1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm sát trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh hà tây do viện ksnd tỉnh hà tây thực hiện năm 2002

132 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Sát Trong Việc Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Về Ma Túy Trên Địa Bàn Tỉnh Hà Tây
Trường học Viện KSND tỉnh Hà Tây
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 124,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự Cố ý gây thơng tích của Viện KSND tỉnh Hà Tây đã có sự tiến bộ rõ rệt, góp phần đảm bảo cho hoạt động phân loại xử lý tố gi

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dới sự lãnh đạo của Đảng ta, công cuộc đổi mới của đất nớc trongnhững năm qua đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt về kinh tế,chính trị, văn hóa xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao, đất nớc

ta ngày càng vững bớc đi trên con đờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùngvới những thành tựu đã đạt đợc, nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội cũng nảysinh, trong đó tình hình tội phạm nói chung, tội phạm cố ý gây thơng tích nóiriêng cũng nhiều diễn biến phức tạp và có hớng gia tăng Trong bối cảnhchung đó, tình hình tội phạm cố ý gây thơng tích xảy ra trên địa bàn tỉnh HàTây cũng có nhiều diễn biến phức tạp Số vụ cố ý gây thơng tích xảy ra ở hầuhết các địa phơng trên địa bàn tỉnh, các vụ đánh nhau đông ngời tham gia vàgây thơng tích cho nhiều ngời có xu hớng gia tăng với tính chất ngày càngnghiêm trọng Trớc tình hình trên, các cơ quan pháp luật tỉnh Hà Tây đã tậptrung thực hiện tốt công tác đấu tranh và phòng ngừa, nên tình hình tội phạmnày đã từng bớc đợc ổn định

Do đặc điểm của loại tội phạm cố ý gây thơng tích mang tính bạo lực,xâm phạm trực tiếp đến khách thể quan trọng là quyền bất khả xâm phạm vềthân thể của công dân Hậu quả của tội phạm này gây ra không chỉ là thơngtích, làm tổn hại sức khỏe của ngời khác, mà còn làm ảnh hởng đến tình hình

an ninh, trật tự ở địa phơng, gây bất bình trong nhân dân Bên cạnh đó, hungthủ thực hiện tội phạm cố ý gây thơng tích thờng có mối quan hệ quen biết từtrớc với nạn nhân, nhân chứng và những ngời liên quan nên họ sợ bị trả thùhoặc ngại cung cấp thông tin Đây là nguyên nhân làm cho việc điều tra thuthập tài liệu, chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, hoạt độngcủa Viện KSND trong giai đoạn điều tra đối với loại án này gặp nhiều khó

Trang 2

khăn Vì vậy, việc nâng cao chất lợng hiệu quả hoạt động điều tra và xử lý củacác cơ quan tiến hành tố tụng đối với loại tội phạm Cố ý gây thơng tích trên

địa bàn tỉnh Hà Tây là rất cần thiết

Theo quy định Hiến pháp và Điều 3 Luật tổ chức Viện KSND hiệnhành thì Viện KSND thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình bằng hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động t pháp, trong đó có hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tracác vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác đợc giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm góp phần đảm bảo chopháp luật đợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, giữ vững đợc nền Phápchế XHCN ở nớc ta Trong những năm qua, hoạt động THQCT và KSĐT các

vụ án hình sự Cố ý gây thơng tích của Viện KSND tỉnh Hà Tây đã có sự tiến

bộ rõ rệt, góp phần đảm bảo cho hoạt động phân loại xử lý tố giác, tin báo vềtội phạm, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, hoạt động điều tra thu thập chứng cứ

và lập hồ sơ đề nghị truy tố của Cơ quan CSĐT đợc tuân thủ theo quy định củapháp luật; đồng thời, thông qua hoạt động này Viện KSND tỉnh Hà Tây đãgóp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa loại tội phạm cố ý gây thơngtích ở địa phơng Bên cạnh những kết quả đạt đợc, hoạt động của Viện KSNDtrong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung, các vụ án cố ý gây thơngtích nói riêng còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót nh: Cha thực hiện tốt côngtác kiểm sát việc phân loại xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, chất lợng côngtác thực hành quyền công tố cha cao, việc phê chuẩn các quyết định của Cơquan điều tra đôi lúc còn cha kịp thời; Hoạt động kiểm sát điều tra từ đầu,kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án còn cha thật chủ động, cha đầy đủ, toàn diện,việc phát hiện những vi phạm trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tracha đợc thờng xuyên, kiên quyết, còn hiện tợng nể nang Các yêu cầu điều tracha đầy đủ, cụ thể nên việc định hớng hoạt động điều tra còn hạn chế Dovậy, đã ảnh hởng không nhỏ đến chất lợng của công tác điều tra

Trang 3

Những hạn chế, tồn tại, thiếu sót trên do nhiều nguyên nhân khácnhau Trong đó, nguyên nhân cơ bản là nhận thức về công tác THQCT -KSĐT của Viện KSND còn thiếu đầy đủ và cha thống nhất Lý luận về hoạt

động kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự cha đợc xem xét,nghiên cứu có tính hệ thống, đầy đủ và toàn diện Thực tiễn hoạt động củaViện KSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án

Cố ý gây thơng tích nói riêng cha đợc quan tâm nghiên cứu, tổng kết thờngxuyên

Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra và xử lý các loại tộiphạm hình sự nói chung, tội phạm cố ý gây thơng tích nói riêng Đồng thời,góp phần tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động THQCT-KSĐT tội phạmnày trên địa bàn tỉnh Hà Tây, làm nền tảng để xây dựng cơ sở lý luận cho việcnhận thức và nâng cao chất lợng công tác THQCT-KSĐT các vụ án hình sự,

tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: ‘Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân

trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích trên địa bàn tỉnh Hà Tây’’ làm luận văn Thạc sĩ luật học là rất cần thiết, nhằm đáp ứng cả về phơng

diện lý luận và thực tiễn

2 - Tình hình nghiên cứu đề tài.

Đến nay cha có một công trình khoa học nghiên cứu về hoạt động củaViện KSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh HàTây Chỉ có một số một số bài báo khoa học đề cập tới một số khía cạnh và ởnhững mức độ khác nhau về hoạt động của Viện KSND trong giai đoạn điềutra tội phạm hoặc có một số công trình khoa học nghiên cứu về hoạt động củaViện KSND Trong đó, có sự đóng góp đáng kể của một số đề tài khoa học

sau: Đề tài: "Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lợng công tác kiểm sát

trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Hà Tây " do Viện KSND tỉnh Hà Tây thực hiện năm 2002; Đề tài: "Nghiên cứu

giải pháp đấu tranh, phòng ngừa tội phạm cớp tài sản trên địa bàn tỉnh Hà

Trang 4

Tây " do Viện KSND tỉnh Hà Tây thực hiện năm 2003; Chuyên đề: "Kinh

nghiệm giải quyết những điểm phức tạp liên quan đến lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Hà Tây" do Viện KSND tỉnh Hà Tây thực hiện

năm 2005 hoặc luận văn thạc sĩ luật học đề tài: "Hoạt động của Viện Kiểm sát

nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án ma túy - Lý luận, thực tiễn và các giải pháp nâng cao’’ của tác giả Nguyễn Mạnh Hiền - năm 2005; luận văn

thạc sĩ luật học năm 2005 của tác giả Phạm Văn Các về "hoạt động của Cơ

quan Cảnh sát điều tra trong điều tra tội phạm gây thơng tích trên địa bàn thành phố Hà Nội"; hoặc chuyên đề ‘’Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác phòng ngừa tội phạm’’ của tác giả Nguyễn Hồng Vinh và

tập thể cán bộ Trờng Cao đẳng Kiểm sát năm 2003;

3 - Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài khoa học

- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động

của Viện KSND trong giai đoạn điều tra các vụ án Cố ý gây thơng tích Đánhgiá một cách khách quan thực trạng hoạt động của Viện KSND trong giai

đoạn điều tra tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm 2000 đến 6/2005

Từ đó, chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, nguyên nhân tồn tại và những vớngmắc đề xuất một số giải pháp chủ yếu để hoàn thiện lý luận và góp phần nângcao chất lợng, hiệu quả hoạt động điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích trên

địa bàn tỉnh Hà Tây

- Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là: Để đạt đợc mục đích nêu trên,

quá trình nghiên cứu, tác giả tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể nh sau:

+ Phân tích làm rõ khái niệm, dấu hiệu pháp lý và đặc điểm hình sựcủa tội phạm cố ý gây thơng tích

+ Nghiên cứu làm sáng tỏ mặt lý luận về hoạt động của Viện Kiểm sátnhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích

Trang 5

+ Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của ViệnKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích trên địa bàn tỉnh

Hà Tây từ năm 2000 đến 6/2005 Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, nguyênnhân tồn tại và những vớng mắc trong hoạt động của Viện KSND trong giai

đoạn điều tra đối với loại án này

+ Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện KSND đối với hoạt động

điều tra vụ án hình sự cố ý gây thơng tích trong thời gian tới

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tợng nghiên cứu của luận văn là: Hoạt động của Viện KSND

trong giai đoạn điều tra án cố ý gây thơng tích trên địa bàn tỉnh Hà Tây Trong

đó, nội dung cơ bản là hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểmsát việc tuân theo pháp luật đối với Cơ quan CSĐT trong quá trình thực hiệnviệc thu thập, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm; khởi tố vụ án hình sự, khởi tố

bị can; việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; kiểm sát việctuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra Kiểm sát việc khám nghiệm hiệntrờng, khám nghiệm tử thi, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, vậtchứng; việc tiến hành thu thập lời khai ngời làm chứng, ngời bị hại, hỏi cung

bị can và những ngời có liên quan; hoạt động đối chất và nhận dạng, thựcnghiệm điều tra và trng cầu giám định; việc chấp hành thời hạn điều tra; phụchồi điều tra, điều tra bổ sung; việc phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điềukiện tội phạm; việc ra các quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra,phục hồi điều tra và kết thúc điều tra Nghiên cứu các quyết định của ViệnKSND sau khi vụ án đợc kết thúc điều tra

- Phạm vi nghiên cứu đề tài khoa học: Hoạt động thực hành quyền

công tố và kiểm sát hoạt động t pháp của Viện KSND rất rộng Nhng trong đềtài này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu công tác THQCT-KSĐT của ViệnKSND đối với các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích theo quy định tại điều

Trang 6

104 BLHS, xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm 2000 đến 6/2005 của Cơquan CSĐT - Công an các huyện, thị xã và Cơ quan CSĐT tỉnh Hà Tây

5 Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài đợc thực hiện trên cơ sở phơng pháp luận duy vật biện chứng,duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, các quan

điểm của Đảng và Nhà nớc về công tác điều tra, xử lý tội phạm nói chung,công tác điều tra, xử lý các vụ án cố ý gây thơng tích nói riêng

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phơng pháp

cụ thể nh: Phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, thảo luận, tọa đàm

và phơng pháp chuyên gia, trực tiếp khảo sát …

6 Những đóng góp mới của đề tài

- Lần đầu tiên có một đề tài nghiên cứu về lý luận đầy đủ toàn diện, rõràng về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra của Viện kiểm sátnhân dân trong giai đoạn điều các vụ án cố ý gây thơng tích

- Trên cơ sở khảo sát thực tế đề tài đã đánh giá, phân tích thực trạnghoạt động của Viện KSND trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thơng tíchtrên địa bàn tỉnh Hà Tây trong thời gian từ năm 2000 đến 6/2005, những u,khuyết điểm và nguyên nhân làm cơ sở khoa học cho các kiến nghị, đề xuất

- Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện KSND tronggiai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thơng tích là tài liệu phục vụ cho cán bộ củaViện kiểm sát trong hoạt động thực tiễn và đây cũng là tài liệu tham khảo họctập cho học viên các truờng Kiểm sát và trờng Cảnh sát nhân dân - Bộ Côngan

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

đợc thành 3 chơng:

Trang 7

Chơng I : Nhận thức chung về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dântrong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích.

