1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ thương mại của vương quốc champa trong bối cảnh thương mại khu vực đông nam á thời cổ trung đại từ thế kỷ vii đến thế kỷ xv

73 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ thương mại của vương quốc Champa trong bối cảnh thương mại khu vực Đông Nam á thời cổ trung đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV
Trường học Đại học Quốc gia
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 586,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, ngời viết đã lựa chọn đềtài: Quan hệ thơng mại của vơng quốc Champa trong bối cảnh thơng mại khu vực Đông Nam á thời cổ trung đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV, làm đề tài ch

Trang 1

Quan hệ thơng mại của vơng quốc Champa trong bối cảnh thơng mại khu vực Đông Nam á thời cổ trung đại

Cambridge History of Southeast Asia Chính Trị Quốc Gia

Đại học Quốc gia

Đại Nam nhất thống chí Institute of Southeast Asian Studies Khảo cổ học

Khoa học Xã hộiNghiên cứu Đông Nam á Nghiên cứu Lịch sử

Nhà xuất bảnNhững phát hiện mới về khảo cổ học

Đại Việt sử kí toàn th

Văn hoá Thông tin

Mục lục Lời cám ơn.

Các chữ viết tắt trong luận văn

Mục lục

Mở đầu

I ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

III Mục đích nghiên cứu.

IV Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

V Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Trang 2

VII Bố cục của luận văn.

Chơng 1: Một cái nhìn tổng quan về Thơng mại Đông

Nam á thời cổ (Từ đầu công nguyên đến thế kỷ XV).

1.2 Lịch sử thơng mại Đông Nam á thời cổ

Chơng 2: Khái quát về lịch sử vơng quốc Champa (Từ

đầu cho đến thế kỷ XV).

2.1 Điều kiện tự nhiên miền Trung Việt Nam

2.2 Lịch sử phát triển của vơng quốc Champa.

2.2.1.Về nguồn gốc của ngời Chàm

2.2.2.Về vấn đề ấn Độ hoá

2.2.3.Về Các thời kỳ lịch sử của Champa

2.3 Tiểu kết chơng 2.

Chơng 3: Quan hệ thơng mại của vơng quốc ChamPa

với các quốc gia trong khu vực (thế kỷ VII-xV) 3.1 Quan hệ thơng mại của vơng quốc Champa giai đoạn từ thế kỷ VII

đến thế kỷ X.

3.1.1 Những điều kiện mới ảnh hởng đến nền thơng mại Champa

3.1.2 Sự phát triển của thơng mại Champa thế kỷ VII-X

3.1.3 ảnh hởng của sự phát triển thơng mại tới lịch sử phát triển của vơngquốc Champa

3.2 Quan hệ thơng mại của vơng quốc Champa giai đoạn từ thế kỷ X

đến thế kỷ XV.

3.2.1.Những điều kiện mới ảnh hởng đến sự phát triển của nền hải thơng Champa

3.2.2 Sự phát triển của nền hải thơng Champa từ thế kỷ X đến thế kỷ XV

3.3 Sự suy giảm và suy tàn của nền thơng mại Champa.

Trang 3

Phần mở đầu

i ý nghĩa khoa học và mục đích nghiên cứu.

Champa là một vơng quốc cổ ra đời sớm trong khu vực Đông Nam á,

có địa bàn chủ yếu ở vùng đồng bằng duyên hải miền Trung Việt Nam ngàynay Do án ngữ một vị trí quan trọng trên con đờng giao lu quốc tế Đông-Tây, những thuyền bè ngợc xuôi trong hệ thống mậu dịch châu á đều phảidừng chân ở nơi đây, nên ngời Chăm đã từng có những mối liên hệ rộng rãivới các nớc trong và ngoài khu vực Sách An Nam chí lợc của Lê Tắc biên

soạn vào năm 1333, phần Các dân biên cảnh phục dịch có đa ra lời bình về

vị trí tự nhiên của Chiêm Thành (Champa): “Nớc này ở ven biển, nhữngthuyền buôn của Trung Hoa vợt biển đi lại với các nớc ngoại phiên đều tụ ở

đây, để lấy củi, nớc chứa Đấy là bến thứ nhất ở phơng Nam”

Vị trí tự nhiên thuận lợi cho xu hớng mở rộng giao lu với thế giới bênngoài đã là điều kiện tiên quyết dẫn tới việc ra đời sớm của vơng quốc cổChampa trong khu vực Đông Nam á

G Maspero trong những nghiên cứu của mình, đã từng thừa nhận vềmột vơng quốc mà “đờng giao thông khó khăn, đờng biển bất trắc, nhữngthung lũng nhỏ chỉ có thể nuôi sống đợc đám dân c tha thớt ” và cũngkhẳng định “Chính tại vùng đất này đã tồn tại một quốc gia phồn vinh, mà ởtận xa ngời ta nói nhiều đến sự phú cờng đó là vơng quốc Chàm”1

Lịch sử vơng quốc Champa là một đối tợng nghiên cứu thu hút sựquan tâm của rất nhiều học giả trong và ngoài nớc từ trớc tới nay, không chỉbởi sự phong phú của nguồn t liệu văn bia, những dấu vết vật chất còn lại đếnngày nay Lịch sử vơng quốc Champa còn thu hút sự quan tâm của các nhànghiên cứu bởi những bí ẩn về chính bản thân của một trong những quốc gia

1 G.Maspero, Vơng quốc Chàm, T liệu dịch khoa Lịch sử, Đại học KHXH và Nhân văn Hà Nội.

Trang 4

ra đời sớm nhất, có thời gian tồn tại lâu dài nhất ở Đông Nam á, một quốcgia cờng thịnh trong một khoảng thời gian dài Đi tìm nguyên nhân, và lýgiải về sự cờng thịnh của vơng quốc Champa trong lịch sử cổ trung đại ĐôngNam á, mặc dù là một đề tài khó, nhng lý thú và có những ý nghĩa khoa học–cũng nh ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Chính vì vậy, ngời viết đã lựa chọn đề

tài: Quan hệ thơng mại của vơng quốc Champa trong bối cảnh thơng mại khu vực Đông Nam á thời cổ trung đại (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV), làm

đề tài cho Luận văn tốt nghiệp của mình

ii Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Những tri thức về vai trò của kinh tế thơng mại biển trong hoạt độngkinh tế của vơng quốc Champa xa đã đựơc ghi nhận bởi con ngời qua cácthời đại lịch sử khác nhau Những phát hiện khảo cổ học nhữn năm gần đây

về các hiện vật ngoại nhập, liên quan đến hoạt động buôn bán trên biển củaChampa cũng góp phần minh chứng cho đIũu đó Vì vậy, nghiên cứu hoạt

động thơng mại biển của ngời Chăm xa, cụ thể hơn là hoạt động thơng mạibiển của ngời Chăm trong giai đoạn từ thế kỷ VII đến thế kỷ XV mang một ýnghĩa khoa học quan trọng

Những nguồn t liệu có liên quan đến lịch sử vơng quốc Champa nóichung đợc biết đến nay không phải là ít, tuy nhiên những tài liệu đó hết sứctản mạn, đặc biệt, những tài liệu ghi chép về hoạt động hải thơng của ngờiChàm trong lịch sử thì hầu nh không có

Trong một số th tịch cổ của ngời Trung Quốc, vơng quốc Champa xuấthiện dới những tên gọi khác nhau: Lâm ấp, Chiêm Thành, Hoàn Vơng,Champa…Các thCác th tịch cổ Trung Quốc ở mỗi thời kỳ nhắc đến Champa vớinhững sự kiện khác nhau, tơng đối phong phú, từ địa lý (Tân Đờng Th), sảnvật (Lơng Th), khí hậu (Ch Phiên Chí), động – thực vâth (Văn hiến thôngthảo) và cả cách ăn mặc, sinh hoạt hàng ngày (Tống sử)…Các th Các th tịch cổTrung Quốc kể trên đã cung cấp cho chúng ta nhiều hiểu biết quan trọng về

đời sống và sinh hoạt của c dân Champa cổ, tuy nhiên, các th tịch cổ đó mớichỉ dừng lại ở những ghi chép vụn vặt, chủ yếu tập trung vào những hoạt

động triều cống, những quan hệ mang tính thần thuộc Về quan hệ buôn báncủa Champa với bên ngoài nhìn chung ít đợc nhắc đến

Trang 5

Th tịch cổ của ngời Ba T và ả Rập cũng tản mạn ghi chép về vấn đềnày Cùng với hoạt động buôn bán của các thơng nhân vùng Tây á sang

Đông Nam á, hiểu biết của họ về một vơng quốc ven biển nổi tiếng vớinhững sản phẩm quý hiếm, có giá trị cao trên thị trờng nh trầm hơng, đậukhấu, hồi hơng, vàng…Các thngày càng tờng tận Trong số các th tịch cổ đó có thể

kể đến cuốn “Akhbàr al Sìn wa al Hind” (Truyện kể về Trung Quốc và ấn

Độ) đợc viết từ thế kỷ IX bằng tiếng ả Rập Cuốn sách này đã nhắc tới vơngquốc Sanf (Champa) và địa danh Sanf-fùlàu (Cù Lao Chàm) nơi mà các th-

ơng nhân Tây á thờng xuyên ghé thuyền nghỉ ngơi và tích trữ lơng thảo, nớcngọt, cũng nh trao đổi hàng hoá trớc khi đi tiếp sang Trung Quốc hoặc đi vềcác địa điểm phía Nam

Các bộ thông sử của Việt Nam cũng biên chép khá nhiều những thôngtin vụn vặt về Champa qua nhiều thời kỳ khác nhau

Sách “An Nam Chí Lợc” của Lê Tắc thế kỷ XIV ghi chép khá tỉ mỉ về

các hoạt động bang giao với Chiêm Thành bao gồm từ địa lý, các việc chinhthảo và vận lơng, quan lại, việc triều cống2

Sách Đại Việt sử ký toàn th của Ngô Sĩ Liên cũng cung cấp cho chúng

ta nhiều thông tin quý giá về lịch sử Champa từ khi lập quốc đến đời Uy Mục

Đế triều Lê (Thế kỷ XVI) Các bộ sử khác của Việt Nam nh “ức Trai dị tập”

của Nguyễn Trãi, Phủ Biên Tạp lục của Lê Quý Đôn, Việt sử thông giám

c-ơng mục, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, Sử học bịkhảo của Đặng Xuân Bảng…Các thcũng cung cấp cho chúng ta nhiều t liệu quý vềvơng quốc Champa cổ xa Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong

đó phải kể đến nhãn quan của giai cấp thống trị về phẩm giá xã hội của hoạt

động buôn bán (thơng vi mạt) nên các th tịch cổ của Việt Nam và TrungQuốc dù có ghi chép khá nhiều, nhng những thông tin về hoạt động nội,ngoại thơng của Champa vẫn hầu nh không đợc đề cập đến

Tài liệu của ngời phơng Tây nói về Champa muộn hơn rất nhiều sovới các nguồn th tịch của Việt Nam và Trung Quốc nhng lại có nhiều ghi

chép và nhận xét đầy thú vị Chẳng hạn nh “Những ngời Bồ Đào Nha trên bờ

biển Việt Nam và Chiêm Thành” của Manguin, hay cuốn “Vơng quốc Chàm”

của Maspero

2 Lê Tắc, An Nam Chí Lợc.

Trang 6

Trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị nớc ta, một số học giả Pháp đã cónhiều đóng góp cho việc nghiên cứu lịch sử Champa Cùng với việc xây dựngcác bảo tàng, phòng trng bày, phòng nghiên cứu trên đất Việt Nam, các họcgiả ngời Pháp cũng đã từng bớc đi sâu vào nghiên cứu các lĩnh vực khácnhau Về nghệ thuật phải kể đến những đóng góp của Finot với tác phẩm

“Nghệ thuật Chăm và quá trình phát triển”, Partmantier với tác phẩm

“Thống kê khảo tả các di tích Chàm”, Maspero với tác phẩm “Vơng quốc

Chàm” đã đa ra một diễn trình tơng đối hoàn chỉnh về lịch sử Champa…Các thBêncạnh đó còn rất nhiều công trình nghiên cứu có giá trị tổng kết và khoa họccao của các học giả thuộc trờng Viễn Đông Bác Cổ đợc đăng tải lần lợt trêntập san BEFEO…Các th

