Xét về sâu xa thì có một nguyên nhân cơ bản là các bậc cha mẹ thiếu kiến thứctrong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt là học sinh lứa tuổi THCS Hiện nay, các gia đình ở thành p
Trang 1Phần mở đầu
I Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong khoá họp lần thứ 45, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua
Quyết định số 45/133 lấy năm 1994 là năm Quốc tế về Gia đình với chủ đề “Gia
đình các nguồn lực, các trách nhiệm trong thế giới đang biến động” T tởng chủ
đạo năm Quốc tế gia đình là sự thay đổi của thế giới phải tạo nên sự tiến bộ vàtăng cờng phúc lợi cho cá nhân và gia đình, nhấn mạnh đến việc đảm bảo cácquyền cơ bản của con ngời, đặc biệt chú ý đến quyền của phụ nữ và trẻ em, kêugọi các chính phủ, các tổ chức xã hội quan tâm giúp đỡ các gia đình làm tròntrách nhiệm đối với các thành viên và là hạt nhân của sự phát triển tiến bộ củacộng đồng, dân tộc, quốc gia
Việt Nam là một nớc nông nghiệp ở phơng Đông Xã hội Việt Nam vớinền sản xuất lúa nớc, đã lấy gia đình làm đơn vị gốc Đối với ngời Việt Nam từ
xa đến nay gia đình có một ý nghĩa hết sức quan trọng Tình cảm tâm lý con
ng-ời Việt Nam gắn bó sâu đậm và bền chặt, không chỉ với gia đình họ mà cả vớilàng xóm, cộng đồng
1.1 Gia đình là cái nôi truyền thụ văn hoá gia đình, văn hoá cho các thànhviên chung sống dới một mái nhà Gia đình đặt nền móng đầu tiên cho sự hìnhthành nhân cách con trẻ và có ảnh hởng lâu dài trong suốt cuộc đời của mỗi cánhân
Gia đình là nhân tố đặc biệt quan trọng, có tác động và ảnh hởng lớn đến sự hìnhthành nhân cách và khả năng phát triển trí tuệ của trẻ em Gia đình là một tế bào của xã hội,
là một môi trờng của thiết chế giáo dục Vai trò giáo dục của gia đình không ai phủ nhận
đ-ợc, tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cha mẹ cha ý thức đợc đầy đủ và sâu sắc trách nhiệm,vai trò của mình, cha có đầy đủ kiến thức trong việc giáo dục đạo đức cho con cái, đặc biệtvới lứa tuổi Trung học cơ sở
1.2 Những năm gần đây trẻ em vi phạm pháp luật ngày càng tăng, tính chất tộiphạm ngày càng nghiêm trọng, trở thành vấn đề quan tâm, bức xúc, lo lắng của các bậc ông,
bà, cha, mẹ và của toàn xã hội Trong 4 năm từ 1997 đến 2000 số trẻ em cha thành niênphạm tội hàng năm vẫn còn chiếm tỷ lệ cao Các tội có hành vi vi phạm quyền sở hữu côngdân năm 1997 chiếm 6,6%, năm 1998 chiến 7,9% và năm 1999 là 12%; Các tội về ma tuýnăm 1997 là 2,43%, năm 1999 là 2,39%; Các tội vi phạm an toàn trật tự công cộng và trật tựquản lý hành chính từ 3,24% năm 1997, 3,0% năm 1998 tăng lên 4,42% năm 1999 [24, tr83] Năm 1999 toàn quốc có 14.346 trẻ em vi phạm pháp luật [25,tr.91] năm 2000 có
Trang 211.538 em, trong đó nam chiếm 97,57% [26, tr93] Tổng số các bị cáo là vị thành niênphạm tội bị xét xử vẫn cha giảm: Năm 1998 là 4.082 em, năm 1999 là 4.212 em, năm 2000
là 3.497 em [27, tr.96]
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, nhng chắc chắn có lý do từ việc gia
đình lơ là giáo dục trẻ em, xem nhẹ việc hàng ngày uốn nắn, điều chỉnh các hành vi sai lệch
ở các em Xét về sâu xa thì có một nguyên nhân cơ bản là các bậc cha mẹ thiếu kiến thứctrong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, đặc biệt là học sinh lứa tuổi THCS
Hiện nay, các gia đình ở thành phố sinh sống trong điều kiện môi trờng cócác quan hệ giao lu kinh tế, văn hoá - xã hội cao, phức tạp và luôn có những biến
động mới Trớc tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trờng và xu thế toàn cầu hoá,nhiều giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp đang bị mai một trong một bộ phậncác gia đình Việt Nam sinh sống ở các thành phố Các quan hệ gia đình vốn dĩtốt đẹp, đang bị lấn át bởi những quan hệ hàng hoá, thị trờng, lợi nhuận, hoặc lốisống thực dụng, cá nhân vị kỷ Vị trí, vai trò của gia đình trong việc giáo dục trẻ
em, đặc biệt là trẻ em h trở nên rất quan trọng, bởi số lợng trẻ em h ở thành phốngày càng gia tăng, mức độ h hỏng cũng nghiêm trọng hơn, tính chất h hỏngcũng biến đổi mau hơn Mặt khác, hiện nay quan niệm của các gia đình về trẻ
em h cũng có nhiều cách hiểu khác nhau
1.3 Ngày 05/8/2002, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá XI đã có nghị quyết phêchuẩn đề nghị của Thủ tớng Chính phủ về cơ cấu tổ chức Chính phủ, trong đó có việc thànhlập Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trên cơ sở hợp nhất Uỷ ban Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ
em Việt nam và Uỷ ban Quốc gia Dân số và kế hoạch hoá gia đình
Ngày 11/11/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2002/NĐ-CP về quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của UB DS GĐ&TE, trong đó tại điều 1
có quy định vị trí chức năng nh sau: “Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em là cơ quan ngang
bộ của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về dân số, gia đình và trẻ em; quản
lý nhà nớc các dịch vụ công thuộc lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ em” Trên thực tế việcquản lý nhà nớc về Dân số và trẻ em là lĩnh vực mà hai Uỷ ban trớc đây đã làm, còn quản lýnhà nớc về gia đình là quản lý nội dung gì? quản lý thế nào? đây là lĩnh vực rất mới đangcần phải nghiên cứu để làm rõ Làm thế nào để nâng cao kiến thức của CMHS về giáo dụcgia đình cũng là một lĩnh vực rất mới, đang cần phải nghiên cứu đề xuất
1.4 Trớc đây đã có các biện pháp tổ chức nhằm nâng cao kiến thức chocác bậc phụ huynh trong công tác giáo dục đạo đức học sinh Trung học cơ sở vàcác biện pháp tổ chức này đã có hiệu quả nhất định, tuy nhiên trong xu thế mở
Trang 3cửa hội nhập với quốc tế và phát triển kinh tế trong nớc theo cơ chế kinh tế thịtrờng, cần phải nghiên cứu đề xuất các biện pháp tổ chức mới phù hợp thì kếtquả giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học cơ sở sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
Lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao kiến thức giáo dục đạo đức học sinh Trung học cơ sở cho cha mẹ học sinh tại thành phố Hà Nội” nhằm góp phần vào việc nâng cao vị trí, vai trò của gia đình
trong sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục (BVCS&GD) trẻ em của nớc ta, nh
nội dung của Chỉ thị 55/CT-TW ngày 28/6/2001 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ : “Để
đảm bảo cho thế hệ trẻ Việt Nam đợc phát triển toàn diện, giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu đợc những tinh hoa của thế giới, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc; chủ động phòng ngừa, khắc phục những tác động tiêu cực mới đối với trẻ em trong bối cảnh hiện nay” [10].
2 Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu thực trạng việc quản lý bồi dỡng kiến thức và thực trạng kiến thức giáo dục đạo đức học sinh Trung học cơ sở của CMHS tại thành phố Hà Nội; Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao kiến thức giáo dục đạo đức học sinh THCS cho CMHS tại thành phố Hà Nội
3 Đối tợng nghiên cứu và Khách thể:
3.1 Đối tợng: Các biện pháp tổ chức nâng cao kiến thức giáo dục đạo đức học sinh Trung
học cơ sở cho cha mẹ học sinh THCS ở thành phố.
3.2 Khách thể:
- Phụ huynh học sinh bậc Trung học cơ sở;
- Học sinh Trung học cơ sở đang học trong các trờng;
- Cán bộ xã, phờng nơi học sinh c trú
4 Phạm vi nghiên cứu; Địa bàn nghiên cứu:
- Đề tài nghiên cứu chỉ thực hiện trong phạm vi tìm hiểu thực trạng kiến thức về giáo dục con cái của các gia đình thành phố; thực trạng các biện pháp
đã tiến hành nhằm nâng cao kiến thức cho cha mẹ học sinh ở thành phố trong giáo dục đạo đức học sinh Trung học cơ sở.
- Địa bàn nghiên cứu là thành phố Hà Nội Cụ thể tại một phờng của một quận trong thành phố Đối tợng khảo sát là phụ huynh học sinh; học sinh Trung học cơ sở ở thành phố Hà Nội; Cán bộ xã phờng nơi học sinh c trú.
5 Giả thuyết nghiên cứu:
Trang 4Kiến thức của các bậc cha mẹ về giáo dục đạo đức học sinh, đặc biệt làhọc sinh bậc trung học cơ sở còn rất yếu, dẫn đến hiệu quả giáo dục đạo đứccho trẻ em trong các gia đình thành phố những năm gần đây bị giảm sút
Nếu nh có các biện pháp quản lý phù hợp nâng cao kiến thức và sự hiểu biết cho cha
mẹ học sinh trong giáo dục đạo đức cho con cái thì hiệu quả của công tác giáo dục đạo đứccho học sinh Trung học cơ sở sẽ đạt hiệu quả cao hơn
6 Nhiệm vụ nghiên cứu:
6.1 Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc giáo dục đạo
đức cho học sinh nói chung và học sinh Trung học cơ sở nói riêng Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về vai trò của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em Vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em Làm rõ một số khái niệm cơ bản: quản lý, biện pháp quản lý, đạo đức, giáo dục, giáo dục đạo đức, gia đình
6.2 Phân tích đánh giá thực trạng kiến thức và những hiểu biết về giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học cơ sở hiện nay của cha mẹ học sinh Phân tích đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý đã tiến hành ở xã phờng trong việc nâng cao kiến thức cho cha mẹ học sinh
6.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao kiến thức giáo dục
đạo đức học sinh Trung học cơ sở cho cha mẹ học sinh ở thành phố.
7 Phơng pháp nghiên cứu:
- Phơng pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập và xử lý các t liệu có sẵn, các
số liệu, các kết quả nghiên cứu về gia đình và trẻ em đã đợc nghiệm thu, công bốtrên sách, báo, tạp chí khoa học Tham khảo và sử dụng một số số liệu báo cáothống kê, khảo sát của các cơ quan nhà nớc quản lý về công tác bảo vệ và chămsóc trẻ em; sử dụng một số kết quả nghiên cứu khoa học của một số đề tài liênquan đến gia đình và trẻ em mà tác giả tham gia trong thời gian qua
- Phơng pháp khảo sát thực tiễn: quan sát, tham dự, điều tra bằng bảng
hỏi, phỏng vấn sâu
- Phơng pháp xử lý thông tin số liệu: gồm phơng pháp thống kê xã hội
học, xử lý phần mềm SPSS 10.0
- Phơng pháp chuyên gia: Trao đổi, lấy ý kiến đóng góp.
8 Đóng góp mới của đề tài:
Trang 5Phát hiện những thiếu hụt về kiến thức giáo dục đạo đức học sinh Trunghọc cơ sở của cha mẹ học sinh.
Đề ra một số biện pháp quản lý có tính khả thi nhằm nâng cao kiến thứccho cha mẹ học sinh ở thành phố trong công tác giáo dục đạo đức học sinh
Trung học cơ sở.