Chơng 2 : Thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai

đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm

2000 đến tháng 6/2005

Chơng 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động củaViện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tíchtrên địa bàn tỉnh Hà Tây

CHƯƠNG 1

nhận thức chung về hoạt động của viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích.

1.1 - Nhận thức chung về tội phạm cố ý gây thơng tích.

1.1.1 - Khái niệm tội phạm cố ý gây thơng tích.

Bộ luật hình sự nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985quy định tội phạm cố ý gây thơng tích, với tội danh "Tội cố ý gây thơng tíchhoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác" đợc qui định tại Điều 109 Đếnnăm 1999, nhằm mục đích cá thể hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa tộiphạm, Quốc hội đã ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 (có hiệu lực từ ngày01/7/2000) quy định tội phạm này thành 3 Điều luật: Khoản 1, khoản 2, khoản

3, Điều 109 Bộ luật hình sự năm 1985 chuyển thành điều 104 Bộ luật hình sựnăm 1999 (tội Cố ý gây thơng tích); khoản 4, Điều 109, Bộ luật hình sự năm

1985 chuyển thành các Điều 105, Bộ luật hình sự năm 1999 (tội Cố ý gây

th-ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác trong trạng thái tinhthần bị kích động mạnh) và Điều 106 BLHS năm 1999 (tội Cố ý gây thơng

Trang 8

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngời khác do vợt quá giới hạn phòng

vệ chính đáng) Tội phạm cố ý gây thơng tích thuộc nhóm các tội xâm phạmtính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con ngời đợc qui định trong Ch-

ơng 12 BLHS

Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 đa ra khái niệm về tội phạm nh sau:

"Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc qui định trong Bộ luật hình

sự, do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô

ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâmphạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật

tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp củacông dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủnghĩa"

Nh vậy, nội hàm của khái niệm tội phạm có các dấu hiệu cơ bản là:Tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải chịuhình phạt Trong đó, tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản nhất, quyết

định những dấu hiệu khác của tội phạm

Đối với tội phạm cố ý gây thơng tích ngoài những dấu hiệu pháp lý

đặc trng chung nh trên thì còn có dấu hiệu pháp lý riêng đó là: Tính nguyhiểm cho xã hội của tội phạm cố ý gây thơng tích đợc biểu hiện tập trung nhất

ở hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động trực tiếp lên cơ thể của ngời khác,làm tổn thơng một bộ phận hay toàn bộ cơ thể, làm tổn hại, làm mất hẳn haylàm mất một chức năng của một cơ quan nào đó trên cơ thể con ngời (nh làmgãy tay, chân, cụt tay, cụt chân, mù mắt )

Tính có lỗi thể hiện thái độ tâm lý của một ngời đối với tội phạm màngời đó gây ra Việc xác định lỗi là rất cần thiết bởi lỗi là đặc điểm quan trọngcủa tội phạm nói chung và tội phạm gây thơng tích nói riêng Về mặt hình sự,lỗi của ngời phạm tội đợc xác định trên cơ sở làm rõ, ngời phạm tội có nhận

Trang 9

thức về hành vi phạm tội hay không, có ý thức thế nào đối với hậu quả củahành vi Tội phạm gây thơng tích có 2 loại lỗi là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý (BLHSquy định rõ tội Cố ý gây thơng tích, tội Vô ý gây thơng tích cho ngời khác).Ngời phạm tội do lỗi cố ý nguy hiểm hơn ngời phạm tội do lỗi vô ý.

Tính trái pháp luật của tội phạm gây thơng tích cũng nh tội phạm nóichung theo quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự là: "Chỉ ngời nào phạm một tội

đã đợc Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự."

Tính phải chịu hình phạt: Bộ luật hình sự quy định tính chịu hình phạt

là đặc điểm cơ bản của tội phạm, tính chịu hình phạt là thuộc tính bên ngoàicủa tội phạm nó thể hiện đã có tội thì phải chịu hình phạt, không áp dụng hìnhphạt đối với ngời vô tội hoặc ngời có hành vi vi phạm pháp luật khác Tuynhiên, trên thực tiễn có nhiều trờng hợp ngời phạm tội đợc miễn trách nhiệmhình sự, miễn hình phạt theo quy định tại Điều 57, Điều 25 BLHS

Từ việc nghiên cứu lý luận trên chúng ta có thể khái niệm:

Tội phạm gây thơng tích là loại tội phạm do ngời phạm tội đã cố ý

hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (sức mạnh bạo lực) gây

th-ơng tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho ngời khác, một cách trái quy định củapháp luật hình sự và đến mức đáng phải xử lý bằng hình phạt Hành vi gây th-

ơng tích đợc thực hiện bằng phơng pháp hành động nh dùng chân tay, hungkhí tác động lên cơ thể ngời khác làm họ bị thơng tích hoặc bị tổn hại sứckhỏe, hoặc có thể thực hiện bằng phơng pháp không hành động nh buộc nạnnhân phải gây thơng tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho mình hoặc giúp sứccho đồng phạm thực hiện phạm tội hành vi gây thơng tích…

Tội phạm cố ý gây thơng tích có những dấu hiệu đặc trng của tội phạm

gây thơng tích đó là: Ngời phạm tội cũng thực hiện sức mạnh vật chất tác

động trực tiếp lên cơ thể ngời khác bằng các hình thức khác nhau làm cho họ

bị thơng tích hoặc bị tổn hại sức khỏe và tính nguy hiểm của sự tổn hại thơng

Trang 10

tích hoặc sức khỏe đó đến mức bị coi là tội phạm Nhng có đặc điểm riêng làhành vi phạm tội gây thơng tích đó phải thực hiện do lỗi cố ý và không phảitrong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

1.1.2 - Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm cố ý gây thơng tích theo quy định tại Điều 104 BLHS.

Về mặt lý luận tội phạm cố ý gây thơng tích cũng có đầy đủ các dấuhiệu pháp lý về cấu thành tội phạm nh tội phạm nói chung đó là: Yếu tố kháchthể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, yếu tố chủ thể của tội phạm,mặt chủ quan của tội phạm Cụ thể là:

- Khách thể của tội phạm: Tội cố ý gây thơng tích xâm hại đến quyềnbất khả xâm phạm về thân thể, quyền đợc bảo hộ về tính mạng, sức khỏe,nhân phẩm, danh dự đợc qui định rõ tại Điều 71 Hiến pháp nớc Cộng hòaXHCN Việt Nam Trong Bộ luật hình sự, các chơng tội xâm phạm tính mạng,sức khỏe, nhân phẩm, danh dự đợc qui định ngay sau chơng các tội xâm phạm

An ninh quốc gia Khách thể trực tiếp của tội phạm cố ý gây thơng tích khôngphải là con ngời nói chung mà là sức khỏe của ngời khác, là quyền bất khảxâm phạm về thân thể của công dân đã đợc Hiến pháp quy định Những trờnghợp tự gây thơng tích hoặc tổn hại sức khỏe cho bản thân mình thì không cấuthành tội danh qui định các điều luật này

- Mặt khách quan của tội phạm: Giống nh các loại tội phạm khác, mặtkhách quan của tội phạm cố ý gây thơng tích là những biểu hiện ra bên ngoàicủa tội phạm Đó là hành vi dùng sức mạnh vật chất (dùng tay, chân đấm, đáhoặc dùng các loại công cụ phơng tiện, súng, lựu đạn hoặc các loại hung khíkhác nh dao, côn, gậy ) tác động trực tiếp đến thân thể ngời khác, làm chongời đó bị thơng tích hoặc tổn hại đến sức khỏe; hoặc có thể do ngời phạm tộibắt nạn nhân tự gây thơng tích cho mình

Trang 11

Để xác định hành vi của tội phạm gây thơng tích có đủ yếu tố mặtkhách quan hay không ngoài việc quy định yếu tố bắt buộc về quan hệ nhânquả do hành vi gây thơng tích gây ra hậu quả mà nạn nhân phải gánh chịu thì

Bộ luật hình sự còn quy định hậu quả tội phạm này là mức độ tổn hại thơngtích hoặc sức khỏe của nạn nhân ở một tỷ lệ nhất định, cụ thể là:

+ Đối với tội phạm cố ý gây thơng tích (Điều 104), tỉ lệ thơng tật củanạn nhân phải từ 11% trở lên Nếu tỷ lệ thơng tật cha đến 11% thì phải thuộcmột trong các trờng hợp quy định từ điểm a đến điểm k, khoản 1, điều 104mới cấu thành tội gây thơng tích, cụ thể là:

* Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại chonhiều ngời

* Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân

* Phạm tội nhiều lần đối với cùng một ngời hoặc đối với nhiều ngời

* Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, ngời già yếu, ốm đau hoặc ngờikhác không có khả năng tự vệ

* Đối với ông, bà, cha, mẹ, ngời nuôi dỡng, thầy giáo, cô giáo củamình

* Có tổ chức

* Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụngbiện pháp đa vào cơ sở giáo dục

* Thuê gây thơng tích hoặc gây thơng tích thuê

* Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm

* Để cản trở ngời thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạnnhân

Trang 12

+ Đối với tội phạm Cố ý gây thơng tích trong trạng thái tinh thần bịkích động mạnh (Điều 105) và tội Cố ý gây thơng tích do vợt quá giới hạnphòng vệ chính đáng (Điều 106), tỉ lệ thơng tật của nạn nhân phải từ 31% trởlên mới cấu thành tội phạm.

- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm Cố ý gây thơng tích đợc thựchiện do lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp), ngời phạm tội ý thức đợc tính chấtnguy hiểm của hành vi mà mình sẽ thực hiện, thấy trớc đợc hậu quả do hành

vi mình thực hiện nhất định có thể sẽ gây ra thơng tích hoặc tổn hại sức khỏecho ngời khác hoặc mong muốn, hoặc là để mặc cho hậu quả xảy ra làm chonạn nhân bị thơng tích, hay bị tổn hại sức khỏe

Trong mặt chủ quan của tội phạm Cố ý gây thơng tích thì động cơ vàmục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này Tuynhiên, trong một số trờng hợp, việc chứng minh động cơ, mục đích của ngờiphạm tội lại có ý nghĩa quyết định đối với việc định tội và định khung

Hành vi phạm tội gây thơng tích thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp hoặcgián tiếp Nếu lỗi cố ý trong trờng hợp gây thơng tích có mức độ nguy hiểmthấp hơn so với tội Giết ngời, bởi vì ngời phạm tội không mong muốn cho nạnnhân chết mà chỉ muốn xâm hại tới sức khỏe của nạn nhân, muốn làm cho nạnnhân bị thơng tích hoặc bị tổn thơng khác Có nghĩa là, trờng hợp nạn nhânchết là nằm ngoài dự định, mong muốn của ngời phạm tội, song họ vẫn phảichịu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thơng tích dẫn đến chết ngời, theokhoản 3, Điều 104 BLHS

- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm cố ý gây thơng tích làcon ngời cụ thể, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, đợcquy định tại Điều 12 BLHS: Ngời từ đủ 16 tuổi trở lên, nhng cha đủ 18 tuổiphải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Ngời từ đủ 14 tuổi trở lên, nh-

ng cha đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng

do cố ý, hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đối chiếu với khoản 3, Điều 8

Trang 13

BLHS quy định về các loại tội phạm thì tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự củatội Cố ý gây thơng tích là ngời từ đủ 16 tuổi trở lên, riêng ngời từ đủ 14 tuổi

đến dới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội quy định tại khoản

3 và khoản 4, Điều 104 của bộ luật này

Trờng hợp ngời không có năng lực phải chịu trách nhiệm hình sự (đợcquy định tại điều 13 BLHS, là ngời đang mắc các bệnh về tâm thần hoặc bệnhhiểm nghèo gây ảnh hởng đến trạng thái tâm lý của họ; là ngời có đủ khả năngnhận thức và khả năng điều chỉnh hành vi của mình nhng không nhận thức đ-

ợc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà mình sẽ thực hiện

Tóm lại, nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tội phạm cố ý gây thơngtích có ý nghĩa cả về mặt lý luận thực tiễn Qua đó, giúp cho hoạt động thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra xử lý tội phạm nói chung, tội phạmgây thơng tích nói riêng đợc chính xác, đúng ngời, đúng tội và đúng pháp luật

1.2 - Nhận thức và đặc điểm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích

1.2.1 - Nhận thức về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích.

Hoạt động của Viện KSND trong giai đoạn điều tra chính là hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với hoạt động điều tra các vụ

án hình sự Đây cũng là một trong những hoạt động chủ yếu của Viện kiểmsát nhân dân Tuy nhiên, trải qua hơn 45 năm hình thành và phát triển, việcnhận thức về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân vẫn còn nhữnghạn chế, bất cập nhất định Do vậy, việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận vàthực tiễn để nhận thức đúng đắn, đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ thực hànhquyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp trong giai đoạn điều tra các vụ

án hình sự, trong đó có các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích là một vấn đề có

Trang 14

ý nghĩa quan trọng để nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác của Viện KSNDtrong giai đoạn hiện nay.

Hiến pháp 1992 (đã đợc sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10) vàLuật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: Viện KSND có chứcnăng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động t pháp Nhng

51/2001-đến nay, việc nhận thức cũng nh phân biệt thực hành quyền công tố và kiểmsát các hoạt động t pháp, trong đó có hoạt động KSĐT là một vấn đề phức tạp.Nhiều hoạt động của Viện KSND chỉ đợc đánh giá là kết quả chung của côngtác kiểm sát, mà cha phân biệt cụ thể và xác định rõ hai hình thức hoạt độngchủ yếu của Viện KSND, nên cha đánh giá đợc chất lợng, hiệu quả công tácthực hành quyền công tố (trong việc chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan ng-

ời vô tội) và công tác kiểm sát điều tra (trong việc phát hiện và khắc phụcnhững vi phạm, thiếu sót của các cơ quan t pháp) Trong khoa học đã có nhiềucông trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, nhng vẫn cha có quan điểmmang tính thống nhất và cha đợc triển khai thực hiện đồng bộ Mặc dù, Luật

tổ chức Viện KSND năm 2002 bớc đầu đã phân định thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động t pháp trong đó có giai đoạn điều tra, nhng một sốvấn đề mà pháp luật đã quy định cũng cần phải đợc tiếp tục nghiên cứu, hoànthiện Do vậy, việc nhận thức đúng đắn hoạt động nào của Viện KSND là thựchành quyền công tố; Hoạt động nào là kiểm sát điều tra? Có ý nghĩa quantrọng trong tiến trình cải cách t pháp ở nớc ta; đồng thời là cơ sở quan trọng đểsửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Bộ luật TTHS trong giai đoạn hiện nay

- Về hoạt động thực hành quyền công tố

Theo Hán - Việt từ điển thì "Công tố" là: "Quan kiểm sát đã xét xửhình sự rồi, bên thay mặt quốc gia để buộc tội trớc Tòa án" (NXB KH-XHnăm 1992, trang 122), theo Từ điển tiếng Việt là: "Truy tố, buộc bị cáo vàphát biểu ý kiến trớc Tòa án" (NXB Đà Nẵng năm 2000, trang 210), còn theo

Trang 15

thuật ngữ pháp lý phổ thông là: "Hoạt động của Kiểm sát viên và những ngờikhác đợc luật định (công tố viên xã hội) có nhiệm vụ vạch mặt kẻ phạm tội,xác định căn cứ để kết tội và áp dụng hình phạt đối với ngời phạm tội "(NXB Pháp lý năm 1986, trang 94) Nh vậy, hoạt động thực hành quyền công

tố gắn liền với việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội

Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã quy định nh sau: "ViệnKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp, góp phầnbảo đảm cho pháp luật đợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" Điều 1,Luật tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thựchành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t pháp theo quy định của Hiếnpháp và pháp luật" Khoản 1, Điều 23 Bộ luật TTHS cũng quy định: Việnkiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy

tố ngời phạm tội ra trớc Tòa án Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vàkiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành viphạm tội đều phải đợc xử lý kịp thời, việc khởi tố điều tra, truy tố, xét xử thihành án đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật không để lọt tội phạm và ngờiphạm tội, không làm oan ngời vô tội (khoản 3, Điều 23 Bộ luật TTHS)

Với những quy định nêu trên của pháp luật, chúng ta có thể xác địnhthực hành quyền công tố trên một số phơng diện chủ yếu sau:

+ Về chủ thể, quyền công tố là quyền năng pháp lý quan trọng đợcpháp luật giao cho một chủ thể duy nhất thực hiện, đó là Viện kiểm sát nhândân Một số cơ quan khác đợc thực hiện các hoạt động liên quan đến quyềncông tố của Viện kiểm sát, nh: Hoạt động khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan

điều tra và Tòa án Tuy nhiên, các hoạt động này chỉ là giai đoạn ban đầunhằm khởi động quyền công tố của Viện kiểm sát và không quyết định việcbuộc tội tại Tòa án Do vậy, một số hoạt động của các cơ quan trên chỉ là bổtrợ cho quyền công tố của Viện kiểm sát, chứ không phải là hoạt động thựchành quyền công tố

Trang 16

+ Về phạm vi quyền công tố, đến nay vẫn tồn tại nhiều quan điểmkhác nhau Chúng tôi xin nêu một số quan điểm phổ biến hiện nay nh sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền công tố của Viện kiểm sát có

phạm vi rất rộng, bao gồm trong các lĩnh vực: Hình sự, dân sự, kinh tế Chúng tôi cho rằng, bản chất của quyền công tố là việc truy tố ngời phạm tội

Do vậy, quyền công tố chỉ xuất hiện trong lĩnh vực hình sự

Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố có phạm vi rất hẹp, chỉ

xuất hiện khi Viện kiểm sát truy tố ngời phạm tội và duy trì quyền công tố tạiTòa án Quan điểm này cha đầy đủ, bởi lẽ việc truy tố ngời phạm tội và duy trìquyền công tố tại Tòa án là hình thức cao nhất, là "hạt nhân" của thực hànhquyền công tố, còn trớc đó Viện kiểm sát đã có các hoạt động khởi độngquyền công tố, nh: Quyết định khởi tố vụ án hình sự

Quan điểm thứ ba, khẳng định rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có

tội phạm xảy ra đến khi bản án có hiệu lực pháp luật Theo quan điểm này,quyền công tố của Viện KSND đợc thực hiện trong quá trình tố tụng hình sự,

từ giai đoạn phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốcthẩm) Còn thi hành án hình sự không có việc tiến hành tố tụng, cũng nhkhông có việc chứng minh và buộc tội trớc Tòa án, nên không thuộc phạm vithực hành quyền công tố

Theo nhận thức của chúng tôi thì quan điểm thứ ba quan niệm vềphạm vi thực hành quyền công tố là có cơ sở Bởi lẽ quan điểm này thỏa mãn

đầy đủ các các dấu hiệu của quyền công tố Nhà nớc theo quy định của Luật tổchức Viện KSND năm 2002, phù hợp với thực tế hoạt động của Viện KSNDtrong những năm qua và đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạmtrong giai đoạn hiện nay

+ Về khái niệm, quyền công tố là quyền năng pháp lý mà Nhà nớcgiao cho Viện KSND đợc thực hiện Còn THQCT là việc tổ chức thực hiện

Trang 17

quyền công tố trên thực tiễn Với những phân tích trên, khái niệm thực hànhquyền công tố là: Hoạt động của Viện KSND trong việc truy cứu trách nhiệmhình sự đối với ngời phạm tội và thực hiện buộc tội ngời phạm tội tại Tòa án.