Sau ngày chính quyền cai trị của ngời Pháp ở Đông Dơng sụp đổ, sựtập trung nghiên cứu về văn hoá Champa có giảm đi một thời gian và từ cuốithập kỷ 60 của thế kỷ XX, những nghiên cứu về Chàm lại mới đợc phục hồi

thông qua hoạt động của “Trung tâm Nghiên cứu lịch sử và văn minh vùng

Bán đảo Đông Dơng” dới sự chủ trì của giáo s P.D.Lafont Trung tâm nghiên

cứu này đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu quan trọng về các lĩnh vựcngôn ngữ học, văn học, nghệ thuật của Champa, gắn liền với tên tuổi củanhững học giả nh Moussay, Quách Thanh Tâm – Langiet, Michel Jacq –Hergoualch…Các thđặc biệt phải kể đến những đóng góp của nhà nghiên cứu ngờiPháp gốc Chàm là Pô Dharma trong việc liệt kê, xắp xếp vào danh mụcnhững bản viết tay của Champa nằm rải rác ở châu Âu và Mỹ

Những nghiên cứu của các học giả ngời Pháp thực sự có ý nghĩa và rất

đáng trân trọng Những nghiên cứu đó đã đặt nền móng cho quá trình nghiêncứu văn minh Champa trên rất nhiều các lĩnh vực nh kiến trúc, nghệ thuật, bi

ký…Các thTuy vậy, các lĩnh vực nghiên cứu vẫn còn phiến diện, một số mảng vẫncòn bỏ trống nh nghiên cứu các khu di chỉ c trú của c dân Chăm cổ, nghiêncứu hoạt động thơng mại biển của Champa

Bên cạnh ngời Pháp và sau ngời Pháp, nhiều học giả quốc tế cũng đã ítnhiều đề cập đến việc nghiên cứu Champa dới những khía cạnh đơn lẻ Cáchọc giả này trong quá trình nghiên cứu có tính bao quát hơn đều gián tiếp đềcập đến lịch sử Champa, coi Champa nh một bộ phận quan trọng cấu thànhlịch sử chung của khu vực Đông Nam á Trong số này, phải kể đến một số

công trình nghiên cứu nổi tiếng của Kenneth R Hall nh “Eleventh Century

Trang 7

Commercial Developments in Ankor and Champa” đăng trong Tạp chí

Nghiên cứu Đông Nam á năm 1979 và “Maritime Trade and State

Devolopment in Early Southeast Asia” xuất bản tại Hawaii năm 1985 Trong

những tác phẩm này K.R.Hall chủ yếu đi sâu vào phân tích một cách kháiquát về hoạt động thơng mại trên biển của Đông Nam á thời cổ trung đại vàquá trình hình thành, hng thịnh và suy vong của một số vơng quốc, trong đóChampa cũng đợc đề cập với khá nhiều thông tin và t liệu quý giá G.Codes

trong cuốn sách nổi tiếng của mình “The Indianized State of Southeast Asia”

cũng đề cập khá thờng xuyên về Champa qua các giai đoạn khác nhau và đặttrong tơng quan với các quốc gia “ấn Độ hoá” khác Anthony Reid trong

cuốn sách “Charting the Shape of Early Modern Southeast Asia” cũng đã dành toàn bộ chơng th ba “Chams in the Southeast Asia Maritime System” để

khái quát về lịch sử của quá trình hội nhập của thơng mại biển Champa vớithị trờng buôn bán đầy sôi động của Đông Nam á cho đến trớc khi ngời Bồ

Đào Nha xuất hiện ở eo biển Malacca vào năm 1511

Bên cạnh những ấn bản nói trên, còn có nhiều bài nghiên cứu riêng

đ-ợc công bố trong các tạp chí nghiên cứu hay kỷ yếu hội thảo Những bài viếtnày đề cập trực tiếp đến hoạt động thơng mại biển của ngời Chàm trong lịch

sử không nhiều lắm, chẳng hạn nh: “Sources on Economic Activities in

Khmer and Cham Lands” của Claude Jacques 3 Trong công trình nghiên cứucủa mình, Claude Jacques cũng đã phải thừa nhận “không giống nh đế quốcAngkor, vơng quốc Chàm nhìn ra biển Thực tế này gợi mở sự tồn tại của th-

ơng mại quốc tế mặc dù không một bằng chứng nào về nó đợc tìm thấy qua

những văn bia” Momoki Shiro với các công trình nghiên cứu nh: “Champa

chỉ là một thể chế biển? (Những ghi chép về nông nghiệp và ngành nghề trong các t liệu Trung Quốc).”4 và “Đại Việt và thơng mại ở biển đông từ thế

kỷ X đến thế kỷ XV” 5 ; Noboru Karashima với “Hoạt động thơng mại của ấn

3Claude Jacques, Sources on Economic Activities in Khmer and Cham Lands In: Southeast Asia in the 9 th

-14 th centuries, Institute of Southeast Asia Studies, Singapore, 1990.

4 Momoki Shiro, Champa chỉ là một thể chế biển? (Những ghi chép về nông nghiệp và ngành nghề trong các t liệu Trung Quốc), Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, 1996

5 Momoki Shiro, Đại Việt và thơng mại ở biển Đông từ thế kỷ X đến thế kỷ XV In trong: Đông á - Đông

Nam á những vấn đề lịch sử và hiện tại, NXB Thế Giới, Hà Nội-2004, tr.309-331.

Trang 8

Độ ở Đông Nam á thời cổ trung đại”6; Peter Burns – Roxanna M.Brown

với Quan hệ ngoại giao Chàm-Philippin thế kỷ XI 7 …

Những công trình nghiên cứu trên đây của các học giả quốc tế, đã đềcập trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động thơng mại của vơng quốc Champatrong lịch sử, song mức độ tập trung vào nghiên cứu hoạt động hải thơng củaChampa vẫn còn thấp, tản mạn và cha thực sự tơng xứng với yêu cầu khoahọc đợc đặt ra

Về phía các nhà khoa học Việt Nam, suốt nhiều thập kỷ qua, các họcgiả Việt Nam đã kế thừa và tiếp tục những nghiên cứu còn dang dở của ngờiPháp, và cũng đã bớc đầu đạt đợc những thành quả nhất định, đặc biệt là từphía các nhà khảo cổ

Từ năm 1985, trong Hội nghị khoa học về Khu phố cổ Hội An lần thứnhất, GS Trần Quốc Vợng đã công bố tham luận mang tính định hớng với

tựa đề “Chiêm cảng Hội An với cái nhìn về biển của ngời Chàm và ngời

Việt8” Đến Hội thảo Quốc tế về Đô thị cổ Hội An năm 1990, hai nhà nghiên

cứu Trần Kỳ Phơng và Vũ Hữu Minh cũng đã công bố tham luận “Cửa Đai

Chiêm thời vơng quốc Champa thế kỷ IV-XV”9 đã tiến thêm một bớc nữatrong việc nghiên cứu Champa nói chung và hoạt động buôn bán trên biểncủa ngời Chăm nói riêng

Thời gian gần đây, vấn đề thơng mại biển của vơng quốc Champacũng đã trở thành đối tợng nghiên cứu thờng xuyên hơn của các nhà nghiêncứu Việt Nam Học giả Trần Kỳ Phơng công bố công trình: Bớc đầu tìm hiểu

về địa-lịch sử của vơng quốc Chiêm Thành (ChamPa) ở miền Trung Việt Nam: Với sự tham chiếu đặc biệt vào hệ thống trao đổi ven sông của l“ ” u vực sông Thu Bồn ở Quảng Nam 10 Nhà nghiên cứu Hoàng Anh Tuấn cũng

đã thể hiện sự quan tâm của mình với vấn đề thơng mại biển của Champa

thông qua việc công bố một số công trình nghiên cứu của mình nh: Cù Lao

6 N.Karashima, Hoạt động thơng mại của ấn Độ ở Đông Nam á thời cổ trung đại, Tạp chí Nghiên cứu Lịch

sử, số 3, 1995, t.67-81.

7 Peter Burns – Roxanna M.Brown, Quan hệ ngoại giao Chàm-Philippin thế kỷ XI, trong: Đô thị cổ Hội An

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội-1991

8 Trần Quốc Vợng, Chiêm cảng Hội An với cái nhìn về biển của ngời Chàm và ngời Việt, In trong: Đô Thị

cổ Hội An, 1991.

9 Trần Kỳ Phơng, Vũ Hữu Minh, Cửa Đai Chiêm thời vơng quốc Champa thế kỷ IV-XV, In trong: Đô Thị cổ

Hội An, 1991.

10 Trần Kỳ Phơng, Bớc đầu tìm hiểu về địa-lịch sử của vơng quốc Chiêm Thành (ChamPa) ở miền Trung

Việt Nam: Với sự tham chiếu đặc biệt vào hệ thống trao đổi ven sông của l“ ” u vực sông Thu Bồn ở Quảng Nam, Trong: Thông tin Khoa học, tháng 03-2004, Phân viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật tại thành phố

Huế.

Trang 9

Chàm và hoạt động thơng mại ở biển Đông thời vơng quốc Champa 11 , Hải thơng ChamPa thế kỷ VII-X qua t liệu Khảo cổ học ở Quảng Nam và Đà Nẵng 12

Qua việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, có thể thấy rằng nghiêncứu hoạt động hải thơng của vơng quốc Champa còn sơ lợc, hoạt động thơngmại biển của vơng quốc Champa trong các thế kỷ VII-XV vẫn cha có côngtrình nghiên cứu quy mô mang tính hệ thống nào đề cập cho đến hôm nay

III Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

Trong khuôn khổ của một Luận văn tốt nghiệp, ngời viết không cótham vọng, và cũng không đủ khả năng để trình bày dàn trải mọi lĩnh vực,mọi thời kỳ của lịch sử thơng mại Champa xa Thông qua việc khảo sát cácnguồn t liệu khảo cổ học đã đựơc công bố, và kế thừa những kết quả củanhững học giả đi trớc, ngời viết muốn bớc đầu làm sáng tỏ hoạt động thơngmại biển của vơng quốc Champa trong khoảng thời gian từ thế kỷ VII đếnthế kỷ XV

IV Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

- Nguồn tài liệu chữ viết đợc sử dụng trong Luận văn, bao gồm một sốlaọi chính sau:

+ Các th tịch cổ của Việt Nam, Trung Quốc, ả Rập viết về Champa nóichung, quan hệ buôn bán, thơng mại của Champa nói riêng

+ Các tài liệu nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nớc viết về

v-ơng quốc Champa và về hoạt động thv-ơng mại, buôn bán của Champa

+ Các báo cáo khai quật, các bài nghiên cứu liên quan đợc đăng trêncác tạp chí nghiên cứu chuyên ngành lịch sử, khảo cổ học

Ngoài ra, Luận văn tốt nghiệp còn sử dụng một nguồn tài liệu quantrọng khác khác là một số luận văn thuộc chuyên ngành khảo cổ học, tài liệu

và hiện vật của các đợt khảo sát, nghiên cứu khảo cổ học trên địa bàn miềnTrung Việt Nam

11 Hoàng Anh Tuấn, Cù Lao Chàm và hoạt động thơng mại ở biển Đông thời vơng quốc Champa, trong:

Khoa Lịch Sử, Trờng ĐH KHXH&NV: Một chặng đờng nghiên cứu lịch sử (1995-2000), NXB Chính trị Quốc gia, 2000.

12 Hoàng Anh Tuấn, Hải thơng ChamPa thế kỷ VII-X qua t liệu Khảo cổ học ở Quảng Nam và Đà Nẵng In trong: Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam, tập I, Tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội – 2005.

Trang 10

- Phơng pháp nghiên cứu sử dụng trong Luận văn

Luận văn sử dụng phơng pháp lịch sử phân tích mối liên hệ giữa các sựkiện xét về cả khía cạnh đồng đại và lịch đại Bên cạnh đó một số phơngpháp bổ trợ nh phơng pháp so sánh thống kê, phơng pháp dân tộc học cũng

đợc vận dụng để làm phong phú thêm cho đề tài nghiên cứu

Những phân tích, đánh giá của tác giả đều cố gắng đợc trình bày trêncơ sở vận dụng phơng pháp duy vật của chủ nghĩa Mac-Lenin

Luận văn cũng đã sử dụng phơng pháp liên ngành, khai thác và kếthợp ba laọi tài liệu: Lịch sử, dân tộc học và khảo cổ học

V Bố cục của Luận văn.

Luận văn gồm trang Phần nội dung chính là trang, trong đó gồmphần mở đầu trang, kết luận trang, tài liệu tham khảo trang Luận văn đợcchia thành 3 chơng:

Chơng 1: Một cái nhìn tổng quan về Thơng mại Đông Nam á thời

cổ (Từ đầu công nguyên đến thế kỷ XV).

Chơng 2:

Chơng 3: Quan hệ thơng mại của vơng quốc ChamPa với các quốc

gia trong khu vực (thế kỷ VII-XV).

