Marketing quốc tế với việc đẩy mạnh hoạt động Xuất khẩu sang thị trường Mỹ của Tổng Công ty Cổ phần Dệt May Hà Nội
Trang 1MỤC LỤC Trang
MỤC LỤC .1
DANH MỤC SƠ ĐỒ 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
LỜI NÓI ĐẦU .6
PHẦN I.TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 9
1.1.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 9
1.1.1.Quá trình hình thành của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội 9
1.1.2.Các giai đoạn phát triển của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội 9
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 13
1.2.1.Nội dung các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội 13 1.2.2.Chức năng, nhiệm vụ của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội .14
1.2.3.Hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty .15
1.3.HÌNH THỨC TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 19
1.3.1.Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội .19
1.3.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy Xuất- Nhập khẩu .25
PHẦN II THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING QUỐC TẾ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI .28
2.1.ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI .28
2.1.1.Mặt hàng xuất khẩu 29
2.1.2.Thị trường xuất khẩu 34
Trang 22.2.THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING QUỐC TẾ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ
PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 36
2.2.1.Nghiên cứu thị trường Mỹ .36
2.2.1.1.Môi trường kinh tế .38
2.2.1.2.Môi trường chính trị - luật pháp .39
2.2.1.3.Môi trường văn hoá – xã hội .39
2.2.1.4.Môi trường cạnh tranh 40
2.2.2.Chiến lược xâm nhập thị trường của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội 41
2.2.2.1.Xuất khẩu trực tiếp .42
2.2.2.2.Gia công xuất khẩu 47
2.2.3.Chính sách Marketing Mix của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội 47
2.2.3.1Quyết định sản phẩm trên thị trường quốc tế .47
2.2.3.2.Quyết định giá trên thị trường quốc tế .51
2.2.3.3.Quyết định kênh phân phối trên thị trường quốc tế .52
2.2.3.4.Quyết định xúc tiến thương mại trên thị trường quốc tế 54
2.3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG MARKETING QUỐC TẾ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 57
2.3.1.Kết quả đã đạt được 57
2.3.2.Hạn chế còn tồn tại .58
PHẦN III MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG MARKETING QUỐC TẾ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 60
3.1.NHẬN ĐỊNH VỀ THỊ TRƯỜNG CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 60
3.1.1.Chương trình giám sát hàng dệt amy nhập khẩu từ Việt Nam của Mỹ 60
3.1.2.Sự suy thoái của đồng USD .62
3.1.3.Tình hình cạnh tranh tại thị trường Mỹ .63
3.2.NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC .64
Trang 33.3.KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI 68
3.4.TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG 69
3.5.GIẢI PHÁP VỀ CHÍNH SÁCH MARKETING MIX TRÊN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU 71
3.5.1.Chính sách hoàn thiện sản phẩm 71
3.5.2.Hoàn thiện chính sách giá cả .73
3.5.3.Mở rộng hệ thống kênh phân phối .74
3.5.4.Tăng cường hiệu quả của chính sách xúc tiến thương mại .75
3.6.CÁC GIẢI PHÁP BỔ SUNG 76
3.6.1.Giải pháp về nguồn nhân lực .76
3.6.2.Nâng cao ngân sáchvà hiệu quả sử dụng ngân sách 76
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ1.1.Cơ cấu tổ chức bộ máy Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội .23
Sơ đồ1.2.Cơ cấu tổ chức Phòng Xuất - Nhập khẩu 26
Sơ đồ2.1.Khái quát quy trình xuất khẩu hàng hoá trực tiếp tại Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội 46
Sơ đồ2.2.Kênh phân phối hàng dệt may xuất khẩu của Tổng công ty cổ phần Dệt May
Hà Nội 52
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1.Cơ cấu lao động của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội 16
Bảng 1.2.Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng 17
Bảng 2.1.Các chỉ tiêu kinh doanh của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội 27
Bảng 2.2.Tình hình xuất khẩu các mặt hàng 29
Bảng 2.3.Kết quả kinh doanh xuất khẩu theo thị trường của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội .33
Bảng 2.4.Cơ cấu thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ 40
Bảng 3.1.Bảng tính giá cho sản phẩm áo sơmi 72
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, khi hội nhập toàn cầu đang là xu thế phát triển chung trên toàn thế giới thì bất kì một quốc gia nào nếu không ngừng nỗ lực để hội nhập vào xu thế chung, tạo ra sức mạnh cạnh tranh cho quốc gia của mình đều sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị gạt
ra ngoài lề của sự phát triển Như nhiều quốc gia khác, Việt Nam cũng nhận thức được những đòi hỏi cấp bách của tình hình chung và đang không ngừng cải cách, chuyển đổi trên nhiều lĩnh vực, trong đó không thể không kể đến xuất nhập khẩu một lĩnh vực đóng vai trò rất quan trọng giúp Việt Nam mở rộng được các mối quan hệ cũng như tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội hơn để xâm nhập thị trường quốc tế
Thời gian qua, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam cũng đã được Đảng và Nhà nước đặt nhiều sự quan tâm, nó được coi là hướng ưu tiên, là trọng điểm của kinh tế đối ngoại Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng đang ngày càng được mở rộng,
từ những mặt hàng truyền thống từ lâu đã quen thuộc với bạn hàng quốc tế như dệt may,
đồ thủ công mỹ nghệ hay thuỷ hải sản…Đến những mặt hàng có hàm lượng kĩ thuật cao hơn như phần mềm điện tử Trong đó, mặt hàng dệt may đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng bậc nhất của Việt Nam
Nhìn chung tình hình xuất nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam vẫn đang diễn biến khá thuận lợi, minh chứng là kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng, uy tín ngày càng cao và thị trường ngày càng được mở rộng…tuy nhiên bên cạnh đó những hạn chế còn tồn tại của hàng dệt may Việt Nam như chất lượng sản phẩm chưa ổn định, quy mô sản xuất không lớn, vẫn chủ yếu là gia công xuất khẩu lại đang trở thành trở ngại lớn cho hoạt động mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt là ở một thị trường khó tính như Mỹ, một thị trường lớn, giàu tiềm năng đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam nhưng đồng thời cũng là thị trường có nhiều trở ngại lớn Với hệ thống pháp luật phức tạp, cùng sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều nhà cung ứng trên
Trang 7thế giới và đặc biệt là những chính sách bảo hộ sản phẩm trong nước dưới các hình thức thuế chống bán phá giá, yêu cầu kí quỹ, quy định khắt khe về chất lượng sản phẩm…đang gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam Vì thế để chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh, từ đó đạt được hiệu quả kinh doanh xuất khẩu cao hơn đòi hỏi Đảng và Nhà nước nói chung cùng các doanh nghiệp dệt may nói riêng phải
có công cụ quản lý kinh tế hữu hiệu hơn, đồng thời không ngừng tự hoàn thiện để bắt kịp với những thay đổi và xu hướng mới của thời đại Bên cạnh đó việc đánh giá đúng hiện trạng Marketing quốc tế đối với hàng hoá dệt may Việt Nam để có những giải pháp hiệu quả đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ là vô cùng cấp thiết
Trong thời gian thực tập tại Tổng công ty cổ phần Dệt may Hà Nội, em đã có điều kiện tiếp xúc và tìm hiểu về hoạt động kinh doanh của Tổng công ty, nhất là về lĩnh vực Marketing quốc tế Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài:
“Marketing quốc tế với việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang thị trường Mỹ
của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội.”
nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về các hoạt động Marketing quốc tế tại các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như tại Tổng công ty nói riêng, đồng thời khẳng định lại những kiến thức đã được học tại trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng như thấy được sự vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế
Ngoài lời mở đầu, chuyên đề tốt nghiệp gồm ba phần như sau:
Phần I: Tổng quan về Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội ( Vinatex - Hanosimex ) Phần II:Thực trạng ứng dụng Marketing quốc tế tại Tổng công ty cổ phần Dệt may Hà
Nội ( Vinatex - Hanosimex )
Phần III: Một số giải pháp phát triển hoạt động Marketing quốc tế tại Tổng công ty Dệt
may Hà Nội ( Vinatex - Hanosimex )
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và quý báu của các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy giáo TS Vũ Huy Thông và toàn bộ các cô chú, anh chị trong phòng Xuất
Trang 8nhập khẩu của Tổng công ty đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
PHẦN I
Trang 9TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT
MAY HÀ NỘI
1.1.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
1.1.1.Quá trình hình thành của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội là một Tổng công ty thành viên lớn trực thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam (Viet Nam Textile & Garment Group- VINATEX) Được chính thức thành lập từ ngày 21/11/1984 với tiền thân là Nhà máy sợi Hà Nội nay đổi tên là Tổng công ty cổ phần Dệt may Hà Nội, và lấy tên giao dịch đối ngoại là
Hanoi Textile-Garment Joint Stock Corporation
( viết tắt là: VINATEX - HANOSIMEX )
1.1.2.Các giai đoạn phát triển của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Từ khi đi vào hoạt động đến nay trải qua 24 năm, HANOSIMEX đã có 14 thành viên Bao gồm 2 nhà máy sợi, 3 nhà máy dệt và nhuộm, 1 nhà máy giặt và 8 nhà máy may mặc nằm trên khu đất rộng 24 ha với hơn 6000 công nhân và kĩ sư lành nghề Nhưng để đạt được những thành công bước đầu này Tổng công ty đã phải trải qua rất nhiều giai đoạn
Giai đoạn 1: từ khi thành lập đến ngày 28/02/2000
Tổng công ty đã trải qua nhiều lần đổi tên như: Vào ngày 30/04/1991: Nhà máy sợi Hà Nội được đổi tên thành Xí nghiệp Liên hợp Sợi - Dệt Kim Hà Nội, tên giao dịch quốc tế là HANOSIMEX Sau đó, đến ngày 19/06/1995: Công ty đổi tên từ Xí nghiệp Liên hợp Sợi- Dệt Kim Hà Nội thành công ty Dệt Hà Nội Và vào ngày 28/02/2000: Một lần nữa công ty được đổi tên thành Công ty Dệt may Hà Nội
Trang 10Giai đoạn 2: từ năm 2000 đến năm 2005
Đây là giai đoạn tiếp tục phát triển không ngừng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển đổi mô hình doanh nghiệp và mở rộng hoạt động kinh doanh
Doanh thu của HANOSIMEX trong giai đoạn 2000-2003 tăng khoảng 20% nhưng mức tăng này không kéo theo sự gia tăng của lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì vậy các chuyên gia tài chính của Tổng công ty cho rằng cần tiến hành việc chuyển đổi cơ cấu tổ chức của HANOSIMEX để Tổng công ty có thể hoạt động độc lập hơn, chủ động hơn theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, đồng thời đây cũng
là một bước quá độ tiến tới cổ phần hoá và nâng cao các cơ hội thu hút vốn từ bên ngoài…Vì vậy theo Quyết định số 113/2003/QĐ-TTG ngày 09/06/2003 của Thủ tướng Chính Phủ, Tổng công ty Dệt may Hà Nội ( HANOSIMEX) được phép xây dựng thí điểm theo mô hình “ Công ty mẹ - Công ty con” trực thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX)
Trong đó để trở thành công ty mẹ, HANOSIMEX sẽ tiến hành cổ phần hoá các đơn vị trực thuộc cùng với việc mua lại hoặc tiếp nhận các doanh nghiệp Nhà nước khác
cụ thể là: Sáp nhập 4 đơn vị phụ thuộc là Nhà máy Kéo sợi Hà Nội, Nhà máy Dệt kim và nhuộm Hà Nội, Xí nghiệp May số 1,2,3 Hà Nội, hệ thống kho bãi Hà Nội để hình thành nên công ty mẹ HANOSIMEX Tiếp đến là thực hiện chuyển Công ty Kéo sợi Vinh thành Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên, trong đó HANOSIMEX sở hữu 100% vốn đồng thời sáp nhập với Công ty Dệt kim Hoàng Thị Loan, một đơn vị thành viên của VINATEX Còn đối với đơn vị phụ thuộc là Công ty Dệt Hà Đông và Nhà máy Dệt vải
bò cũng sẽ chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do HANOSIMEX sở hữu 100% vốn và di dời đến Khu công nghiệp Phố Nối vào năm 2005 Riêng đơn vị phụ thuộc là Nhà máy May Đông Mỹ, Nhà máy May hàng thời trang và toàn vộ 10 cửa hàng bán lẻ sẽ được chuyển thành công ty cổ phần, trong đó HANOSIMEX sở hữu 51% vốn Đối với các đơn vị phụ thuộc còn lại là bộ phận dịch vụ cơ khí và bộ phận sản xuất ống
Trang 11giấy sẽ hợp thành một công ty cổ phần, trong đó HANOSIMEX sở hữu 35% vốn Thời gian tiến hành được tính đến năm 2005.
Với cách thức triển khai đạt tới quy mô của Công ty mẹ, trong tương lai HANOSIMEX sẽ trở thành đơn vị sản xuất kinh doanh chính trong chủ trương xây dựng nhóm ngành dệt may của Tập đoàn kinh tế VINATEX
Tính đến năm 2005, tuy vẫn gặp phải nhiều khó khăn, thách thức trong cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực và trên thế giới nhưng với những nỗ lực lớn của mình HANOSIMEX đã vượt lên với những con số đầy ngoạn mục :
♦ Tổng doanh thu đạt : 1.430.168 triệu đồng tăng 30,3% so với năm trước
♦ Kim ngạch xuất khẩu đạt : 35,218 triệu USD, tăng hơn năm trước 34,7% ♦ Lợi nhuận đạt : 7.761 triệu đồng
♦ Nộp ngân sách Nhà nước : 6.805 triệu đồng
Giai đoạn 3: từ năm 2005 đến nay
Tập trung cho việc triển khai thực hiện mô hình “Công ty mẹ - Công ty con” và thực hiện cổ phần hoá Tổng công ty cùng các công ty thành viên
Với mục tiêu chủ yếu là đa dạng hoá sản phẩm mẫu mã đẹp, đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, giá bán có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực và thế giới, tiếp tục giữ vững vị trí doanh nghiệp mạnh hàng đầu ở Việt Nam về lĩnh vực hàng dệt may Trên cơ sở đã đề ra, Tổng công ty tiến hành tổ chức sắp xếp lại sản xuất hợp lý
từ Công ty mẹ đến các Công ty con để khai thác đạt hiệu quả cao mọi nguồn lực hiện có
và đầu tư đồng bộ thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cho tất cả các khâu kéo sợi, dệt nhuộm hoàn tất và may hoàn chỉnh sản phẩm
