần có những quan tâm và cách xử lí sư

Trang 24

phạm đặc biệt với những quan niệm sai hoặc chưa đầy đủ của HS Quá trình dạyhọc không chỉ có nhiệm vụ xây dựng kiến thức mới cho HS mà còn giúp HS tựđiều chỉnh các quan niệm sẵn có của mình cho phù hợp với các tri thức khoa học.

9.5 Tạo môi trường học tập trong đó học sinh có điều kiện thuận lợi để thảo luận trao đổi ý tưởng của mình với bạn bè và giáo viên

Ngoài việc tạo ra những tình huống có vấn đề, tạo cho mỗi HS nhận thấy nhucầu, nhiệm vụ giải quyết vấn đề thì GV cần phải tạo được môi trường học tập tíchcực Bố trí các điều kiện để tổ chức cho HS giao tiếp với nhau, hướng dẫn HS trìnhbày và thảo luận các vấn đề của mình, đồng thời phải biết lắng nghe, phân tích,đánh giá các ý kiến của người khác Khi đó GV sẽ tham gia vào cuộc trao đổi như

là một thành viên trong lớp học, điều khiển quá trình thảo luận một cách khéo léo,ngoài việc giúp đỡ HS giải quyết vấn đề, GV còn thu được các thông tin ngược kịpthời và thường xuyên

Tôi cho rằng, để hình thành và phát triển tốt các kỹ năng mềm cho học sinhlồng ghép trong từng môn học, giáo viên cần tạo được không khí học tập vui vẻ vàhạnh phúc, giúp học sinh cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện trong các giờhọc Chính vì vậy, quá trình giáo dục trong nhà trường, quan trọng nhất là làm thếnào để mỗi thầy giáo, cô giáo thấy được niềm hạnh phúc, để chính họ là ngườitruyền cảm hứng, mang đến niềm vui, hạnh phúc cho học sinh Những yếu tố tâm

lý nào để cho giáo viên được hạnh phúc, làm sao để thỏa mãn được những mongmuốn, nguyện vọng của người học trong trường học? Đó là những vấn đề trăn trởcần được suy xét và có lẽ đây cũng là một trong những vấn đề đang cần đượcnghiên cứu Từ việc nhận thức chính xác về các yếu tố đó giáo viên sẽ biết cáchlàm cho mình được thực sự năng lượng, nhiệt huyết, không ngừng sáng tạo, đam

mê trong công việc, vui với mỗi giờ lên lớp, tận tâm với mỗi học trò Thông qua

đó, học sinh được thầy cô gần gũi, quan tâm, yêu thương, giúp đỡ và được pháttriển toàn diện cả về kiến thức và kỹ năng

Khi giáo viên khéo léo linh hoạt vào vai và đặt học sinh vào vai ở từng nộidung, từng khâu lên lớp sẽ tạo nên sự cộng hưởng trường năng lượng tích cựctrong lớp học, tăng cường được sự kết nối thầy – trò, trò – trò Lớp học sẽ là nơi

Trang 25

học sinh vui thích khi đi đến mỗi ngày và cảm thấy đó là thế giới mà mình thuộc

về, là nơi mình có thể tin cậy và tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người xung quanhcho những vấn đề của cuộc sống

9.6 Giáo viên phải là người chủ động trong việc điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh

Sau khi tạo tình huống có vấn đề cho HS, để nhận biết và giải quyết được vấn

đề thì HS phải tiến hành các hoạt động tư duy, và điều khiển hoạt động của HSchính là điều khiển các hoạt động tư duy, do vậy GV phải hiểu rõ quá trình tư duycủa HS

9.7 Thường xuyên kiểm tra đánh giá và giúp cho học sinh tự kiểm tra đánh giá

Một trong các yếu tố quan trọng giúp GV có thể điều khiển quá trình dạy họcđạt hiệu quả đó chính là việc thu thập các thông tin ngược