Trang 11

1.1 Lịch sử phát triển của thơng mại Đông Nam á thời cổ trung đại

Trớc thế kỷ XV quan hệ thơng mại của Đông Nam á chịu sự chi phốicủa hai trung tâm kinh tế lớn là Trung Quốc và ấn Độ Vì Đông Nam á,không có nhiều sản phẩm mang giá trị thơng mại cao nên nó chủ yếu đóngvai trò là trung gian cho hai thị trờng này Những thơng nhân ấn Độ vàTrung Quốc tới Đông Nam á chủ yếu là để trao đổi hàng hoá với nhau Họcũng nhập hàng hoá của Đông Nam á nh bạc, vàng, hơng liệu, gia vị, đồ lâmthổ sản nhng chủ yếu đó là những hàng hoá mang tính phụ trợ

Con đờng thông dụng nhất là bằng đờng biển xuất phát từ các cảng ởphía nam ấn Độ Theo GS Nhật Bản Shigeru Ikuta từ thế kỷ II Tr CN đếnnăm 450, các tuyến buôn bán nối liền ấn Độ và Trung Quốc đã đợc thiết lập;trong đó mạng lới giao thơng trên biển đã trải dọc theo dải bờ biển Đông D-

ơng, qua bán đảo Mã lai rồi tới ấn Độ Con đờng này bắt đầu từ Kancipura

ở nam ấn Độ, qua vịnh Bengal tới phía bắc bán đảo Mã Lai và Sumatra Saukhi nghỉ ngơi, lấy thêm lơng thực và nớc ngọt cùng hàng hoá từ các cảng ởkhu vực nh Pasai, Aceh…Các thđoàn ngời sẽ đáp thuyền lên bộ ở phía tây bán đảoMã lai Con đờng bộ thông dụng nhất là qua eo đất Kra tại Takuapa Từ đây,tiếp tục cuộc hành trình xuyên qua eo Kra tới Ch’aiya ở phía đông của bán

Trang 12

đảo Mã lai Tới đợc phía đông, đoàn ngời phải đáp thuyền tới thơng cảngcủa Siam, Chiêm Thành, Đại Việt rồi mới tới các cảng phía nam của TrungQuốc Ngoài con đờng qua Kra còn có con đờng từ Kedah theo đờng bộ tớithẳng Tumasik (Singapore) rồi mới tới các cảng phía nam của Đông Nam á.Hoặc, có thể từ Tavoy qua đèo Bachua tới sông Kanburi, từ đây tới sôngMenam rồi mới tới Siam trớc khi vào Trung Quốc

Lịch sử hải thơng của khu vực Đông Nam á từ đầu thiên niên kỷ thứnhất đến thế kỷ XV, theo GS Nhật Bản Shigeru Ikuta, có thể đợc phân chiathành 2 giai đoạn lớn:

1 Giai đoạn thứ nhất (Giữa thế kỷ II TCN đến khoảng thế kỷ VI)Vào giữa thế kỷ II TCN, hoặc có lẽ sớm hơn một chút, quan hệ hànghải giữa ấn Độ và Trung Quốc bắt đầu Bớc ngoặt đã diễn ra vào đầu Côngnguyên Phía bắc, đế chế Hán đợc thành lập (206 TCN), có khuynh hớng h-ớng về phơng Nam rất mạnh Không chỉ trao đổi tự nhiên, mà một hệ thốngthơng mại địa phơng và quốc gia đã đợc hình thành Việt Nam trở thành mộtvùng đất giữ vị trí cầu nối giữa Trung Quốc và Đông Nam á Thơng mại

Đông Nam á đã tìm đợc sức sống khi có điều kiện địa lý từ vùng Tây Nam

á là thị trờng ấn Độ ấn Độ là một dạng thức, mô hình phát triển của phơng

Đông, là một trung tâm kinh tế lớn Vùng Nam ấn mang đậm dấu ấn ĐôngNam á, chia sẻ với nhau nhiều nét tơng đồng về văn hoá, lịch sử, phong tục

Con đờng hàng hải nối Trung Quốc và ấn Độ đi từ bắc Việt Nam lúcbầy giờ chịu sự thống trị của ngời Trung Hoa, dọc theo bờ biển bán đảo

Đông Dơng, qua bán đảo Mã Lai ở phần phía Bắc và tới Kancipura ở miềnNam ấn Độ Một con đờng khác không cắt ngang bán đảo nhng đi xuyênqua eo biển Malacca Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu từ Trung Hoa làvàng và tơ lụa, và các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Trung Hoa từ ấn Độ

là đá quý, vật lạ và đồ thuỷ tinh Nói một cách khác, trong thời kỳ đó đã xuấthiện một dòng vàng chảy từ Trung Hoa sang ấn Độ theo đờng ven biển

Đông Nam á Trên thực tế, vàng cũng đợc xuất từ Trung Hoa sang ấn Độtheo đờng Trung á.13

Do kỹ thuật đi biển trong thời gian đầu còn hạn chế, nên hải trình củacác thơng nhân phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện gió mùa Xuất phát từ các

13 Shigeru Ikuta, Vai trò của các cảng thị ở vùng ven biển Đông Nam á từ đầu thế kỷ II TCN đến đầu thế

kỷ XIX In trong: Đô thị cổ Hội An, NXB KHXH, Hà Nội-1991, t.247.

Trang 13

cảng ở Nam ấn Độ, thơng thuyền phải dựa vào gió mùa Tây - Nam ở biển ấn

Độ Dơng giữa tháng 4 và tháng 8 để đi về phía đông Vì thời gian của một

đợt gió mùa kéo dài, nên sau khi dỡ hàng tại các bến cảng ở Đông Nam á,

họ có thể trở về cùng trong đợt gió mùa Tuy nhiên hầu hết họ ở lại các thơngcảng để hoạt động buôn bán với các vùng nằm trong vòng hoạt động của giómùa Để tránh những đợt gió xoáy trên vịnh Bengan vào tháng 10, thơngthuyền trở về vào tháng 12 khi gặp gió mùa Đông Bắc

Để phục vụ cho việc buôn bán lâu dài, thơng nhân ấn Độ thờng thiếtlập những khu định c dọc theo bờ biển phía tây của bán đảo Mã Lai và mờidân địa phơng đến cùng sinh sống Điều này đã kích thích sự ra đời của cácquốc gia - đô thị Trong các quốc gia - đô thị đó, vai trò làm chủ thuộc vềnhững thơng nhân ấn Độ

Chúng ta đều biết rằng ở miền Bắc ấn Độ, đế chế Mauryan (khoảng317-180 TCN) đã nhập vàng bạc từ Tây á Dới thời Mauryan, tiền vàng vàbạc đã đợc đúc và lu hành rộng rộng rãi Tiền Hy Lạp và La Mã cũng đợc luhành Kancipura, trạm cuối của tuyến đờng biển từ Trung Hoa, nằm ở miềnNam ấn Độ, và về mặt kinh tế, phụ thuộc vào Bắc ấn Độ Có thể nói rằngmặc dù Nam ấn Độ đã khai thác và tinh chế đợc vàng nhng không đủ đểbuôn bán với bắc ấn Độ và do đó Nam ấn Độ tìm nguồn cung cấp vàng từvùng ven biển Đông Nam á Đòi hỏi này đã đợc Trung Hoa, quốc gia muốn

có các sản phẩm quý lạ từ ấn Độ, nhận ra Và kết quả là dòng vàng và sảnphẩm thay thế của nó, tơ lụa, bắt đầu từ Trung Hoa theo đờng ven biển ĐôngNam á chảy sang.14

Cũng khoảng thời gian này, các thơng nhân ấn Độ bắt đầu đến bán

đảo Mã Lai để mua vàng, mặt hàng đợc thu gom ở bán đảo Sumatra hoặc đợcmua từ Trung Hoa Con đờng bộ thông dụng nhất là qua eo đất Kra tạiTakuapa Từ đây, tiếp tục cuộc hành trình xuyên qua eo Kra tới Ch’aiya ởphía đông của bán đảo Mã lai Tới đợc phía đông, đoàn ngời phải đápthuyền tới thơng cảng của Siam, Chiêm Thành, Đại Việt rồi mới tới các cảngphía nam của Trung Quốc Ngoài con đờng qua Kra còn có con đờng từKedah theo đờng bộ tới thẳng Tumasik (Singapore) rồi mới tới các cảng phía

14 Shigeru Ikuta, Vai trò của các cảng thị ở vùng ven biển Đông Nam á từ đầu thế kỷ II TCN đến đầu thế

kỷ XIX Sđd

Trang 14

nam của Đông Nam á Hoặc, có thể từ Tavoy qua đèo Bachua tới sôngKanburi, từ đây tới sông Menam rồi mới tới Siam trớc khi vào Trung Quốc.

ở Đông Đơng, những hoạt động thơng mại sôi động đã giúp hìnhthành nên những vơng quốc cảng hùng mạnh, đặc biệt là ở phía nam ViệtNam ngày nay nh: Phù Nam, Lâm ấp Theo truyền thuyết thì vơng quốc PhùNam đợc lập nên bởi ngời anh hùng từ phơng nam vợt biển tới “Điều đó cónghĩa là vơng quốc này đợc hình thành bởi một quốc gia - đô thị trên bán đảoMã lai nh là tiền đồn cho công cuộc thơng mại và săn cớp nô lệ”15 Cảng thị

óc Eo nhanh chóng vơn lên thành “trung tâm liên thế giới” thu hút hoạt

động thơng mại của cả khu vực16

ở Phù Nam, cảng thị óc Eo ra đời vào khoảng giữa thế kỷ II và tiếptục hoạt động cho tới tận giữa thế kỷ VII Sự ra đời của óc Eo tơng ứng vớiquá trình thống nhất Bắc ấn Độ do vua Kanichka (khoảng 144-173) tiếnhành Có thể nói kết quả của nó là: Một con đờng thơng mại trực tiếp chắcchắn đã đợc mở từ đồng bằng hạ lu sông Ganges qua bán đảo Mã Lai tới ốc

Eo, rồi sau đó tới Lâm ấp17 Sự thay đổi này đã có ảnh hởng mạnh mẽ tới

vơng quốc Phù Nam Nó bắt đầu đa các đội quân viễn chinh tới các quốc gia

-đô thị nhỏ trên bán đảo Mã Lai và đặt các quốc gia này dới sự khống chế của

nó Các cuộc viễn chinh này không nhằm để khống chế các quốc gia - đô thị

mà nhằm để cớp bóc các mặt hàng thơng mại cũng nh các nô lệ, những kẻkhông chỉ cần thiết cho công việc gia đình mà còn đợc coi là mặt hàng buônbán

Tơng đơng với Phù Nam, ở bờ biển bán đảo Đông Dơng có vơng quốcLâm ấp (ChamPa) Vơng quốc này nằm ngay ở phía Nam đèo Hải Vân Con

đờng thơng mại từ ấn Độ đến đợc tới Lâm ấp theo đờng bộ qua thung lũngsông Me Kong và theo đờng biển, dọc theo bờ biển bán đảo Đông Dơng

ở ấn Độ, đầu thế kỷ IV xuất hiện đế chế GúpTa (320-520) Dới triều

đại Gupta, cấu trúc cơ bản của nền văn minh ấn Độ đã đợc hình thành ĐạoShaivism và đạo Phật Đại thừa là hai trong số những thành tố tạo nên văn hoáGupta Quyền tối cao của giai cấp Bà La Môn đối với tất cả các giai cấp khác

15 Shigeru Ikuta, Vai trò của các cảng thị ở vùng ven biển Đông Nam á từ đầu thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ

XIX In trong: Đô thị cổ Hội An, NXB KHXH, Hà Nội-1991, t.248

16 Sakurai Yumio: Thử phác dựng cấu trúc lịch sử của khu vực Đông Nam á (thông qua mối quan hệ giữa

biển và lục địa) Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 4, 1996.