8 Cấu trúc của luận văn:
Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu; Nội dung; Kiến nghị và kết luận
Mở đầu: Đề cập các vấn đề chung của đề tài
Nội dung: Gồm 3 chơng:
Chơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tại nghiên cứu.
Chơng II: Thực trạng kiến thức giáo dục đạo đức học sinh THCS của
CMHS tại thành phố Hà Nội
Chơng III: Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao kiến thức giáo dục
đạo đức học sinh trung học cơ sở cho cha mẹ học sinh tại thành phố Hà Nội.
Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trang 6Gia đình luôn là đối tợng có sức hấp dẫn đối với các đề tài nghiên cứu vềcon ngời và các mối quan hệ xã hội của họ Đã có khá nhiều đề tài nghiên cứukhoa học về gia đình ở trong nớc đợc công bố Tuy nhiên, vấn đề gia đình, cũng
nh các khía cạnh liên quan đến gia đình ví nh một đại dơng bao la, vừa gần gũivới chúng ta, vừa bí ẩn không cùng Nhiều khía cạnh của gia đình đã đợc các nhànghiên cứu tìm tòi phát hiện và công bố trên các ấn phẩm chuyên ngành khácnhau, có thể giới thiệu một số công trình sau đây:
Công trình nghiên cứu: “Gia đình và giáo dục gia đình” của Trần Đình ợu; “Vai trò của gia tộc trong sự phát triển văn hoá dân tộc” của Nguyễn Đình Chú; “Tam giác gia đình” của Hồ Ngọc Đại; “Chữ hiếu trong giáo dục gia đình”
H-của Phan Đại Doãn, những công trình nghiên cứu này mang nhiều dấu ấn H-củaphơng pháp tổng hợp liên ngành
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu về gia đình, tiếp cận từ cácgóc độ nghiên cứu khác nhau nh:
Tiếp cận từ góc độ Giáo dục học, Tâm lý học có: “Phơng pháp giáo dục
trẻ em h “ của Phạm Côn Sơn-Tô Quốc Tuấn (1997); “Tâm lý gia đình” của
Nguyễn Khắc Viện (1994)
Tiếp cận từ góc độ Xã hội học, Tâm lý học có: “Gia đình và ngời phụ nữ” của Lê Minh (2000); Công trình nghiên cứu “Gia đình Việt Nam với chức năng
xã hội hoá” của Lê Ngọc Văn (1996) đề cập đến vấn đề gia đình Việt Nam
truyền thống với chức năng xã hội hoá, biến đổi chức năng xã hội hoá của gia
đình, những thách thức và giải pháp cho gia đình Việt Nam trong chức năng xãhội hoá
Một số đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến gia đình và trẻ em nh:
Đề tài khoa học mã số KX 07- 09 “Vai trò của gia đình trong sự hình
thành và phát triển nhân cách con ngời Việt Nam” thuộc chơng trình khoa học
công nghệ nhà nớc “Con ngời Việt Nam: mục tiêu và động lực phát triển kinh xã hội” do Lê Thi làm chủ nhiệm (1997) đã đợc tiến hành nghiên cứu từ 1992
tế-đến 1995 Nội dung của công trình nghiên cứu này đề cập tế-đến con ngời và vấn
đề xã hội hoá; vai trò của gia đình và sự hình thành nhân cách trẻ em; sự pháttriển của gia đình Việt Nam và chức năng giáo dục con ngời qua các giai đoạnlịch sử và nhất là trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nớc: “Vị trí, vai trò của gia đình và
cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” đợc Uỷ ban
Trang 7Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam thực hiện trong 2 năm 1999-2000, do PhạmTất Dong làm chủ nhiệm, đã nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau trong cácvấn đề về gia đình, công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình
và cộng đồng Trong đó đề cập đến vị trí, vai trò của gia đình trong việc chămsóc học tập của con cái, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (trẻ em h, trẻ
em làm trái pháp luật) và việc giáo dục văn hoá truyền thống cho trẻ em tronggia đình
Đề tài khoa học mã số 5.01.09 chuyên ngành xã hội học “Vai trò của gia
đình đối với việc giáo dục trẻ em h ở thành phố” của Nguyễn Đức Mạnh (2002)
đã đánh giá thực trạng, nguyên nhân trẻ em h trong các gia đình ở thành phố HàNội, đề cập đến giải pháp nâng cao vai trò của gia đình trong việc giáo dục trẻ
em h ở thành phố
Nhìn chung các công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học và các bài viết
về gia đình Việt Nam đã phản ánh cơ bản và toàn diện về gia đình Việt Nam từtruyền thống đến hiện đại, nhiều nghiên cứu đẫ đề xuất các kiến nghị rất có giátrị trong việc tham khảo để xây dựng các chính sách xã hội và gia đình, đặc biệttrong điều kiện hiện nay, khi đất nớc đang bớc vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá
Mặc dù số lợng các công trình nghiên cứu về gia đình khá nhiều, song đềtài đi sâu nghiên cứu về biện pháp quản lý nâng cao kiến thức giáo dục đạo đứchọc sinh cho cha mẹ còn rất mỏng, ít đợc chú ý nghiên cứu
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta về vai trò của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em.
ở nớc ta quan điểm đúng đắn về gia đình đã đợc khẳng định trong Cơng
lĩnh xây dựng đất nớc tiến lên Chủ nghĩa xã hội, thông qua ở Đại hội Đảng lần
thứ VII (tháng 7/1991): “Gia đình là tế bào xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dỡng
cả đời ngời, là môi trờng quan trọng giáo dục nếp sống, và hình thành nhân cách Các chính sách của nhà nớc phải chú ý tới xây dựng gia đình ấm no, hoà thuận, tiến bộ Nâng cao ý thức và nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp ng òi” [58,
tr.5]
1.2.1 Công tác BVCS&GDTE ở nớc ta đợc Đảng, Nhà nớc Việt Nam coi
là một sự nghiệp lớn của đất nớc, của dân tộc Chính vì vậy Đảng và Nhà nớcViệt Nam cho rằng, việc coi trọng hàng đầu đối với sự nghiệp BVCS & GDTE
Trang 8không chỉ là thể hiện tình cảm đạo đức, đạo lý của dân tộc đối với thế hệ đanglớn lên, mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn xã hội, của tất cả các tổ chứcchính trị - xã hội, đoàn thể, gia đình và mỗi cá nhân Đại hội Đảng Cộng sản
Việt Nam toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định: “Chăm lo giáo dục, rèn luyện
thế hệ trẻ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nớc, các tổ chức trong hệ thống chính trị, của gia đình, nhà trờng và toàn xã hội” [66, tr.125]
Báo cáo Chính trị trình Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) có ghi:
“Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo
điều kiện cho trẻ em đợc sống trong môi trờng an toàn và lành mạnh, phát triển hài hoà vể thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức” [3].
1.2.2 Sự nghiệp BVCS & GDTE luôn đợc coi là nhiệm vụ có ý nghĩachiến lợc, vì vậy Đảng và Nhà nớc Việt Nam đặc biệt chú trọng đến việc thể chếhoá các quan điểm cơ bản của mình bằng các văn bản pháp luật và dới luật đểnhững chủ trơng, chính sách BVCS & GDTE nhanh chóng đi vào đời sống xãhội Nhiều luật quan trọng có liên quan trực tiếp đến trẻ em đã đợc Quốc hội nớcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nh: Luật Hôn nhân và gia đình(1959, sửa đổi 1986, sửa đổi 2000), Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em(12/8/1991), Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (12/8/1991), Luật Lao động(23/6/1994)
Điều 64 và 65 Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “Gia đình là tế bào của xã
hội” và “Trẻ em đợc gia đình, nhà nớc và xã hội bảo vệ chăm sóc và giáo dục”
Luật pháp còn quy định: “Việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách
nhiệm của gia đình, nhà trờng, cơ quan nhà nớc, tổ chức xã hội và công dân”
(Điều 3, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em ban hành 16/8/1991), “Cơ
quan nhà nớc, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và gia đình, công dân có trách nhiệm tham gia vào việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học” (Điều 7, Luật Phổ
cập giáo dục tiểu học ban hành 16/8/1991)
Chính phủ nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê chuẩn Công ớcquốc tế về quyền trẻ em và xây dựng các chơng trình Hành động quốc gia vì trẻ
em 1991-2000, 2001-2010, ban hành hàng chục văn bản dới luật hớng dẫn thihành Tất cả các luật (và văn bản dới luật) đều đợc soạn thảo phù hợp với Công -
ớc quốc tế về quyền trẻ em
Trang 9Ngày 23/11/1998, Thủ tớng Chính phủ nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam đã ra Chỉ thị số 06/-CT/TTg về việc tăng cờng công tác bảo vệ trẻ em,ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị lạm dụng sức lao
động Ngày 31/5/1999 Thủ tớng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg về việc phê chuẩn chơng trình hành động bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặcbiệt giai đoạn 1999-2002 Ngày 28 tháng 6 năm 2000 Bộ Chính trị Ban Chấphành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị số 55-CT/TW “về việctăng cờng sự lãnh đạo của các cấp Uỷ Đảng cơ sở đối với công tác Bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em” trong đó yêu cầu:
134-QĐ-“Đề cao vai trò và trách nhiệm của gia đình, giúp đỡ và tạo điều kiện cần
thiết để các gia đình thực hiện trách nhiệm đối với thế hệ trẻ, tạo môi trờng lành mạnh cho sự phát triển của trẻ em Tôn trọng và bảo đảm cho trẻ em đợc thực hiện các quyền và bổn phận trớc gia đình và xã hội” [43].