Nhưng một bước ngoặt lớn đối với Tổng công ty Dệt may Hà Nội là vào ngày 11/01/2007 Bộ công nghiệp đã có quyết định về việc chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước
từ Tổng công ty Dệt May Hà Nội thành Tổng công ty cổ phần Dệt may Hà Nội, với tên giao dịch đối ngoại là :
Trang 12Hanoi textile- garment joint stock corporation
( viết tắt là : VINATEX - HANOSIMEX)Song song với đó Tổng công ty cũng tiến hành luôn việc cổ phần hoá các công ty thành viên bằng cách: tiến hành sáp nhập Nhà máy sợi Vinh vào Công ty Dệt May Hoàng Thị Loan và Cổ phần hoá doanh nghiệp này, Công ty mẹ giữ vai trò sở hữu Nhà nước chiếm 55% tổng số vốn điều lệ ; tiếp tục cổ phần hoá Công ty Dệt Hà Đông và Công ty May Đông Mỹ, trong đó Công ty mẹ chiếm 51-49% tổng số vốn điều lệ; cùng với đó Tổng công ty đã tiếp nhận, củng cố xong và đang cổ phần hoá Công ty sản xuất xuất nhập khẩu Hải Phòng, đồng thời mua 30% tổng số cổ phần Công ty Dệt-May Huế Thêm nữa Tổng công ty cũng đã tổ chức di dời các nhà máy dệt nhuộm hoàn tất vải dệt kim ở nội thành Hà Nội về khu Công nghiệp dệt-may tại Phố Nối (Hưng Yên) đã
có đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật xử lý môi trường để đảm bảo phát triển ổn định bền vững lâu dài Nhà máy này sẽ đảm bảo cung ứng đầy đủ kịp thời 2.300 tấn vải dệt kim chất lượng tốt cho 4 xí nghiệp chuyên may quần áo dệt kim phục vụ xuất khẩu là chủ yếu, bao gồm May 1, May 2, May Đông Mỹ và May thời trang với tổng năng lực trên 6,5 triệu sản phẩm/năm
Với hàng loạt hoạt động hiệu quả được thực hiện bài bản công ty đã đạt được những kết quả đáng kể :
♦ Tổng doanh thu đạt : 1.939.755 triệu đồng
♦ Lợi nhuận đạt : 17.000 triệu đồng
♦ Nộp ngân sách Nhà nước : 23.000 triệu đồng
Để hướng vào mục tiêu tiếp tục duy trì sự phát triển với hiệu quả cao của Tổng công ty sau khi cổ phần hoá, Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội đã đưa ra phương
án kinh doanh cho toàn bộ Tổng công ty trong giai đoạn tới ( từ 2008-2010) phấn đấu tăng trưởng chung đạt trên 15%/năm, đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, Tổng công
ty, cổ đông và người lao động bằng cách: Tổ chức lại sản xuất kinh doanh Từ năm 2008
Trang 13đến năm 2010 sẽ lần lượt chuyển các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Tổng công
ty sang tổ chức theo mô hình Công ty cổ phần để trở thành công ty liên kết với vốn Nhà nước chiếm không quá 30% vốn điều lệ của Công ty cổ phần đó Cụ thể là: Công ty cổ phần Dệt kim Phố Nối HANOSIMEX, Công ty cổ phần May HANOSIMEX, Công ty cổ phần Thời trang HANOSIMEX, công ty cổ phần Thương mại HANOSIMEX, Công ty
cổ phần đầu tư HANOSIMEX, Công ty cổ phần cơ điện HANOSIMEX, Công ty cổ phần liên doanh đầu tư và kinh doanh Bất động sản
Bên cạnh đó tiếp tục rút kinh nghiệm hoàn thiện cơ chế hoạt động Công ty mẹ- Công ty con đã được xác lập và thí điểm trong những năm qua để tạo ra mối liên kết kinh tế gắn bó lâu dài giữa Tổng công ty mẹ và các Công ty con, Công ty liên kết trong
tổ hợp HANOSIMEX với vai trò chi phối của Tổng công ty mẹ (là cổ đông lớn nhất, chi phối về thương hiệu và về thị trường) để quản lý hiệu quả vốn Nhà nước tại từng Công
ty cổ phần Kết hợp với việc khuyến khích và tạo điều kiện để các công ty con, Công ty liên kết phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh để khai thác tìm kiếm thị trường
và đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu, liên kết hợp tác nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó tăng cường hợp tác liên kết với các đối tượng trong và ngoài nước để thành lập, mua, thuê doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hoá loại hình kinh doanh, ngành nghề sản xuất kinh doanh để tăng sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
1.2.1.Nội dung các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Tổng công ty cổ phần Dệt May
Trang 14lượng cao đáp ứng tốt cho nhu cầu tiêu dùng ở cả trong nước và trên thế giới Những mặt hàng mà Tổng công ty chuyên sản xuất- kinh doanh- xuất nhập khẩu bao gồm: Các loại nguyên liệu bông, sơ, sợi, vải dệt kim và sản phẩm may mặc dệt kim, vải denim và các sản phẩm may dệt thoi; các loại khăn bông, nguyên phụ liệu, hoá chất (trừ những loại bị Nhà nước cấm kinh doanh), thuốc nhuộm, thiết bị, phụ tùng, động cơ, vật liệu, điện tử, nhựa, cao su, các mặt hàng tiêu dùng khác.
Cùng với đó, Tổng công ty còn tiến hành các hoạt động kinh doanh kho vận, vận tải, cho thuê văn phòng, nhà xưởng; kinh doanh cơ sở hạ tầng; kinh doanh nhà hàng, khách sạn; siêu thị; các dịch vụ vui chơi giải trí ( không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát Karaoke, vũ trường)
Ngoài ra, VINATEX - HANOSIMEX còn hoạt động dịch vụ đào tạo, đào tạo công nhân ngành dệt may, dịch vụ khoa học, công nghệ, sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị (chỉ hoạt động sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép); lắp đặt thiết bị công nghiệp, hệ thống điện lạnh, thiết bị phụ trợ ngành dệt may
Không chỉ dừng lại ở đó, với lộ trình liên tục đầu tư mở rộng sản xuất mặt hàng mới gắn liền với việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ góp phần giúp Tổng công ty vừa giữ được chữ tín với khách hàng, vừa không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình trên tất cả các thị trường mà công ty đang hoạt động
1.2.2.Chức năng, nhiệm vụ của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội được phép kinh doanh độc lập trong lĩnh vực xuất khẩu hàng dệt may cùng việc nhập khẩu máy móc, nguyên phụ liệu may mặc phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ cùng các kế hoạch có liên quan Tự tạo thêm nguồn vốn, quản lý và khai thác, sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước Tuân thủ các chính sách, các chế độ
Trang 15quản lý kinh tế, quản lý xuất nhập khẩu và giao dịch đối ngoại Thực hiện đầy đủ các điều kiện đã được thoả thuận trong hợp đồng kinh tế có liên quan Nâng cao chất lượng, gia tăng lượng hàng xuất khẩu , mở rộng thị trường quốc tế, thu hút ngoại tệ, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Đào tạo cán bộ có tay nghề cao, đồng thời hoàn thành tốt trách nhiệm xã hội đã được phân công.