17 Shigeru Ikuta, Vai trò của các cảng thị ở vùng ven biển Đông Nam á từ đầu thế kỷ II TCN đến đầu thế

kỷ XIX Sđd

Trang 15

cũng là một trong những đặc tính của nó Ngôn ngữ thiêng liêng của ngời Bà

La Môn đợc sử dụng rộng rãi Các nguyên tắc chính trị và xã hội đợc soạnthảo Nền văn hoá Gupta này đợc những ngời Bà La Môn truyền sang ĐôngNam á và giới thiệu với dân chúng địa phơng Các quốc gia hùng cờng đã

“ấn hoá” đợc thành lập ở nhiều nơi khác nhau, kể cả Phù Nam và Lâm ấptrên cơ sở các khuôn mẫu ấn Độ

Từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ VII, là thời kỳ ảnh hởng mạnh mẽ nhất của

ấn Độ tới Đông Nam á Dới sự trị vì của hai vơng triều Giupta (320-535) vàvơng triều Hácsa (606-648), ấn Độ đã đạt tới mức cực thịnh Nhu cầu truyềnbá văn hoá cũng nh nhu cầu về trao đổi hàng hoá đã thúc đẩy thơng nhân ng-

ời ấn tới Đông Nam á thờng xuyên hơn18 Nhiều học giả đã thống nhất, chorằng, yếu tố thơng mại là nguyên nhân chủ yếu khiến ngời ấn Độ , vàonhững thế kỷ đầu Công nguyên, đã tìm đờng vợt biển tới Đông Nam á Cácnguồn t liệu khác nhau cho biết, nguồn hơng liệu, gỗ trầm, các loại dầuthơm, long não, cánh kiến trắng vô cùng phong phú ở Đông Nam á đã thuhút các thơng nhân ấn Độ đến Đông Nam á Tuy nhiên, đối với ngời ấn Độ,sức hấp dẫn trên của Đông Nam á cha mạnh bằng sức hút của vàng, khi họ

đã mất nguồn mua vàng ở Xiberi và Trung á vào các thế kỷ đầu trớc và sauCông nguyên Một loạt các địa danh của Đông Nam á đã đợc ghi lai bằngchữ Phạn, nh Takhola (chợ Bạch đậu khấu), Rarguradvipa (đảo long não),Narikelađivipa (đảo dừa), Karakapuri (thành phố vàng), Suvannabhumi haySuvarnađvipa (xứ vàng) Chính xứ trầm hơng của Champa là một trongnhững nơi ở Đông Nam á có sức hút sớm nhất đối với các thơng nhân ấn

Độ19

2 Giai đoạn thứ hai (từ khoảng thế kỷ VII đến thế kỷ XV)

Sau khi triều đại Gupta sụp đổ vào giữa thế kỷ VI, ấn Độ mất dần ảnhhởng đối với Đông Nam á, mặc dù những ngời di c và thơng nhân vẫn tiếptục đến đó Đặc biệt sau khi đền Naranda ở miền Nam ấn Độ bị phá huỷ vàothế kỷ XII, ấn Độ đã không còn nhiều ảnh hởng văn hoá đối với Đông Nam

á nữa20

18 Ngô Văn Doanh, Văn hoá Champa, NXB Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội-1994 t.12.

19 Ngô Văn Doanh, Văn hoá Champa, NXB Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội-1994, t.13.

20 Shigeru Ikuta, Vai trò của các cảng thị ở vùng ven biển Đông Nam á từ đầu thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ

XIX Tài liệu đã dẫn.

Trang 16

Sự mở đầu của giai đoạn này còn đợc đánh dấu bởi sự xuất hiện củacác tàu buôn từ Tây á tới Trung Hoa, mang theo bạc khai thác từ các mỏ ở

Ba T và các vùng lân cận Khoảng những năm 650, những con tàu Tây á nàybắt đầu giơng buồm thẳng tới Trung Hoa Điểm đến cuối cùng của những th-

ơng nhân Tây á này là Quảng Châu (Quảng Đông)

Sự suy yếu của vơng quốc Phù Nam đã đẩy hoạt động thơng mại tiếnsâu xuống phía nam của bán đảo Mã lai Thậm chí trớc đó, tàu bè từ Tây áchắc chắn đã tới vùng ven biển Đông Nam á ít nhất là từ đầu thế kỷ V Nhng

từ đầu thế kỷ VII, chúng lại chở bạc từ Ba T và các vùng lân cận Do đó việcbuôn bán giữa vùng đồng bằng Bengal và Phù Nam qua bán đảo Mã Laigiảm dần, và vì vậy óc Eo bị rơi vào lãng quên Lãnh địa của vơng quốc PhùNam bị Chenla, một vơng quốc Khơ Me đã di chuyển xuống phía Nam dọctheo thung lũng sông Mê Kông, xâm lợc và chiếm cứ Sự suy yếu của vơngquốc Phù Nam, vừa là hệ quả của một quá trình dịch chuyển con đờng thơngmại trong khu vực từ phía Bắc xuống phía nam bán đảo Mã Lai; đồng thời,

sự suy yếu của Phù Nam đã trở thành điều kiện khách quan để hình thành ở

Đông Nam á những trung tâm thơng mại mới, đặc biệt là sự xuất hiện củaSrivijaya - ở nơi hiện nay là Palembang nh một trạm trung chuyển cho cáctàu Ba t và ả Rập trên đờng tới Trung Hoa

Cho đến thế kỷ VII-VIII, kĩ thuật hàng hải đã đạt đợc những bớc tiếnmới, đặc biệt là sự tham gia của những thuỷ thủ ả Rập đã có thể tận dụng đ-

ợc những u việt của hoạt động gió mùa vào trong các hoạt động buôn bán, đi

biển Đồng thời, các thuyền mành (Junk) Trung Quốc đã bắt đầu cập bến các

thơng cảng Đông Nam á và vợt biển tới ấn Độ Đây là loại thuyền buồm lớn

có sức chứa lớn có thể chở trên 500 ngời và về trọng lợng có thể đến 500 tấn.Chính những u việt của loại thuyền mành đã làm cho hoạt động đi biển đợcthuận lợi hơn rất nhiều Các thơng thuyền không còn lo sợ hoạt động của giómùa mà còn tận dụng nó làm sức đẩy cho những con thuyền của mình Hoạt

động thơng mại vì thế cũng theo định kỳ để tận dụng những u điểm của giómùa Đây là điều kiện để ra đời những cảng thị nh là nơi thu gom hàng hoá

và là chốn nghỉ chân cho những thơng thuyền Nhờ kiểm soát đợc nhữngtuyến thơng mại mà nhiều đế chế đã ra đời, chẳng hạn nh Srivijaya hayAyuthaya

Trang 17

Sự xuất hiện của các thuyền mành của ngời Trung Hoa tại vùng venbiển Đông Nam á đã tạo ra một sự thay đổi lớn về chính trị và kinh tế trongkhu vực21 Thứ nhất, cảng xuất phát của các thuyền mành Trung Hoa làQuảng Châu Do đó các cảng của bắc Việt Nam dới thời này trở nên kémquan trọng hơn, và chỉ còn là những trạm trung chuyển địa phơng.

Trong giai đoạn này, những biến đổi lớn đã xảy ra ở vùng Nam ViệtNam Vơng quốc Lâm ấp biến diệt vào năm 749, và từ năm 758, một vơngquốc mới xuất hiện ở khu vực Phan Rang và Nha Trang, mang tên Hoàn V-

ơng Nó tồn tại cho tới năm 810 Sau đó, một vơng quốc khác ra đời trênvùng đất xa của xứ Lâm ấp với cái tên Zhancheng hay Champapura Kinh đôcủa nó là Indrapura Sự thay đổi này có thể phản ánh những thay đổi trongthơng mại hàng hải quốc tế Lâm ấp chắc chắn đã tuyệt diệt do sự gia tăngbuôn bán trực tiếp giữa Srivijaya và Trung Hoa, trong khi sự ra đời củaChampapura lại đồng nghĩa với sự xuất hiện của trung Java và sự mở đầuquan hệ buôn bán trực tiếp giữa trung Java và Nam Việt Nam qua đờng biển

Campuchia, Java và vơng quốc Việt độc lập thờng xâm lấn, cớp bóccác quốc gia đô thị ở vùng ven biển Đông Nam á Mục tiêu chính của họ làChampa Việt Nam từ phía Bắc, Campuchia từ phía Tây và Java vợt biển từphía Nam thờng xuyên xâm lấn xứ ChamPa Mục đích của họ là cớp bóc củacải đợc tích luỹ và dân chúng đang sinh sống ở đó Điều này cho thấyChamPa quan trọng nh thế nào trong quan hệ thơng mại hàng hải quốc tế ởkhu vực thời kỳ bấy giờ

Căn cứ vào những ghi chép trong th tịch của nhiều nớc đã cho thấymặt hàng chính của con đờng buôn bán trên biển ở Đông Nam á thời kỳ nàykhông chỉ là tơ lụa mà còn có hơng liệu và gốm sứ từ Đông mang sang Tây

để đổi lấy vàng bạc, đá quý, thuỷ tinh,…Các th Vì thế, đã có ngời cho rằng, cần

phải đặt tên lại cho con đờng này là “con đờng gốm sứ” hay “con đờng hơng

liệu” Do thách thức khắc nhiệt của thời gian, nên hàng hoá đợc vận chuyển

trên con đờng tơ lụa trên biển đã bị mất hầu hết dấu vết ngoại trừ gốm sứ

Có thể thấy, trớc thời Đờng (618- 907), các tuyến buôn bán quốc tế đã

đợc xác lập và chúng đặt cơ sở cho sự hình thành “con đờng tơ lụa trên biển”

sau này chạy xuyên qua nhiều quốc gia Đông Nam á Từ thế kỷ VI, các

th-21 Shigeru Ikuta, Vai trò của các cảng thị ở vùng ven biển Đông Nam á từ đầu thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ

XIX Sđd

Trang 18

ơng nhân Tây á đã thay thế ngời ấn Độ trong quan hệ thơng mại ở Biển

Đông Từ thế kỷ VIII, các thơng nhân ngời Hoa bắt đầu thâm nhập mạnh vàokhu vực Đông Nam á và lại thay thế dần các thơng nhân Tây á Do đó,

Đông Nam á với lợi thế là eo biển Malacca và eo biển Sunda đã trở thànhtrung tâm trung chuyển hàng hoá giữa các khu vực Đông Bắc á với Nam á

và Tây á Quá trình thâm nhập trực tiếp của ngời Hoa đã đẩy vai trò thơngmại của các nớc Đông Nam á xuống vị trí thứ yếu và thụ động Nhiều cảngthị thực tế chỉ là các trung tâm buôn bán địa phơng, nơi lu trú thu gom, cungcấp hàng hoá cho các thuyền buôn ngoại quốc do thơng nhân Hoa kiều chiphối

Có thể xem nh kẻ thống trị “con đờng tơ lụa trên Biển” thế kỷ IX- X là

các thơng nhân Nam Trung Hoa và thơng nhân ả Rập Đặc biệt là các thơngnhân Trung Hoa, họ tăng cờng các hoạt động buôn bán ở vùng biển ĐôngNam á, Do vậy, thuyền buôn của các nớc vùng Tây á không cần phải đếnTrung Quốc, họ chỉ cần đến một số cảng vùng Đông Nam á là có thể mua đ-

ợc hàng hoá của Trung Quốc Điều đó khiến cho khu vực Đông Nam á dầnnóng lên bởi các chuyến thơng mại từ Trung Quốc đến đây và từ đây sangkhu vực ấn Độ Dơng

Trang 19

Bản đồ con đờng tơ lụa- gốm sứ xuyên Đại Dơng

Vào khoảng thời gian này, các mỏ bạc ở Ba T và những vùng phụ cận

đã cạn kiệt, do đó việc tìm kiếm hàng thay thế rất đợc chú ý Các thơng nhân

Ba T và ả Rập mua bạc từ châu Âu để xuất sang ấn Độ và Trung Hoa Họcũng mua hạt tiêu từ Nam ấn Độ, và sau đó từ bắc Sumatra Một mặt hàngxuất khẩu quan trọng khác của ấn Độ là vải bông sản xuất ở Gujarat Các th-

ơng nhân Trung Hoa cũng săn lùng các mặt hàng buôn bán đợc sản xuất ở

Đông Nam á, kể cả lâm sản của vùng bán đảo Đông Dơng và đồ gia vị củavùng Moluccas Trong khi đó, cùng với hàng tơ lụa, các sản phẩm sứ TrungQuốc bắt đầu đợc xuất khẩu với số lợng lớn

Đối với hàng hoá của khu vực Đông Nam á, thì thị trờng Trung Quốc

có vị trí đặc biệt quan trọng cho đến tận thế kỷ XIX Vì vậy mà nhịp độ buônbán và tình trạng kinh tế Trung Quốc có ảnh hởng tới mức có thể làm biến

động mạng lới Đông Nam á Trong khoảng từ thế kỷ IX đến cuối thế kỷ X,

sự đình trệ về kinh tế suốt gần một thế kỷ rỡi ở Trung Quốc đã làm tan rãmạng lới kinh tế ở các nớc nhỏ nh An Nam đô hộ phủ, Lâm ấp, Dvaravati,Pyu, Maratam, và ngay cả mạng lới ven biển nh Srivijaya- Sailendra Sự suyyếu của Srivijaya xuất hiện vào giữa lúc thơng nhân ả Rập, ấn Độ, TrungQuốc đang mở rộng thu mua các mặt hàng từ vùng biển này Borneo vàPhilippin trỗi dậy tổ chức buôn bán hơng liệu ở vùng biển Đông Nam á

Đối với quốc gia Srivijaya, hng thịnh và suy tàn đã gắn mình vớiTrung Hoa Các thơng nhân Trung Hoa và các thơng nhân ở Srivijaya thờngxuyên qua lại hoạt động buôn bán trao đổi giữa hai bên rất mạnh Năm 971,khi Trung Quốc mở một đại lý tại Quảng Đông để quản lý hoạt động thơngmại trên biển thì các thơng nhân Srivijaya đã đợc nêu trong danh sách nhữngngời ngoại quốc thờng xuyên lui tới đó Cuốn sách Lịch sử nhà Tống có ghichép lại việc một thơng gia của Srivijaya đến Sơn Đầu (Quảng Đông) vàonăm 980, và 5 năm sau một phái bộ thơng mại thuần tuý cũng đã tới đó Việctriều đại nhà Tống tái lập lại trật tự đã tạo ra nhiều mối giao lu với Srivijaya.Trung Quốc có ghi chép lại nhiều sứ bộ đến đây vào những năm 960, 962,

972, 974, 975, 980, 983, và 988 Mối giao lu đều đặn giữa hai triều đình tiếpdiễn đến năm 1178, khi hoàng đế Trung Quốc thấy việc đón tiếp các sứ bộnày quá tốn kém và đã chỉ thị rằng, kể từ đó về sau, các sứ bộ này không đợc

Trang 20

đi quá Tuyền Châu (Phúc Kiến) Tuy vậy, hoạt động thơng mại bình thờngvẫn đợc tiếp tục.