1.3 Vai trò của giáo dục gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em
Hồ Chủ tịch đã nói: “Giáo dục trong nhà trờng chỉ là một phần, còn cần có sự giáo
dục ngoài xã hội và trong gia đình, để giúp cho việc giáo dục trong nhà trờng tốt hơn Giáo dục nhà trờng dù tốt đến mấy, nhng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” (Hồ Chí Minh: Bài nói tại Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành
giáo dục tháng 6 năm 1957)
Khi nói đến vấn đề gia đình, chúng ta thờng chỉ nghĩ đến vai trò của nó đối với trẻ
em Thực tế giáo dục gia đình có ảnh hởng lâu dài, toàn diện đối với sự tồn tại, phát triển củamỗi cá nhân trong suốt cuộc đời của nó Giáo dục gia đình đặt cơ sở hết sức quan trọng cho
sự hình thành nhân cách gốc của trẻ em, thúc đẩy sự phát triển nhân cách ở tuổi vị thànhniên, củng cố giữ gìn nhân cách con ngời ở tuổi trởng thành và khi về già Giáo dục gia đìnhvì vậy là thờng xuyên, suốt đời và có hệ thống
Giáo dục gia đình có những đặc điểm u thế so với giáo dục của xã hội vànhà trờng Trớc hết vì nó xuất phát từ tình cảm và thông qua tình cảm, có khikhông cần lời nói mà qua thái độ, việc làm, cách đối xử trong gia đình v.v Giáodục gia đình mang tính cá biệt và cụ thể, chú ý đến những nét cá biệt của từng
đứa trẻ Nó linh hoạt theo sự phát triển của trẻ em, theo sự thay đổi cuộc sốngcủa gia đình và xã hội Bởi vậy, giáo dục gia đình có tính thực tiễn, qua thực tế,bằng cuộc sống thực tế để giáo dục và rất chú trọng đến kết quả thực tế của việc
Trang 10giáo dục Chỗ mạnh của gia đình là kinh nghiệm xã hội, kiến thức đa dạng về
đời sống, nó là một tập thể không thuần nhất, khác nhau về giới tính, nghềnghiệp, tuổi tác, tính tình, bao gồm cha mẹ, anh em, ông bà, do đó việc giáo dụcmang tính phối hợp nhiều mặt về kiến thức, và các mối quan hệ xã hội Phơngpháp giáo dục của gia đình là thuyết phục, giảng giải
Nói chung, cha mẹ là những ngời thầy dạy không tiếc công sức, thời gian
để hớng dẫn con cái, nhng đáng tiếc có nhiều trờng hợp họ lại bị thiếu nhữngkiến thức cần thiết
Mục tiêu giáo dục của gia đình hiện nay là đào tạo con ngời đa dạng,không chỉ theo một mẫu duy nhất là ngời công nhân viên chức Nhà nớc Xã hội
đang đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự khẳng định mình bằng năng lực trí tuệ và phẩmchất đạo đức của bản thân, không dựa vào một quyền thế nào Xã hội đang yêucầu gia đình cung cấp những nhà khoa học, kỹ thuật viên, chuyên gia có tàinăng, những nhà kinh doanh tháo vát, những nhà quản lý và những ngời lao độnggiỏi, những chính trị gia linh hoạt biết nhìn xa trông rộng, những ngời sáng tácvăn học nghệ thuật u tú
Gia đình cần chú trọng đào tạo những con ngời có kiến thức đa dạng vàchuyên môn sâu, biết chăm lo lợi ích của gia đình và bản thân, đồng thời biết tôntrọng lợi ích của cộng đồng, tuân theo pháp luật và chuẩn mực xã hội Hai mụctiêu không thể tách rời trong giáo dục gia đình là trang bị cho trẻ những kiếnthức cần thiết, những kinh nghiệm sống để sau này chúng có thể đảm nhận cácvai trò xã hội đợc giao phó Đồng thời cần chú ý đến việc vun trồng, nuôi dỡng ởtrẻ những tình cảm nhân hậu, hớng về cái thiện, tình thơng yêu gia đình, sự nh-ờng nhịn và hy sinh cho ngời mình yêu quý, sự đồng cảm với những nỗi đau khổ
và thiếu thốn của đồng loại
Một điều đáng chú ý là có sự giảm sút vai trò của giáo dục gia đình, giảm sút tráchnhiệm của cha mẹ đối với việc giáo dục con cái Nhiều gia đình mải lo công việc làm ănkinh doanh, họ có quá ít thời gian và cũng không coi trọng dành thời gian giáo dục con cái,hớng dẫn kiểm tra việc học tập, giao lu bạn bè của chúng, uốn nắn cách ứng xử xã hội v.v
Họ phó mặc việc giáo dục cho hệ thống nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà trờng cùng các đoàn thểxã hội với ý nghĩ đơn giản chỉ cần cung cấp cho con cơm no, áo đẹp, có tiền đi giải trí v.v
ở một số gia đình, chính sự thiếu gơng mẫu của cha mẹ trong cách làm ănsinh sống, ứng xử xã hội đã tác động tiêu cực đến con cái Mâu thuẫn trong quan
Trang 11hệ tình cảm giữa bố, mẹ, ông bà, anh em trong gia đình cũng là nguyên nhân dẫntrẻ đến chỗ chán nản, thất vọng và h hỏng.
Xã hội Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới Văn hoá gia đình cũng
đang chuyển đổi từ văn hoá truyền thống sang văn hoá hiện đại ở đây đang có
sự lúng túng, những hẫng hụt, những ý kiến khác nhau về nội dung và phơngpháp giáo dục con cái Gia đình trớc đây trong việc giáo dục con cái nêu caoquyền uy của cha mẹ và sự phục tùng của con cái Ngày nay ngời ta nhấn mạnh
đến tình cảm, sự bình đẳng dân chủ trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái Nhiềugia đình do quá nuông chiều con cái đã bị thất vọng khi thấy chúng trở nên hỗnláo, h hỏng Không ít ông bố, bà mẹ sử dụng quyền uy, bạo lực đã bị thất bạitrong cách giáo dục con cái Vì vậy, cần xây dựng những quan niệm đúng đắn,linh hoạt, phơng pháp giáo dục từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại
Sự cần thiết có một nghệ thuật kết hợp đúng đắn giữa quyền uy và tình thơng, sựrộng lợng, khoan dung và bình đẳng trong giáo dục gia đình - đặc biệt cần gìngiữ những mặt tốt đẹp của giáo dục truyền thống mà ông bà chúng ta đã sànglọc, lựa chọn, kết hợp với sự tiếp nhận các giá trị mới
Nếu việc tái sản xuất ra con ngời là một chức năng cơ bản của gia đình thìviệc nuôi dỡng con cái, giáo dục cho chúng thành ngời là công việc hàng đầu củagia đình Nó thật sự là nhu cầu tình cảm của bố mẹ, là trách nhiệm của họ đốivới xã hội, đồng thời là niềm hạnh phúc lớn lao của mỗi gia đình
Rõ ràng là cộng đồng xã hội, Nhà nớc và các tổ chức quần chúng có tráchnhiệm giúp đỡ cho gia đình làm tốt vai trò, chức năng của nó trong giai đoạnhiện nay, đặc biệt trong việc giáo dục con cái Việc nghiên cứu khoa học về gia
đình cũng đòi hỏi các nhà khoa học đa ra những kiến nghị cụ thể với Nhà nớc,với cộng đồng xã hội, những vấn đề có liên quan đến chính sách đối với gia đình
1.4 Những thách thức do đặc điểm của lứa tuổi đang lớn trong giai đoạn hiện nay:
1.4.1 Trẻ ở lứa tuổi THCS có những đặc trng tâm lý nổi bật là nhu cầu tựkhẳng định mình Sự tự khẳng định cái tôi, muốn đợc tôn trọng của trẻ mâuthuẫn với quyền uy của bố mẹ Các em muốn thoát khỏi sự ràng buộc của cha
mẹ, tính độc lập tăng, trong khi cha mẹ vẫn coi các em là trẻ con, muốn áp đặtnhững yêu cầu, mong muốn của mình Do đó ở các em thờng nảy sinh ý thứcchống đối lại những ý muốn của cha mẹ
Trang 12Mặt khác sự phát triển về mặt xã hội ở các em ở lứa tuổi này lại cha tơngthích với sự phát triển về tâm, sinh lý Các em còn thiếu kinh nghiệm xã hội, khảnăng tự kiềm chế, tự kiểm soát, ứng xử và ra quyết định hợp lý còn yếu Trongkhi đó các em lại dễ bị kích động, hiếu kỳ dễ dẫn đến những hành vi sai lầm.
1.4.2 Giao lu, quan hệ bạn bè trong lứa tuổi này giữ vị trí quan trọng, nó cạnh tranh
và có thể lấn át quan hệ cha mẹ - con trong đời sống tình cảm của các em Nếu cha mẹ biết
đợc đặc điểm này và quan tâm định hớng và giúp các em kiến lập những tình bạn đẹp, cónhững nhóm bạn lành mạnh sẽ giúp các em có những nguồn chất liệu phong phú từ tìnhbạn cho phát triển nhân cách Ngợc lại nếu cha mẹ không quan tâm định hớng cho con đểcon rơi vào những nhóm tự phát không lành mạnh, hoặc cấm đoán con giao du bạn bè đềubất lợi
1.4.3 Cảm xúc giới tính ở lứa tuổi này phát triển mạnh do các em bớc vàotuổi dạy thì, trong khi các em còn thiếu hiểu biết về kinh nghiệm ứng xử đúng,
để tự bảo vệ mình và có quan hệ giới tính lành mạnh
1.4.4 Sự lan tràn của nền văn hoá tiêu dùng và giá trị thị trờng bị biếndạng đang đẩy nhanh thiếu niên vào vòng xoáy vật chất tầm thờng và ngày càng
xa rời những định hớng giá trị niềm tin, hoài bão
1.4.5 Chủ nghĩa các nhân và tự do cá nhân đang đợc các em đề cao tronglối sống của mình
1.5 Một số đặc điểm và yếu tố ảnh hởng đến vị trí, vai trò của gia
đình thành phố trong việc giáo dục trẻ em.
Một số đặc điểm và yếu tố tác động đến gia đình thành phố hiện nay.Trong sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trờng, xãhội Việt Nam từng ngày đã và đang diễn ra những thay đổi rất rộng lớn Bêncạnh những cái mới, tốt đẹp do kết quả của đờng lối “đổi mới” của Đảng và Nhànớc mang lại, các thành phố Việt Nam hiện nay, cũng còn tồn tại nhiều điểm rất
Trang 13Các gia đình ở thành phố Việt Nam, nhìn chung phần lớn đều có nguồn gốc là nôngdân, thợ thủ công và tiểu thơng; có một bộ phận, nguồn gốc xuất thân từ tầng lớp công chức,viên chức trong bộ máy công quyền nhà nớc Do vậy, vẫn mang đậm bản sắc nguồn gốctruyền thống của gia đình Việt Nam :
“Hệ thống giá trị chuẩn mực xã hội đô thị về cơ bản không khác biệt
nhiều lắm với các giá trị chuẩn ở nông thôn Các quan hệ thân tộc, họ hàng, các phong tục tập quán, tín ngỡng tâm linh vẫn hoạt động nh môi trờng nông thôn”
[34, tr.126]
Ngoài một số đặc trng c trú và lối sống đô thị thì gia đình thành phố vềcăn bản không khác biệt so với các gia đình nông thôn trên vị trí là một tế bàocủa xã hội Nó là đơn vị sản xuất kinh tế, là đơn vi tiêu dùng mà còn là một đơn
vị tái sản xuất ra con ngời không chỉ về mặt thể chất mà cả về tinh thần, nghĩa làgia đình tham gia vào quá trình xã hội hoá con ngời Chức năng xã hội hoá conngời ở gia đình thành phố - đô thị cũng giống nh ở gia đình ở nông thôn
Tuy nhiên, do điều kiện sống, lối sống và sự bùng nổ thông tin, nên cácgia đình ở thành phố có một số đặc điểm và yếu tố ảnh hởng sau:
Thứ nhất: các gia đình ở thành phố mang đặc trng văn hoá chung của dân
c đô thị Việt Nam mà trong đó “có sự đan xen hoà trộn giữa văn hoá nông thôn
làng xã và văn hoá công nghiệp, thơng nghiệp, dịch vụ Sự đan xen, pha trộn này thể hiện tính không đồng nhất của văn hoá đô thị Thành phần dân c nông thôn, nông nghiệp và các sinh hoạt văn hoá làng, xã vẫn tồn tại ngay cả trong nội đô”
[35, tr 121].