Từ những phân tích đánh giá trên, chúng tôi rút ra nhận thức về côngtác THQCT trong giai đoạn điều tra tội phạm cố ý gây thơng tích là: Hoạt

động của Viện KSND trong việc ra các quyết định TTHS để truy cứu tráchnhiệm hình sự và thực hiện việc buộc tội tại Tòa án đối với ngời phạm tội cố ýgây thơng tích

- Về kiểm sát hoạt động điều tra:

Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về:

"Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới", thì hoạt động

t pháp bao gồm: Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, thihành án dân sự, giải quyết khiếu nại, tố cáo về hoạt động t pháp của các cơquan t pháp, hoạt động bổ trợ t pháp Do vậy, hoạt động của các chủ thể trên

đều là đối tợng của kiểm sát các hoạt động t pháp

Theo quy định tại khoản 2, Điều 23 của Bộ luật TTHS thì Viện KSNDkiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm pháthiện kịp thời vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, ngời tiến hành

tố tụng và ngời tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do bộ luật này quy

định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này

Kiểm sát các hoạt động điều tra là một khái niệm mới, nhng trên thực

tế đã đợc Viện KSND thực hiện từ những năm 1960 tức là ngay từ khi đợcthành lập Đó là công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động

điều tra các vụ án hình sự Theo Hiến pháp, Bộ luật TTHS và pháp luật hiệnhành thì kiểm sát điều tra là một lĩnh vực hoạt động chỉ thuộc một cơ quanduy nhất là Viện KSND Hoạt động kiểm sát điều tra bắt đầu từ giai đoạn pháthiện tội phạm đến khi Viện kiểm sát có quyết định truy tố ngời phạm tội ra

Trang 18

Tòa án nhân dân hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án đã có hiệu lựcpháp luật

Mục đích của kiểm sát các hoạt động điều tra là bảo đảm cho các hoạt

động điều tra phải chấp hành đúng các trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn

đã đợc pháp luật quy định Do vậy, khái niệm kiểm sát các hoạt động điều tra

đợc hiểu là: Hoạt động của Viện KSND trong việc bảo đảm cho các hoạt động

điều tra đợc thực hiện theo quy định pháp luật

Từ phân tích nêu trên, chúng tôi rút ra nhận thức về hoạt động kiểm sát

điều tra các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích là: Hoạt động kiểm sát các hoạt

động điều tra của Cơ quan CSĐT trong giai đoạn điều tra các vụ án Cố ý gâythơng tích nhằm bảo đảm cho các hoạt động điều tra đợc tuân thủ theo trình tự

đúng quy định của Bộ luật TTHS và đúng pháp luật

- Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát

điều tra trong tố tụng hình sự:

Mục đích của thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đều nhằmphát hiện nhanh chóng, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi phạmtội, bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật,không làm oan ngời vô tội, không bỏ lọt tội phạm Thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động điều tra có mối quan hệ trong lĩnh vực hình sự vàtrong phạm vi thực hành quyền công tố đợc tiến hành từ khi có tội phạm xảy

ra đến khi vụ án đợc đa ra xét xử Nếu nh hoạt động THQCT là bảo đảm mọitội phạm phải đợc xử lý, thì kiểm sát các hoạt động điều tra bảo đảm việc xử

lý tội phạm phải đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định Do vậy, giữa thựchành quyền công tố và kiểm sát điều tra có mối quan hệ chặt chẽ với nhautrong TTHS Mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT là mối quan hệ giữa nộidung và hình thức

Trang 19

Về tổ chức hoạt động, THQCT-KSĐT đều do Viện KSND thực hiện.Trong các khâu công tác kiểm sát, Kiểm sát viên vừa thực hành quyền công

tố, vừa thực hiện kiểm sát điều tra Thực hành quyền công tố và kiểm sát điềutra có mối quan hệ tơng hỗ, tác động qua lại lẫn nhau Nếu thực hiện tốt côngtác thực hành quyền công tố sẽ là điều kiện thuận lợi để kiểm sát các hoạt

động điều tra có chất lợng, hiệu quả và ngợc lại Tiến hành tố tụng là một quátrình, mà kết quả của giai đoạn trớc là tiền đề để thực hiện các hoạt động củagiai đoạn sau

- Những dấu hiệu cơ bản phân biệt thực hành quyền công tố và kiểm

sát các hoạt động điều tra:

Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động điều tra tuy cómối quan hệ chặt chẽ, nhng giữa chúng có những điểm khác nhau rõ rệt, đòihỏi phải đợc nhận thức đầy đủ và thống nhất Trên cơ sở những quy định củapháp luật hiện hành, theo tôi đa ra những dấu hiệu cơ bản để phân biệt thựchành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động điều tra nh sau:

+ Về phạm vi hoạt động: Thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt động điều tra đều xuất hiện từ khi tội phạm xảy ra

+ Về đối tợng: Đối tợng của thực hành quyền công tố là tội phạm, còn

đối tợng của kiểm sát các hoạt động điều tra là hoạt động thuộc lĩnh vực điềutra của các cơ quan t pháp, ngời tiến hành tố tụng và ngời tham gia TTHS

+ Về căn cứ tiến hành: Thực hành quyền công tố dựa trên quy định củaluật nội dung (Bộ luật hình sự) và luật hình thức (Bộ luật TTHS), còn kiểm sátcác hoạt động điều tra chỉ dựa trên quy định của luật hình thức và các văn bảnquy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự

+ Về hình thức hoạt động: Thực hành quyền công tố đợc thực hiệnthông qua các hình thức cơ bản, nh: Viện kiểm sát ra lệnh, quyết định, cáo

Trang 20

trạng, luận tội Còn khi kiểm sát các hoạt động t pháp, Viện kiểm sát ban hànhcác văn bản, nh: Kiến nghị, yêu cầu

+ Về hậu quả pháp lý: Khi Viện kiểm sát thực hành quyền công tố banhành các văn bản pháp lý, sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý nh: Truy cứu hoặckhông truy cứu trách nhiệm hình sự Còn khi tiến hành kiểm sát các hoạt động

t pháp, Viện kiểm sát ban hành các văn bản pháp lý dẫn đến việc xử lý các viphạm, thiếu sót trong hoạt động điều tra và các cơ quan khác đợc giao một sốhoạt động điều tra theo tố tụng hình sự

Từ những nhận thức nêu trên, chúng ta có thể hiểu hoạt động của Việnkiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra tội phạm cố ý gây thơng tích làhoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với Cơ quan CSĐTtrong quá trình thực hiện nhiệm vụ điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích

1.2.2 - Đặc điểm hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai

đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích.

Từ việc nhận thức chung chức năng, nhiệm vụ của Viện KSND theoquy định của pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điềutra các vụ án hình sự nói chung, các vụ án cố ý gây thơng tích nói riêng, theoquan điểm của chúng tôi hoạt động của Viện KSND trong giai đoạn điều tra

vụ án cố ý gây thơng tích có một số đặc điểm cụ thể nh sau:

- Hoạt động của Viện KSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

cố ý gây thơng tích là hoạt động THQCT-KSĐT các hoạt động điều tra của Cơquan CSĐT từ thời điểm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố điều tra

và kết thúc khi vụ án đợc kết thúc điều tra chuyển sang giai đoạn truy tố vàxét xử Hoạt động này của Viện KSND đợc tiến hành công khai theo đúngtrình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS và các văn bản hớng dẫn thực hiện Bộ luậtTTHS

Trang 21

- Chủ thể thực hiện hoạt động THQCT-KSĐT chỉ có thể là Kiểm sátviên và Viện trởng, Phó viện trởng Viện KSND có thẩm quyền và có sự phốihợp với các chủ thể khác có liên quan theo quy định của Bộ luật TTHS, Luật

sự chi phối bởi đặc điểm của hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, nhằmmục đích bảo đảm tuân thủ pháp luật trong giai đoạn điều tra, tạo điều kiệncho giai đoạn truy tố, xét xử

1.3 - Những nguyên tắc cơ bản quy định hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thơng tích .

Nguyên tắc là những t tởng chỉ đạo cơ bản của hoạt động Nguyên tắchoạt động là sự biểu hiện bản chất của hoạt động Từ những nguyên tắc nhất

định chúng ta mới có thể xây dựng nên những hoạt động cụ thể Ngoài ranguyên tắc còn có tính cơng lĩnh, vạch ra những xu hớng hoạt động cơ bảntrên thực tiễn là cơ sở để bổ sung sửa đổi, hoàn thiện những quy định của phápluật hiện hành Trong hoạt động điều tra làm rõ tội phạm cố ý gây thơng tích,Viện kiểm sát nhân dân phải tuân theo những nguyên tắc nhất định

1.3.1 - Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nội dung của nguyên tắc này đòi hỏi các hoạt động tố tụng hình sựphải tuân theo đúng các quy định của pháp luật thể hiện việc khởi tố, điều tracác vụ án hình sự nói chung, các vụ án cố ý gây thơng tích nói riêng; việc áp

Trang 22

dụng các biện pháp tố tụng hình sự phải có căn cứ và đúng quy định của phápluật Hoạt động của Viện kiểm sát dựa trên các căn cứ quy định của pháp luật.Quyền chế ớc của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra chỉ đợc giới hạntrong phạm vi mà luật pháp quy định.

1.3.2 - Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của công dân.

Nội dung của nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình hoạt động tố tụnghình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải tôn trọng và bảo vệ quyền cơbản của công dân đã đợc pháp luật ghi nhận

Việc xác định sự thật vụ án và việc bảo vệ quyền con ngời là 2 nhiệm

vụ khác nhau phải đợc Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện đồng thời.Nhng ở đó luôn đề cao việc bảo vệ quyền con ngời trong toàn bộ quá trìnhkhởi tố, điều tra và xử lý vụ án hình sự Trong quá trình tiến hành tố tụng hình

sự, các cơ quan tố tụng đều phải tuân thủ nguyên tắc không làm oan ngời vộtội, không bỏ lọt tội phạm

Để đảm bảo quyền con ngời trong quá trình hoạt động tố tụng hình sự,Cơ quan điều tra phải thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật TTHS Đặcbiệt là khi áp dụng các biện pháp cỡng chế nh bắt, tạm giữ, tạm giam ngờiphạm tội Viện kiểm sát phải giám sát chặt chẽ việc áp dụng các biện phápngăn chặn đó và các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra có liên quan đếnquyền con ngời để kịp thời thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định trái pháp luậtcủa Cơ quan điều tra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.3.3 - Nguyên tắc đảm bảo việc xác định sự thật của vụ án.