Do vậy, việc kiểm tra đánh giá nhằm giúp cho GV thu được các thông tinngược để kịp thời điều chỉnh quá trình dạy học sao cho đạt được hiệu quả cao nhất.Bên cạnh đó, việc giúp cho HS thường xuyên tự kiểm tra, tự đánh giá cũng là mộtyêu cầu quan trọng vì nhờ đó HS có thể biết được những mặt mạnh, mặt yếu củabản thân, mức độ đạt được các yêu cầu đặt ra, từ đó sẽ có quyết định cho quá trìnhhọc tập của mình

1.1 Về phía giáo viên:

Môn Địa lí 10 – CT 2018 trong nhà trường phổ thông hiện nay giúp họcsinh có được những hiểu biết cơ bản, hệ thống về Trái Đất - môi trường sống của

Trang 26

con người, về thiên nhiên và những hoạt động kinh tế của con người trên phạm vitrái đất; rèn luyện cho học sinh những kĩ năng hành động, ứng xử thích hợp vớimôi trường tự nhiên, xã hội Đó là một phần của học vấn phổ thông cần thiết chomỗi người lao động trong xã hội hiện đại, trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước.Vì vậy giáo viên cần phải thay đổi phương pháp dạy học nhằm pháthuy năng lực, kĩ năng của mỗi một học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng laođộng hiện nay.

Trong những năm học vừa qua, đông đảo giáo viên có nhận thức đúng đắn

về đổi mới phương pháp dạy học Nhiều giáo viên đã xác định rõ sự cần thiết và cómong muốn thực hiện đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.Đối với môn Địa lí nói riêng và các môn học khác ở các trường trung học phổthông việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lựchọc sinh đã và đang được quan tâm nhiều hơn Việc áp dụng những phương phápdạy học tích cực vào các tiết dạy học được sử dụng nhiều hơn và đã bước đầu cónhững kết quả khả quan Học sinh tỏ ra quan tâm, hứng thú hơn đối với môn học,kết quả học tập cao hơn Nhiều giáo viên đã thật sự đầu tư, nghiên cứu đổi mớiphương pháp dạy cũ, áp dụng các phương pháp dạy học theo mới để kích thíchhứng thú học tập, phát triển các kĩ năng mềm cần thiết cho học sinh

Tuy nhiên, hoạt động dạy học theo hình mẫu kiến tạo ở trường trung họcphổ thông ít được sử dụng và hiệu quả chưa cao như mong muốn Quá trình dạyhọc vẫn thiên về truyền thụ tri thức một chiều, nặng về truyền thụ kiến thức Sốgiáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong đổi mới phương pháp, cũng nhưtrong việc phối hợp các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực

và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều.Việc rèn luyện kỹ năng mềm như ( kỹnăng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh, kỹ năng lãnh đạo, kỹ nănggiao tiếp thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được chútrọng Cụ thể trong dạy học môn địa lí các gv có chú ý phát triển một số kỹ năngnhư kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, nhưng chỉ thực hiện được ở số ít

hs, nhiều em còn lại bị bỏ quên trong tiết học dẫn đến hiệu quả chưa cao Các kỹnăng mềm khác như kỹ năng quản lí thời gian, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năngthích nghi nhanh với thay đổi, kỹ năng đối diện, ứng phó với áp lực trong học tập

và cuộc sống, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, ra quyết định, kỹ năng tìm kiếm sự hỗtrợ…ít được gv chú ý rèn luyện cho hs

Tôi đã tiến hành khảo sát việc sử dụng các phương pháp dạy học của giáoviên vào giảng dạy ở các trường Trung học phổ thông thuộc địa bàn cụm huyện

Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, Diễn Châu tổng số 31 giáo viên ( xem bảng 1 ở phần phụ lục)

Qua khảo sát cho thấy: giáo viên thực hiện khá linh hoạt việc đổi mới

Trang 27

phương pháp dạy học Tuy nhiên số gv chú trọng hình thành và phát triển kỹ năngmềm cho hs thông qua các tiết học địa lí còn rất ít, cụ thể thường xuyên sử dụngchỉ chiếm 19,3%, còn đa số ít sử dụng chiếm 64,5%, 16,2 % gv ít quan tâm Vậynguyên nhân xuất phát từ đâu?