Thứ hai: Gia đình sống ở thành phố tồn tại trong một cộng đồng dân c pha tạp, cónguồn gốc khác nhau; quan hệ giữa các gia đình không chặt chẽ nh cộng đồng làng, xã Gia
đình ở thành phố có nhiều cơ hội trong giao tiếp, thông tin, tìm nghề, phát triển nghề nghiệp
và thực hiện những khả năng sáng tạo, song cũng luôn phải đối diện với rất nhiều vấn đềphức tạp của đời sống đô thị
Thứ ba; Hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội của các gia đình ở thành phốphức tạp, đa dạng hơn ở các gia đình nông thôn; Quá trình di động xã hội củacác gia đình ở thành phố xảy ra nhiều hơn so với các gia đình ở nông thôn Điều
đó ảnh hởng trực tiếp đến quá trình xã hội hoá giáo dục trẻ em
Trang 14Thứ t: cũng vì lẽ trên, cơ cấu giáo dục ở thành phố có nhiều khác biệt vớinông thôn, những yếu tố truyền thống có xu hớng biến động, các quan hệ gia
đình có phần lỏng lẻo hơn Sự kiểm soát cá nhân bởi gia đình và cộng đồng ítchặt chẽ hơn ở gia đình nông thôn
Thứ năm: Lối sống sinh hoạt đô thị tạo điều kiện cho các gia đình và trẻ
em tiếp xúc với môi trờng xã hội sớm hơn ở các gia đình nông thôn Gia đình vàtrẻ em ở thành phố dễ dàng tiếp cận với hệ thống các loại thông tin, văn hoángoại nhập, lối sống thời trang và các dịch vụ hiện đại
Thứ sáu: xã hội đô thị là môt xã hội phát triển trên cơ sở nền kinh tế thị ờng, do vậy bên cạnh những giá trị của xã hội văn minh, tiến bộ, các yếu tố tiêucực xã hội cũng dễ nảy sinh và phát triển Xã hội càng hiện đại, các tệ nạn xã hộicàng phức tạp, đa dạng, nhiều thủ đoạn tinh vi, sẵn sàng chụp lấy cơ hội để lenlỏi vào trong đời sống của mỗi gia đình, mỗi cá nhân [50, tr 60,61]
tr-Trong hoàn cảnh lối sống đô thị cùng với sự tràn ngập của các dòng thông
tin đã làm cho gia đình ở thành phố với “mô hình văn hoá và cấu trúc xã hội tạo
ra đặc trng đô thị làm cho nó khác biệt rất rõ với mô hình văn hoá của cộng
đồng nông thôn” [16, tr.21] Những đặc điểm của gia đình và trẻ em ở thành phố
trong khung cảnh lối sống đô thị với cơ chế kinh tế thị trờng, khiến cho vai tròcủa gia đình ở thành phố đối với giáo dục trẻ em ngày càng có một vị trí, vai tròrất quan trọng
Trong hoàn cảnh giao lu hội nhập văn hoá thế giới, bất luận xã hội hiện đại đến đâu,thiết chế gia đình vẫn là chiếc nôi hình thành nhân cách, lối sống và đạo đức của trẻ em Cácgia đình ở thành phố vẫn có vị trí vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy những giátrị văn hoá truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; hội nhập, tiếp biến và hình thànhnhững chuẩn mực gia đình mới, phù hợp với xã hội hiện đại, theo kịp bớc tiến văn minh củathời đại
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, trong điều kiện cơ chế kinh tế thị trờng,không chỉ có các gia đình nghèo mải lo kiếm tiền sinh kế, mà ngay cả các gia
đình khá giả cũng ỉ vào đồng tiền để thay thế các quan tâm của mình đối với concái trong việc chăm sóc sức khoẻ, học tập và cả tu dỡng đạo đức nữa
“Trong thời kỳ đầu chuyển sang cơ chế thị trờng nhiều gia đình mải mê
làm kinh tế nên đã sao nhãng việc giáo dục con cái - điều mà trớc đây các gia
đình có thể khoán trắng cho nhà trờng và các tổ chức đoàn thể Nhng thực tế
Trang 15cuộc sống đã cho các bậc cha mẹ dần nhận ra tầm quan trọng của việc giáo dục con trở thành những đứa con hiếu thảo, hữu ích cho đời mới là hạnh phúc đích thực của gia đình ” [ 14, tr.31].
Thực tế cuộc sống đã cho nhiều gia đình thấy đợc những bài học thấm thíakhi buông lỏng việc giáo dục con cái để chạy đua làm ăn kinh tế Do vậy, sau
thời kỳ đầu của đổi mới cơ chế “phần lớn các gia đình đã chủ động hài hoà giữa
làm kinh tế và giáo dục con cái (thấp nhất 50% gia đình làm nghề tự do ở Hà Nội, cao nhất là 70% gia đình tri thức ở Hà Nội và gia đình công nhân viên ở thành phố Hồ Chí Minh)” [ 13, tr.31].
Sang thời kỳ “đổi mới” với cơ chế kinh tế thị trờng và sau những trả giácho các bài học về sự ỉ lại vào nhà nớc và tập thể, các gia đình đã chủ động giảiquyết các vấn đề liên quan đến giáo dục con cái Hiện nay trong những mối quantâm tới đời sống gia đình thì “cha mẹ u tiên trớc hết là phòng ngừa con bị sa vàocác tệ nạn xã hội, sau đó là giáo dục con trở thành ngời tốt, rồi tạo điều kiện chocon học hết khả năng của mình Số gia đình quan tâm u tiên đến đời sống vậtchất chiếm tỷ lệ không cao” [12, tr32]
Trong điều kiện hiện nay những mối quan tâm đó của gia đình thực là chính đáng.Nhng để giải toả những điều trên, gia đình buộc phải thực hiện một số yêu cầu có tínhkhách quan sau:
Chủ động giáo dục con cái coi trọng các giá trị của gia đình.
Gia đình là nhóm xã hội đặc thù Sự ràng buộc giữa các thành viên trongnhóm xã hội đặc thù đó, không chỉ bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống
mà còn bởi thiết chế gia đình Nếu nớc có luật pháp, phép tắc thì nhà cũng có giaphong và gia phong cũng ràng buộc con ngời chặt chẽ chẳng kém gì phép nớc.Gia phong là biểu hiện của các giá trị văn hoá trong gia đình Một gia đình cógia phong là một gia đình có nền giáo dục truyền thống đợc gọi là gia giáo; có sự
ý thức về lễ nghĩa do gia giáo mà đợc gọi là gia lễ; có sự truyền dạy gia lễ củacác thế hệ con cháu vào các dịp thích hợp gọi là gia huấn; có văn bản ghi chéplai lịch, công đức và những lời răn dạy của các thế hệ tiền nhân gọi là gia phả và
có sự gơng mẫu của ông, bà, cha, mẹ trong gia đình [ 55, tr.49-50].
Pháp luật cũng yêu cầu các thành viên trong gia đình phải có trách nhiệm,nghĩa vụ với nhau, mà những yêu cầu đó hoàn toàn phù hợp với những giá trị tốt
đẹp trong gia phong truyền thống Giáo dục các giá trị truyền thống của gia đình
Trang 16chính là củng cố thiết chế gia đình Thiết chế gia đình có duy trì và phát triểntiến bộ thì mời tạo ra môi trờng thuận lợi để ngăn ngừa sự h hỏng ở trẻ em.
Chủ động tìm hiểu các nhu cầu phát triển chính đáng của con cái
Các nhu cầu của trẻ em phần lớn và chủ yếu là các nhu cầu đợc phát triển Trong đó
có các nhu cầu về: sức khoẻ và dinh dỡng; giáo dục - học tập; vui chơi giải trí - văn hoá tinhthần; đợc chăm sóc trong điều kiện yếu thế; đợc bảo vệ các quyền cơ bản trớc pháp luật.Làm thoả mãn các nhu cầu phát triển của trẻ em là thúc đẩy các hoạt động tiến bộ ở các em.Nhu cầu của trẻ em là chung, nhng phơng tiện để thoả mãn và mục đích đặt ra của những
đứa trẻ là khác nhau và do vậy mức độ thoả mãn các nhu cầu đó ở những đứa trẻ cũng khácnhau [31, tr.21-22]
Gia đình chủ động tìm hiểu nhu cầu phát triển của trẻ em không chỉ ápdụng biện pháp thích hợp, đáp ứng thoả mãn các nhu cầu của trẻ em, mà còn
định hớng cho các em phát triển tới các mục đích tích cực, tránh cho trẻ em pháttriển theo hớng tiêu cực, đặc biệt khi trẻ sống trong môi trờng xấu
Chủ động giáo dục con cái phòng ngừa các tệ nạn xã hội
Trong xã hội đô thị, các tệ nạn xã hội đáng lo ngại nhất, dễ xâm nhập, lâynhiễm tới trẻ em h là tệ nạn nghiện ngập ma tuý, trộm cắp, cờ bạc, cớp giật, lừa
đảo, hiếp dâm, mại dâm các băng đảng tội phạm Mọi ngời trong gia đình phảithờng xuyên quan tâm đến con cái; tăng cờng kết hợp nhà trờng và các tổ chức
đoàn thể ở cộng đồng kiểm soát chặt chẽ các diễn biến tiêu cực dễ ảnh hởng đếncon cái; tìm hiểu các kiến thức và hiểu biết về nguyên nhân, biểu hiện, hậu quảcủa các tệ nạn xã hội; cập nhật các thông tin về các cạm bẫy của các tệ nạn xãhội; nắm đợc các đặc điểm tâm, sinh lý về giới tính của con cái, các quan hệ vớibạn bè của con cái để hớng dẫn, uốn nắn, khuyến khích con cái tới các hoạt độnglành mạnh bổ ích, xa lánh các tệ nạn xã hội Bản thân ông bà, bố, mẹ là tấm g -
ơng tích cực tham gia các phong trào phòng chống các tệ nạn xã hội tại cơ sở,
đồng thời lôi cuốn cả sự tham gia của con cái dới nhiều hình thức thích hợp
Chủ động giáo dục con cái biết trân trọng gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống, tiếp biến các giá trị văn hoá tiến bộ của thời đại.
Việc giáo dục trẻ em trân trọng gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thốngkhông chỉ là duy trì những giá trị nhân văn tốt đẹp, thể hiện tình cảm, đạo đức
mà còn định hớng cho sự phát huy, phát triển tiếp theo của các thế hệ mai sau.Trong điều kiện kinh tế thị trờng, khi mà sự suy yếu hàng rào giữa các thế hệlàm tăng khả năng xung đột giữa các thế hệ và làm giảm sút các giá trị truyền
Trang 17thống trong quan hệ gia đình thân tộc, điều mà nh Các Mác nhận xét: “Cái kỳ lạ
trong lịch sử công nghiệp hiện đại là máy móc làm đảo lộn mọi giới hạn của đạo
đức” [17, tr.179], đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn giữa việc duy trì, gìn giữ các giá trị
văn hoá truyền thống với những lợi nhuận tức thời của các hoạt động kinh tế
“năng động” Trong hoàn cảnh nh vậy, chỉ có gia đình mới thể hiện “tính bảo
thủ” để duy trì gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống Vì vậy: “Để thực sự tồn
tại và phát triển trong mối quan hệ cân bằng giữa hai mặt truyền thống và hiện
đại, gia đình không thể chỉ tồn tại trong những chuẩn mực truyền thống thiêng liêng, bất biến mà là một thực thể uyển chuyển, đợc điều chỉnh thờng xuyên để vừa phù hợp với hoàn cảnh mới vừa trung thành với những truyền thống nhân văn cơ bản Ngợc lại, chúng ta cũng không thể cho phép việc núp dới danh nghĩa bảo vệ các giá trị truyền thống để duy trì và bảo lu những quan niệm và chuẩn mực cổ hủ, lạc hậu kìm hãm sự phát triển của đất nớc Trong trờng hợp này, cái truyền thống chỉ có thể đợc coi là tốt đẹp, tiến bộ khi nó tạo điều kiện cho việc phát triển con ngời một cách tự do và tự giác Nói một cách khác, cái truyền thống chỉ có ý nghĩa tích cực khi nó mang trong mình không phải chỉ là ý nghĩa của quá khứ mà là hơi thở của cuộc sống hiện đại, tồn tại cùng với những gì hiện
đại và văn minh nhất của thời đại” [43, tr.14,25].