Theo quy định tại Điều 10 Bộ luật TTHS thì Cơ quan điều tra, Việnkiểm sát v To án phà Toà án ph à Toà án ph ải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thậtcủa vụ án một cách khách quan, to n dià Toà án ph ện v à Toà án ph đầy đủ, l m rõ nhà Toà án ph ững chứng cứxác định có tội v chà Toà án ph ứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và Toà án phnhững tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Trách nhiệm

Trang 23

chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến h nh tà Toà án ph ố tụng Bị can, bị cáo

có quyền nhưng không buộc phải chứng minh l mình vô tội.à Toà án ph

Mục đích của hoạt động phát hiện, khởi tố và điều tra làm rõ tội phạm

là nhằm xác định sự thật của vụ án, xác định có tội phạm hay không, có đồngphạm không để áp dụng chế tài hình sự một cách chính xác Mặc dù chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là khácnhau nhng khi tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự thì hai Cơ quan này

đều có mục đích chung là tìm ra sự thật của vụ án Việc Cơ quan điều tra vàViện kiểm sát thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự cũng nhằm xác định sựthật của vụ án Để nguyên tắc này đợc tuân thủ nghiêm chỉnh, Cơ quan điềutra và Viện kiểm sát phải thu thập đầy đủ các chứng cứ tài liệu và đánh giáchứng cứ một cách khách quan nhằm làm rõ sự thật của vụ án

1.3.4 - Nguyên tắc cấp dới chịu sự chỉ đạo của cấp trên trong hoạt

động tố tụng hình sự.

Cấp dới chịu sự chỉ đạo của cấp trên là nguyên tắc chung trong

hệ thống các cơ quan Nhà nớc ở nớc ta Nguyên tắc này đảm bảo tính tậptrung thống nhất trong hoạt động của bộ máy Nhà nớc, giúp cơ quan cấp trên

có thể hớng dẫn, tạo nên sự thống nhất trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụcủa các cơ quan cấp dới đồng thời phát huy đợc tính chỉ đạo, hớng dẫn của cơquan cấp trên đối với cơ quan cấp dới trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ

Điều 6 Luật tổ chức Viện KSND quy định: "Viện KSND do Viện ởng lãnh đạo Viện KSND cấp dới, chịu sự lãnh đạo của Viện KSND cấp trên;Viện trởng Viện kiểm sát các địa phơng, Viện trởng Viện kiểm sát quân sựcác cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trởng Viện KSND Tối cao"

tr-Điều 5, khoản 3, Pháp lệnh Tổ chức - tr-Điều tra hình sự quy định: "Cơ quan

điều tra cấp dới chịu sự hớng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấptrên"

Trang 24

Trên thực tế, nguyên tắc này đợc thực hiện một cách có hiệu quả bằnghoạt động của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát Trong nội bộ mỗi ngành,nguyên tắc này đợc thực hiện thông qua các hình thức nh thực hiện chế độthỉnh thị, báo cáo về nghiệp vụ; Cơ quan cấp trên đôn đốc kiểm tra cấp dới,

mở các chơng trình tập huấn, hớng dẫn cấp dới thực hiện hoặc triển khai thựchiện các hoạt động nghiệp vụ, thờng xuyên tổng kết rút kinh nghiệm hoạt

động của toàn ngành

Nguyên tắc cấp dới chịu sự chỉ đạo của cấp trên còn biểu hiện ở việcquyết định của cơ quan cấp trên có hiệu lực cao hơn quyết định của cấp dới

Từ nguyên tắc này, trong quá trình kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát cấp trên

có quyền hủy các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra và Viện kiểmsát cấp dới

Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động

tố tụng hình sự, mặc dù pháp luật không quy định trực tiếp là Cơ quan điều tracấp dới phải chịu sự chỉ đạo của Viện kiểm sát cấp trên trong khi tiến hành tốtụng Nhng tại Điều 137 Hiến pháp, Điều 23 Bộ luật TTHS, Điều 3, Luật tổchức Viện KSND và Điều 6 Pháp lệnh Tổ chức - Điều tra hình sự đều quy

định chức năng của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố, kiểm sát việctuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác đợc giao tiếnhành một số hoạt động điều tra Do đó, Cơ quan điều tra cấp dới chịu sự chỉ

đạo của Viện kiểm sát cấp trên trong hoạt động tố tụng hình sự là một trongnhững nội dung của nguyên tắc cấp dới chịu sự chỉ đạo của cấp trên trong mốiquan hệ giữa hai cơ quan Đồng thời, cũng là một đặc trng của mối quan hệ tốtụng giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát

1.3.5 - Nguyên tắc Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra cùng phối hợp hoạt động trong tố tụng hình sự:

Đây vừa là nguyên tắc là sự thể hiện nội dung mối quan hệ phối hợpgiữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Nguyên tắc này

Trang 25

thể hiện bản chất Nhà nớc ta; đảm bảo cho công tác đấu tranh chống và phòngngừa tội phạm hình sự đạt đợc hiệu quả cao trên thực tế.

Nội dung nguyên tắc này đòi hỏi Cơ quan điều tra tiến hành điều tracác vụ án hình sự đúng pháp luật, có hiệu quả, đồng thời có trách nhiệm,nghĩa vụ cung cấp, phối hợp để Viện kiểm sát thực hiện chức năng giám sát

Đối với, Viện kiểm sát, đòi hỏi vừa thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động

điều tra của Cơ quan điều tra đúng pháp luật, đồng thời phải tạo điều kiện đểCơ quan điều tra phát huy hiệu quả điều tra trên thực tế Sự phối hợp giữa Cơquan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự không mất đi t cách tiếnhành tố tụng độc lập của từng cơ quan, mà hoạt động của hai cơ quan này cótác động tơng hỗ, biện chứng để cùng đạt đợc mục đích cao nhất là điều tra vụ

án đúng pháp luật và có hiệu quả

Đây là một nguyên tắc quan trọng, nhng đồng thời chứa đựng nhữngyếu tố phức tạp trong mối quan hệ tố tụng giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điềutra Bởi vì, có tồn tại 2 mặt trong một nội dung Cơ quan điều tra vừa có chứcnăng điều tra tội phạm nhng đồng thời có trách nhiệm thể hiện công khainhững hoạt động điều tra của mình trớc Viện kiểm sát để Viện kiểm sát nắm

đợc và giám sát Trong một số hoạt động điều tra nhất định, Cơ quan điều traphải chủ động thông báo để Viện kiểm sát biết và thực hiện chức năng giámsát Nếu trên thực tế, Cơ quan điều tra không thực hiện nghiêm chỉnh nguyêntắc này sẽ dẫn đến Cơ quan điều tra chỉ điều tra tội phạm, còn Viện kiểm sátlại điều tra hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra Trong trờng hợp này cả 2cơ quan đều không những không đạt đợc hiệu quả trên thực tế mà còn phátsinh những vấn đề phức tạp khác trong nội bộ hai cơ quan

Trách nhiệm phối hợp của Viện kiểm sát thể hiện trong mối quan hệnày là: Viện kiểm sát phải giám sát chặt chẽ các hoạt động điều tra, nếu pháthiện có vi phạm thiếu sót trong quá trình điều tra phải kịp thời trao đổi yêucầu Cơ quan điều tra khắc phục Mục đích chính của hoạt động kiểm sát điều

Trang 26

tra không phải là phát hiện những vi phạm thiếu sót của Cơ quan điều tra mànhằm phối hợp với Cơ quan điều tra đảm bảo cho hoạt động điều tra đúngpháp luật Việc phát hiện những thiếu sót vi phạm của Cơ quan điều tra chỉ làmột trong những mặt hoạt động của Viện kiểm sát đảm bảo cho việc điều tra

đúng theo quy định của pháp luật và có hiệu quả hơn trong thực tiễn

Trong quá trình điều tra một vụ án hình sự thờng phải thực hiện cùngmột lúc cả yêu cầu của việc điều tra và yêu cầu đúng quy định của pháp luật,cả hai yêu cầu này đều quan trọng Vì vậy, trong hoạt động phối hợp của mìnhViện kiểm sát phải đảm bảo thực hiện đợc cả hai yêu cầu này

Nguyên tắc phối hợp hoạt động giữa các cơ quan là bản chất u việt của

bộ máy Nhà nớc ta, là điều kiện quan trọng để đảm bảo thực hiện nguyên tắcquyền lực Nhà nớc là thống nhất, mỗi cơ quan Nhà nớc có chức năng nhiệm

vụ riêng nhng đều nằm trong một chính thể nhằm thực hiện mục tiêu mà Nhànớc đặt ra

1.3.6 - Nguyên tắc hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát chế ớc hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra.

Đây là nguyên tắc đặc trng của của bộ máy Nhà nớc trong Nhà

n-ớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo đó Viện KSND có quyền giámsát hoạt động của Cơ quan điều tra, yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện và hủy

bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra, nhằm đảm bảo cho quátrình điều tra, xử lý ngời có hành vi phạm tội phải tuân theo đúng quy địnhcủa pháp luật, đảm bảo hoạt động điều tra đúng ngời, đúng tội, đúng phápluật, nhng quan trọng nhất là bảo vệ con ngời khi thực hiện các hoạt động tốtụng hình sự

Nội dung nguyên tắc này, đòi hỏi Cơ quan điều tra tuân thủ các quyết

định và yêu cầu của Viện kiểm sát trong hoạt động TTHS, đòi hỏi Viện kiểmsát trong khi tiến hành KSĐT phải căn cứ vào quy định của pháp luật để yêu

Trang 27

cầu Cơ quan điều tra tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đó Nguyên tắc này

đợc thể hiện bằng việc pháp luật quy định quyền năng của Viện KSND trongnhững hoạt động điều tra cụ thể, Viện kiểm sát có nhiệm vụ áp dụng mọi biệnpháp do Bộ luật TTHS quy định để mọi hành vi phạm tội đều phải đợc điều tra

và xử lý kịp thời, không để lọt ngời phạm tội, không làm oan ngời vô tội, ViệnKSND có quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra

Trong hệ thống các cơ quan hành chính của nớc ta, pháp luật quy

định cơ quan hành chính cấp trên có quyền hủy quyết định trái pháp luật củacơ quan hành chính cấp dới Nhng trong hoạt động tố tụng hình sự thì nguyêntắc chế ớc của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra là một nguyên tắc đặcbiệt Trong hoạt động kiểm sát xét xử, Viện kiểm sát không có quyền hủy bỏnhững quyết định của Tòa án mà chỉ có quyền kháng nghị những quyết định,bản án của Tòa án nếu có căn cứ Nh vậy, nguyên tắc Viện kiểm sát chế ớchoạt động điều tra của Cơ quan điều tra là nguyên tắc đặc trng trong hoạt độngcủa bộ máy Nhà nớc ta nói chung mà còn là nguyên tắc đặc biệt trong quan hệ

tố tụng hình sự

Hai nguyên tắc cơ bản trên phải đợc CQĐT và Viện kiểm sát cùngtuân thủ trong mối quan hệ tố tụng ở từng giai đoạn TTHS, từ giai đoạn pháthiện tố giác, tin báo về tội phạm đến giai đoạn khởi tố, tiến hành các hoạt

động điều tra các vụ án hình sự nói chung, các vụ án cố ý gây thơng tích nóiriêng

1.4 - Nội dung, biện pháp tiến hành hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích.