Từ khoảng cuối thế kỷ XI, thị trờng Trung Quốc dần sống lại Sự biến

đổi quan trọng nhất trong thời kỳ này là sự hng thịnh của các đô thị ở vùngtrung và nam Trung Quốc Sự phát triển đó cần tới sự buôn bán trên biển

Về mặt kỹ thuật, thuyền buôn lớn xuất hiện ở các vùng phía Nam TrungQuốc Sức trở của loại thuyền này tăng lên rất nhanh chóng và hải trình củachúng cũng thay đổi từ cận hải (chạy ven bờ) đến viễn dơng (đi biển xa).Hàng hoá chuyên chở cũng thay đổi từ hàng nhẹ, quý nh tơ lụa sang nhữnghàng nặng nh đồ sứ, từ những đồ xa xỉ nh dầu thơm sang những vật dụng đạichúng hơn nh giấy Cùng với sự phát triển của kỹ thuật thuyền mành (Junk),Các thơng nhân nhận ra: Việc gom hàng từ các cảng lớn còn thu lợi nhiềuhơn Sự “sực tỉnh” này cùng sự lớn mạnh trở lại của trung tâm buôn bán vùnghạ lu bán đảo Mã Lai, bắc Sumatra và sự tham dự trực tiếp của các thế lực

đất liền (Ankor, Pagan…), làm cho khu vực từ vịnh Bengan qua bán đảo MãLai, nam biển Đông hng thịnh trở lại, tham dự tích cực vào con đờng buônbán quốc tế

Trong khoảng thời gian từ cuối thế kỷ XI sang thế kỷ XII trên thế giớihình thành xu hớng độc chiếm đờng buôn bán trên biển Chẳng hạn nh ngời

ý chi phối vùng phía Đông biển Địa Trung Hải, ngời Hồi giáo ở phía Tây ấn

Độ Dơng, ở biển Đông lúc này vị trí đó thuộc về ngời Trung Quốc ấn Độ

D-ơng và Nam Trung Hoa nối lại giao thD-ơng thông qua eo Malacca Hoạt độngtrên biển ở đây sống lại với việc hình thành một liên minh các tiểu quốc cảngbiển gọi là San fo Ch’i (Tam Phật Tề) do ngời Trung Quốc tri phối Quốc gialiên bang San Fo Ch’i này có thể bao gồm các tiểu vơng quốc ven biểnPalembang, Jambi và Kedah, đã phản ánh quy mô buôn bán rộng lớn củathời kỳ đó

Năm 1368, nhà Minh đợc thành lập thay thế nhà Nguyên- một vơngtriều ngoại phiên đến thống trị Trung Hoa, giành lại giang sơn cho “ngờiHán” Sau khi lên ngôi, Chu Nguyên Chơng (tức Minh Thái Tổ) tiếp tục tiêudiệt những thế lực cát cứ còn sót lại của nhà Nguyên, thống nhất đất nớc, mặtkhác ổn định tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Trung Quốc, đi đến xây

Trang 21

dựng một chính quyền phong kiến trung ơng tập quyền đủ mạnh để cai trị

đất nớc, phát triển kinh tế Triều Minh là một trong những triều đại hng thịnhnhất Trung Quốc, với nền kinh tế hàng hoá phát triển, quan hệ ngoại giao đ -

ợc mở rộng hơn bao giờ hết, với mạng lới “ch hầu thần thuộc” dày đặc.

Trong giai đoạn này, lần đầu tiên Trung Quốc “đóng cửa” đất nớc Đó làchính sách của triều đại Minh nhằm độc quyền ngành thơng mại hàng hảivốn nằm trong tay các thơng nhân ngời Hoa Chính quyền cấm các thuyền bè

t nhân đi ra nớc ngoài và hoạt động ngoại thơng chỉ giành cho các đội tàucủa Hoàng Đế và những ai tới thăm Trung Hoa dới hình thức các sứ bộ đếntriều cống

Chính quyền Trung Quốc cũng đã ra sức tìm cách thiết lập hệ thốngkiểm soát vùng “biển Nam Trung Hoa” Đó chính là nguyên nhân dẫn tớichính sách cấm vận hàng hải vào cuối thế kỷ XIV Từ đó không một thơngthuyền nào có thể đến Trung Quốc buôn bán nếu không có giấy phép chính

thức của triều đình “Cuộc xuất dơng của hạm đội Trịnh Hoà vào đầu thế kỷ

xv thực chất cũng vẫn là nhằm kiểm soát trên khu vực Nam Trung Hoa cho nhà Minh”22

Cũng trong khoảng thời gian này, Nhật Bản đã xuất hiện nh một bạnhàng hùng hậu trong thơng mại hàng hải quốc tế Kể từ giữa thế kỷ VIII, cáctàu buôn Trung Hoa đã đến Nhật Nhật cần đến tơ lụa, đồ sứ và các sản phẩmthủ công Trung Hoa cũng nh các sách kinh điển Trung Hoa và các kinh phật

đã đợc dịch ra chữ Hán Các mặt hàng xuất khẩu của Nhật là đồng có chứabạc, các sản phẩm thủ công nh quạt gấp và kiếm Nhật ở Trung Hoa, đồngcủa Nhật đợc sử dụng để đúc tiền đồng và tách lấy bạc Đến đầu thế kỷ XII,tàu Nhật bắt đầu đến các cảng Trung Hoa, đặc biệt là cảng Ningpo Đó là donhu cầu về hàng Trung Hoa tại Nhật ngày càng tăng lên Vì ngời Nhật không

có đủ mặt hàng buôn bán để mua đủ số lợng cần thiết hàng Trung Hoa nên

họ phải tiến hành cớp bóc dọc theo bờ biển Triều Tiên và bắc Trung Hoa Đó

là một trong những lý do để Hoàng đế Hồng Vũ nhà Minh “đóng cửa” đất

n-ớc nhằm diệt hoạ hải tặc Nhật và yêu cầu quốc vơng Nhật truy diệt bọn hảitặc trong nớc Sau đó việc buôn bán giữa Nhật Bản và Trung Hoa đợc các sứ

bộ Nhật bản sang triều cống tiến hành hoặc thông qua thơng mại trung gian

22Trần Khánh: Tiếp xúc hội nhập kinh tế Đông Nam á- Đông Bắc á ven biển dới góc nhìn lịch sử. Đông

á-Đông Nam á những vấn đề lịch sử và hiện tại NXB Thế Giới, 2004 tr.93-96.

Trang 22

với vơng quốc Ryukyu và cũng bằng hình thức các sứ bộ triều cống Vơngquốc Ryukyu cũng có quan hệ buôn bán với một số cảng ở ven biển ĐôngNam

Thế kỷ XIII có một sự thay đổi lớn đối với ấn Độ ở bắc ấn, vơngquốc Hồi giáo sultan Delli (1206-1526) đợc thành lập đã tách khỏi sự phụthuộc vào ápganixtan và thực sự phát triển cờng thịnh Thêm vào đó là việcngời Mông Cổ ở Trung á thờng xuyên tấn công vào ấn Độ đã kích thích th-

ơng nhân ấn Độ thờng xuyên lui tới thơng cảng Đông Nam á hơn Vì vậy,những ảnh hởng của ấn Độ đến Đông Nam á trong giai đoạn này càng đợctăng cờng Chính điều này là một trong những nhân tố giúp cho sự ra đời củavơng triều Majapahit - vơng triều cuối cùng ra đời do ảnh hởng của ấn Độ

Khi mối quan hệ giữa ấn Độ và Đông Nam á đợc thiết lập trở lại thìcũng là lúc hoạt động thơng mại ở Đông Nam á có những bớc chuyển biếnquan trọng Do chính sách hạn chế thơng mại của nhà Minh, những thơngnhân ấn Độ và Tây á không thể tới trực tiếp Trung Quốc để nhập hàng màphải thông qua thị trờng trung gian là Đông Nam á Để bù lấp vào nhữngthiếu hụt về mặt hàng Trung Quốc, nhiều mặt hàng Đông Nam á cũng bắt

đầu gia nhập vào mạng lới buôn bán quốc tế Hơn nữa trong thời gian này, ở

Đông Nam á nhiều thơng cảng đã đợc thành lập đáp ứng nhu cầu là trạmtrung chuyển hàng hoá không những của Đông Nam á mà cho cả Đông Bắc

á

Bản thân Đông Nam á, sau một thời gian tích luỹ kinh nghiệm, họchỏi giao thơng với bên ngoài cũng đã có những mặt hàng có giá trị thơng mạicao: tơ lụa, gốm sứ của Việt Nam, gốm của Champa, gốm của Thái Lan, h-

ơng liệu, gia vị của quần đảo Maluku, Banda, Sumatra Những hàng hoá nàysau thời gian mang tính thử nghiệm ở thị trờng phơng Tây đã đợc chấp nhận

ở mức độ cao Khi nhu cầu về hàng hoá Đông Nam á ngày càng cao là nhân

tố thúc đẩy việc hình thành những trung tâm sản xuất hàng hoá ở Đông Nam

á và thúc đẩy hoạt động thơng mại trong vùng Những đế chế lớn nhMajapahit, Ayuthaya, Malacca ra đời cũng trong bối cảnh này Trớc tiên,thành phố và vơng quốc Ayuthaya đợc thành lập năm 1351 và đóng vai tròtrạm trung chuyển giữa ngời Thái và ngời Mã Lai Cũng nh vơng quốcMajapahit, nó kiểm soát khu vực nông nghiệp từ cảng thị Các mặt hàng xuấtkhẩu chính của nó bao gồm gạo, hàng lâm sản nh gỗ, và một số thuỷ sản

Trang 23

Trên bán đảo Mã Lai, thành phố và vơng quốc Malacca ra đời vào đầuthế kỷ XV23 Lúc đầu, nó là đất cống cho vơng quốc Ayuthaya, nhng đợc sựủng hộ mạnh mẽ của Trung Hoa trong việc hợp tác với các cuộc viễn chinhven biển của đô đốc Trịnh Hoà từ 1405 đến 1433, nó thoát khỏi ách thống trịcủa ngời Xiêm để trở thành đất cống của Trung Hoa Sau năm 1433, khikhông còn tàu bè của Trung Hoa xuất hiện ở đó nữa, nó lại bị vơng quốcAyuthaya tấn công Vơng quốc Malacca đã thắng lợi trong việc đẩy lùi quânXiêm chủ yếu là do sự hợp tác của dân chúng địa phơng dới ngọn cờ đạoHồi Sau đó đạo Hồi đợc công nhận là quốc đạo.