1.6 Các khái niệm công cụ
1.6.1 Khái niệm về quản lý
Khi con ngời bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu
mà họ không thể đạt đợc với t cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuấthiện nh một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hớng tới nhữngmục tiêu chung
Nói đến hoạt động quản lý, ngời ta thờng nhắc đến ý tởng sâu sắc củaK.Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạctrởng”
Hoạt động quản lý chỉ nảy sinh khi có “Tổ chức” Tổ chức là thể nền củaquản lý, ý tởng của Mác dẫn ra trên đây đã nói lên mối liên hệ hữu cơ của haiphạm trù tổ chức và quản lý
Trang 18Công cụ
“Tổ chức” là cấu trúc của những ngời kết lại thành nhóm hoạt động theo
lý tởng, mục tiêu xác định có tính chất bền vững lâu dài mà từng thành viên khihoạt động riêng lẻ thì không thực hiện đợc lý tởng mục tiêu đó
Nói về hai phạm trù “Tổ chức” và “Quản lý” thờng có ba quan điểm sau
đây:
- Phạm trù tổ chức trùm lên phạm trù quản lý với hàm ý có tổ chức mới cóquản lý
- Hai phạm trù này tích hợp vào nhau, lồng ghép vào nhau
- Tổ chức là bộ phận, song là bộ phận quan trọng, then chốt của quản lý
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:
* Quản lý là biết chính xác điều mình muốn ngời khách làm và sau đó thấy đợcrằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
* Quản lý là những hoạt động cần thiết phải đợc thực hiện khi những con ngờikết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt đợc những mục tiêu chung
* Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng
nh các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm ngời,một tổ chức
* Quản lý là một nghệ thuật đạt đợc mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển,phối hợp, hớng dẫn, chỉ huy hoạt động của những ngời khác
Tổng quát, quản lý là phơng thức tốt nhất để đạt đợc mục tiêu chung củamột nhóm ngời, một tổ chức, một cơ quan, hay nói rộng hơn là một Nhà nớc
Nói một cách tổng quát: Quản lý một quá trình tác động gây ảnh hởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đợc mục tiêu chung Quá
trình tác động này có thể đợc thể hiện qua sơ đồ đơn giản sau:
Hình 1 : Mô hình về quản lý
Trang 19Ph ơng pháp
Nh vậy, hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể, khách thể,mục tiêu, phơng pháp và công cụ quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân,một nhóm hay một tổ chức Công cụ quản lý là phơng tiện tác động của chủ thểquản lý tới khách thể Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh (ngôn ngữ hay phingôn ngữ), quyết định (thông qua văn bản hoặc không văn bản), các văn bảnluật, chính sách, chơng trình, mục tiêu Phơng pháp có thể hiểu là cách thức tác
động của chủ thể đến khách thể Trong quản lý hiện đại, phơng pháp quản lý đợc
đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học xã hội và khoa học hành vi
Bản chất của hoạt động quản lý:
Xét về ý nghĩa kinh tế - xã hội thì hoạt động quản lý bao gồm hai mặt gắn
bó với nhau: Quản và lý.
Quản là coi sóc giữ gìn: duy trì sự ổn định của hệ.
Lý là sửa sang sắp xếp: đổi mới tạo ra sự phát triển của hệ.
Hệ ổn định mà không phát triển tất yếu hệ sẽ suy thoái Hệ phát triển màkhông ổn định tất yếu sẽ dẫn đến rối ren Quản lý nhằm ngăn chặn mọi sự suythoái và rối ren Trong khi “quản” phải lu tâm đến việc lý Trong khi “lý” phải lutâm đến việc quản Thực hiện sự ổn định của hệ phải nhằm tới sự phát triển
Thực hiện sự phát triển của hệ phải chú ý củng cố sự ổn định [9 -tr 46]
Tổ chức và quản lý:
Quản lý dù có nhiều dạng (quản lý ngời, quản lý vật) song chủ yếu là quản
lý quan hệ con ngời trong tổ chức, thông qua tổ chức mà sử dụng có hiệu quảnhất mọi tiềm năng, khả năng và cơ hội của tổ chức
Tổ chức và quản lý là hai mặt của vấn đề phân công và hợp tác lao động.Trong thực tiễn thì tổ chức và quản lý luôn luôn bổ sung lẫn cho nhau, chuyểnhoá lẫn nhau, gắn kết với nhau Nói đến “quản lý” là phải nói tới “tổ chức”: xây
Trang 20dựng tổ chức, điều chỉnh tổ chức, phát triển tổ chức nếu không thì quản lý không
có mục tiêu, không vận động đến mục tiêu Mặt khác, khi nói đến “tổ chức” làphải nói đến “quản lý” Quản lý con ngời, tiền của, vật chất Tổ chức mà không
có quản lý là tổ chức đã tiêu vong
Nói về hai phạm trù “Tổ chức” và “Quản lý” thờng có ba quan điểm sau
đây:
- Phạm trù tổ chức trùm lên phạm trù quản lý với hàm ý có tổ chức mới có quảnlý
- Hai phạm trù này tích hợp vào nhau, lồng ghép vào nhau
- Tổ chức là bộ phận, song là bộ phận quan trọng, them chốt của quản lý
Các chức năng chủ yếu của quản lý.
Quản lý có năm chức năng chủ yếu sau :
* Công tác kế hoạch: Thực chất của chức năng kế hoạch là trả lời câu hỏicần làm gì? Làm vào thời gian nào? Để làm tốt công tác kế hoạch chủ thể quản
- Phân tích sứ mệnh chung của đơn vị, của từng bộ phận trong đơn vị
- Quyết định nội dung chức năng nghiệp vụ công việc
- Lập ra cơ cấu tổ chức, nội quy hoạt động của tổ chức
* Công tác chỉ đạo điều hành: Thực chất của chức năng chỉ đạo điều hành
là bằng mệnh lệnh, chỉ thị, lời khuyên để cấp dới hiểu và tán thành với mục tiêu
đặt ra Để làm tốt công tác chỉ đạo điều hành chủ thể quản lý cần làm nhữngcông việc sau:
Trang 21- ấn định chức năng, nhiệm vụ cơ bản của từng ngời.
- Đa ra các chỉ thị, mệnh lệnh cụ thể để thực thi công việc
- Điều phối làm cho công việc nhịp nhàng, phối hợp, bổ sung cho nhau
* Công tác kiểm tra: Kiểm tra để biết tiến bộ và kết quả thực hiện côngviệc, có phơng án điều chỉnh kịp: Phát triển hoặc rút bớt mục tiêu Để làm tốtcông tác kiểm tra chủ thể quản lý cần làm những công việc sau:
- Tạo dựng tiêu chuẩn kiểm tra nguyên tắc đánh giá thành tích, kết quả
- Kiểm tra nhằm vào công việc chứ không nhằm vào con ngời
- Khơi dậy sự tự kiểm soát, tự rút ra khuyết điểm
* Công tác thông tin: Thông tin giúp cho cả bốn mặt trên thực hiện tốt,thực chất công tác thông tin giúp cho ngời quản lý bao quát, thâu tóm tình hình,biết đợc nguyên nhân và có cách điều chỉnh thích hợp Để làm tốt công tác thôngtin chủ thể quản lý cần:
- Lu trữ, sàng lọc thông tin theo mục tiêu quản lý
- Sử dụng thông tin phục vụ, triển khai mục tiêu đặt ra
- Điều chỉnh sai lệch và nghiên cứu sửa chữa
1.6.2 Khái niệm về biện pháp và biện pháp quản lý
* Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề
cụ thể (70, tr161)
* Biện pháp quản lý là cách thức chủ thể quản lý tiến hành sử dụng các công cụ quản
lý tác động vào việc thực hiện từng khâu của chức năng quản lý trong mỗi quá trình quản lýnhằm tạo nên sức mạnh, tạo ra năng lực thực hiện mục tiêu quản lý?
1.6.3 Khái niệm về đạo đức:
Đạo đức là hệ thống những quy tắc chuẩn mực biểu hiện sự tự nguyện, tựgiác của con ngời trong quan hệ với nhau và quan hệ với tự nhiên và xã hội(33,Tr 48)
1.6.4 Khái niệm về giáo dục:
Giáo dục là quá trình đào tạo con nguời một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con ngời tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó
Trang 22đợc thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử- xã hội của loài ngời Giáo dục là một hiện tợng xã hội đặc trng của xã hội loài ngời Giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài ngời, trở thành một chức năng sinh hoạt không thể thiếu đợc và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục
đích, nhiệm vụ, nội dung, phơng pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai
đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị- kinh tế của xã hội [ 64, tr 120]
1.6.5 Khái niệm về giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là bộ phận quan trọng có tính nền tảng của giáo dục, có nhiệm vụ rèn luyện lý tởng, ý thức, thói quen và hình thành ở học sinh các phẩm chất đạo đức nh lòng nhân ái, yêu tổ quốc, yêu lao động, tính trung thực, khiêm tốn, tự trọng, dũng cảm Giáo dục đạo đức gắn chặt với giáo dục t tởng- chính trị, giáo dục pháp luật và giáo dục trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động hớng nghiệp, [64, tr 120]
1.6.6 Khái niệm gia đình
Gia đình là một tế bào xã hội và là một thiết chế xã hội Gia đình có tínhlịch sử và tính toàn cầu Gia đình là một yếu tố năng động Vì vậy, khái niệm vềgia đình có nhiều các biểu đạt khác nhau Từ điển Xã hội học do Nhà xuất bảnLarousse xuất bản 1973 đã định nghĩa:
“Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác
giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hoá, xã hội, tín ngỡng Khi gia đình đã có con cái, thì các thành viên trong gia đình
đợc liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn nhân (không cùng huyết thống) vừa bằng quan hệ huyết thống (theo dòng mẹ hoặc dòng bố) Gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội”[63, tr84]
“Gia đình là nhóm ngời gắn bó với nhau bằng một mối liên hệ hôn nhân, huyếtthống hay là việc nhận con nuôi Có sự tác động qua lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ,giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em và họ hàng xa hơn Gia đình mở rộng ít hay nhiều,quan trọng đến mức độ nào đối với sự phát triển của kinh tế, pháp luật, chính trị và liên hệ cóchừng mực khác nhau với tôn giáo Trong dân tộc học ngời ta gọi nhóm ngời gồm có bố mẹ
Trang 23và con cái trực tiếp là “gia đình hạt nhân” hay “gia đình sơ đẳng” (đối lập với Thị tộc) Trongcác xã hội hiện đại, thờng đặt ra vấn đề tính chất bền vững của gia đình (ly hôn), vấn đề giáodục con cái (xã hội học giáo dục)” [56,tr1-2,tr-4].
Có rất nhiều định nghĩa, khái niệm về gia đình, song có thể hiểu khái niệm về gia
đình nh sau:
Gia đình là một tổ chức xã hội, đợc hình thành bởi một nhóm gồm ít nhất hai thành viên, tồn tại có tính lịch sử, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nhận nuôi; các thành viên có các quyền và nghĩa vụ với nhau tuân theo chuẩn mực xã hội và pháp luật quy định nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng t và thoả mãn những nhu cầu của xã hội cả trên phơng diện vật chất và tinh thần.