1.2.3.Hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
♦ Nguồn vốn của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Trong vòng 24 năm hoạt động, VINATEX - HANOSIMEX luôn giữ được nhịp
độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, tiêu biểu như các chỉ tiêu thực hiện năm
2003 (so với 1994), giá trị tổng sản lượng tăng hơn 8 lần, doanh thu tăng gần 3 lần, kinh phí ngạch xuất khẩu tăng 3,55 lần Cũng trong năm 2003, lợi nhuận đạt gần 30 tỷ đồng -
tỷ suất lợi nhuận trên vốn là 19,36%; trích khấu hao đứng đầu trong các doanh nghiệp của VINATEX (53,8 tỷ đồng) Cũng vì những thành công này của công ty mà nguồn vốn của VINATEX - HANOSIMEX ngày càng được bổ sung không ngừng
Đặc biệt, sau nhiều năm nỗ lực hoạt động đến ngày 11/01/2007 Bộ công nghiệp
đã có quyết định chính thức số 04/2007/QĐ-BCN về việc thay đổi cơ cấu tổ chức của Tổng công ty Dệt may Hà Nội thành Tổng công ty cổ phần Dệt may Hà Nội Quyết định này đã góp phần mang lại cho Tổng công ty một lượng vốn điều lệ rất lớn, lên tới 205 tỷ đồng Số vốn này đủ để Công ty duy trì và phát huy tốt khả năng kinh doanh, hoàn thành các chỉ tiêu được giao, đồng thời thực hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, góp phần nâng cao đời sống của công nhân viên trong toàn công ty
Không chỉ có vậy, Tổng công ty còn thực hiện bổ sung vốn kinh doanh của mình thông qua các quỹ tích luỹ bảo toàn vốn, quỹ hàng hoá, quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, huy động vốn nhà rỗi từ công nhân viên, vay ngân hàng và vay nợ nước ngoài
♦ Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của Tổng công ty
Trang 16Năm 2005, vừa tổ chức lại sản xuất, Tổng công ty vừa đầu tư về chiều sâu thêm
165 tỷ đồng cho các dự án mở rộng nhà máy sợi Hà Nội và đổi mới dây chuyền sản xuất ống giấy, đồng thời tiến hành mở thêm một xí nghiệp chuyên may hàng dệt kim thời trang với hơn 100 lao động
Ngoài ra, việc hoàn thiện hệ thống mạng máy tính trong toàn Tổng công ty nhằm nâng cao chất lượng xử lý thông tin nhanh, chính xác, hiệu quả trong công tác điều hành sản xuất kinh doanh cũng đã được thực hiện
Cùng với đó là việc thực hiện đổi mới hệ thống công nghệ xử lý nước thải có công suất 1.000m3/ngày để giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Hơn nữa Tổng công ty cũng đã đầu tư một số tiền đáng kể cho các chương trình tiến bộ kỹ thuật để giảm mức tiêu thụ điện năng, từ đó giảm chi phí sản xuất và góp phần hạ giá thành sản phẩm, giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của Tổng công ty trên thị trường Trong đó đáng kể nhất là chuyển đổi các nồi hơi chạy dầu phải nhập khẩu sang đốt than sẵn có trong nước theo công nghệ cao, không gây ô nhiễm môi trường, lại tiết kiệm được trên 10 tỷ đồng tiền điện; lắp đặt thiết bị mới nâng cao hiệu suất sử dụng động cơ điện và máy biến áp phân phối điện, giảm được mức tiêu hao điện năng, đồng thời làm lại trần nhà mới cho xí nghiệp sợi, giảm được điện năng điều hoà hệ thống điều hoà không khí và thông gió, tiết kiệm mỗi năm 4-5 tỷ đồng tiền điện
Với việc không ngừng quan tâm và đầu tư cho hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật Đến nay VINATEX - HANOSIMEX cùng với các trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến nhất từ Đức, Ý, Nhật, Bỉ, Mỹ…đã chứng tỏ phần nào về thế mạnh của công ty trong quá trình cạnh tranh đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng và giá cả của sản phẩm
♦ Nguồn nhân lực của Tổng công ty
Là một doanh nghiệp lớn với trên 6000 công nhân viên và kĩ sư lành nghề, nên việc đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ, cũng như chăm lo đến đời sống hằng ngày cho đội ngũ cán bộ, công nhân - nhân tố hàng đầu quyết định mọi thành công của doanh
Trang 17nghiệp, đặc biệt với một doanh nghiệp quy mô lớn có nhiều thiết bị tiên tiến, hiện đại, tự động hoá cao vào loại bậc nhất của VINATEX như HANOSIMEX laị càng được ban lãnh đạo công ty quan tâm hơn.
Hiện tại, trong gần 6000 lao động Công ty có 310 cán bộ có trình độ đại học và trên đại học; cao đẳng và trung cấp là 219 người và hơn 5.000 lao động có tay nghề Chính nhờ xây dựng được một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn sâu, bản lĩnh vững VINATEX - HANOSIMEX đã giúp đỡ được nhiều doanh nghiệp khó khăn tưởng chừng không vượt qua giai đoạn suy thoái Tổng công ty đã tiếp nhận, đổi mới quản lý thành công Nhà máy Sợi Vinh, Nhà máy Dệt Hà Đông, đỡ đầu Công ty Dệt kim Hoàng Thị Loan, Dệt Nghệ An, May Nghệ An, giúp Công ty Sợi Trà Lý đào tạo công nhân và đầu tư dây chuyền kéo sợi Trung Quốc
Bảng 1.1.Cơ cấu lao động của Tổng công ty cổ phần Dệt may Hà Nội.
STT Phân loại theo trình độ Số lao động
Bảng 1.2 Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng
(Đơn vị tính: 1000vnđ / người / tháng)
Trang 18Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
và 250 - 350 lao động giỏi cấp Tổng công ty Chăm sóc sức khoẻ, tổ chức khám và chữa bệnh cho người lao động được duy trì đều đặn Ngoài ra, Tổng công ty còn cải thiện điều kiện và môi trường làm việc với các trang thiết bị văn minh, hiện đại, công tác an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp, phòng chống cháy nổ luôn được duy trì tốt và có nề nếp
♦ Năng lực tổ chức và quản lý của Tổng công ty
Là một doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn, với tiền thân là nhà máy Sợi Hà
Nội, sau hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, VINATEX - HANOSIMEX đã vươn lên thành một công ty đa ngành, đa nghề, với 8 đơn vị thành viên Hơn nữa, Tổng công ty còn luôn giữ vững được vị trí là đơn vị dẫn đầu của Tập đoàn Dệt may Việt
Nam về thành tích xuất khẩu Để đạt được thành công này bộ máy quản lý điều hành của Tổng công ty đã phải đối mặt rất nhiều khó khăn, nhưng với mô hình quản lý " Công ty
mẹ - công ty con" đã giúp ban lãnh đạo giải quyết phần nào những khó khăn đó và trên hết lại tạo ra động lực để mỗi đơn vị thành viên phát huy mạnh mẽ hơn nữa quyền chủ động, năng lực sáng tạo của mình, qua đó xây dựng Tổng công ty ngày càng vững mạnh, năng lực sản xuất kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả cao
Nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ quản lý nên Tổng công ty thường xuyên tiến hành công tác đào tạo mới, đào tạo lại để nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn và năng lực quản lý điều hành sản xuất kinh doanh cho đội ngũ cán bộ chủ chốt Vì
Trang 19vậy một nguồn ngân sách đáng kể đã được bỏ ra để tổ chức 54 lớp chuyên đề cho 528 lượt cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân giỏi đi nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm trong quản lý kinh tế - kỹ thuật, điều hành sản xuất kinh doanh của các đơn vị đầu ngành ở trong nước và một số nước ngoài
Nhờ đó, hiện nay VINATEX - HANOSIMEX đã có đội ngũ cán bộ quản lý giàu kinh nghiệm và có trách nhiệm cao, đủ khả năng tiếp nhận, quản lý, kiểm tra, giám sát việc vận hành hệ thống các thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến Từ đó mang lại hiệu quả cao trong tiến trình đầu tư phát triển đồng bộ cùng một lúc ở cả các khu vực Hà Nội,
Hà Đông, Hải Phòng, Hưng Yên và Nghệ An của Tổng công ty
1.3 HÌNH THỨC TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA TỔNG CÔNG TY
1.3.1.Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội vừa đảm bảo theo đúng quy định của Nhà nước đồng thời vừa đảm bảo phù hợp với phương thức hoạt động của Tổng công ty
♦ Ban giám đốc
Tổng giám đốc
Điều hành mọi hoạt động của Tổng công ty
Phó tổng giám đốc- Điều hành sợi
Quản lí, điều hành công tác kĩ thuật, sản xuất, đầu tư và môi trường thuộc lĩnh vực Sợi, hoạt động lĩnh vực công nghệ thông tin
Phó tổng giám đốc- Điều hành dệt nhuộm
Quản lí, điều hành công tác kĩ thuật, sản xuất, đầu tư và môi trường thuộc lĩnh vực Dệt nhuộm
Phó tổng giám đốc- Điều hành may kiêm đại diện lãnh đạo phụ trách hệ thống quản
lí chất lượng
Trang 20Quản lí, điều hành công tác kĩ thuật, sản xuất, đầu tư và môi trường thuộc lĩnh vực May và Trung tâm đào tạo công nhân may.