Nguyên nhân thứ nhất là do để chuẩn bị một tiết dạy theo hướng vận dụngcác hình mẫu kiến tạo cần rất nhiều thời gian, soạn bài chi tiết, tỉ mỉ

Nguyên nhân thứ 2 là do chương trình sgk 10 hiện hành được thiết kế theokiểu "xoáy ốc" nhiều vòng nên trong nội bộ mỗi môn học, có những nội dung kiếnthức được chia ra các mức độ khác nhau để học ở các cấp học khác nhau (nhưngkhông thực sự hợp lý và cần thiết); việc trình bày kiến thức trong sách giáo khoatheo định hướng nội dung, có nhiều khái niệm trừu tượng, ngôn ngữ hs khó hiểuhơn sgk cũ, lại nặng về lập luận, suy luận, diễn giải hình thành kiến thức; hình thứcdạy học chủ yếu trên lớp theo từng bài/tiết nhằm "truyền tải" hết những gì đượcviết trong sách giáo khoa, chủ yếu là "hình thành kiến thức", ít thực hành, vậndụng kiến thức

Nguyên nhân thứ 3 là do áp lực kinh tế trong cuộc sống hiện nay phần nàoảnh hưởng đến việc dành nhiều thời gian cho đầu tư phương pháp dạy học, sốlượng hồ sơ còn nhiều cũng ảnh hưởng đến việc đầu tư cho giáo án

Nguyên nhân thứ 4 là do sĩ số hs các lớp 10 khoa học xã hội nhiều, các lớpđều từ 42 – 47 em, thời lượng dạy học 45’ không đủ để gv có thể giao tiếp với tất

cả hs, hay tất cả hs được tương tác với nhau

1.2 Về phía học sinh:

Bên cạnh đó, thực trạng học tập của học sinh đối với bộ môn Địa lí hiện naycũng khiến cho việc áp dụng các phương pháp dạy học mới gặp nhiều khó khăn

Đa số các em còn lúng túng với dạng bài tập “mở” khi đọc hiểu để trả lời câu hỏi

hoặc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn Học sinh chủ yếu dựavào kiến thức trong sách giáo khoa, chưa biết cách sử dụng các kiến thức thực tiễn

và liên môn trong giải quyết các bài tập và làm bài kiểm tra Các em chủ yếu lohọc kiến thức để làm bài kiểm tra mà quên chú trọng vào các kỹ năng cần có tronghọc tập và trong cuộc sống Đặc biệt khi địa lí 10 trở thành môn học lựa chọn, số

Trang 28

lớp hs được tham gia học địa lí không còn ở cả khối, 1 số lớp các em không đượchọc địa lí, dẫn đến việc hình thành các kỹ năng mềm này thiếu sự đồng bộ tronghs.

Vì vậy trước khi thực hiện dạy học theo hình mẫu kiến tạo, chúng tôi đã tiếnhành khảo sát học sinh các lớp 10 ở 3 trường THPT trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu

để tìm hiểu mong muốn của các em khi tham gia các hoạt động học tập trong cácgiờ học Địa lí với câu hỏi như sau: “Em có mong muốn trong một giờ học Địa lí sẽđược tham gia vào những hoạt động học tập nào nhiều? Chúng tôi đã thu được kếtquả trong số 487 học sinh được khảo sát thì có đến 257 em thích được tham giahoạt động nhóm (chiếm 61,1%), có 84 em thích được thảo luận vấn đề (32,7%),chỉ có 15 em (chiếm 5,8%) thích lên lớp nghe giảng lí thuyết và 1 em (0,4%) thích

tự nghiên cứu bài học (xem Phụ lục 1) Như vậy hầu hết học sinh đều có mongmuốn được hiểu, được bày tỏ ý kiến của bản thân đối với vấn đề tiếp nhận kiếnthức mới, mong muốn được vận dụng hiểu biết của bản thân để giải quyết các vấn

đề trong thực tế

Đứng trước thực trạng đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển

từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cáchvận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồngthời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sangkiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề gắn với thực tiễntheo yêu cầu của CT 2018 Theo đó, vận dụng các hình mẫu kiến tạo là một hướngdạy học tích cực hiện nay, có tác dụng rất lớn trong việc gắn bài học với thực tiễn,giúp học sinh hình thành những kĩ năng giải quyết tình huống trong thực tiễn hiệuquả