1.6 7 Khái niệm cơ cấu gia đình
Cơ cấu là các yếu tố và các mối quan hệ gắn bó với nhau thành hệ thống.Gia đình là một tiểu hệ thống, vì vậy gia đình cũng có cơ cấu của nó Cơ cấu gia
đình gồm 4 loại, đáng chú ý nhất đó là: Cơ cấu tổ chức, cơ cấu quyền uy, cơ cấugiao tiếp, cơ cấu vai trò
Cơ cấu tổ chức: cho biết kiểu gia đình đợc hình thành (gia đình hạt nhân,gia đình mở rộng ), số lợng các thành viên, tình trạng hôn nhân (đa thê, một vợmột chồng, ly hôn, ly thân ) các thế hệ cùng chung số (hai ba, bốn thế hệ )
Cơ cấu quyền uy: cho biết ngời quyền lực quyết định trong gia đình thuộcthành viên nào Từ đó thấy đợc tình trạng gia đình gia trởng và hay gia đình dânchủ có văn hoá
Cơ cấu giao tiếp: cơ cấu giao tiếp phản ánh trình độ văn hoá và mức độgiao tiếp của các thành viên gia đình; phản ánh quan hệ tình cảm của vợ chồng,con cái, sự đoàn kết giữa các thành viên và sự bền vững của hôn nhân, gia đình
Cơ cấu vai trò: phản ánh vị thế và quan hệ tơng tác giữa các thành viêntrong gia đình Các yếu tố pháp lý quy định liên quan đến gia đình đợc xã hộithừa nhận Cơ cấu vai trò thể hiện ở vai trò của các thành viên trong gia đình vàngoài xã hội
Trang 241.6.8 Khái niệm chức năng gia đình
Khái niệm chức năng gia đình dùng để chỉ phơng thức hoạt động sống của gia đình
và các thành viên của gia đình Đó là những hoạt động mang nội dung xã hội và cá nhân.Chức năng xã hội của gia đình gắn liền với thiết chế xã hội mà gia đình là một trong nhữngthiết chế căn bản của xã hội Do vậy, sự tồn tại của gia đình phải có mục đích chuyên biệt và
tự nó hình thành nên một số chức năng chuyên biệt Các nhà nghiên cứu đã phân loại một
số chức năng chuyên biệt cơ bản của gia đình bao gồm các chức năng: Duy trì tái sản sinh;
Đảm bảo kinh tế cho các thành viên trong gia đình; Điều chỉnh hành vi giới tính; Chăm sóc,bảo vệ trẻ em và ngời già cả; Xã hội hoá trẻ em; Gắn vị trí xã hội và thiết lập vị thế [11,tr.111, tr.130-131]; Kiểm soát xã hội ban đầu; Giao tiếp tinh thần; Giải trí; Tình cảm
Mỗi mặt hoạt động trên đều có các chức năng xã hội và chức năng cá nhâncủa nó Ví dụ: nh hoạt động xã hội hoá trẻ em là để thực hiện chức năng duy trìtính liên tục của văn hoá, xã hội Hoạt động tình cảm để thực hiện chức năng làmthoả mãn nhu cầu tình thần của cá nhân
Gia đình luôn luôn là yếu tố năng động Vì vậy, các nội dung, mức độthực hiện các chức năng của nó cũng biến động tuỳ thuộc vào hoàn cảnh tồn tại
và phát triển của gia đình trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể
1.6.9 Khái niệm thành phố và gia đình ở thành phố
Trong tác phẩm Hệ T tởng Đức, K.Marx và F.Angels cho biết:
“Thành thị là nơi tập trung dân c, công cụ sản xuất, t bản, hởng thụ, nhucầu, còn nông thôn lại chứng minh điều ngợc lại, sự biệt lập và phân tán” [15,tr.323] và “công dân thành thị đã trở thành yếu tố không thể thiếu đợc của xãhội Công dân thành thị đã trở thành giai cấp tiêu biểu cho sự phát triển khôngngừng của sản xuất và lu thông, của giáo dục, của các thiết chế chính trị và xã
hội” [1, tr.436].
Khái niệm thành phố đợc giải thích trong từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ đó
là “khu vực tập trung đông dân c quy mô lớn, thờng có công nghiệp và thơng nghiệp pháttriển” và Thành thị là “Thành phố, thị xã nơi tập trung đông dân c, công nghiệp và thơngnghiệp phát triển” [54, tr.883] (ở đây khái niệm thành phố nhằm chỉ loại đô thị có quy mô
to lớn, còn khái niệm thành thị chỉ nhằm chung cho các loại đô thị) Thành phố khác vớinông thôn Nông thôn là: “Khu vực dân c tập trung chủ yếu làm nghề nông nghiệp” [53,tr.717]
Trang 25Gia đình định c, sinh sống ở các thành phố thì đợc gọi là gia đình ở thành
phố Vậy khái niệm “Gia đình ở thành phố” có thể đợc hiểu đó là gia đình có tổ
chức và thiết chế giống nh mọi gia đình bình thờng trong xã hội nhng sống ở thành phố; các thành viên của nó mang những đặc trng cơ bản tiêu biểu cho sự phát triển không ngừng của sản xuất và lu thông, của giáo dục, của các thiết chế chính trị và xã hội; mô hình văn hoá và cấu trúc xã hội của nó tạo ra đặc trng lối sống đô thị, làm cho nó khác biệt rất rõ với mô hình văn hoá của gia đình ở nông thông.
1.6.10 Nội dung cơ bản trong giáo dục gia đình:
Giáo dục gia đình là một hoạt động vô cùng tinh tế, là sự hội tụ của toàn
bộ sức mạnh truyền cảm, đồng cảm giữa cha mẹ và con cái Kết quả giáo dục trẻ
ở trong gia đình không phụ thuộc nhiều vào các điều kiện vật chất kinh tế, mà cókhi chịu ảnh hởng sâu sắc của những yếu tố tình cảm, tình thân khác Lịch sửphát triển gia đình qua các thời đại khác nhau đã cho thấy rằng, biết bao nhiêu vĩnhân lỗi lạc, anh hùng xuất chúng đã xuất thân trong những gia đình nghèo đói,thiếu thốn mọi điều kiện kể cả cơm ăn, áo mặc Ngợc lại, nhiều gia đình lại gặpnhững thất bại đắng cay Vì vậy, giáo dục gia đình là một khoa học mang ýnghĩa thời sự, luôn luôn nảy sinh nhiều điểm mới mẻ, lý thú đòi hỏi phải nghiêncứu lý giải nh nhiều nhà khoa học đã nêu lên Chẳng hạn theo nhà giáo dục lỗilạc A.X Makarenkô thì “giáo dục là một quá trình xã hội theo ý nghĩa rộng rãinhất Tất cả đều tham gia vào giáo dục: Con ngời, đồ vật, hiện tợng Nhng trớctiên và quan trọng hơn cả là con ngời và trong đó vị trí hàng đầu là bố mẹ và cácnhà s phạm” Rõ ràng đời sống kinh tế vật chất, tiện nghi sử dụng là yếu tố quantrọng, nhng không phải là điều kiện tiên quyết, duy nhất cho kết quả giáo dục trẻtrong gia đình (Tr.33- Giáo dục gia đình- Nhà XB Giáo dục- 1999)
Trong giáo dục gia đình có 3 nội dung cơ bản: Giáo dục hành vi đạo đức; Giáo dục thái độ kỹ năng lao động; Giáo dục thể chất và thẩm mỹ Chúng ta sẽ đi sâu vào giáo dục hành vi đạo đức.
Nh trên đã đề cập đạo đức là hệ thống những quy tắc chuẩn mực biểu hiện
sự tự nguyện, tự giác của con ngời trong quan hệ với nhau và quan hệ với tựnhiên và xã hội Để đánh giá một con ngời có đạo đức hay không, ngời ta căn cứvào hành vi của ngời đó Hành vi đạo đức thờng biểu hiện trong hành động đối
Trang 26nhân xử thế, trong nếp sống, trong phong cách, trong điệu bộ cử chỉ, trong lời ăntiếng nói
Tóm lại: Đảng và Nhà nớc ta rất quan tâm đến giáo dục gia đình, đã ban
hành nhiều văn bản luật và dới luật nhằm nâng cao trách nhiệm của gia đìnhtrong việc giáo dục con cái Gia đình có vai trò hết sức quan trọng trong việchình thành và phát triển nhân cách cho trẻ em Trong thời gian qua có nhiềucông trình nghiên cứu về gia đình, nhng rất hiếm những nghiên cứu sâu về kiếnthức của CMHS trong việc giáo dục đạo đức cho con cái, đặc biệt các con ở lứatuổi THCS Mặc dù đã có một cơ quan ngang bộ là Uỷ ban Dân số Gia đình vàTrẻ em có chức năng tham mu giúp chính phủ về ba lĩnh vực Dân số, Gia đình vàTrẻ em, nhng thực tế lĩnh vực Gia đình còn rất mới và rất khó đặc biệt trong cơchế kinh tế thị trờng hiện nay
Trang 27Chơng II
Thực trạng kiến thức giáo dục đạo đức học sinh
THCS của CMHS tại thành phố Hà Nội
2.1 Sơ lợc địa bàn và mẫu nghiên cứu
2.1.1 Giới thiệu về thành phố Hà Nội và các địa bàn khảo sát
2.1.1.1 Sơ lợc về thành phố Hà Nội
Hà Nội là Thủ đô của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trungtâm đầu não về chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật, đồng thời là trung tâmlớn về kinh tế, giao lu quốc tế của cả nớc, thuộc đồng bằng sông Hồng, Hà Nộitiếp giáp 6 tỉnh: phía Bắc giáp Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Nguyên; phía Đônggiáp Hng Yên; phía Nam giáp Hà Nam và phía Tây giáp Hà Tây Hà Nội có diệntích tự nhiên 927,39 km2 (chiếm 0,28% diện tích toàn quốc), có vị trí địa lýquan trọng và là đầu mối giao thông dễ dàng đi đến các địa phơng trong cả nớcbằng đờng bộ, đờng thuỷ, đờng sắt và đờng hàng không
Theo tổng điều tra dân số đến 01/4/1999 Hà Nội có 2.672.122 ngời, trong
đó dân số thành thị là 1,548 triệu ngời (chiếm 57,58%) dân số nông thôn là1,140 triệu ngời (chiếm 42,42%); Dân số nữ là 1.343.200 ngời (chiếm 50,26%);Dân số trẻ em là 664.001 em (chiếm 24,85%) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là1,51% năm 1990, giảm xuống còn 1,084% năm 1999 Hà Nội có mật độ dân sốcao nhất khu vực phía Bắc, đứng thứ hai so với cả nớc, sau thành phố Hồ ChíMinh Năm 1990 mật độ dân số là 2.223 ngời/km2 Năm 1999 là 2.952 ngời/km2
(tăng 729 ngời/km2) Đặc biệt, mấy năm gần đây mật độ khu vực nội thành tăngrất nhanh: năm 1997 là 15.857 ngời/km2, năm 1999 là 17.207 ngời/km2 (tăng1.350 ngời/km2) Tỷ lệ tăng dân số năm 1989-1999 là 2,75%/năm
Năm 1990 toàn thành phố chỉ có 220 xã/phờng (128 xã, 84 phờng, 08 thịtrấn), đến năm 1999 đã tăng lên 228 xã/phờng (118 xã, 102 phờng và 08 thị trấn,1.250 cụm dân c) Khu vực nội thành, nội thị cũng phát triển tới các huyện venthị Năm 1990 khu vực nội thành có 4 quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trng
và Đống Đa Từ 1995 đến nay Hà Nội thành lập thêm 3 quận mới là Tây Hồ,Thanh Xuân và Cầu Giấy, nâng tổng số quận lên thành 7 quận
Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá nhanh cùng với sự phát triển mạnh
về kinh tế - xã hội, do đó có sức hút các luồng di dân từ các tỉnh trong cả nớc.Tốc độ tăng dân số cơ học chiếm tỷ trọng đáng kể Năm 1995 có 0,8% dân số từtỉnh ngoài di c tới Hà Nội; năm 1997 có 2,1% (gấp 2,6 lần so với năm 1995),
Trang 28năm 1998 là 1,12% Nh vậy bình quân mỗi năm có khoảng 1,5% dân số(khoảng 36.000 ngời) là dân từ tỉnh ngoài vào Hà Nội.