Trong mạng lới các quốc gia - đô thị Hồi giáo, mà Malacca là trungtâm, các quốc gia - đô thị nằm ở vùng ven biển Java đóng vai trò quan trọng,vì chúng tiến hành cớp bóc vơng quốc Majapahit và mở rộng lãnh địa sâuvào lục địa Sau đó, một trong những quốc gia - đô thị này, Demak, đã tiếnsâu vào đất liền tới vùng đồng bằng trung Java và lập nên vơng quốcMataram vào khoảng năm 1580 Các quốc gia trên có quan hệ thơng mại vàtôn giáo với các quốc gia ở vùng ven biển nam Việt Nam mà c dân là ngờiChăm

Từ thế kỷ XIV- XV trở đi, buôn bán quốc tế ở khu vực Đông Bắc á và

Đông Nam á ven biển trở nên sôi động, bởi không chỉ tăng nhanh chóng vềquy mô hàng hoá, số lợng các thuyền buôn và các nhà buôn trong vùng, màcòn diễn ra cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các nhà buôn Trung Quốc, NhậtBản với các thơng gia ấn Độ, ả Rập Từ thời gian này các nhà buôn ĐôngBắc á và Đông Nam á, trớc hết là ngời Trung Hoa, Nhật Bản, Java đã chiếm

đợc thế độc quyền thơng mại trên biển ngay từ tay ngời ấn Độ và ả Rập.Tuy vậy, dòng chảy thơng mại từ phía ấn Độ Dơng không ngừng đổ về khu

vực này Kết quả của sự sôi động trên đã tạo dựng nên “hệ thống mậu dịch

Châu á” hay “kỷ nguyên thơng mại Châu á” Cũng có thể gọi nh cách gọi

của Anthony Reid về thời kỳ này là “thời kỳ hoàng kim của hoạt động thơng

mại Đông Nam á 1450- 1680”24, trong đó Trung Quốc đóng vai trò then chốtcủa quá trình này

Năm 1509, hạm đội Bồ Đào Nha xuất hiện ở cảng Malacca và bị binhlực của vơng quốc Malacca tấn công và đẩy lùi Nhng năm 1511, hạm đội Bồ

23 Phạm Văn Thuỷ, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, 2005.

24 Anthony Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce 1460-1680, Vol I “The lands below the winds”,

Yale University Press, London 1988 t.

Trang 24

Đào Nha, dới sự chỉ huy của toàn quyền Affonso de Albuquerque đã chiếm

đợc Malacca Vua và triều đình phải đi về Juhor để lập ra một vơng quốcmới Mục đích của ngời Bồ Đào Nha là tới Moluccas càng sớm càng tốt,nhằm tuyên bố quyền sở hữu vùng lãnh thổ này trớc ngời Tây ban Nha Sựthâm nhập của phơng Tây vào thị trờng khu vực đã khiến cho hoạt động th-

ơng mại vùng này có bộ mặt mới Sau khi chiếm Manila (năm 1571), ngờiTây Ban Nha đã biến thành phố này thành một thị trờng nối thông vùng NamTrung Quốc với Thái bình Dơng Toàn bộ Đông Nam á trở thành một khuvực thị trờng đầu tiên nối thông hai thế giới Đông- Tây Sau phát kiến địa lýthì sự xuất hiện ngày càng nhiều và thờng xuyên của các thơng thuyền phơngTây có những tác động mạnh mẽ đến quan hệ giữa các nớc trong khu vực.Việc tìm đờng đến ấn Độ Dơng năm 1498, và lập cứ điểm ở Goa vào năm

1510, Bồ Đào Nha đã sớm có kế hoạch xâm nhập vào thị trờng Đông Nam

á Năm 1511, Bồ Đào Nha xâm chiếm Malacca, một vơng quốc chịu ảnh ởng nhiều của Hồi giáo Cuộc xâm lợc này là sự khởi đầu của hàng loạtnhững hành động tranh giành ảnh hởng, cớp đoạt của các nớc phơng Tây đốivới nhiều dân tộc ở Châu á nói chung và Đông Nam á nói riêng Sau sựkiện này hầu hết các thơng nhân Hồi giáo không muốn đi qua eo Malacca đểtránh những cuộc giao tranh trên biển Họ đến Java bằng các đờng dọc theo

h-bờ biển phía Tây đảo Sumatra, sau đó qua eo Sunda Vì vậy mà Ache (địa

điểm nằm ở phía bắc đảo Sumatra) nhanh chóng phát triển thành một thị ờng buôn bán giữa ấn Độ Dơng và vùng eo Sunda Các cảng thị dọc theo bán

tr-đảo Malacca nh Kedah dần dần tàn lụi Công ty Đông ấn Hà Lan (VOC)cũng đã vào Đông Nam á bằng con đờng Sunda Họ xây dựng Batavia thành

một trung tâm thơng mại liên thế giới vào thế kỷ XVII25

25 Sakurai Y,

Trang 25

ảnh 6 Bản đồ những trung tâm chính trị ở Đông Nam á thế kỷ XV- XVII

Mặt hàng gia vị rất phổ biến ở Đông Nam á nữa là hạt tiêu Tiêu vốnkhông phải là sản phẩm của vùng Đông Nam á Nó đợc trồng đầu tiên tạivùng Kerala gần bờ biển Malabar thuộc tây nam ấn Độ (giờ đợc coi nh là đấtnớc hạt tiêu) Có thể hạt tiêu đã theo chân những thơng nhân ấn Độ tới ĐôngNam á Địa điểm đầu tiên ở Đông Nam á xuất hiện hạt tiêu trong ghi chépcủa Trung Quốc là Java vào khoảng thế kỷ XII Cho đến khoảng 1400 tiêu

Trang 26

bắt đầu đợc trồng ở bắc Sumatra, có lẽ nó đợc đem tới từ Java và ấn Độ TừBắc Sumatra, tiêu lan nhanh xuống phía nam và phía đông của Đông Nam á

nh Minangkabu, Sulawesi và Borneo Do thích hợp với điều kiện khí hậu của

Đông Nam á, tiêu nhanh chóng trở thành cây trồng phổ biến khắp khu vực.Chính vì đợc trồng trên diện rộng nh vậy nên việc buôn bán hạt tiêu cũngdàn trải ở nhiều thơng cảng khác nhau Malacca chỉ là một trong những th-

ơng cảng lớn vận chuyển mặt hàng này

Tiêu đợc xuất tới nhiều thị trờng khác nhau, trong đó tiêu ở những

th-ơng cảng vùng eo Malacca và eo Sunda chủ yếu là để xuất sang thị trờng ấn

Độ và Tây á Mặc dù ấn Độ là xứ sở hạt tiêu, nhng vì tiêu ở ấn Độ thờng

đắt hơn 50% so với tiêu ở Đông Nam á nên các thơng nhân ngời ấn cũng ờng xuyên tới các thơng cảng của Đông Nam á để nhập tiêu Với các thơngnhân Tây á, khi tiêu ở ấn Độ đắt, lại phải mất hành trình dài vợt qua các đảo

th-ở cực nam ấn Độ mới vào đợc các thơng cảng nên trong nhiều trờng hợp họdong thuyền thẳng tới Đông Nam á Bản thân Trung Quốc cũng rất cần hạttiêu của Đông Nam á nên cũng thông qua Ryukyu, qua chế độ cống nạp đểnhập hạt tiêu Chính vì thế những thơng cảng ở Đông Nam á lại đóng vai trò

là trung gian trung chuyển hạt tiêu của cả vùng

Một vấn đề lớn trong lịch sử thơng mại Đông Nam á thời cổ trung đại

là vấn đề buôn bán nô lệ và thuê mớn nhân công Có hay không một chế độ

chiếm hữu nô lệ ở Đông Nam á là chủ đề tranh luận của các nhà khoa học.Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận việc tồn tại một bộ phận rất đôngnhững nô lệ tại những quốc gia ở Đông Nam á ở những vùng trồng nôngphẩm xuất khẩu nh Maluku, Sumatra, Borneo cần nhiều nhân công để thuhoạch khi mùa vụ tới Tại những cảng thị cũng cần nhiều nô lệ để khuân váchàng hoá Ngoài ra còn một bộ phận nô lệ rất lớn phục vụ trong hoàng tộc,trong những gia đình giầu có và trên những con thuyền của các thơng nhân

Khi có nhu cầu với số lợng lớn nguồn lao động chân tay thì xuất hiệnlao động làm thuê và nô lệ Nô lệ ở Đông Nam á xuất thân từ rất nhiều hoàncảnh khác nhau Có thể họ bị biến thành nô lệ do cần nhiều tiền, trả nợ, chiến

tranh, mồ côi, nghèo đói, bị bố mẹ anh chị bán, bị bắt nợ mà họ Luật

Bugis-Latoa của Java quy định: Một ngời bị biến thành nô lệ khi rơi vào một trong

bốn nguyên nhân: (1) là ngời đã đợc đem bán hợp pháp và đợc (ngời khácmua) (2) là ngời tự nguyện kêu gọi ngời khác mua mình (3) là ngời bị bắt

Trang 27

trong chiến tranh và (4) là ngời đã vi phạm luật tục quốc gia, anh ta bị bán

và đợc ngời khác mua Ngoài ra còn nhân tố thứ năm là một ngời tự bán sức

khoẻ và khả năng của mình hoặc bị bố mẹ, anh chị bán Bộ luật

Udang-Udang-bộ luật lớn nhất của Malacca cũng có rất nhiều điều luật liên quan

đến việc sử dụng nô lệ Bộ luật cho phép nhiều việc ngời lao động tự nguyệntrở thành nô lệ, việc kết hôn giữa những ngời nô lệ và ngời tự do, việc buônbán nô lệ, nhng nghiêm cấm việc ép buộc ngời khác trở thành nô lệ khi họgặp tai nạn (nh đắm thuyền, đói khát, bị cớp biển)26

Khi việc buôn bán nô lệ đã trở thành hợp pháp, thì những trung tâmchính trị lớn ở Đông Nam á đồng thời cũng là trung tâm sử dụng và mua bánnô lệ Theo ghi chép của Pires, những thành phố nh Ayuthaya, Malacca,Pasai, Brunei là những nơi nhập nô lệ nhiều nhất Tại Malacca có những ngời

sở hữu tới 600-700 nô lệ Hầu hết những ngời nô lệ này đợc đa đến từ Java,Rokan, Aru, Palembang và có thể cả từ ấn Độ và tây á27 Giá nô lệ tại cácchợ Malacca thờng rất đắt so với các chợ khác Tuy nhiên, so với những ngờilao động bình thờng, giá nô lệ lại rất rẻ mạt Vào 1519 (trớc thời điểm chúng

ta nghiên cứu là 5 năm), giá một nô lệ là 0,54 Gantang gạo; trong khi đó giá một ngời lao động bình thờng là 0,05 vis tơng đơng với 6,5 Gantang gạo; giá một thợ thủ công là 4 Gantang gạo28 Những con số trên cho chúng ta thấy

sự rẻ mạt của ngời nô lệ Tại những chợ khác nh ở Baten, Mania, Jampi giánô lệ còn rẻ hơn rất nhiều

Ngoài hơng liệu và gia vị, những thơng nhân ấn Độ trên hành trình trở

về cũng thờng mang theo những hàng hoá khác của Đông Nam á nh: kimloại, gốm sứ, tơ lụa, các mặt hàng thủ công Những mặt hàng này không chỉcủa Đông Nam á mà còn đợc đa tới từ Trung Quốc và Ryukyu Khi Pires ởMalacca ông thấy những hàng hoá của Trung Quốc gồm nhiều loại “đồng,sắt…Các thnhững chậu, vại (vessels) lớn bằng đồng và số lợng lớn những thứ nh

ấm sắt, bát, chậu; cùng với những thứ khác nh hộp, quạt, mỗi thứ có hàngtrăm loại, một số chiếc trong chúng rất đẹp và rất tốt…Các th một số khác chất l-ợng kém” [59, 257]

26 Anthony Reid, Slavery Bondage & Dependency in Southeast Asia, Lucia, Queensland University Press,

1983.

27 Anthony Reid, Slavery Bondage & Dependency in Southeast Asia, sđd, t.31.

28 Anthony Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce 1460-1680, Vol I “The lands below the winds”,

Yale University Press, London 1988 t.130.

Trang 28

chơng 2.