2 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài

2.1 Thuận lợi

- Năm học 2022 – 2023 diễn ra khá suôn sẻ khi hs và gv không bị gián đoạnbởi dịch côvid, gv và hs được đến trường học tập trực tiếp Đây là động lực thúcđẩy thầy cô áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học mới để tạo hứng thú vàphát triển các kĩ năng mềm cho hs, từ đó nâng cao chất lượng dạy học

Trang 29

- Đây cũng là thời kì bùng nổ các lớp học chia sẻ về kinh nghiệm tổ chứcvận hành lớp học hiệu quả, tạo sự kết nối và tương tác của người học với ngườithầy và giữa những người học với nhau Giáo viên cũng chủ động tham gia đượcnhiều lớp học tự bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm từ các cộng đồng giáo viên như:Cộng đồng dạy học tích cực, Cộng đồng giáo viên sáng tạo, Cộng đồng 1 triệu giáoviên truyền cảm hứng… Với tinh thần chia sẻ, các giáo viên được học hỏi nhiềuphương pháp, kỹ thuật dạy học tíc cực và hiệu quả.

- Sở giáo dục, nhà trường tổ chức cho giáo viên tham gia nhiều khóa bồidưỡng để thầy cô hiểu rõ về dạy học phân hóa; nâng cao năng lực hiểu đối tượnggiáo dục (thông tin về điểm mạnh và điểm yếu của HS), năng lực thiết kế công cụdạy học (hệ thống câu hỏi, phiếu bài tập, bài kiểm tra phù hợp với từng đối tượnghọc sinh và thể hiện được sự phân hóa), đặc biệt giúp học sinh phát triển đượcnhiều kỹ năng mềm được lồng ghép trong quá trình dạy học bộ môn

- Ban giám hiệu nhà trường luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho giáoviên đổi mới phương pháp dạy học

- Nhà trường khuyến khích giáo viên xây dựng các chương trình trải nghiệmthực tế cho học sinh Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được nhà trườngquan tâm, định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinhtiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã

có và huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các môn học khác nhau để thựchiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đờisống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoánhững kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, kĩ năng mới góp phần phát huytiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghềnghiệp tương lai

- Tài nguyên trên Internet rất phong phú, giúp người dạy và người học có thểkhai thác nguồn tài nguyên đó phục vụ cho giảng dạy và học tập của mình

- Các phương tiện dạy học ngày càng hiện đại Nhiều phần mềm hỗ trợ dạy

và học tạo nhiều cảm hứng sáng tạo cho người dạy và sự hứng thú học tập đối vớingười học

Trang 30

- Các tiết học có sự tương tác sôi nổi, tích cực của học sinh.

2.2 Khó khăn

- Về cơ sở vật chất: nhà trường chưa có phòng học dành riêng cho bộ môn,

đa số các phòng học sắp xếp bàn ghế theo truyền thống (hai dãy hàng ngang), chưaphù hợp cho tổ chức nhiều hoạt động dạy học

- Giáo viên phải dành thời gian tìm hiểu đối tượng học sinh, thiết kế kịchbản bài dạy với đa dạng các hoạt động

Hs mất nhiều thời gian để tìm hiểu nội dung học tập, trong khi chương trình lớp 10mới, gv các môn giao bài tập chuẩn bị, các dự án học tập của các môn khá nhiều

- Để phát huy cao nhất những kĩ năng là thế mạnh của từng học sinh, giáoviên cần phải phân tích thông tin từng học sinh để đưa ra được hình mẫu giả địnhcủa từng học sinh Trên cơ sở đó, giáo viên tính đến nhu cầu, đặc điểm của mỗihọc sinh để xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánhgiá cho phù hợp Để vận hành mô hình học tập theo nhóm Đệ nhị thân, cần mộtkhoảng thời gian đầu năm học để học sinh làm quen và chủ đông, tự giác, tích cựctương tác và chia sẻ với bạn bè