Trong 10 năm qua (1991 - 2000) Hà Nội đang tiến vào thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng: kinh tế pháttriển chính trị ổn định, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân đợcnâng lên và cải thiện rõ rệt Từ năm 1995 đến nay, thu nhập bình quân theo nhânkhẩu tăng lên đáng kể: Thu nhập bình quân theo nhân khẩu/tháng của khu vựcthành thị năm 1999 tăng gấp 2,14 lần so với khu vực nông thôn Nhiều gia đìnhbảo đảm đủ chi tiêu và có tích luỹ Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,13% toàn thành phốnăm 1995 xuống còn 1,8% năm 1998
Mặc dù trong nhiều năm qua kinh tế Hà Nội tăng trởng liên tục, đời sốngnhân dân đợc cải thiện, nhng nhìn chung đại bộ phận dân c còn gặp nhiều khókhăn, ảnh hởng đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Hệ thống cơ sở hạtầng còn thấp, quá tải về giao thông, nhà ở, ô nhiễm môi trờng Nhiều vấn đề xãhội bức bách tác động xấu đến trẻ em nh: Ma tuý, mại dâm, vi phạm pháp luật vàcác loại tiêu cực xã hội khác
Một số thông tin liên quan đến công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em của thành phố Hà Nội:
Trẻ em và các tiêu cực xã hội: Năm 1999 Hà Nội có 4.993 trẻ em mồ côi,3.034 trẻ khuyết tật, 4.558 trẻ lang thang Từ năm 1995 đến 3/2000 phát hiện có3.280 trẻ em làm trái pháp luật, 999 em sử dụng chất gây nghiện, 113 em hoạt
động mại dâm Riêng trong năm 1999 tới 3/2000 có 731 vụ tới 1.009 trẻ em chathành niên làm trái pháp luật Có 1.837 trẻ em làm trái pháp luật đợc giáo dục tạicộng đồng, 976 em đợc đa tới Trờng giáo dỡng
Hà Nội đã có nhiều biện pháp tích cực và đã có nhiều kết quả tốt trong công tác bảo
vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Đặc biệt năm 2001 thành phố đã quyết định lấy làm “Nămgia đình và trẻ em” nhằm mục đích nâng cao vai trò của gia đình trong việc bảo vệ chămsóc và giáo dục trẻ em [7]
2.1.1.2 Sơ lợc các địa bàn khảo sát
* Quận Tây Hồ:
Quận Tây Hồ nằm ở phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, đợc thành lập theoNghị định số 69/CP ngày 28/10/1995 của Chính phủ, chính thức hoạt động từngày 01/01/1996
Trang 29Ngày 01/04/1996 UBND lâm thời Quận Tây Hồ ra Quyết định số 300 QĐ/
UB thành lập Uỷ ban Dân số - KHHGĐ Quận Tây Hồ
Quận thành lập trên cơ sở sát nhập 3 phờng của Quận Ba Đình và 5 xã củaHuyện Từ Liêm Diện tích tự nhiên là: 2.395ha Diện tích đất canh tác là: 565ha.Với 19,9% dân số là nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản nên là Quận nhng vẫnmang tính cách của một Huyện ven đô với những phong tục tập quán của làngxã
Sau 5 năm thành lập Quận, Dân số Tây Hồ từ 78.280 ngời đã tăng lên94.951 ngời vào thời điểm 31/12/2000 Tổng số tăng trong 5 năm là: 16.617 ngờitơng đơng với dân số của 2 phờng Nhật Tân và Tứ Liên cộng lại, bình quân mỗinăm tăng 3.334 ngời Trong đó (số trẻ sinh ra hàng năm xấp xỉ 1.300 cháu) cònlại là dân nhập c
* Phờng Phú Thợng:
Phờng Phú Thợng là một trong 8 phờng của quận Tây Hồ thành phố Hà Nội, trớc
đây là một xã thuộc huyện Từ Liêm và có quyết định đổi thành phờng từ ngày 01/01/1996.Phờng Phú Thợng nằm ở phía Bắc của quận Tây Hồ, Đông giáp phờng Nhật Tân, Namgiáp Xuân La, Xuân Đỉnh, Tây giáp xã Đông Ngạc, Bắc giáp sông Hồng và xã Hải Bối(Đông Anh)
Tổng diện tích: 609,5ha, tổng số dân: 12.500 ngời
Số trẻ em từ 0 đến 16 tuổi là 2.772 em (chiếm 22,18%)
Trong đó: Trẻ em dới 5 tuổi là 780 em, từ 6 đến dới 11 tuổi là 1.033 em, từ 11 đến
d-ới 16 tuổi là 959 em
Tổng số học sinh các trờng: 2.095 em, Trong đó: Mẫu giáo: 328 cháu, Cấp I: 763học sinh, Cấp II: 541 học sinh, Cấp III: 463 học sinh
Dân c của phờng không đông lắm, trình độ dân trí không đồng đều Dân chính gốccủa phờng chủ yếu làm nông nghiệp - trồng rau, trồng hoa Toàn phờng còn 28 hộ nghèo
2.1.2 Mẫu nghiên cứu
Cuộc khảo sát đợc tiến hành trong tháng 6 năm 2003 tại thành phố HàNội Tổng số phiếu điều tra là 228 bao gồm 95 phiếu gia đình, 95 phiếu cho trẻ
em và 38 phiếu cho các cán bộ xã phờng:
Trang 30Loại phiếu dùng cho gia đình: 95 phiếu (ký hiệu là PG, từ 1- 95) gồm có
30 câu hỏi đợc đánh số theo thứ tự Trong phiếu dành cho gia đình có một số nộidung tìm hiểu chính nh sau:
- Trình độ học vấn của các bậc cha mẹ
- Nhóm xã hội của gia đình đợc phỏng vấn (Gia đình tri thức, cán bộ quản
lý, lực lợng vũ trang, doanh nghiệp, công nhân, nông dân)
- Đặc điểm dân số và xã hội của gia đình: Gia đình đông con, gia đình ítcon, gia đình có đầy đủ bố mẹ, gia đình ly hôn, gia đình ly thân
- Chỉ số về nhận thức và hành động của bố mẹ trong giáo dục gia đình
- Hiểu biết của bố mẹ về tâm lý và nhu cầu của các con
- Kiến thức của cha mẹ trong giáo dục gia đình
- Kiến thức của cha mẹ về quyền và bổn phận của trẻ em
- Các hình thức tổ chức và mức độ phù hợp của nó mà ở phờng đã ápdụng cho việc nâng cao kiến thức về giáo dục đạo đức học sinh cho các bệc chamẹ
- Nội dung kiến thức và mức độ phù hợp của nó mà ở phờng đã áp dụngcho việc nâng cao kiến thức về giáo dục đạo đức học sinh cho các bậc cha mẹ
- Cơ quan đứng ra tổ chức nâng cao kiến thức và mức độ phù hợp của nó
đối với cha mẹ học sinh
- Cơ quan đứng ra chủ trì xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện , kiểm tra
đánh giá việc nâng cao kiến thức cho cha mẹ học sinh
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng cha mẹ thiếu kiến thức trong việc giáodục đạo đức cho con cái
Loại phiếu dành cho học sinh: 95 phiếu (ký hiệu là PH, từ 1- 95) gồm có
24 câu hỏi đợc đánh số theo thứ tự Trong phiếu dành cho học sinh có một số nộidung tìm hiểu chính nh sau:
- Nhóm xã hội của gia đình các em đợc phỏng vấn (Gia đình tri thức, cán bộ quản lý,lực lợng vũ trang, doanh nghiệp, công nhân, nông dân)
- Hoàn cảnh kinh tế của gia đình, kết quả tu dỡng của các em, suy nghĩcủa các em về những ngời lớn tuổi
- Các cách sử lý của cha mẹ khi các em mắc khuyết điểm, sự quan tâm củacha mẹ đối với các em
- Sự mong muốn của các em đối với cha mẹ
Trang 31Loại phiếu dành cho cán bộ ph ờng: 38 phiếu (ký hiệu là PC, từ 1- 38)gồm có 11 câu hỏi đợc đánh số theo thứ tự Trong phiếu dành cho cán bộ phờng
có một số nội dung tìm hiểu chính nh sau:
- Trình độ học vấn của cán bộ
- Các hình thức tổ chức và mức độ phù hợp của nó mà ở phờng đã ápdụng cho việc nâng cao kiến thức về giáo dục đạo đức học sinh cho các bệc chamẹ
- Nội dung kiến thức và mức độ phù hợp của nó mà ở phờng đã áp dụngcho việc nâng cao kiến thức về giáo dục đạo đức học sinh cho các bậc cha mẹ
- Cơ quan đứng ra tổ chức nâng cao kiến thức và mức độ phù hợp của nó
đối với cha mẹ học sinh
- Cơ quan đứng ra chủ trì xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện , kiểm tra
đánh giá việc nâng cao kiến thức cho cha mẹ học sinh
- Nguyên nhân dẫn đến tình trạng cha mẹ thiếu kiến thức trong việc giáo dục đạo
đức cho con cái
2.2 Thực trạng kiến thức giáo dục đạo đức học sinh Trung học cơ sở của cha mẹ học sinh hiện nay.
2.2.1.Vài nét về tình hình kinh tế của các gia đình, Nghề nghiệp và học vấn của CMHS.
Trang 32Khảo sát 95 phụ huynh học sinh (PG- 2), trình độ học vấn của các bậc cha mẹ nhsau: Cấp I: 2%; Cấp II: 44 %; Cấp III: 46% và Đại học : 8% Nh vậy trình độ học vấn củaCMHS chủ yếu là cấp III (chiến 46%) và thấp nhất là cấp I (chiếm 2%)
Nghề nghiệp và trình độ học vấn có vai trò rất quan trọng tác động tới nhận thức củacác bậc cha mẹ học sinh trong việc giáo dục đạo đức cho con cái
Tiến hành khảo sát tại địa bàn nghiên cứu chúng tôi thấy cũng các gia đình có conhọc Trung học cơ sở có nghề nghiệp rất đa dạng (Xem hình 2)
* Về kinh tế của các gia đình loại khá chỉ có 1,04%; nghèo 10,42% cònchủ yếu là hộ trung bình chiếm 86,45% Nh vậy ta thấy tình hình chung kinh tếcác gia đình trên địa bàn khảo sát chỉ ở mức bình thờng, số hộ giàu và khá chiếm
tỷ lệ rất nhỏ Đây cũng là đặc thù của một số xã thuần nông thuộc huyện trớc
đây mới chuyển lên phờng
*Mối quan hệ giữa kinh tế gia đình với sự quan tâm đến bạn bè của con cái:
(đợc thể hiện trên hình 3 trang bên)
Trang 33Nhận xét:
Qua khảo sát CMHS, đợc thể hiện trên hình 3 ta thấy rằng những gia đìnhkinh tế khá giả thì quan tâm tới bạn bè của con cái nhiều hơn Tuy nhiên, giữagia đình nghèo và gia đình trung bình thì gia đình đợc đánh giá là nghèo lại quantâm đến bạn bè của con cái nhiều hơn Điều đó chứng tỏ rằng trong cơ chế kinh
tế thị trờng hiện nay do mải làm ăn kinh tế mà một số gia đình rất ít quan tâm
đến các mối quan hệ của con cái mình, đó là điều có ảnh hởng rất lớn đến việchiểu biết các nhu cầu và nguyện vọng của con em trong gia đình
2.2.2 Quan niệm về các u tiên của gia đình: Khi đợc hỏi về suy nghĩ của các
bậc phụ huynh (PG- 8) xem việc nào là quan trọng hơn thì thứ tự đợc sắp xếp nhhình 4:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng đang phát triển mạnh mẽ, tạo nên nhiều ngoạicảnh tác động trực tiếp đến đời sống của từng gia đình Việt Nam Điều đó, đã và đang làmcho nhiều gia đình cần có cái nhìn mới, nhận thức mới để hớng tới tơng lai tốt đẹp và theokịp thời đại Trong hoàn cảnh xã hội nh vậy, mỗi gia đình cũng đều đa ra những kế hoạch utiên của mình để bảo đảm tồn tại và phát triển gia đình