Thay mặt Tổng giám đốc điều hành việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lí chất lượng theo tiêu chuẩn ISO-9001:2000
Phó tổng giám đốc- Điều hành công tác xuất nhập khẩu
Quản lí, điều hành các công việc liên quan đến lĩnh vực Xuất Nhập khẩu, công tác Hợp tác quốc tế, công tác Mẫu thời trang, hệ thống Kho tàng
Phó tổng giám đốc- Điều hành tiêu thụ nội địa
Quản lí, điều hành lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm Dệt may nội địa, hoạt động kinh doanh Siêu thị Tổng hợp; Kiểm tra, đánh giá doanh nghiệp
Phó tổng giám đốc- Điều hành quản trị nguồn nhân lực và hành chính kiêm đại diện lãnh đạo phụ trách hệ thống trách nhiệm xã hội
Quản lí, điều hành lĩnh vực lao động tiền lương, chế độ, chính sách, bảo vệ quân
sự, đời sống, hành chính
Thay mặt Tổng giám đốc điều hành việc xây dựng và áp dụng hệ thống trách nhiệm xã hội SA8000, WRAP
♦ Các phòng ban
Phòng đầu tư và công nghệ thông tin
Giúp Tổng giám đốc thống nhất quản lí hoạt động, vận hành cơ sơ hạ tầng kĩ thuật công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin vào phục vụ công tác quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh trong toàn Tổng công ty; đồng thời tìm kiếm địa điểm
và mức độ đầu tư thích hợp với nguồn lực của doanh nghiệp
Trang 21Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp tại thị trường nội địa
Phòng kinh doanh
Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác kinh doanh tại thị trường
trong nước bao gồm: Tổ chức nghiên cứu đánh giá thị trường, bạn hàng, để tìm kiếm giao dịch với đối tác kinh doanh Tổ chức đàm phán và làm các thủ tục ký kết hợp đồng buôn bán và triển khai cho các đơn vị liên quan thực hiện
Phòng xuất nhập khẩu
Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác xuất nhập khẩu bao gồm: Tổ chức nghiên cứu đánh giá thị trường, bạn hàng để tìm kiếm, giao dịch với đối tác xuất khẩu và nhập khẩu Tổ chức đàm phán và làm các thủ tục ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu và triển khai cho các đơn vị liên quan thực hiện
Phòng kế toán tài chính
Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác Kế toán tài chính của công
ty nhằm sử dụng đồng vốn hợp lí, đúng mục đích, đúng chế độ, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty được duy trì liên tục và đạt hiệu quả cao.
Phòng quản trị nhân lực
Tham mưu cho Tổng giám đốc về công tác quản trị nguồn nhân lực, hành chính quản trị và an ninh an toàn của công ty bao gồm: Tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo nguồn nhân lực, chế độ chính sách đối với người lao động, cổ phần hoá doanh nghiệp
Phòng đời sống
Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác quan tâm chăm sóc đến đời
sống của đội ngũ cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp như phục vụ ăn uống cho cán
bộ công nhân viên trong thời gian làm việc tại công ty; quản lý cây xanh, vệ sinh mặt bằng toàn công ty
Trung tâm y tế
Trang 22Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu
và tổ chức khám sức khoẻ định kì cho người lao động, chịu sự chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ chủa Sở y tế Hà Nội và sự quản lí của ngành, của Trung tâm y tế Tổng công ty Dệt may Việt Nam
Trung tâm thí nghiệm và kiểm tra chất lượng sản phẩm
Tham mưu giúp việc cho Tổng giám đốc về công tác thí nghiệm và kiểm tra chất
lượng các loại nguyên liệu bông, xơ, sợi trước khi đưa vào sản xuất; và các loại sản phẩm do Tổng công ty sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng của Tổng công ty đã ban hành Tham gia xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO Nghiên cứu đề ra các biện pháp, sáng kiến nhằm tiếp cận với những phương pháp quản
lý chất lượng tiên tiến tác động kịp thời vào sản xuất
Ngoài ra, Tổng công ty còn mới có sự thay đổi cơ cấu bộ máy khi tách phòng Kỹ
thuật may thành Phòng điều hành may và Phòng điều hành sợi dệt nhằm phân chia
công việc rõ ràng, giúp tập trung và sử dụng nguồn lực hợp lý từ đó thu được kết quả hoạt động cao hơn
Tổng công ty cổ phần Dệt may Hà Nội tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng gồm những phòng ban với chức năng, chuyên ngành riêng biệt nhưng cùng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ban lãnh đạo ( gồm Tổng giám đốc và các Phó tổng giám đốc) Mối quan hệ giữa các phòng ban trong Tổng công ty là mối quan hệ bình đẳng, hợp tác và cùng giúp đỡ lẫn nhau.Qua đó vừa phát huy được tính chủ động của từng bộ phận vừa mang tính thống nhất trong hoạt động của toàn bộ Tổng công ty
Trang 23Sơ đồ 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng công ty
Tổng giám đốc
Phó TGĐ - tiêu thụ nội địa
Phó TGĐ - XNKPhó TGĐ - May
Phó TGĐ - Dệt, nhuộmPhó TGĐ - Sợi
Nhà máy Dệt Denim
Trung tâm Dệt kim PN
Trung tâm Cơ khí TĐH
Cty CP Dệt
Hà Đông Hanosimex
Phó TGĐ - nhân sự
T.Tâm TKế thời trang
T.Tâm TN &
KTCLSPN/m May 1
N/m May 2
N/m May 3
May Thời Trang
May Hải Phòng
Phòng
KH - VT
Cty CP TM Hải Phòng Hanosimex
Siêu thị Vinatex HĐ
Phòng kinh doanh
Chi nhánh HCM
Cty CP May Đông Mỹ Hanosimex
hành Sợi-Dệt
Trang 241.3.2.Cơ cấu tổ chức của bộ máy Xuất nhập khẩu
Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội (VINATEX – HANOSIMEX) là một tổng công ty có phạm vi hoạt động lớn trải rộng cả ở trong và ngoài nước trên nhiều lĩnh vực, trong đó hoạt động xuất nhập khẩu đã và đang giữ vai trò quan trọng nhất đối với toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Vì thế việc tổ chức một bộ máy xuất nhập khẩu phù hợp với bộ máy chung để quản lý toàn bộ các mối quan hệ, các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu với đối tác nước ngoài là một đòi hỏi thiết yếu đối với Tổng công ty
Cơ cấu của phòng xuất nhập khẩu bao gồm:
Trưởng phòng Xuất nhập khẩu
Là người có chức năng tham mưu cho Tổng giám đốc về công tác Xuất nhập Khẩu, đồng thời phải chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về hoạt động xuất nhập khẩu của Tổng công ty
Phó phòng 1