Khái quát về lịch sử vơng quốc Champa

(Từ đầu cho đến thế kỷ XV) 2.1 Điều kiện tự nhiên miền Trung Việt Nam

Theo phân vùng địa lý của nhà địa lý học Lê Bá Thảo, miền TrungViệt Nam (hay Trung bộ), tính từ Bắc Thanh Hoá đến Nam Phan Thiết, dàihơn 1500km Diện tích toàn lãnh thổ bằng 96.366 km2, 3/4 lãnh thổ là núirừng

Tảng nền địa-văn hoá miền Trung không hoàn toàn trùng với lãnh thổ

địa lý Xét về văn hoá Khảo cổ học, từ trớc sau Công nguyên, Thanh NghệTĩnh thuộc không gian văn hoá Đông Sơn, không gian văn hoá Việt cổ Theocác nhà nghiên cứu thì Bình-Trị-Thiên là khu đệm giữa văn hoá Đông Sơn vàvăn hoá Sa Huỳnh giai đoạn trớc công nguyên rồi giữa văn hoá Việt và vănhoá Chăm thiên niên kỷ đầu Công nguyên

Dới góc độ địa-văn hoá, địa hình miền Trung hẹp chiều ngang

Tây-Đông với giới hạn Trờng Sơn Nam -Tây, biển khơi-Tây-Đông Nếu mô hình hoá

địa thế này chúng ta sẽ có một trục dọc hẹp đợc phân cách và nối nhau bởinhững đèo, nhánh núi chạy cắt ngang từ dãy Trờng Sơn trải dài theo chiềudọc29

Xét về mặt kiến tạo địa lý, vùng đất của vơng quốc cổ ChamPa xa cóthể đợc chia ra làm bốn khu vực chính tơng đơng với bốn đồng bằng lớn: 1.Khu vực đồng bằng Bình-Trị-Thiên; 2 Khu vực đồng bằng Nam-Ngãi-Định;

3 Khu vực đồng bằng Phú Yên-Khánh Hoà và 4 Khu vực đồng bằng NinhThuận-Bình Thuận Mỗi khu vực địa lý trên đều có những nét vừa rất chung

và cũng vừa rất riêng cả về kiến tạo địa hình, địa lý lẫn khí hậu ởphía bắc sau những bầu, phá và các cồn cát là một loạt những đồng bằng dài

và hẹp của ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Trong đó,

đồng bằng Thừa Thiên là đồng bằng rộng nhất trong vùng Bình-Trị-Thiên(với diện tích khoảng 900km vuông)

29 Tham khảo: Trần Quốc Vợng, Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, NXB

Trang 29

Từ Nam đèo Hải Vân cho tới giáp với Phú Yên là cả một chuỗi đồngbằng lớn nhỏ nối đuôi nhau chạy từ Bắc xuống Nam – vùng đồng bằngNam-Ngãi-Định Hầu hết những đồng bằng lớn ở đây, xét về mặt kiến tạo,

đều là những vùng biển cũ đợc phù xa sông và phù sa biển bồi đắp nên Nếutính từ bắc vào, đồng bằng đầu tiên mở ra ngay phía Nam Hải Vân là đồngbằng Quảng Nam nằm chẹt vào giữa hai khối núi lớn Hải Vân và Ngọc Linh.Vùng đồng bằng rộng lớn này vốn là một vùng biển cũ, đợc hình thành lên

do nớc biển rút, do vận động nâng lên của dãy Trờng Sơn Nam và do phù sabồi của sông Thu Bồn Đồng bằng Quảng Nam mở rộng ra cả vùng cửa sôngHội An về phía biển và vùng sông Tam Kỳ ở phía Nam

Vùng đồi núi sau lng đồng bằng Quảng Nam không chỉ không hoang

vu, cằn cỗi mà lại rộng lớn và phì nhiêu Những đồi núi ở đây không quá cao(từ 200m đến 600m), có sờn thoai thoải và những thung lũng rộng đợc cấutạo bằng phù sa cổ và phù sa mới

Tiếp ngay sau đồng bằng Quảng Nam là vùng đồng bằng Quảng Ngãirộng chừng 1200km vuông, bao gồm các thung lũng sông Trà Bồng, SôngTrà Khúc và sông Vệ Vùng đồi núi phía Tây của Quảng Ngãi cũng rất trùphú và có nhiều loại cây quý Đặc biệt là vùng Trà Bồng có những rừng quế

tự nhiên từ lâu đã nổi tiếng trong và ngoài nớc30

Vùng Bình Định cũng là vùng đất đợc cấu thành từ những đồng bằng

kế tiếp nhau từ Bắc xuống Nam, và phân cách nhau bởi những khối núi Đấtphù sa của đồng bằng Bình Định không chỉ màu mỡ mà còn đợc cả mộtmạng lới sông ngòi cung cấp nớc Vì thế đất đai ở đây rất phù hợp cho việctrồng lúa, mía, lạc, khoai dừa Còn vùng đồi núi phía Tây khá bằng phẳng vàtơi tốt trù phú

Vùng đất Nam-Ngãi-Định còn có một vùng biển sâu nhiều cá vànhững cảng biển lớn, thuận tiện cho thuyền bè qua lại giao lu, buôn bán Tấtcả những điều kiện tự nhiên u đãi đó từ xa đã biến vùng đất này thành noigiàu có, c dân đông đúc31

Từ phía Nam của tỉnh Bình Định, dãy núi Trờng Sơn tiến dần ra sátbiển, khép vùng đồng bằng Nam-Ngãi-Định lại Sau khối núi đèo Cù Mông,

đất đai lại mở rộng ra thành đồng bằng Phú Yên trù phú Về mặt địa hình,

30Ngô Văn Doanh, Văn hoá cổ Champa, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội-2002.

31Ngô Văn Doanh, Văn hoá cổ Champa, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội-2002.

Trang 30

đồng bằng Phú Yên đợc hợp thành từ hai đồng bằng chính là: đồng bằng Tuy

An ở phía Bắc có dòng sông Cái chảy qua, và đồng bằng Tuy Hoà ở phíaNam có dòng sông Ba (sông Đà Rằng) bồi đắp nên ở phía Nam của các

đồng bằng Phú Yên là một dải đồng bằng thuộc tỉnh Khánh Hoà, với đồngbằng Ninh Hoà, đồng bằng Nha Trang, đồng bằng Ba Ngòi…Các th Mặc dầu đất

đai và khí hậu ở vùng Phú Yên, Khánh Hoà không thật thích hợp lắm choviệc canh tác nông nghiệp, nhng vùng đất này lại đợc thiên nhiên u đãi cho

có nhiều sản vật quý hiếm nh cá biển, chim yến, cây trái, các loại gỗ quý,trong đó đặc biệt là trầm hơng…Các thKhông phải ngẫu nhiên mà Khánh Hoà xa

đợc mệnh danh là xứ Trầm hơng

Khu đồng bằng cuối cùng của miền Trung và cũng là vùng đất cựcNam của vơng quốc Champa cổ là vùng đồng bằng khô hạn Ninh Thuận –Bình Thuận Nơi đây có những đồng bằng nhỏ hẹp và khô cằn hơn so với cácvùng khác, nh đồng bằng Phan Rang, đồng bằng Tuy Phong (Ninh Thuận),

đồng bằng Phan Rí (Bình Thuận)

Mặc dầu có những thay đổi ít nhiều cả về cảnh quan địa lý lẫn khí hậu

từ vùng này sang vùng khác, dải đồng bằng miền Trung từ đèo Ngang ở phíaBắc đến mũi Kê Gà ở phía Nam vẫn có những nét chung, thống nhất của mộtkhu vực địa lý Đặc điểm nổi bật đầu tiên về kiến tạo địa hình và cảnh quan

địa lý của miền đất này là sự gắn bó mật thiết với hai yếu tố núi và biển: DãyTrờng Sơn ở phía Tây và biển Đông ở phía Đông Các đồng bằng không lớn

và kế tiếp nhau chạy dài từ Bắc xuống Nam giữa một bên là núi với một bên

là biển ở nhiều nơi, ngay trên đồng bằng cũng rải rác lô nhô đồi và núi Còndãy Trờng Sơn thì có lúc chạy ra tới sát biển làm cho các đồng bằng bị thuhẹp lại hoặc phân tách các đồng bằng ra với nhau Cả một vùng biển dàikhông chỉ tác động đến khí hậu mà còn ảnh hởng đến việc hình thành ranhiều dạng địa hình đặc biệt ở miền Trung nh các cồn cát duyên hải, các bãiphu sa biển, vụng và phá

Đặc điểm lớn thứ hai của vùng đồng bằng miền Trung là địahình thiên nhiên của các dòng sông ngắn Do tính chất địa hình núi và biểngần nh nằm sát nhau, các con sông ở đây đều ngắn, đều chủ yếu chảy theo h-ớng Tây-Đông từ núi xuống biển, và mỗi con sông đều là một hệ thống riêng

rẽ Những con sông này, cùng với đờng bờ biển cao và khúc khuỷu ở miềnTrung đã tạo thành những vịnh - cảng là nơi đậu thuyền rất tốt Bờ biển miền

Trang 31

Trung lồi lõm, ngoài bờ là những đảo, cụm đảo đợc hình thành trong quátrình tạo sơn nh: Hòn Gió (Quảng Bình), đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù LaoChàm (Quảng Nam), Lý Sơn-Cù Lao Ré (Quảng Ngãi), Hòn Tre (KhánhHoà), Phú Quý (Ninh-Bình Thuận)…Các thNhững đảo này một mặt là bình phongngăn chặn sóng gió biển Đông, mặt khác chúng còn là tuyến đầu trong quátrình giao thoa văn hoá khu vực và quốc tế, nối Đông Nam á lục địa với

Đông Nam á hải đảo, nối Bắc-Nam và Đông-Tây

Mặc dù từ Bắc vào Nam, khí hậu có ít nhiều thay đổi qua các khu vực,nhng về cơ bản, khí hậu miền Trung vẫn là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng

ẩm ma nhiều, phù hợp với sự phát triển của nhiều loại động thực vật, vàthuận lợi cho việc sinh sống của con ngời

Chính đặc điểm địa hình và khí hậu đó đã tạo nên cả một thảm thựcvật gần nh thống nhất suốt dải đất miền Trung: thảm rừng phi lao, rừng tha látrên cát và đồi trọc ven biển, trảng cỏ thứ sinh, rừng kín thứ sinh Dọc miềnnúi ở Trung Bộ ngày nay vẫn còn nhiều rừng có nhiều loại gỗ quý

Trên tảng nền môi sinh nh vậy của miền Trung Việt Nam, đã từng tồntại trong lịch sử một vơng quốc ra đời sớm nhất, có thời gian tồn tại lâu dàinhất trong lịch sử cổ trung đại Đông Nam á, vơng quốc Champa

Căn cứ trên bia ký phát hiện gần đền Vat Phu, Champassak, Nam Lào, thì Campa vào thế kỷ V đã vơn đến bờ sông Mêkông; rồi bia KonKlor, Kon Tum, có niên đại 914 sau Công nguyên, nói về một địa phơng tên

là Mahindravarman xây dựng một cơ sở tôn giáo thờ Mahindra –Lokesvara; bia ký tháp Yang Praong, Đắc Lắc cho biết Jaya Simhavarman III

đã xây tháp vào cuối thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV…Các thNh vậy là “…Các thBiên giớiphía Tây của Champa dã chạy qua vùng cao nguyên phía Tây dải TrờngSơn…Các thVà rồi nhiều pho tợng (Nandin, Siva và các thần ấn Độ giáo khác) đã

đợc tìm thấy trong các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Dac Lac và Lâm Đồng chophép ta nghĩ rằng toàn bộ vùng này nằm trong quỹ đạo tôn giáo củaChampa” Khu vực miền núi là bộ phận hợp thành của Champa, chứ khôngphải là một vùng bị chinh phục và bị sáp nhập, một thuộc địa của Champa,thể hiện qua cuộc liên kết đấu tranh rất quyết liệt của các c dân vùng này(ngời Churu, Cơ Ho, Raglai, Xtiêng) chống các cuộc xâm lợc từ bên ngoài,

Trang 32

nh các văn bản lịch sử bằng tiếng Chăm đã ghi lại Hơn nữa, nhiều VuaChampa cũng có gốc gác miền núi, nh vua Po Rome trị vì từ 1627 đến 1651

là gốc Churu…Các thCó thể khẳng định rằng, Nagara Champa là một nớc đa tộcngời và mọi tộc ngời đều có quyền bình đẳng nh nhau về chính trị và xã hội

Có sự chia cắt thành những tiểu vùng nh thế, trớc hết là do cấu tạo

địa hình Từ bắc Quảng Bình cho đến Nam Ninh Thuận có rất nhiều sông và

đèo ngăn cách

Tiểu vùng nào cũng có những cánh đồng trồng lúa, không rộnglắm nhng cũng đủ nuôi sống dân c vùng đó Mỗi tiểu vùng lại có một hậu cứrất vững chắc trong chiến tranh và rất hùng hậu về lâm sản, thú rừng vớinhững tộc ngời rất thiện về nghề rừng

Nagara Champa thực chất không phải là một vơng quốc thốngnhất, mà là một liên bang (conféderation) gồm nhiều tiểu quốc mạnh yếukhác nhau

ChamPa là một vơng quốc cổ ra đời sớm trong khu vực Đông Nam á, có địa bàn chủ yếu ở vùng đồng bằng duyên hải miền Trung ViệtNam ngày nay Do án ngữ một vị trí quan trọng trên con đờng giao lu quốc

tế đông tây, những thuyền bè ngợc xuôi trong hệ thống mậu dịch châu á đềuphải dừng chân nơi đây, nên ngời Chăm đã từng có những mối liên hệ rộngrãi với các nớc trong và noài khu vực Sách An nam chí lợc của Lê Trắc biênsoạn vào năm 1333, phần Các dân biên cảnh phục dịch có đa lời bình về vịtrí tự nhiên của Chiêm Thành (ChamPa): “Nớc này ở ven biển, những thuyềnbuôn của Trung Hoa vợt biển đi lại với các nớc ngoại phiên đều tụ ở đây, đểlấy củi, nớc chứa Đấy là bến thứ nhất ở phơng Nam” Nói một cách hình