Theo quy định của pháp luật thì Viện KSND thực hiện chức năng thựchành quyền công tố và kiểm sát hoạt động của các cơ quan t pháp bằng cácphơng pháp kiểm tra, giám sát toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án

cố ý gây thơng tích Nội dung của hoạt động đó là: Kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động điều tra các vụ án cố ý gây thơng tích của cơ quan

Trang 28

Cảnh sát điều tra và của các cơ quan khác đợc giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra Để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh và phòng ngừa tội phạm

cố ý gây thơng tích, trong hoạt động Cơ quan CSĐT và Viện KSND luôn cómối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội cố ýgây thơng tích đều phải đợc điều tra kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh,không để bỏ lọt tội phạm, không làm oan ngời vô tội Hoạt động của ViệnKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích đợc thựchiện bằng các công tác sau:

1.4.1 - Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và khởi tố

vụ án hình sự cố ý gây thơng tích.

Theo quy định tại Điều 101 và Điều 103 Bộ luật TTHS thì Cơ quan

điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm phải tiếp nhận tố giác và tin báo về tộiphạm do công dân cung cấp Sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thìtrong thời hạn 20 ngày đối với vụ việc đơn giản và trong thời hạn không quá 2tháng đối với vụ việc phức tạp, Cơ quan CSĐT phải có trách nhiệm xác minhlàm rõ để ra quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án Cơ quan cảnhsát điều tra có trách nhiệm phải gửi kết quả giải quyết đến Viện kiểm sát cùngcấp; Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết các tố giác, tin báo

về tội phạm cố ý gây thơng tích của Cơ quan điều tra

Bộ luật TTHS chỉ quy định Cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi kếtquả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đến Viện kiểm sát nhng không quy

định rõ nếu cơ quan điều tra không gửi đến Viện kiểm sát thì trách nhiệm thếnào cho nên trong thực tiễn hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo

về tội phạm Cố ý gây thơng tích vẫn còn nhiều bất cập có nhiều trờng hợpViện kiểm sát không thực hiện đầy đủ trách nhiệm này Do đó, vẫn xảy ra tìnhtrạng bỏ lọt tội phạm Cố ý gây thơng tích Theo chúng tôi cần phải có quy

định rõ cụ thể việc cung cấp kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm để

Trang 29

Viện kiểm sát thực hiện tốt hoạt động kiểm sát xử lý tố giác, tin báo về tộiphạm nhằm tránh bỏ lọt tội phạm

Khởi tố vụ án cố ý gây thơng tích là giai đoạn đầu tiên của quá trình tốtụng hình sự, sau khi kết thúc việc giải quyết nguồn tố giác, tin báo về tộiphạm này Theo quy định tại các Điều 37, 109, 112, 113, 114 Bộ luật TTHS,

Điều 6 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

và Tòa án có trách nhiệm ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều trahành vi phạm tội cố ý gây thơng tích theo trình tự TTHS Sau khi vụ án đợckhởi tố thì hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án phát sinh, Cơ quan điều trahoặc một số cơ quan đợc giao thẩm quyền điều tra có trách nhiệm phải gửiquyết định khởi tố vụ án đến Viện KSND để tiến hành kiểm sát việc khởi tố

Đây là một trong những hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát khi thực hiệnchức năng kiểm sát đối với cơ quan điều tra nhằm bảo đảm việc khởi tố vụ án

cố ý gây thơng tích đợc kịp thời, có căn cứ đúng pháp luật Vì vậy, Viện kiểmsát phải nắm bắt kịp thời việc ban hành các quyết định khởi tố để kiểm sát tính

có căn cứ, tính hợp pháp và khắc phục những sai phạm nếu có

Để thực hiện tốt hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việckhởi tố các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm,

đảm bảo việc khởi tố vụ án có căn cứ, đúng pháp luật Viện kiểm sát cần tiếnhành các biện pháp sau:

- Nắm kịp thời, chính xác, đầy đủ việc giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và việc khởi tố vụ án của Cơ quan cảnh sát điều tra

- Yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu, chứng cứ làm căn cứ raquyết định khởi tố Đồng thời, khẩn trơng nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu đãthu thập có trong hồ sơ vụ án để xác định việc giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và ra quyết định khởi tố vụ án cố ý gây thơng tích của Cơ quan điều tra

có căn cứ và hợp pháp không Kết quả nghiên cứu nếu thấy có dấu hiệu phạmtội mà Cơ quan điều tra không khởi tố thì yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết

Trang 30

định khởi tố vụ án hoặc tự mình ra quyết định khởi tố vụ án, chuyển đến Cơquan điều tra để điều tra làm rõ Nếu thấy việc khởi tố vụ án của Cơ quan điềutra có căn cứ thì chuyển lại hồ sơ vụ án để Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt

động điều tra làm rõ vụ án

- Phối hợp với Cơ quan điều tra, Tòa án giải quyết những vấn đề phátsinh trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và khởi tố vụ ántheo qui định của pháp luật

1.4.2 Kiểm sát việc khởi tố bị can trong vụ án cố ý gây thơng tích.

Quyết định khởi tố bị can trong vụ án hình sự nói chung, vụ án cố ýgây thơng tích nói riêng chỉ đợc ban hành trên cơ sở quyết định khởi tố vụ án,

là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng hình sự áp dụng các biện pháp điều tranhằm làm rõ tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị can gây ra.Hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can về tội cố ý gây thơng tích không chỉ làquyền, mà còn là nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo Cơ quan điều trakhởi tố đúng ngời, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo hoạt động điều tra các

vụ án này đợc kịp thời, chuẩn bị tốt cho giai đoạn truy tố, xét xử sau này

Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật TTHS thì khi có đủ căn cứ để xác

định một ngời đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết

định khởi tố bị can Việc quy định trên thể hiện căn cứ ra quyết định khởi tố bịcan chặt chẽ hơn căn cứ ra quyết định khởi tố vụ án Nếu quyết định khởi tố bịcan không chính xác, không đúng luật sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra,xác định sự thật của vụ án, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, gây tác hại xấu về mặt Chính trị - xã hội, giảm sút lòng tin của côngdân đối với các cơ quan tố tụng, với Nhà nớc….Xác định đợc tính chất quantrọng của việc ra quyết định khởi tố bị can nên khoản 4, Điều 126 Bộ LuậtTTHS đã quy định mới so với trớc đây là Viện kiểm sát có trách nhiệm phảiphê chuẩn quyết định khởi tố bị can của CQĐT

Trang 31

Hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can của Viện kiểm sát thể hiện ởchỗ: Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quanđiều tra phải gửi quyết định khởi tố v t i lià Toà án ph à Toà án ph ệu liên quan đến việc khởi tố bịcan cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố Trong thời hạn

ba ng y, kà Toà án ph ể từ ng y nhà Toà án ph ận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phảiquyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can v gà Toà án ph ửingay cho Cơ quan điều tra Khi tiến hành điều tra vụ án, nếu có căn cứ xác

định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc cònhành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổsung quyết định khởi tố bị can; Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn vàquyết định này phải đợc gửi ngay cho Viện KSND cùng cấp và cho bị can

Nhiệm vụ của Viện KSND là bảo đảm ban hành các quyết định phátsinh trong quá trình điều tra vụ án có căn cứ và hợp pháp Do vậy, quá trìnhkiểm sát điều tra đòi hỏi Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng

cứ liên quan đến hành vi mà bị can đã thực hiện Đồng thời, Kiểm sát viên cần

có kiến thức vững vàng về Luật hình sự, Tố tụng hình sự, về chế độ quản lý xãhội… để đánh giá đúng hành vi mà bị can đã thực hiện Ngoài ra, Kiểm sátviên còn có thể trực tiếp áp dụng các biện pháp khác nh tham gia vào quá trìnhlấy lời khai, hỏi cung bị can, thảo luận với Điều tra viên về những vấn đề cóliên quan đến khởi tố bị can Trên cơ sở đó kịp thời yêu cầu Cơ quan điều trahoặc tự Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ, bổ sung, thay đổi, ban hành quyết

định khởi tố bị can chính xác, đúng luật, tránh xâm phạm đến quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, tránh việc ra quyết định nhiều lần, hạn chế việc trả hồsơ vụ án để điều tra bổ sung ở các giai đoạn sau, làm ảnh hởng tiến độ giảiquyết án

1.4.3 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trong vụ án cố ý gây thơng tích.

Trang 32

Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cỡng chế trong tố tụng hình sự đợc

áp dụng đối với bị can, bị cáo, đối với ngời đang thực hiện hành vi phạm tộiquả tang hoặc đối với ngời đang chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêmtrọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc đối với ngời bị tình nghi tội phạm nhằmngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn chặn họ tiếp tụcphạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điềutra, truy tố, xét xử và thi hành án

Theo quy định của Bộ luật TTHS thì quá trình giải quyết các vụ ánhình sự cố ý gây thơng tích, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong phạm vithẩm quyền của mình có thể áp dụng hoặc thay thế một trong những biện phápngăn chặn sau: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi c trú, bảo lĩnh, đặt tiềnhoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm

có hiệu quả, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng đợc thuậnlợi, thể hiện sự chuyên chính của Nhà nớc Việt Nam XHCN

Để hỗ trợ đắc lực cho việc điều tra, truy tố, xét xử đạt hiệu quả cao và

để bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, Bộ luật TTHS

đã quy định Viện KSND đợc phê chuẩn các quyết định bắt của cơ quan điềutra (trừ trờng hợp bắt quả tang hoặc bắt truy nã, đầu thú) và có thẩm quyền ápdụng các biện pháp ngăn chặn Để thực hiện trọng trách trên, khi tiến hànhhoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích, Viện KSNDphải thực hiện kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng hoặc thay đổi các biện phápngăn chặn cụ thể nh sau:

Bắt là một trong những biện pháp ngăn chặn để phục vụ công tác điềutra và xử lý tội phạm, Bộ luật TTHS có quy định các trờng hợp bắt gồm bắt bịcan, bị cáo để tạm giam; bắt khẩn cấp và bắt quả tang Để thực hiện nguyêntắc cơ bản trong pháp luật hình sự là bảo đảm quyền bất khả xâm phạm củacông dân, điều 71, Hiến pháp năm 1992 và Điều 6, Bộ luật TTHS quy định:Không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc

Trang 33

phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trờng hợp phạm tội quả tang Trong phạm viLuận văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu các trờng hợp sau:

1.4.3.1 - Hoạt động kiểm sát việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam (Điều

80, Điều 88 Bộ luật TTHS):

Có quan điểm cho rằng bắt để tạm giam và tạm giam bị can, bị cáo là

2 biện pháp ngăn chặn độc lập, ngay sau khi bắt để tạm giam có thể thay thếbằng biện pháp ngăn chặn khác Chúng tôi không đồng ý với quan điểm này.Vì theo quy định tại Điều 80 Bộ luật TTHS thì bắt để tạm giam và biện pháptạm giam có mối quan hệ với nhau Điều 80 chỉ quy định thẩm quyền ra lệnhbắt và căn cứ bắt để tạm giam chính là căn cứ tạm giam theo quy định tại Điều

88 Chính vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biểu mẫu "Lệnh bắt,tạm giam bị can" Nghĩa là áp dụng cùng lúc 2 biện pháp bắt và tạm giam.Luật cũng không qui định bắt buộc, mà "Có thể đợc áp dụng" đó là việc ápdụng biện pháp này thờng rơi vào trờng hợp "ngời già yếu, ngời bị bệnh nặng

mà nơi c trú rõ ràng", ngoại trừ trờng hợp đặc biệt nghiêm trọng khác Đây làtính u việt của pháp luật XHCN, thể hiện nguyên tắc nhân đạo XHCN trongchính sách hình sự của nớc ta

Để thực hiện hoạt động kiểm sát việc bắt bị can để tạm giam trong các

vụ án hình sự cố ý gây thơng tích, Kiểm sát viên phải nắm vững quy định tại

Điều 80 và Điều 88 Bộ luật TTHS Khi Cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩnlệnh bắt, tạm giam bị can, thì Kiểm sát viên phải nghiên cứu thẩm định các tàiliệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án một cách thận trọng, trực tiếp kiểm tra chứng

cứ trớc khi báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền ký phê chuẩn Nếu thấy vấn đề gìcha rõ thì yêu cầu Điều tra viên thu thập tài liệu bổ sung chứng cứ Chỉ phêchuẩn tạm giam đối với bị can phạm tội trong trờng hợp quy định tại khoản 1,

Điều 88 Bộ luật TTHS Những trờng hợp xét thấy không cần tạm giam thì raquyết định không phê chuẩn và có thể yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặnkhác Ngợc lại nếu phát hiện để lọt ngời phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt

Trang 34

nghiêm trọng thì yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh bắt tạm giam để Viện kiểmsát phê chuẩn hoặc Viện kiểm sát trực tiếp ra lệnh bắt, tạm giam Trong trờnghợp cần thiết thì Viện kiểm sát có thể ra lệnh bắt tạm giam để phục vụ côngtác điều tra

Trờng hợp vụ án phức tạp cần gia hạn thời hạn tạm giam bị can thì yêucầu Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn thời hạntạm giam để điều tra theo đúng quy định tại khoản 3, Điều 120 Bộ luật TTHS

1.4.3.2 - Kiểm sát việc bắt ngời trong trờng hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc truy nã (Điều 81 - Điều 82 Bộ luật TTHS):

Qua hoạt động thực tiễn cho thấy đối với các vụ án cố ý gây thơng tích

có đông ngời tham gia dẫn đến hậu quả làm chết ngời, thờng là sau khi gây ánngời phạm tội thờng có biểu hiện bằng hành vi cất giấu hung khí, che giấu cho

đồng bọn hoặc có biểu hiện thông cung, xuất phát từ sự cấp bách của tình thếbuộc phải ngăn chặn ngay hành vi đe dọa gây thiệt hại hoặc tiếp tục gây thiệthại cho công dân, ngăn ngừa ngời bị tình nghi phạm tội chạy trốn hoặc tiêuhủy chứng cứ, tài liệu… Vì vậy, việc áp dụng biện pháp bắt ngời trong trờnghợp khẩn cấp và phạm tội quả tang trong các vụ án này xảy ra phổ biến Tuynhiên việc áp dụng 2 biện pháp này cha đảm bảo chất lợng, còn nhiều trờnghợp bắt giữ hình sự sau đó xử lý hành chính Việc chấp hành các thủ tục tốtụng sau khi bắt của Cơ quan CSĐT đôi lúc cha đợc chấp hành nghiêm chỉnh

Do đặc thù riêng của loại tội phạm cố ý gây thơng tích thờng áp dụngchủ yếu biện pháp ngăn chặn là bắt ngời trong trờng hợp quả tang và khẩncấp Nên, hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát phải đợc tiến hànhmột cách chặt chẽ ngay sau khi họ đã bị bắt Kiểm sát viên phải kiểm sát việcbắt ngời trong trờng hợp khẩn cấp theo quy định tại Điều 81 Bộ luật TTHS vàyêu cầu Cơ quan CSĐT sau khi bắt khẩn cấp phải báo ngay cho Viện kiểm sátbằng văn bản kèm theo tài liệu có liên quan đến việc bắt khẩn cấp để Việnkiểm sát xét phê chuẩn Trong trờng hợp cần thiết Kiểm sát viên phải kiểm tra

Trang 35

trực tiếp các căn cứ bắt khẩn cấp Nếu thấy không đủ căn cứ thì báo cáo lãnh

đạo có thẩm quyền ra quyết định không phê chuẩn và yêu cầu Cơ quan điềutra hoặc trực tiếp ra quyết định trả tự do ngay cho ngời bị bắt

Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan CSĐT, sau khi nhận ngời bị bắttrong trờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, phải lấy lời khai ngay ngời

bị bắt và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do chongời bị bắt Đối với ngời bị bắt theo lệnh truy nã thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơquan điều tra sau khi lấy lời khai phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra lệnhtruy nã và ra quyết định tạm giữ, giải ngay ngời đó đến trại tạm giam nơi gầnnhất

Tóm lại: "bắt" đợc hiểu là một trong những biện pháp ngăn chặn cótính cỡng chế nghiêm khắc đối với ngời bị áp dụng, vì nó tớc đoạt quyền tự dothân thể của con ngời không chỉ trong trờng hợp ngời đó đã bị khởi tố, truy tốhay đã bị xét xử, mà ngay cả khi họ cha bị khởi tố, nhằm kịp thời ngăn chặntội phạm, ngăn ngừa sự trốn tránh pháp luật của ngời phạm tội, tạo điều kiệnthuận lợi cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh xác định sự thật vụ

án Do việc bắt ngời ảnh hởng trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thânthể của công dân qui định trong Hiến pháp, nên việc bắt ngời đợc qui địnhchặt chẽ và khi áp dụng đòi hỏi cần phải thận trọng, chính xác, kịp thời, đúngluật Việc bắt ngời đúng pháp luật, sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác

đấu tranh phòng, chống tội phạm và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngnghiệp vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng Nếu ngợc lại, sẽ ảnh hởng xấu

đến uy tín của Nhà nớc và các cơ quan bảo vệ pháp luật, mất lòng tin của nhândân

1.4.3.3 - Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, biện pháp tạm giam và thời hạn tạm giam (Điều 86, Điều 87, Điều 88 Bộ luật TTHS).

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩmquyền áp dụng đối với ngời bị bắt trong trờng hợp phạm tội quả tang, khẩn

Trang 36

cấp, truy nã hoặc ngời phạm tội tự thú, bằng cách giữ ngời đó trong thời hạnluật định, nhằm ngăn chặn tội phạm, tạo điều kiện cho việc thu thập chứng cứ,tài liệu để đi đến quyết định khởi tố hay không khởi tố bị can đối với họ.

Tạm giam là biện pháp ngăn chặn có tính cỡng chế nghiêm khắc nhất.Những căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam cũng chính là những căn cứ ápdụng biện pháp bắt bị can để tạm giam đã trình bày ở phần trên và lệnh tạmgiam chỉ có giá trị thi hành khi có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân

Khi thực hiện hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, biệnpháp tạm giam ngoài hoạt động kiểm sát các căn cứ để áp dụng và thẩm quyềncủa ngời ra các quyết định tạm giữ, tạm giam thì cần phải thực hiện tốt hoạt

động kiểm sát việc thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam trong nhà tạm giam,tạm giữ nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ngời bị tạm giữ, tạmgiam và tránh tình trạng thông cung trong quá trình giam, giữ gây ảnh hởng

đến quá trình điều tra và xử lý vụ án

1.4.3.4 - Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác (Điều

91, Điều 92, Điều 93 Bộ luật TTHS):

Cấm đi khỏi nơi c trú (Điều 91), Bảo lĩnh (Điều 92) và Đặt tiền hoặctài sản có giá trị để bảo đảm (Điều 93) cũng là những biện pháp ngăn chặn

độc lập nhng có tính chất cỡng chế ít nghiêm khắc hơn

Qua hoạt động thực tiễn cho thấy, Bộ luật TTHS nớc ta hiện nay qui

định về 3 biện pháp ngăn chặn này cha chặt chẽ và đầy đủ về thẩm quyền banhành, đối tợng bị áp dụng, thủ tục áp dụng và chế tài khi có sự vi phạm Hoạt

động kiểm sát việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi c trú, bảo lĩnh, đặt tiềnhoặc tài sản có giá trị của Viện KSND theo quy định tại Điều 91, Điều 92,

Điều 93 Bộ luật TTHS đối với tội phạm hình sự nói chung, tội phạm Cố ý gâythơng tích nói riêng chỉ mang tính hình thức, chỉ thực hiện ở hoạt động kiểmsát việc Cơ quan điều tra ra các quyết định, nội dung quyết định và thẩm

Trang 37

quyền ra các quyết định trên có căn cứ, đúng trình tự tố tụng hình sự haykhông Cha thực hiện đợc kiểm sát đợc việc thi hành các quyết định của Cơquan điều tra nh thế nào Việc quản lý bị can rất lỏng lẻo, cơ quan có thẩmquyền thì cứ ra lệnh, còn chính quyền địa phơng thì không có bất cứ biện phápnào để quản lý, vì luật không qui định Do vậy, vẫn có thể xảy ra tr ờng hợp bịcan phạm tội mới.