Khảo sát 95 gia đình (PG- 8) để xem các gia đình đó sắp xếp các u tiên đó nh thếnào Kết quả xử lý số liệu, chúng tôi đợc biết tỷ lệ các gia đình có các quan niệm u tiên đợcxếp thứ tự nh sau (xem hình 4 )
Hình 2.2 : Mối t ơng quan giữa kinh tế gia đình với
sự quan tâm đến bạn bè của con cái
Khá giả Trung bình Nghèo Tổng
Nhiều ít Không bao giờ
Trang 34Trong hình 4 ta thấy quan niệm u tiên của các gia đình rất thực tế : u tiên Giữ gìnhạnh phúc gia đình có tỷ lệ cao nhất (64,58%) Tiếp đó là u tiên cho việc sống đạo đức lơngthiện (30,21%) Thứ ba là kiếm tiền và tạo công danh sự nghiệp (27,08%) Nh vậy, ta có thểthấy rằng đối với các gia đình đợc khảo sát thì trớc mắt việc nuôi dạy con cái thành tài vẫncha phải là mối quan tâm hàng đầu của họ Điều mà các CMHS phải hiểu sâu sắc rằng,nếu con cái của họ không học hằnh đến nơi đến chốn, không thành đạt thì hạnh phúc gia
đình cũng rất mong manh
2.2.3.Kiến thức về tâm sinh lý của học sinh THCS
Bảng 2: (PG-17): Đánh giá về mức độ hiểu biết của CMHS về tâm sinh lý trẻ
em 11 - 14 tuổi
TB Y Xếp thứ
bậc Biết nhiều
(3đ) Biết ít (2đ) Không biết (1đ)
Số
1 Đây là lứa tuổi thiếu niên 71 74,74 22 23,16 2 2,11 2,73 1,5
2 Đây là tuổi dậy thì 71 74,74 22 23,16 2 2,11 2,73 1,5
Theo kết quả khảo sát (PG-17) bảng 2 ta thấy:
Về đặc điểm lứa tuổi 11-14: Các đặc điểm: Đây là tuổi thiếu niên; đây là tuổi dạy
thì; các em thờng hiếu động; nữ tuổi dạy thì sớm hơn thì hầu hết các bậc cha mẹ hiểu biết
Hình2.1: Thứ tự u tiên các công việc trong gia
Kiếm tiền Tạo dựng
công danh sự nghiệp
Vui chơi, giải trí tinh thần
Nuôi dạy con cái thành tài
Chăm sóc sức khoẻ gia đình
Quan hệ xã hội tốt
Trang 35nhiều về điều đó Còn về đặc điểm: Các em muốn khẳng định sự độc lập; hay giận hờn;
hay tự ái; hay nổi xung; lứa tuổi chuyển từ trẻ em lên ngời lớn thì các bậc cha mẹ hầu nh
biết rất ít (xem bảng 2 ) Điều này cho chúng ta thấy rằng giữa cha mẹ và con cái có một
khoảng cách khá xa, nếu cha mẹ không hiểu đợc thì rất dễ xảy ra xung đột trong sinh hoạthàng ngày trong gia đình
2.2.4 Kiến thức về nhu cầu phát triển của học sinh THCS
Các bậc cha mẹ chỉ khi nào biết rõ đợc sở thích của con mình thì mới có cách đìnhhớng chỉ bảo những điều đúng sai và bẵng cách nào để đạt đợc sở thích ấy
Bảng 3: (PH- 23) Sự hiểu biết của bố mẹ đối với sinh hoạt và sở thích của các con
ít về sở thích của con (chiếm 41,05%); đặc biệt vẫn còn 11 bậc cha mẹ không biết về sởthích của con (chiếm 11,58%)
Bảng 4: (PG- 18) Sự hiểu biết của cha mẹ về nhu cầu của trẻ em từ 11- 14 tuổi
TB Y
Xếp thứ bậc Biết nhiều
Trang 361 Y 3
Nhận xét:
Theo kết quả phiếu khảo sát CMHS (PG - 18) ta thấy không phải cha mẹ nắm đợchết nhu cầu của con mình, chỉ có một số nhu cầu cơ bản thi CMHS nắm đợc nh nhu cầu:Thích kết bạn, thích đi chơi xa; thích khám phá điều mới lạ Còn các nhu cầu khác thì hầu
nh CMHS không biết , cụ thể nh sau: Có 87,37% CMHS biết đợc nhiều về nhu cầu thíchkết bạn của con mình, điểm TB Y= 2,87, xếp thứ bậc 1; Có 82,11% CMHS biết đợc nhiều
về nhu cầu thích đi chơi xa của con mình, điểm TB Y= 2,81, xếp thứ bậc 2; Có 57,89%CMHS biết đợc nhiều về nhu cầu thích khám phá điều mới lạ của con mình, điểm TB Y=2,56, xếp thứ bậc 3; Về hiểu biết các nhu cầu khác nh:: Có tình bạn khác giới; muốn tựkhẳng định mình; muốn làm ngời lớn thì điểm TB rất thấp
2.2.5 Kiến thức của CMHS về quyền và bổn phận của trẻ em
Bảng 5 Hiểu biết của cha mẹ về quyền trẻ em (PG- 20)
Bảng 6.: Hiểu biết của cha mẹ về bổn phận trẻ em (PG- 21)
Mặc dù trên bảng 5 cho biết 60% CMHS hiểu về quyền của trẻ em, nhng trên thực
tế CMHS đảm bảo cho con đợc cái quyền ấy lại còn một khoảng cách khá xa: Qua khảosát học sinh (PH- 24) thì khi gia đình mua những tài sản lớn nh nhà đất, xe máy, ti vi thì chỉ
có 18 bậc cha mẹ thờng xuyên trao đổi với các con (chiếm 18.95%); 43 bậc cha mẹ thỉnhthoảng mới trao đổi (chiếm 45,26%); vẫn còn 34 bậc cha mẹ không bao giờ trao đổi với con
(chiếm 35,79%) Nh vậy ta thấy quyền tham gia của trẻ em trong gia đình đợc thực hiện
còn rất hạn chế (xem bảng 7 )
Bảng 7: Bố mẹ trao đổi ý kiến với các con trớc khi mua các tài sản (PH-24)
Trang 37Qua hình 5 chúng ta thấy rằng trình độ học vấn của cha mẹ càng cao thì càng nắm rõ
hơn về quyền và bổn phận của trẻ em Tuy nhiên, cũng còn một số gia đình mặc dù cha mẹ
có học vấn cao nhng vẫn vi phạm quyền tham gia của trẻ em
2.2.6 Kiến thức về văn hoá gia đình: cách ứng xử; cách xử lý các tình huống; mối quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình
* Cách ứng xử, xử lý các tình huống của CMHS trong gia đình:
Bảng 8 : Cha mẹ đã dùng các hình thức phạt đối với trẻ em (PH- 11)
Hình 2.3: Mối t ơng quan giữa trình độ học vấn với sự
hiểu biết về bổn phận của trẻ em
Cấp I Cấp II Cấp III Đại học Tổng
Biết nhiều Biết ít
Trang 38Khi con cái có biểu hiện h, các gia đình thờng tỏ thái độ và áp dụng các hình thức xử
lý con cái khác nhau, không ít gia đình đã dùng hình thức xử phạt Khi khảo sát trẻ em 11) đợc biết: Khi các em mắc khuyết điểm thì 78,95% gia đình đã mắng mỏ; 8,42% phạtkhông cho tiền; 7,37% đuổi ra khỏi nhà; 33,68% đánh đòn đau, (xem bảng 2.8)
Bảng 9 Nhận xét của các em về hình phạt của gia đình đối với các em
là không đáng sợ
Trong bảng 9 có một số tỷ lệ đáng quan tâm: Trong khi có tới 36,84%cho rằng bố mẹ phạt còn nhẹ so với mức độ lỗi mà con cái đã vi phạm, thì lại có17,98% bị bố mẹ phạt quá nặng so với lỗi mà các em vi phạm Điều này chứng
tỏ bố mẹ thiếu sâu sát, thiếu hiểu biết về những lỗi vi phạm của con cái khi xửphạt chúng Một số em lại còn cho rằng các hình phạt của bố mẹ chẳng qua chỉ
là sự hăm doạ Chính vì vậy tác dụng của các hình phạt của bố mẹ đối với concái thiếu tác dụng tích cực
Một điều đáng lu ý nữa là, hầu hết các hình phạt trên là không phù hợp vớicác quy định của luật pháp và nếp sống văn minh Trong đó có những hình thức
bố mẹ phạt con cái rất nguy hiểm, thậm chí có thể gây ra hậu quả khôn lờng,chẳng hạn nh hình thức phạt đuổi con ra khỏi nhà, vứt sách vở không cho đihọc
* Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình:
Một gia đình sống hạnh phúc sẽ là một “tổ ấm” nâng đỡ tâm hồn tuổi thơ,
là điểm tựa, là giá đỡ để các em bay lên, vơn tới những phẩm giá tốt đẹp nhất của
Trang 39con ngời Khi tổ ấm gia đình có những vấn đề bất ổn, nhất định có tác động xấu
Nhìn vào hình 6 và phân tích các số liệu trong đó ta thấy nổi lên tìnhtrạng các gia đình sống thiếu gia giáo, thiếu quy củ chiếm một tỷ lệ khá cao tới47,37%; tiếp đến tình trạng các gia đình sống thiếu bình đẳng chiếm 43%; Đặcbiệt là các gia đình sống thiếu quan tâm chăm sóc lẫn nhau là 29,47%; Tình th-
ơng yêu là cội nguồn của đoàn kết gia đình, nhng vẫn còn 25,26% các gia đìnhsống thiếu tình yêu thơng
Nh vậy ta có thể thấy rằng trong gia đình cha mẹ còn thiếu kiến thức trongquan hệ ứng xử: còn thiếu sự bình đẳng, các thành viên trong gia đình còn sốngtuỳ tiện, ngời lớn cha làm gơng cho các con noi theo
* Bầu không khí trong gia đình:
Mọi ngời ai cũng cần có một gia đình hạnh phúc và bền vững, cha mẹ phải
là ngời hiểu rõ rằng chỉ khi nào có một bầu không khí gia đình đầm ấm hoàthuận chác chắn con cái sẽ ngoan
Hình Đối xử với nhau trong gia đình
(PH-19)
47.37 43.00
29.47 25.26
Chăm sóc nhau Sống bình đẳng Có gia giáo,
quy tắc
Trang 40Bảng 10: Bầu không khí trong gia đình (PH- 20)
T
T
Nhận xét:
Kết quả khảo sát về tình trạng gia đình (bảng 10 ,PH- 20) ta thấy: có 70,53% gia
đình vui vẻ; 61,05% Gia đình mọi ngời hoà hợp; 60,00% gia đình trên dới hoà thuận và80% gia đình đầm ấm Bảng trên cũng cho ta thấy những gia đình sống thiếu hoà hợp,thiếu sự hoà thuận, thiếu bầu không khí đầm ấm còn chiếm tỷ lệ khá cao, đặc biệt có tới40% gia đình sống không hoà thuận Một gia đình sống không hoà thuận tất yếu phải cónguyên nhân từ các mâu thuẫn cha giải quyết đợc trong gia đình
*Nguyên nhân bất hoà trong gia đình:
Bảng 11 : Nguyên nhân bất hoà trong gia đình (PH- 21)
Nhận xét:
Kết quả khảo sát (PH- 21) cho thấy, những bất hoà trong gia đình các em có nhiều lý
do khác nhau: 60% là do mọi ngời không hiểu nhau; 18,95% là do bố mẹ cãi nhau; 7,37%
do bố uống rợu, nghiện ma tuý; 4,21% do mẹ không quan tâm đến gia đình; 7,37% do cuộcsống gia đình quá khó khăn; 13,68% do tiến bạc chi phối; 12,63% do bố hoặc mẹ chơi cờbạc và 11,58% là do các nguyên nhân khác
Trong các nguyên nhân ở trên thì nguyên nhân cơ bản là không hiểu nhau từ nhữngchuyện bình thờng trong gia đình (60,00%); bố mẹ hay cãi nhau (18,95%) Những chỉ báonày đã phản ánh sự thiếu kiến thức và kinh nghiệm của cha mẹ trong việc giải quyết nhữngmâu thuẫn nhỏ trong gia đình, những việc dù là rất nhỏ nếu không đợc cha mẹ giải quyếtthoả đáng sẽ dẫn đến những bất hoà lớn trong gia đình
2.2.7 Đánh giá và nhận xét của gia đình về con cái