- Khó khăn đặt ra cho giáo viên là rất lớn khi thông tin mà học sinh thu thậpđược đến từ nhiều nguồn khác nhau, bằng những ngôn ngữ khác nhau và nhữngquan điểm khác nhau.Vì vậy, yêu cầu đặt ra với giáo viên không chỉ là có tráchnhiệm với việc dạy của mình mà còn với việc học của học sinh Giáo viên khôngchỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người tư vấn, định hướng giúp học sinhchủ động học tập, là người truyền cảm hứng yêu thích, sáng tạo trong từng mônhọc

- Chương trình địa lí hiện hành đã đổi mới nhưng còn bộc lộc những hạnchế, bất cập như: nhiều bài nặng về khái niệm, lí luận làm hs khi đọc khó hiểu;chương trình còn nghiêng về trang bị kiến thức lý thuyết, chưa thật sự thiết thực,chưa coi trọng kỹ năng thực hành (trong sgk cánh diều địa 10 không có 1 bài thựchành nào, hai bộ sách còn lại có nhưng cũng rất ít), kỹ năng vận dụng kiến thức

Trang 31

- Trong chương trình mới, nhiều trường học đã chú ý giáo dục kĩ năng cho

hs nhưng phần lớn đang được triển khai mang tính bề nổi dưới hình thức tổ chứccác hoạt động ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo, câu lạc bộ, các hoạt động văn hóa– nghệ thuật – thể thao, hoạt động xã hội, công ích , việc lồng ghép giáo dục kĩnăng mềm cho hs thông qua các môn học còn hạn chế, chưa xuyên suốt, thiếu sựđồng bộ

- Quan điểm tích hợp và phân hoá chưa được quán triệt đầy đủ; các môn họcđược thiết kế chủ yếu theo kiến thức các lĩnh vực khoa học, chưa thật sự coi trọngyêu cầu về sư phạm; một số nội dung của một số môn học chưa đảm bảo tính hiệnđại, cơ bản, còn nhiều kiến thức hàn lâm, nặng với học sinh

- Việc lồng ghép dạy giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh thông qua các mônhọc chưa trở thành phong trào, chưa phải là yêu cầu trong từng bộ môn Học sinhchưa hoàn toàn quen với việc triển khai một số phương pháp học tập mới.Thôngqua thực tế tìm hiểu, phân hóa học sinh, nhiều học sinh bị yếu, thiếu nhiều kĩ năngmềm

3 Một số giải pháp vận dụng có hiệu quả dạy học theo các hình mẫu kiến tạo trong môn Địa lí.

3.1 Biện pháp tìm hiểu kiến thức và nhu cầu học tập của học sinh

3.1.1 Mục đích

Nhìn chung, các kiến thức địa lí ở bậc trung học cơ sở là gần gũi và thực tếvới HS HS đã có trước vốn kiến thức khá nhiều có liên quan đến các nội dung cầnnghiên cứu ở bậc trung học phổ thông Đặc biệt, phần kiến thức địa lí lớp 10 là sựphát triển cao hơn nội dung kiến thức lớp 6, và sự tiếp bước các nội dung ở phầnđịa lí đại cương, đó cũng là những nội dung kiến thức có tính thực tiễn cao, rất gầnvới cuộc sống đời thường của HS Do vậy việc điều tra, tìm hiểu kiến thức vốn cócũng như nhu cầu học tập của HS là nhằm xác định:

- HS đã có những kiến thức cơ sở cần thiết cho nội dung nghiên cứu haychưa?

- Những kiến thức đã có của HS tạo thuận lợi hay cản trở như thế nào cho

Trang 32

việc lĩnh hội các nội dung kiến thức của chủ đề sắp học?