ảnh, những con thuyền đó “bám” vào bờ biển Champa, ít nhất là 500km nếutính từ mũi Varella để đi vào vịnh Xiêm hay tới eo Malacca và ngợc lại, từ eoMalacca đi vào vịnh Bắc Bộ để tới đợc trung Hoa Tuy nhiên, điều quantrọng để vùng bờ biển Champa xa đợc biết đến nh một tuyến đờng giaothông và sau đó là thơng mại, văn hoá không phải chỉ do vị trí tự nhiên của

nó, mà chính vì đó là vùng c trú của một cộng đồng dân c có nhà nớc riêngcủa mình, có một nền văn hoá phát triển không thua kém bất cứ một nền văn

Trang 33

hoá đơng thời nào Và cũng chính họ là chủ thể của những mối quan hệ đến

và đi trên vùng biển này

Với vị trí tự nhiên thuận lợi cho xu hớng mở rộng giao lu với thế giớibên ngoài cũng chính là điều kiện tiên quyết dẫn tới sự ra đời sớm của v ơngquốc cổ Champa trong khu vực Đông Nam á Hơn 15 thế kỷ, để tồn tại vàphát triển, Champa đã thiết lập nhiều mối quan hệ với các quốc gia xungquanh nó Những quan hệ đó không chỉ là quan hệ về chính trị – lãnh thổ

mà còn là quan hệ về kinh tế, văn hoá

Đề cập đến những vấn đề có liên quan đến một vơng quốc cổ ngày naykhông còn tồn tại là một việc khá phức tạp, mặc dù tính bức thiết trong lĩnhvực chuyên môn luôn là một đòi hỏi Quá trình phát triển của lịch sử khu vựccho thấy nhiều mối quan hệ xảy ra giữa các nớc ở các thời kỳ khác nhau đã

đánh dấu sự tồn tại hay diệt vong của nhiều vơng quốc lớn nhỏ Champa nằmtrong trờng hợp nào và liệu có phải chỉ do quan hệ

Với một bờ biển dài, ChamPa có thể thiết lập mối quan hệ thờngxuyên với thế giới hải đảo Nhng mặt khác, Champa lại nằm kẹp giữa hai nớclớn là Đại Việt và Campuchia Sự đa dạng, phức tạp trong những mối quan

hệ đó, có lẽ là điều mà K.Hall đã nghĩ đến khi đa ra một so sánh “chính thểChampa giống các quốc gia sông nớc Malay…Các thhơn là những quốc gia lánggiềng làm nông nghiệp trồng lúa nớc ở lục địa về phía Tây và phía Bắc củanó” K.Hall còn đa ra một bức tranh về “một thể chế hoá yếu ớt” khối liênminh ở Champa giữa những vị vua chúa ở những hệ thống sông khác nhau –một quan điểm dờng nh đợc đặt ra từ J.Boisselier (1963) khi ông muốn nói

đến tính địa phơng ẩn hiện trong mỗi phong cách nghệ thuật Thật ra đây làmột vấn đề khá lý thú nảy sinh trong khi nghiên cứu mối quan hệ giữa vơngquốc Champa với các nớc trong khu vực Liệu có phải trong quan hệ với cácquốc gia trong khu vực, Champa luôn thể hiện sự phân tán trong thể chếchính trị? Mối quan hệ giữa Champa với các nớc vùng Hải đảo thực chất cóphải chỉ là mối quan hệ đồng tộc? Kinh tế thơng mại biển khu vực đóng vaitrò gì trong các mối quan hệ này?

Vấn đề dờng nh phức tạp hơn khi đề cập đến quan hệ của vơng quốc

cổ này với các vơng quốc láng giềng Là một quốc gia nông nghiệp trồng lúanớc giống nh Đại Việt và Campuchia, lại nằm trên cùng một địa bàn có môitrờng sinh thái tơng đối giống nhau, có cả những thói quen giống nhau trong

Trang 34

sản xuất và đời sống, Champa có một mối quan hệ thờng xuyên với Đại Việt

và Campuchia cả về kinh tế, văn hoá, chính trị – lãnh thổ Quá trình pháttriển của lịch sử Champa không thể tách rời với những mối quan hệ đó.Thậm chí trong từng giai đoạn, trong một khoảnh khắc nào đó của lịch sử,quan hệ với các quốc gia láng giềng còn liên quan trực tiếp đến vận mệnhcủa vơng quốc Sự thật thì từ một quốc gia độc lập thời cổ trung đại ở ĐôngNam á, ChamPa đã bị co hẹp dần về lãnh thổ và đến thế kỷ XVII nó đãkhông còn tồn tại với t cách là một quốc gia

Nằm ở vị trí trung độ trên con đờng giao lu quốc tế Đông Tây, TrungQuốc với ấn Độ và xa hơn, tới Địa Trung Hải, Đông Nam á sớm trở thànhmột đầu mối mậu dịch hàng hải quốc tế Từ đầu công nguyên, những conthuyền của c dân trong vùng, thuyền của ngời ấn, ngời Hoa cùng với nền vănhoá của họ đã thờng xuyên qua lại vùng Đông Nam á

Trên con đờng giao lu đó, Champa chiếm lĩnh một trong những vị tríquan trọng và thuận lợi nhất Các cảng của Champa đóng vai trò nh nhữngcảng cuối cùng trớc khi những con thuyền vợt qua vịnh Bắc Bộ vào vùngbiển Trung Hoa, và là nơi dừng chân đầu tiên khi từ Trung Quốc đếnMalacca, vịnh Thái Lan hay gần hơn là tới vùng hạ lu châu thổ sông MêKông mà 7 thế kỷ đầu công nguyên thuộc vơng quốc Phù Nam Hành trìnhcủa ngời Trung Hoa qua vùng biển Champa quen thuộc đến nỗi đợc tân Đ-ờng Th (quyển 222 hạ, Liệt truyện 147 hạ - Nam man) ghi chép lại nh sau:

“Từ Quảng Châu đi biển về Đông Nam 200 dặm, rồi giơng buồm đi về phíaTây, chếch về phía Nam hai ngày lại đi về phía Tây Nam ba ngày thì đến núiChiêm Bất Lao, lại đi nửa ngày đến Châu Bôn Đà Lãng (Panduranga?) Cóthể thấy, hầu hết các tuyến đờng biển đến Trung Hoa hay từ Trung Hoa điqua ấn Độ đều rẽ qua các cảng biển Champa Từ một đầu mối giao thôngquan trọng, bờ biển Champa đã sớm trở thành một đầu mối giao thơng, nơitrao đổi sản vật và sản phẩm với những thuyền bè qua lại

Sự cho phép của điều kiện tự nhiên và thói quen văn hoá tộc ngời đãsớm hình thành ở ngời Chàm một truyền thống đánh cá, đóng thuyền để đibiển dạn dày kinh nghiệm Đến cuối thế kỷ IV, những ngời Nam Đảo, trong

đó coá ngời Chàm đã đóng vai trò nh những “con thoi” trên vùng biển Đông

Trang 35

và Nam á, gắn bó những hòn đảo Đông Nam á trong hệ thống thơng mạithế giới Trong những tuyến giao thơng mà ngời Nam Đảo có liên quan trựctiếp, thì Champa giữ một vị trí quan trọng nhất trên tuyến đờng biển NamTrung Hoa Ngay từ đầu công nguyên bờ biển Champa đã sớm là nơi thu hútnhững tàu bè gần xa cập bến vì nhiều lí do khác nhau Họ ghé vào cửa ĐạiChiêm, Cảng Panduraga, Thị Nại (Vijaya) để lấy nớc, thực phẩm, để nghỉngơi hay tránh những cơn bão với mật độ khá dày ở vùng biển này Biển là

điều kiện đầu tiên để Champa mở ra con đờng giao lu với các nớc trong vàngoài khu vực Và vì thế những nớc có quan hệ với Champa ngay từ nhữngbuổi đầu của lịch sử cũng là những nớc có thuyền bè đi qua lại vùng biển

Đông Nam á và vùng biển Champa

Những điều kiện kinh tế và xã hội.

Địa thế của Champa khá đặc biệt, một dải đất hẹp chạy dài giữa đại

d-ơng và núi Dân c chủ yếu sống rải rác ven biển và trong nội địa thì c dân ctrú bên những dòng sông Chẳng hạn nh vùng sông Thu Bồn , là một địa

điểm quần c của nhiều thời kỳ nối tiếp nhau cho đến thế kỷ XII, XIII vớinhững trung tâm Trà Kiệu, Đồng Dơng Sông Trà gắn với những di tích quần

c Chánh lộ và thành Châu Sa; Sông Côn gắn với Trà Bàn…Các thG.Maspero dựavào tên gọi trong bi ký đoán Champa chia làm 4 khu vực là: Amaravati (ứngvới Quảng Nam), Vijaya (Quy Nhơn), Kauthara (Khánh hoà), Panduranga(Phan rang) Hoàn toàn không có gì chắc chắn đây là các khu vực hànhchính, cũng nh không chắc chắn là chỉ có 4 khu vực nh trên Tống sử ghichép lại rằng Champa đợc chia làm 38 châu Bi ký còn kể tên các đơn vịhành chính khác, nh Pramana mà G.Maspero đoán là tỉnh và Vijaya đoán làhuyện

Điều đáng nói ở đây là địa hình Champa bị chia cắt bởi các đèo chạycắt ngang đổ từ núi ra biển tạo nên các vùng đồng bằng nhỏ và liên lạc vớinhau bằng đờng bộ rất khó khăn Ngời ta liên lạc chủ yếu với nhau bằng đ-ờng biển Nhng điều đó không phải là điều kiện đủ để mỗi vùng tạo thànhmột tiểu vơng quốc tự trị Nhiều di tích văn hoá Chăm còn lại đến ngày naycho thấy các vùng ở Champa tơng đối độc lập về không gian nhng vẫn tiếpnối nhau về mặt thời gian Xét vị trí, vai trò của các kinh đô, ta sẽ thấy rõhơn điều này

Trang 36

Sinhapura là kinh đô duy nhất của Champa cho đến cuối thế kỷ VII,

đầu thế kỷ VIII Từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX Virapura là nơi tậptrung về quyền lực chính trị và kinh tế trên toàn vơng quốc Không phải ngẫunhiên mà vào thế kỷ VIII, Java để chứng tỏ sức mạnh thuỷ quân của mình

đối với toàn khu vực đã liên tiếp tấn công các nớc Đông Nam á lục địa Hailần đánh Champa là đánh kinh đô miền Nam Virapura và phá huỷ Kauthara.Ngời Java không tấn công vào Trà Kiệu hay thánh địa Mỹ Sơn giàu có trongkhi họ đã đánh cớp đến tận vùng đồng bằng Bắc Bộ Trờng hợp cá biệt vàonửa sau thế kỷ XII ChamPa mới có hai kinh đô song song tồn tại nhng là dới

sự tác động của những yếu tố bên ngoài

Simhapura, Virapura rồi lại Đồng Dơng, Vijaya, trong những hoàncảnh lịch sử khác nhau kinh đô lại dịch chuyển Mỗi kinh đô đại diện choquyền lực, sự thống nhất, tập trung của vơng quốc vào mỗi thời kỳ lịch sử.Nhng mặt khác, sự dịch chuyển kinh đô cũng có nghĩa là sự dịch chuyểnquyền lực, thay thế quyền lực giữa hai bộ phận quý tộc Bắc-Nam Và nh thế

sẽ có thể giúp chứng minh xu hớng thống nhất và phân liệt luôn có mặt tronglịch sử Champa, thể hiện cả trong các mối quan hệ với bên ngoài

Dấu vết của những kinh thành cũ nh Trà Kiệu, Đồng Dơng, Chà Bàn…Các th

đều gắn với những dòng sông và có mối liên hệ mật thiết với biển khơi.Nhiều tháp Chăm đợc xây dựng gần biển, thậm chí sát biển, không chỉ phục

vụ cho nhu cầu tinh thần của nhân dân địa phơng mà còn cho cả thuyền nhânnhiều nớc…Các th

Champa nổi tiếng là nơi có nhiều sản vật quý hiếm Vàng, các loại gỗthơm, ngà voi, sừng tê luôn đợc nhắc tới trong các nguồn t liệu nớc ngoài.ngời ta gọi Champa là xứ sở của trầm hơng, trong đó tập trung nhiều nhất ởvùng Kauthara Trầm hơng là một mặt hàng quý dùng để cống phẩm và trao

Ngày đăng: 26/07/2023, 16:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w