Là người có chức năng tham mưu, giúp việc cho Trưởng phòng, giải quyết các công việc được Tổng Giám đốc và Trưởng phòng phân công, đảm bảo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
và luật pháp hiện hành
Trang 25
Phó phòng 2
Là người có chức năng tham mưu, giúp việc cho Trưởng phòng, giải quyết các công việc được Tổng Giám đốc và Trưởng phòng phân công đảm bảo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
và pháp luật hiện hành
Nhóm trưởng
Là người có nhiệm vụ:
+ Bao quát, điều phối công việc trong nhóm một cách hiệu quả
+ Đề xuất lãnh đạo phòng những biện pháp nhằm giải quyết công việc của nhóm hiệu quả
Người quản lí đơn hàng
Là người có nhiệm vụ:
+ Liên hệ giao dịch với khách hàng để có được đơn hàng theo quy định từng tháng cụ thể của lãnh đạo phòng
+ Triển khai thực hiện hợp đồng
+ Kiểm soát việc thực hiện đơn hàng
+ Kiểm soát giao hàng
+ Kiểm soát việc doanh thu tuần/ tháng, thanh toán, tiền về
+ Hoàn tất bộ hồ sơ miễn thuế chuyển bộ phận miễn thu thuế
+ Giải quyết các khiếu nại và các tồn tại liên quan đơn hàng (nếu có)
Người phụ trách nhập khẩu nguyên phụ liệu
Là người có nhiệm vụ:
Trang 26+ Đặt nguyên phụ liệu theo nhu cầu, duyệt giá, soạn hợp đồng nhập khẩu
+ Kiểm soát hồ sơ nhập khẩu nguyên phụ liệu kết hợp cán bộ TTNK đảm bảo hồ sơ miễn thuế đúng quy định
+ Báo cáo tình hình nguyên phụ liệu cho người quản lí đơn hàng
+ Giải quyết các khiếu nại liên quan đến nhập khẩu nguyên phụ liệu
Sơ đồ 1.2.Cơ cấu tổ chức phòng Xuất - Nhập khẩu
Trưởng phòng
XK SP may dệt kim
XK Vải dệt thoi
NK nguyên liệu bông xơ
Dự án đầu tư
NK hoá chất thuốc nhuộm
Thị trườngHành chính
Phó phòng 2
XK SP May dệt thoi
Tiêu thụ hàng sau XK
Mạng thông tin nội bộ
Hệ thống ISO,SA,WRAP
Trang 27PHẦN II THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING QUỐC TẾ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
2.1.ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
Như đã trình bày ở phần trên, xuất khẩu luôn được coi là hoạt động mũi nhọn trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
Do vậy việc tiến hành nghiên cứu các đặc điểm của hoạt động xuất khẩu là một vấn đề cần thiết nếu muốn thấy phần lớn hoạt động sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty
Bảng 2.1.Các chỉ tiêu kinh doanh của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
(Đơn vị tính: USD)
Trang 28Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt mức 35.218.553 USD tăng 34.7% so với năm 2004, năm 2006 tiếp tục tăng 12.1% so với năm 2005 và đến năm 2007 giá trị kim ngạch lên tới 51.067.137 USD tăng 29.2% so với cùng kì năm 2006 Nhưng nhận thấy rằng kim ngạch xuất khẩu tăng chỉ thực sự mang lại hiệu quả cao hơn khi kim ngạch nhập khẩu phải ổn định hoặc giảm, nên Tổng công ty luôn tìm mọi biện pháp để giảm bớt giá trị kim ngạch nhập khẩu của mình Năm 2005 mức kim ngạch nhập khẩu đạt 23.667.249 USD chỉ tăng 5,5% so với năm 2004, đến năm 2006 giảm 7,6% xuống còn 32.526.685 USD, đặc biệt vào năm 2007 với nhiều cải tiến và biến đổi trên thị trường nên mức kim ngạch lại giảm xuống 14,1% chỉ còn 30.250.000 USD.
Kết quả của những nỗ lực trên là doanh thu của Tổng công ty không ngừng tăng góp phần bổ sung thêm nguồn vốn kinh doanh, cải thiện dần đời sống của người lao động và hơn hết là hoàn thành tốt hơn nghĩa vụ đối với xã hội
Với vị thế quan trọng kể trên việc nghiên cứu hoạt động xuất khẩu đáng được Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội quan tâm hơn bao giờ hết vì nó sẽ mang đến cho ban lãnh đạo của Tổng công ty những thông tin chính xác về ưu điểm và nhược điểm còn tồn tại trong hoạt động xuất khẩu Qua đó ban lãnh đạo Tổng công ty sẽ có chính sách để vận dụng tối đa những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm thậm chí điều chỉnh những nhược điểm đó thành lợi thế của Tổng công ty
Việc nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
sẽ được thực hiện trên những khía cạnh như: các mặt hàng xuất khẩu, thị trường xuất khẩu và phương thức xuất khẩu
2.1.1 Các mặt hàng xuất khẩu
Trong thời gian gần đây, do nhận thấy nhu cầu mới từ phía khách hàng Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội đã không ngừng nỗ lực mở rộng danh mục sản phẩm của mình để đáp ứng kịp thời những đòi hỏi đó Vì vậy từ danh mục hàng hoá ban đầu chỉ gồm khoảng 3,4 sản phẩm như sợi, vải dệt kim, khăn, quần áo dệt kim thì nay đã
Trang 29được bổ sung thêm các mặt hàng như vải denim, quần áo denim, vải dệt thoi, lều,…làm cho danh mục hàng hoá lên tới gần chục chủng loại Với danh mục hàng hoá đa dạng, phong phú, chất lượng sản phẩm cao và ổn định, nhất là một danh tiếng đã được khẳng định nhiều năm…tất cả đã làm cho sản phẩm của VINATEX - HANOSIMEX được khách hàng biết đến và tin dùng, góp phần đẩy mạnh doanh thu của Tổng công ty ngày càng tăng, năm sau luôn cao hơn năm trước.
Sau đây là bảng báo cáo kết quả xuất khẩu của Tổng công ty theo mặt hàng, qua
đó chúng ta có thể nhận thấy những sản phẩm thế mạnh của Tổng công ty trong thời gian qua
Số lượng (chiếc)
Trị giá (USD) Số lượng
(chiếc)
Trị giá (USD)
Quần áo
dệt kim
419.217 1.399.082,04 - 23.906.076,48 634.382 1.197.905
Sợi (tan) 381.136,6 921.521,02 3.491.791,64 14.820.063,92 525 600.000Khăn
Trang 30Về sản phẩm Quần áo dệt kim
Sản phẩm dệt kim ra đời lần đầu là vào khoảng năm 1991, khi đó loại sản phẩm này được sản xuất ra chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước vì nó chỉ có chất lượng trung bình, chủng loại, mẫu mã nghèo nàn nên giá cả rẻ thích hợp với điều kiện sống của người dân Việt Nam trong thời gian ấy Trong hoàn cảnh đó thị trường quốc tế chưa phải thị trường trọng điểm mà ban lãnh đạo Tổng công ty nhắm đến trong giai đoạn này vì họ nhận thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm quần áo dệt kim còn thấp nên cả cơ hội xâm nhập thị trường thế giới và khả năng cạnh tranh là hầu như không có
Nhưng chỉ một năm sau, năm 1992 nhận thấy nhiều nhu cầu về loại sản phẩm này trên thị trường thế giới và nhất là khi đây lại là sản phẩm thế mạnh của mình nên ban lãnh đạo Tổng công ty đã tiến hành nhiều biện pháp như: đầu tư mở rộng sản xuất, trang