- Nhu cầu cần tìm hiểu, nghiên cứu, biết thêm của HS là ở các nội dung nào?Trên cơ sở đó, GV sẽ giúp HS củng cố, bổ sung và phát triển thêm nhữngnội dung kiến thức cần thiết Đồng thời, qua khâu tìm hiểu sẽ giúp cho GV nắm bắtthêm tâm tư, nguyện vọng, các suy nghĩ, sở thích, … của HS để định hướng xâydựng, phát triển nội dung bài học phù hợp và một điều quan trọng khác là giúp cho

GV thiết kế các hoạt động học tập mang lại hiệu quả cao nhất

3.1.2 Các biện pháp sư phạm

Trong quá trình dạy học theo hình thức kiến tạo và thực nghiệm sư phạm ởcác trường trung học phổ thông, chúng tôi đã thực hiện các biện pháp sau đây:

a. Kết hợp tìm hiểu kiến thức và nhu cầu học tập với kiểm tra miệng

Trong biện pháp này, GV có thể tiến hành:

- Đặt một câu hỏi kiểm tra kiến thức của bài trước: Sử dụng biện pháp nàythường trong những nội dung bài sắp học có liên quan đến kiến thức của bàitrước đó

- Đặt một câu hỏi kiểm tra kiến thức đã có về nội dung bài sắp học: Cáchnày áp dụng đối với các nội dung kiến thức của bài sắp học mà HS đã được nghiêncứu ở trước đó

b. Tìm hiểu kiến thức và nhu cầu học tập của học sinh qua phiếu điều tra

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi thấy rằng việc tìm hiểu kiến thức

và nhu cầu học tập của HS qua phiếu điều tra cho kết quả tốt bởi vì kết quả điều trabằng phiếu giúp cho GV thu nhận đươc rất nhiều thông tin nội dung kiến thức của

HS về chủ đề sắp dạy, mặt khác sử dụng phiếu điều tra được áp dụng dễ dàng vàrất thuận lợi đối với tất cả các loại bài học

c. Sử dụng phiếu học tập

Sử dụng phiếu học tập để tìm hiểu kiến thức và nhu cầu học tập của HS được ápdụng trong các bài học có nội dung kiến thức hoàn toàn mới, HS chưa được nghiêncứu ở các lớp dưới

Trang 33

d. Sử dụng trò chơi để tìm hiểu kiến thức đã có của HS

GV có thể thiết kế và tổ chức trò chơi ô chữ, đố vui… với nội dung câu hỏi làphần kiến thức HS đã học trước đó hay kiến thức có liên quan đến bài mới Biệnpháp này vừa có thể giúp HS ôn lại kiến thức cũ, vừa giúp GV tìm hiểu được kiếnthức đã có của HS, đồng thời tạo không khí lớp học sôi nổi, gây hứng thú học tậpcho HS

Qua thực nghiệm nhận thấy: các yếu tố “thời gian hạn chế” và “lớp HS quáđông” là những nguyên nhân quan trọng đã ảnh hưởng tới việc GV quan tâm đếncác ý kiến của HS cũng như nắm bắt được các kiến thức và nhu cầu học tập củacác em Vì vậy, GV cần lựa chọn và phối hợp các biện pháp điều tra một cáchthích hợp để có sự quan tâm một cách thích đáng đối với việc tiếp thu kiến thứcmới của HS, đồng thời kết quả của công việc này sẽ giúp cho GV xây dựng hoặclựa chọn được các tình huống học tập khác nhau sao cho phù hợp nhất với HS củamình

3.2 Tạo môi trường học tập cho học sinh kiến tạo kiến thức

3.2.1 Mục đích

Tạo môi trường học tập thuận lợi cho HS kiến tạo kiến thức là thể hiện nétđặc thù trong dạy học theo hình mẫu kiến tạo và là một điều kiện quan trọng trongquá trình học tập của HS Môi trường học tập thuận lợi sẽ giúp HS trao đổi – thảoluận, tìm tòi – phát hiện và giải quyết các vấn đề học tập Mặt khác, môi trườnghọc tập tích cực sẽ tạo cho mỗi cá nhân HS nhận thấy được nhu cầu, hứng thú vànhiệm vụ phải giải quyết các vấn đề học tập

Trang 34

đó, GV phải chuẩn bị, tạo điều kiện về các phương tiện và định hướng cách thức

tổ chức để HS thực hiện theo dự định của mình.

b. GV xây dựng các bài tập nhận thức có liên quan đến thực tiễn để HS thấy

có nhu cầu, hứng thú tìm hiểu từ đó làm thay đổi nhận thức và kiến tạo được kiến thức.