Biện pháp "Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm" trớc đây chỉ

đ-ợc áp dụng đối với bị can là ngời nớc ngoài phạm tội cố ý gây thơng tích trongtrờng hợp không phải là phạm tội thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng Hiệnnay Điều 93 Bộ luật TTHS qui định biện pháp " Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm" đợc áp dụng đối với ngời Việt Nam phạm tội để tránh sự phânbiệt đối xử Qui định nh hiện nay là hợp lý, chỉ cần hoàn thiện hơn về đối t-ợng, thẩm quyền và thủ tục thi hành Bởi vì, ngoài biện pháp này, luật khôngloại trừ việc áp dụng các biện pháp khác đối với ngời nớc ngoài khi nhập cảnh,trong thời gian có mặt tại Việt Nam, họ đã đợc các cơ quan chức năng củaNhà nớc ta quản lý khá chặt chẽ Chế định này đợc pháp luật của nhiều nớctrên thế giới áp dụng

1.4.3.5 - Kiểm sát việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn (Điều 94 Bộ luật tố tụng hình sự):

Khi Viện kiểm sát phê chuẩn một biện pháp ngăn chặn nghĩa là Việnkiểm sát xem xét, cho thi hành biện pháp đó theo qui định của pháp luật trongmột thời gian nhất định Hết thời gian đó, biện pháp ngăn chặn không cònhiệu lực thi hành thì đơng nhiên sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cũng khôngcòn giá trị, ngời bị áp dụng đợc trả tự do "Trả tự do" còn có nghĩa là xoá bỏcònnhững cấm đoán cho ngời bị áp dụng do biện pháp ngăn chặn đang có giátrị thi hành làm hạn chế hay tớc mất quyền tự do của họ, khác với "Hủy bỏbiện pháp ngăn chặn" là làm mất đi giá trị của biện pháp ngăn chặn đang ápdụng Do không có sự giải thích của cơ quan có thẩm quyền nên việc sử dụng

Trang 38

biểu mẫu của các Cơ quan tố tụng trong các trờng hợp này không thống nhất.Với nhận thức trả tự do là chấm dứt hoàn toàn tố tụng đối với bị can, nên trênthực tế hiện nay, quyết định "Trả tự do" chỉ đợc áp dụng đối với bị can cóquyết định "Đình chỉ điều tra" cho cả 2 trờng hợp: biện pháp đang áp dụngcòn hoặc đã hết hiệu lực.

Qua thực tiễn thực hiện công tác kiểm sát việc áp dụng, thay thế, hủy

bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can phạm tội cố ý gây thơng tích nhữngnăm gần đây thấy: Theo quy định của Bộ luật TTHS thì có tất cả 6 biện phápngăn chặn, nhng Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát mới chỉ chú trọng đếnbiện pháp bắt, tạm giam, tạm giữ, còn các biện pháp khác cha đợc chú ý.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do cha nhận thức đầy đủ về ý nghĩa củacác biện pháp ngăn chặn là nhằm ngăn ngừa tác hại của tội phạm cố ý gây th-

ơng tích bằng cách hạn chế một số quyền của ngời thực hiện hành vi phạm tộikhi áp dụng các biện pháp ngăn chặn cụ thể Đó không chỉ là sự tớc đoạtquyền tự do thân thể của họ nh đối với biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, màcòn hạn chế quyền tự do c trú, tự do đi lại trong biện pháp "Cấm đi khỏi nơi ctrú", quyền về tài sản trong biện pháp "Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo

đảm" Một nguyên nhân khác là do qui định của luật về các biện pháp này chachặt chẽ, không đề cập đến thẩm quyền áp dụng, điều kiện áp dụng (trừ trờnghợp đặt tiền), thủ tục thi hành, mối quan hệ giữa Cơ quan ra quyết định ápdụng - Ngời bị áp dụng - Cơ quan hoặc cá nhân liên quan đến việc áp dụng(ủy ban nhân dân địa phơng nơi bị can c trú, ngời hoặc cơ quan bảo lãnh)…

nh đã qui định đối với nhóm biện pháp ngăn chặn liên quan đến quyền tự dothân thể

Để tiến hành có hiệu quả những nội dung kiểm sát nêu trên ViệnKSND hai cấp cần nắm kịp thời và theo sát quá trình áp dụng các biện phápngăn chặn trong quá trình điều tra của Cơ quan điều tra Đồng thời, cầnnghiên cứu, xem xét thận trọng các tài liệu, chứng cứ, tính hợp pháp của việc

Trang 39

áp dụng các biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát cũngcần chủ động và kiên quyết yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục những thiếusót, vi phạm trong quá trình áp dụng để bảo đảm cho công tác này đúng phápluật, tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

1.4.4 Hoạt động kiểm sát một số hoạt động điều tra khác trong quá trình điều tra tội phạm cố gây thơng tích.

1.4.4.1 - Hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trờng, khám nghiệm tử thi:

Khám nghiệm hiện trờng là hoạt động điều tra tố tụng hình sự nhằmthu thập, nghiên cứu và đánh giá dấu vết, vật chứng và các tin tức, tài liệu tạihiện trờng phục vụ công tác điều tra và xử lý tội phạm Mục đích của khámnghiệm hiện trờng vụ án không chỉ là việc phát hiện thu lợm dấu vết, vậtchứng và những tin tức, tài liệu nhằm củng cố làm chứng cứ pháp lý mà cònthể hiện việc kịp thời rút ra những thông tin cần thiết từ sự phản ảnh vật chất

để phục vụ cho công tác điều tra tiếp theo

Theo quy định tại Điều 150 Bộ luật TTHS thì Điều tra viên tiến h nhà Toà án phkhám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện dấu vết củatội phạm, vật chứng v l m sáng tà Toà án ph à Toà án ph ỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án.Khám nghiệm hiện trường có thể tiến h nh trà Toà án ph ước khi khởi tố vụ án hình sự.Trong mọi trường hợp, trước khi tiến h nh khám nghià Toà án ph ệm, Điều tra viên phảithông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết Kiểm sát viên phải có mặt đểkiểm sát việc khám nghiệm hiện trường Khi khám nghiệm, phải có ngườichứng kiến; có thể để cho bị can, người bị hại, người l m chà Toà án ph ứng v mà Toà án ph ời nhà Toà án phchuyên môn tham dự việc khám nghiệm Khi khám nghiệm hiện trường, Điềutra viên tiến h nh chà Toà án ph ụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng môhình, thu lượm v xem xét tà Toà án ph ại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, t i lià Toà án ph ệu cóliên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả xem xét v o biên bà Toà án ph ản khám nghiệm hiện

trường Trong trường hợp không thể xem xét ngay được thì đồ vật v t i lià Toà án ph à Toà án ph ệu

Trang 40

thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơitiến h nh à Toà án ph điều tra.

Đối với các vụ án hình sự cố ý gây thơng tích dẫn đến hậu quả chếtngời thì thờng là sau khi nạn nhân đợc đa đi cấp cứu do vết thơng quá nặngdẫn đến tử vong, nhng cũng có trờng hợp mấy ngày sau hoặc có thể hàngtháng sau nạn nhân mới bị tử vong Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủquan khác nhau nên hiện trờng thờng hay bị xáo trộn Do đó, hoạt động kiểmsát điều tra tại hiện trờng đòi hỏi phải tỷ mỷ, thận trọng và khách quan

Ngay sau khi tiếp nhận tin báo tội phạm cố ý gây thơng tích, Việnkiểm sát có trách nhiệm phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc điềutra tại hiện trờng Trớc khi khám nghiệm hiện trờng, Kiểm sát viên phải yêucầu Cơ quan CSĐT thông báo sự việc xảy ra để tham gia ý kiến vào việcchuẩn bị khám nghiệm và chủ động trong việc kiểm sát khám nghiệm Khikhám nghiệm hiện trờng, Kiểm sát viên phải chú ý nội dung và biện phápkhám nghiệm của Điều tra viên; Việc khám nghiệm hiện trờng phải đợc lậpbiên bản và thực hiện theo đúng quy định tại Điều 95, 125, 150 Bộ luật TTHS.Trên cơ sở kết quả khám nghiệm hiện trờng, nếu xác định có dấu hiệu tộiphạm mà Cơ quan CSĐT không khởi tố vụ án để điều tra, thì Kiểm sát viênphải báo cáo đề xuất lãnh đạo cấp mình để xem xét quyết định

Trong mọi trờng hợp khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên phải kiểm sátchặt chẽ việc khám nghiệm và phải có ý kiến về việc thu thập tài liệu chứng cứ

để làm rõ nguyên nhân chết, nhất là đối với tử thi cha rõ tung tích Việc khámnghiệm tử thi phải có bác sĩ pháp y tham gia, phải có ngời chứng kiến và đợclập thành biên bản, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiệntheo quy định tại các Điều 95, 125 và Điều 151 Bộ luật TTHS

Trờng hợp cần phải khai quật tử thi thì Kiểm sát viên phải kiểm tra về

sự cần thiết và nội dung quyết định khai quật tử thi của Cơ quan điều tra trớc

Ngày đăng: 26/07/2023, 16:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13 - Dơng Thanh Biểu, Nguyễn Mạnh Hiền và đồng nghiệp: Thực trạng và giải pháp tăng cờng công tác kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy . Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Viện kiểm sát nhân dân Tối cao. Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp tăng cờng công tác kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy
Tác giả: Dơng Thanh Biểu, Nguyễn Mạnh Hiền, đồng nghiệp
Nhà XB: Viện kiểm sát nhân dân Tối cao
Năm: 1996
16 - Giáo trình Khoa học điều tra hình sự - Nguyễn Huy Thuật - Trờng đại học Cảnh sát nhân dân, 4 tập, Hà Nội 1993-1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Khoa học điều tra hình sự
Tác giả: Nguyễn Huy Thuật
Nhà XB: Trờng đại học Cảnh sát nhân dân
Năm: 1993-1996
18 - Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980 và 1992 - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành - Năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980 và 1992
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trịquốc gia phát hành - Năm 2003
Năm: 2003
28 - Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án an ninh, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao: Rút kinh nghiệm trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra- kiểm sát xét xử sơ thẩm án ma tuý. Báo cáo chuyên đề, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rút kinh nghiệm trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra- kiểm sát xét xử sơ thẩm án ma tuý
Nhà XB: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2004
32 - Tác giả Nguyễn Hồng Vinh và đồng nghiệp: Vị trí, vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong công tác phòng ngừa tội phạm. Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ - Trờng Cao đẳng Kiểm sát - Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí, vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân trong công tác phòng ngừa tội phạm
Tác giả: Nguyễn Hồng Vinh
Nhà XB: Trường Cao đẳng Kiểm sát
Năm: 2003
17 - Giáo trình Tội phạm học do đã đợc hội đồng nghiệm thu khoa học Học viện Cảnh sát nhân dân - Bộ công an thông qua năm 2002 Khác
29 - Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự do Viện trởng Viện KSND tối cao ban hành kèm theo quyết định số 120/2004/QĐ-VTC ngày 14/9/2004 Khác
30 - Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự do Viện trởng Viện KSND tối cao ban hành kèm theo quyết định số 121/2004/QĐ-VTC ngày 14/9/2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w