bị nhiều máy móc hiện đại, công nghệ tiên tiến…nhằm cải thiện cả về số lượng cũng như chất lượng, mẫu mã của sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng ở cả trong nước và trên thế giới
Đáp lại những cố gắng đổi mới của toàn Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội, sản phẩm quần áo dệt kim đã được người tiêu dùng nhiều nước trên thế giới biết đến và tin dùng Vì thế giá trị kim ngạch xuất khẩu loại sản phẩm này không ngừng tăng lên Nếu như vào năm 2005, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng Quần áo dệt kim đã đạt mức 17.251.193 USD tăng 21.2% so với năm 2004 thì năm 2006 mức kim ngạch đạt được tiếp tục tăng 5% so với năm 2005 dù có thấp hơn tỷ lệ tăng trưởng của năm trước nhưng vẫn đạt mức 18.141.572 USD Và đến năm 2007 giá trị kim ngạch xuất khẩu quần áo dệt kim đã tăng cao trở lại với mức tăng ngày càng khả quan hơn là 33.4% so với cùng kì năm 2006 vươn lên 24.234.669 USD
Về sản phẩm Khăn
Trang 31Là loại sản phẩm được đưa vào danh mục sản xuất của Tổng công ty từ những ngày đầu hoạt động đủ thấy tầm quan trọng của chủng loại sản phẩm này trong nhận thức của ban lãnh đạo Tuy nhiên sau vài năm đi vào hoạt động, kết quả kinh doanh không đạt được như ý muốn, thậm chí có thời kỳ sản phẩm bán ra chỉ hoà vốn, không thu được lãi về Điều này khiến cho ban lãnh đạo buộc phải đưa ra quyết định tạm ngừng sản xuất
Nhưng đến năm 1995, khi điều kiện cho phép Tổng công ty có thể đầu tư nâng cao chất lượng, chủng loại và mẫu mã sản phẩm bằng cách cung cấp thêm nhiều dây chuyền sản xuất theo công nghệ hiện đại Ban lãnh đạo Tổng công ty đã có một quyết định sáng suốt khi cho tiến hành lại hoạt động sản xuất loại hàng này Và hệ quả do quyết định đó mang lại là Tổng công ty đã có những thành công không ngờ khi sản phẩm mới được khách hàng chấp nhận và tiêu dùng ở mức độ cao Kim ngạch xuất khẩu khăn các loại này ngày càng tăng Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu khăn đạt 5.839.419 USD tăng 18.5% so với năm 2004, đến năm 2006 mức kim ngạch đạt được còn cao hơn khi ở mức 6.931.196 USD, và vào năm 2007 mức kim ngạch đã lên đến 7.856.518 USD tăng 13.4% so với cùng kỳ năm 2006
Mặc dù có công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến nhưng việc sản xuất mặt hàng khăn các loại hiện nay tại Tổng công ty vẫn gặp nhiều khó khăn, mà chủ yếu là ở chỗ nguồn nguyên liệu đa số là nhập khẩu nên việc sản xuất bị phụ thuộc nhiều vào nhà cung cấp sợi quốc tế Và kết quả tất yếu là lượng hàng hoá chưa đủ đáp ứng nhu cầu, đặc biệt
là giai đoạn cao điểm, lúc đó Tổng công ty sẽ bỏ qua thị trường trong nước để ưu tiên hơn thị trường nước ngoài nơi sẽ mang về cho Tổng công ty mức lợi nhuận cao hơn Điều này sẽ gây ra những bất lợi không nhỏ đối với Tổng công ty trong việc giữ vững thị phần trong nước, tránh sự gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh trong giai đoạn Tổng công ty không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Về sản phẩm Sợi
Trang 32Đây cũng là loại sản phẩm được ban lãnh đạo Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội xếp vào danh mục sản phẩm chiến lược ngay từ đầu Có hai lí do để ban lãnh đạo đi tới quyết định này, thứ nhất sợi là loại sản phảm không cần hàm lượng kỹ thuật cao, đơn giản dễ sản xuất nên rất thích hợp với điều kiện của Tổng công ty giai đoạn đầu, thứ hai quan trọng hơn đây còn là loại sản phẩm đầu vào cho các hoạt động dệt may Vì thế nếu không có sợi sẽ không có các hoạt động tiếp theo tại Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội và ở cả các doanh nghiệp dệt may khác.
Hiện nay, lượng sợi sản xuất ra được ưu tiên đáp ứng cho nhu cầu của 3 công ty dệt trực thuộc Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội là Công ty cổ phần dệt kim Phố Nối HANOSIMEX, Công ty cổ phần dệt may Hoàng Thị Loan và Công ty cổ phần dệt
Hà Đông HANOSIMEX Phần còn lại Tổng công ty mới tính đến việc bán cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam và các công ty nước ngoài có nhu cầu
Thời gian gần đây do năng lực sản xuất có nhiều biến đổi và được đầu tư thêm các trang thiết bị kỹ thuật mới nên lượng sợi sản xuất được đã tăng nhiều so với trước,
đủ để đáp ứng được cả nhu cầu của Tổng công ty lẫn các doanh nghiệp trong nước và thậm chí cho cả các doanh nghiệp nước ngoài Chính vì vậy giá trị kim ngạch xuất khẩu của loại mặt hàng này thường khá cao, năm 2005 kim ngạch tăng 83.1% so với năm
2004, năm 2006 mặc dù có giảm đáng kể nhưng mức tăng vẫn là 17.9%, đến năm 2007 con số này lại tăng lên là 15.042.227 USD hơn năm 2006 43.8%
Về sản phẩm Quần áo denim và Vải denim
Đây là những mặt hàng mới của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội xuất hiện trong danh mục hàng hoá vào cuối năm 1999 Tổng công ty bắt đầu tiến hành sản xuất mặt hàng này khi nhận thấy đây là loại sản phẩm có nhiều tiềm năng nhưng vào thời điểm đó mới chỉ có 2 nhà cung cấp, cũng với nhận thức như vậy ban lãnh đạo Tổng công
ty đã đầu tư 7 dây chuyền công nghệ cao chuyên sản xuất mặt hàng vải denim và quần
áo từ vải denim
Trang 33Đáp lại những ưu ái của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này không ngừng tăng nhanh, mang lại cho Tổng công ty nhiều mối lợi lớn Nếu như vào năm 2004 mặt hàng vải denim còn chưa được xuất khẩu, 100% được tiêu thụ trong nước thì đến năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này là 481.015 USD; năm 2006 tăng lên 1.115.182 USD gấp 2.3 lần so với năm 2005; và vào năm 2007 là 2.002133 USD Cùng với đó mặt hàng quần áo denim cũng tăng trưởng đáng kể, năm 2005 đạt 2.771.712 USD, năm 2006 đạt 2.801.207 USD, nhưng năm 2007 lại giảm xuống chỉ còn 1.894.562 USD.
2.1.2.Thị trường xuất khẩu
Với uy tín cao tạo dựng qua nhiều năm hoạt động, cung cấp các sản phẩm phù hợp với yêu cầu và sự tận tuỵ trong việc phục vụ khách hàng, từng đấy lý do đủ để trả lời cho câu hỏi “ Tại sao danh sách khách hàng quốc tế của Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội ngày càng dài thêm?”