c. GV cung cấp các điều kiện, tư liệu học tập để HS kiến tạo kiến thức

Các video: Tư liệu này giúp cho HS quan sát, nhận xét rút ra đặc điểm Các

mô hình, sơ đồ biểu diễn quy trình sản xuất, các hình ảnh minh họa Các tư liệutrên mạng internet, các sách tham khảo liên quan đến nội dung học tập để giúp cho

HS đọc, nghiên cứu và thảo luận

Để kiến tạo kiến thức, HS phải tự tiến hành nghiên cứu dưới sự quản lí giúp

đỡ và hướng dẫn của GV từ đó HS rút ra nội dung bài học

d. Tổ chức các hoạt động học tập hợp tác theo nhóm

Có thể tổ chức học tập nhóm hợp tác theo các cách sau:

- Trao đổi, thảo luận bình đẳng: Cách tổ chức này được thực hiện khi nhómhọc sinh nghiên cứu cho một vấn đề học tập hay một bài tập cụ thể

- Tổ chức nhóm chuyên gia để các HS “dạy” cho nhau: Hình thức này đặc

biệt áp dụng có hiệu quả trong các tiết học ôn tập, luyện tập, và đã được khẳngđịnh Ví dụ, dạy học nhóm chuyên gia trong bài ôn tập cho kiểm tra giữa học kỳ1…

-Báo cáo chia sẻ thông tin: GV có thể nêu để HS suy nghĩ tìm hiểu ở nhà nhưmột câu đố và HS nào có lời giải sẽ trình bày vào giờ sau hoặc viết vào giấy dántrên bảng của lớp

e. Thu thập thông tin ngược từ HS

Một biện pháp quan trọng khác để tạo môi trường học tập cho HS kiến tạokiến thức đó là bố trí các điều kiện để tổ chức cho HS được trao đổi ý tưởng củamình với GV và bạn bè, từ đó có được thông tin ngược từ phía HS Các cách có thểtriển khai trong tiết học bao gồm:

-Cá nhân HS báo cáo: HS có thể trả lời miệng, dùng máy chiếu,…

Trang 35

- Báo cáo kết quả hoạt động nhóm: có thể trình bày miệng, viết lên bảng,dùng bảng phụ hay trình bày trên khổ giấy lớn…Ví dụ, HS báo cáo kết quả hoạtđộng của nhóm mình về GDP, GNP hay đô thị hóa và trình bày lên bảng phụ.

-Kiểm tra thường xuyên đối với cá nhân HS và đánh giá chỉ số cố gắng của

cả nhóm: Biện pháp này giúp mỗi cá nhân HS tự đánh giá sự tiến bộ của chínhmình, đồng thời giúp cho cả nhóm nhận thấy có trách nhiệm hơn trong việc họctập

Tóm lại, dạy học theo hình mẫu kiến tạo là quá trình đi từ những tri thức đãbiết hoặc chưa biết đến việc tìm kiếm, phát hiện ra các tri thức mới Trong quátrình đó, các biện pháp sư phạm tạo môi trường học tập thuận lợi sẽ góp phần lóe

sáng và kết nối giữa hai cực “đã biết, chưa biết” – “sẽ biết” trong nhận thức của

HS

III – THỰC NGHIỆM:

1 VẬN DỤNG CÁC HÌNH MẪU ẨN DỤ NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC KỸ NĂNG MỀM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 CT 2018.

1.1 Đặc điểm kỹ năng mềm của 6 hình mẫu ẩn dụ.

Với 6 hình mẫu ẩn dụ trong giao tiếp đạt hiệu quả, mỗi hình mẫu có thếmạnh vượt trội và hạn chế riêng Cụ thể là: những kĩ năng có màu xanh là thếmạnh cần khai thác giúp học sinh có cơ hội tỏa sáng, các kĩ năng ở màu vàng là ởmức trung bình cần tiếp tục được thúc đẩy, rèn luyện; các kĩ năng có màu đỏ là cònyếu, thiếu cần được thầy cô, bạn bè hỗ trợ, rèn luyện, hình thành để cải thiện

- Các kĩ năng của hình mẫu nông dân

Trang 36

- Các kỹ năng của hình mẫu họa sĩ

- Các kỹ năng của hình mẫu kiến trúc sư

Trang 37

- Các kỹ năng của hình mẫu diễn viên

- Các kỹ năng của hình mẫu thợ săn

- Các kỹ năng của hình mẫu nhà tư vấn

Trang 38

(Nguồn: Theo Ken Bay, Singapo)

Nắm được đặc điểm các hình mẫu, giáo viên không chỉ phân loại đối tượnghọc sinh theo học lực mà tinh tế hơn, giáo viên còn phân loại học sinh theo các kỹnăng lợi thế Thông qua bài test ngắn cùng sự tương tác với học sinh, giáo viên sẽđưa ra được hình mẫu giả định của từng học sinh Trên cơ sở đó, giáo viên phânnhóm học tập không chỉ dựa trên năng lực học tập mà còn kết hợp về hình mẫu giảđịnh để các em có sự hỗ trợ nhau nhiều nhất, có cơ hội được phát huy sở trườngnhiều nhất và dễ dàng lấp phẳng những điểm yếu của bạn bằng thế mạnh của mìnhthông qua các hoạt động nhóm và tinh thần kết nối, chia sẻ

Chi tiết hơn là: Sau khi thầy cô có những thông tin về học sinh và giả địnhđược hình mẫu mà học sinh thuộc về Thầy cô kết hợp với học lực và phân nhómhọc sinh theo cách kết hợp nhiều hình mẫu trong 1 nhóm để nhóm nào cũng cótổng hợp các thế mạnh

Thông qua tổng hợp đặc điểm kỹ năng của từng hình mẫu, giáo viên dễ dàngnhận ra những điểm mạnh của học sinh, tạo môi trường cho học sinh được pháthuy thế mạnh và sắp xếp bạn đồng hành, tương hỗ giúp học sinh khắc phục dầnnhững hạn chế Đồng thời, giáo viên có thể cung cấp thông tin về hình mẫu ẩn dụcủa học sinh và tư vấn cho học sinh biết được mình có điểm mạnh gì cần tối ưuhóa và điểm yếu nào cần khắc phục để phát triển toàn diện hơn

Trang 39

1.2 Thầy cô linh hoạt từng bước “biến hình” vào vai với 6 hình mẫu ẩn

dụ kiến tạo giờ học hứng thú, phát triển nhiều kỹ năng mềm cho học sinh trong giờ học.

Bước 1: Lên kịch bản, thiết kế tài liệu học tập và các phương án triển khaibài giảng: online hay offline, tổ chức những hoạt động nào, sử dụng những phầnmềm nào hỗ trợ…?

Bước 2: Dẫn dắt học sinh vào bài và tạo động lực thúc đẩy học sinh nghiêncứu và thiết kế, thể hiện theo cách riêng của mình

Với hình mẫu này, giáo viên có thể truyền cảm hứng cho các em tham giacác cuộc thi ở qui mô lớp hoặc liên lớp trong khối mà thầy cô dạy để tạo nên sựcộng hưởng tích cực trong học tập môn học Thực tế, mỗi kì tôi cho các em thamgia 1 cuộc thi nhỏ như: Chọn và thiết kế bài học mang màu sắc Tết vào dịp gần Tết

và các em thường chọn ngành dịch vụ; cuộc thi thiết kế vở ghi điện tử sáng tạođược tổng kết vào cuối năm học

Thông qua phong trào tự nghiên cứu và thiết kế bài học sáng tạo, các em họcsinh vừa phát triển kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin vừa gìn giữ được sáchgiáo khoa sạch đẹp Cũng nhờ đó mà cô trò chúng tôi lan tảo được những sảnphẩm học tập đẹp, sáng tao và truyền động lực, cảm hứng cho nhiều học sinh thamgia dự án “Gửi sách cho em trên bản”

Trang 40

Bước 3: Tổ chức, hướng dẫn điều phối học sinh thực hiện các nhiệm vụ họctập.

Bước 4: Bao quát lớp học, phát hiện những “hạt giống” cần khai thác, phát huy vànhững “hạt” cần kiên trì vun bồi, đa dạng hóa hệ thống câu hỏi, tăng sự tương tác,kết nối với của học sinh

Ngày đăng: 26/07/2023, 22:47

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w