Bảng 2.3 Kết quả kinh doanh xuất khẩu theo thị trường của Tổng công ty cổ
Trang 34( Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu - Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội)
Trong giai đoạn đầu hoạt động, Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội chỉ nhắm đến những thị trường truyền thống là Nhật, Pháp, Đức, Italia và khách hàng lớn nhất là Liên Xô, nhưng trải qua nhiều biến động về chính trị và kinh tế đã khiến cho hoạt động xuất khẩu dệt may của Tổng công ty bị ảnh hưởng nặng nề Vì vậy trước những đòi hỏi của thời cuộc về một thị trường mới, mạnh mẽ, giàu tiềm năng, có thể giúp Tổng công ty vượt qua giai đoạn khó khăn này đã buộc doanh nghiệp phải tiến hành tìm kiếm và mở rộng thị trường Kết quả là hàng loạt các thị trường mới, hoặc thị phần mới làm cho công tác xuất khẩu hàng dệt may của Tổng công ty đã có những bước tăng trưởng nhanh chóng Tiêu biểu như Hàn Quốc với mức kim ngạch tăng đến 139 lần so với năm 2001 đạt 49.774.20 USD, nhưng con số này vẫn chưa ấn tượng bằng kết quả xuất khẩu sang
Mỹ đặc biệt là sau Hiệp định thương mại song phương Việt Mỹ ( năm 2001) giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng vọt lên 35.582.990 USD, trong khi vào năm 2000 giá trị này chỉ khoảng 29.769 USD
Trang 35Đây là một bước tiến lớn đối với toàn bộ Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội khi những nỗ lực tìm kiếm đã đạt được kết quả mong đợi: Mỹ, một thị trường lớn, giàu tiềm năng và hiện nay đã trở thành khách hàng lớn nhất của toàn doanh nghiệp hứa hẹn
sẽ mang lại cho Tổng công ty nhiều mối lợi lớn
2.2.THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG MARKETING QUỐC TẾ TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
2.2.1.Nghiên cứu thị trường Mỹ
Việc tiến hành nghiên cứu thị trường trước khi tiến hành kinh doanh tại thị trường
đó là một đòi hỏi tất yếu Và Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội cũng đã thực hiện hoạt động nghiên cứu này tại thị trường Mỹ
So với toàn thế giới, Mỹ chiếm 7,2% về diện tích, 4,6% về dân số, 28,5% về GDP, 9,5% về kim ngạch xuất khẩu, gần 20% về kim ngạch nhập khẩu Mỹ đứng hàng đầu thế giới về khoa học - công nghệ, đứng thứ ba về diện tích (sau Liên bang Nga và Canada), đứng thứ ba dân số (sau CHND Trung Hoa, Ấn Độ), đứng thứ nhất về GDP, đứng thứ hai về xuất khẩu (sau Đức), đứng đầu về nhập khẩu, nhiều gấp 2,5 lần nước đứng thứ hai (Đức)
Nhập khẩu của Mỹ ở mức khổng lồ không chỉ do quy mô dân số đông (gần 300 triệu người), quy mô GDP lớn (hơn 1,25 nghìn tỉ USD), mức tiêu dùng và tỷ lệ tiêu dùng
so với GDP rất cao (trên 80%), mà trong những năm gần đây, Mỹ có chủ trương chuyển việc sản xuất ở trong nước ra nước ngoài, đặc biệt là các nước đang phát triển để tận dụng lực lượng lao động đông đến mức dôi thừa, giá nhân công rẻ ở những nước này và tránh được ô nhiễm nếu sản xuất ở trong nước
Vốn, kỹ thuật - công nghệ cao, dung lượng thị trường lớn (nhập khẩu lên đến 1.600 tỉ USD), Mỹ là niềm mơ ước của hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhất là những nước đang phát triển Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với
Mỹ từ năm 1995, ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ cuối năm 2000, từ cuối năm 2006
Trang 36-đầu năm nay đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Mỹ đã trao Quy chế thương mại PNTR Quan hệ thương mại, đầu tư Việt Mỹ đã phát triển khá nhanh.
Xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ đã tăng mạnh, nếu năm 1995 mới đạt 169,7 triệu USD, năm 2000 mới đạt 732,8 triệu USD, thì năm 2006 đã đạt 8,6 tỉ USD Năm
2006 đã gấp nhiều lần năm 1995 và năm 2000 gấp hơn 50 lần năm 1995 bình quân 1 năm tăng 42,9%, gấp 11,7 lần năm 2000 bình quân 1 năm tăng 50,7%), đều cao hơn nhiều các chỉ số tương ứng của tổng kim ngạch xuất khẩu trong cùng thời gian của Việt Nam (2,75 lần và 18,4%/năm) Tỷ trọng xuất khẩu sang Mỹ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vì thế đã tăng nhanh qua các năm (năm 1995 mới đạt 3,1%, năm
2000 mới đạt 5,1% thì đến năm 2006 đã đạt 21,6%) và Mỹ đã vượt qua Nhật Bản trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam Bước sang năm 2007, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tiếp tục tăng cao hơn tốc độ chung (bốn tháng đầu năm đạt 2,8 tỉ USD, tăng 23,1% so với cùng kỳ, trong đó dệt may đạt 1,2 tỉ USD, tăng 32,9% và chiếm 45% tổng kim ngạch dệt may của Việt Nam; giày dép đạt 290 triệu USD, tương ứng chiếm 24,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 267 triệu USD, tương ứng chiếm 35,3%) Đáng lưu
ý, trong quan hệ thương mại giữa Mỹ và Việt Nam, Việt Nam có vị thế xuất siêu Mức xuất siêu đã tăng nhanh và hiện đạt quy mô khá lớn (năm 2000 mới đạt 0,4 tỉ USD, thì năm 2006 đạt 7,5 tỉ USD)
Tuy nhiên, xuất khẩu vào Mỹ đang gặp khó khăn, hiện đang bị chững lại do Mỹ thực hiện Chương trình giám sát hàng dệt may xuất khẩu vào Mỹ của Việt Nam - một chương trình phi lý về ba mặt (Việt Nam không cạnh tranh với sản xuất dệt may trong nước của Mỹ vì Mỹ không sản xuất hàng dệt may hàng loạt; kim ngạch dệt may của Việt Nam vào Mỹ chỉ chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch dệt may nhập khẩu của Mỹ, Việt Nam đứng thứ 8 trong các nước xuất khẩu vào Mỹ nhưng chỉ có Trung Quốc và Việt Nam là 2 nước có nền kinh tế chuyển đổi lại bị giám sát, còn 6 nước đứng trên Việt Nam lại không bị, chứng tỏ Mỹ đối xử không công bằng)
Trang 37Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam tuy đứng sau nhiều nước nhưng hiện đang đứng vị trí cao cả về hai nghĩa Một mặt, lượng vốn tính đến hết tháng 3.2007 đã đạt 2.302 triệu USD, đứng thứ 8 trong hơn 70 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Mặt khác, đó là những dự án có kỹ thuật - công nghệ khá cao, phần nhiều đều thuộc công nghệ nguồn.
Lượng khách đến Việt Nam cũng đã tăng nhanh qua các năm, năm ngoái đạt trên gần 386 nghìn lượt người, đứng thứ ba trong các nước và vùng lãnh thổ Thời gian lưu trú của Việt Nam dài, mức chi tiêu khá, nên tổng số tiền khách Mỹ chi tiêu ở Việt Nam lớn nhất, lên đến trên nửa tỉ USD, chiếm 16% tổng số tiền chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam
2.2.1.1.Môi trường kinh tế
Mỹ là nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới GDP năm 2006 là 13.163.870 tỷ USD ( số liệu thống kê của World Bank năm 2006) chiếm tới 34% GDP của toàn thế giới Mức GDP cao kéo theo mức thu nhập bình quân đầu người tại Mỹ cũng thuộc loại cao trên thế giới đạt mức 43.500 USD/người/năm ( theo báo cáo về nền kinh tế Mỹ của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội - năm 2006), chính vì vậy sức mua hàng hoá cũng cao hàng năm đều vào khoảng 7000 tỷ USD
Kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đã tăng 0.2% so với năm 2005 đạt mức 815 tỷ USD, trong khi đó kim ngạch nhập khẩu là 1.476 tỷ USD và hàng hoá của Việt Nam chiếm tới 8 tỷ 566 USD tăng 29.2% so với năm 2005 khi chỉ đạt có 6 tỷ 631 USD
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Mỹ là máy móc, thiết bị, ôtô, linh kiện, hàng tiêu dùng, nông sản…và bên cạnh đó các mặt hàng nhập khẩu là dầu thô và các sản phẩm từ dầu, máy móc, ôtô, hàng tiêu dùng, thực phẩm đồ uống, vật liệu công nghiệp, hàng dệt may…
2.2.1.2.Môi trường chính trị - luật pháp
Trang 38Mỹ là một trong những quốc gia còn thực hiện chế độ chính trị “tam quyền – phân lập” trong đó Quốc hội thực thi quyền lập pháp, Tổng thống thực thi quyền hành pháp và Toà án thực thi quyền tư pháp Các hoạt động này diễn ra một cách độc lập nhưng cùng hướng tới một mục đích chung là tạo lập nên một Hiến pháp chung cho toàn liên bang
Hiến pháp của Mỹ là hệ thống pháp luật rất phức tạp gồm hai ngành chính là công pháp và tư pháp Công pháp là hình thức luật pháp được quy định rõ ràng dưới hình thức văn bản bao gồm Hiến pháp, Bộ luật, Đạo luật và căn bản dưới luật Tư pháp là hình thức luật bất thành văn, gồm các quy phạm luật không được soạn thảo và tập hợp một cách có hệ thống mà hình thành dần dần thông qua các quyết định và bản án của toà trong thực tiễn xét xử còn được gọi là các án lệ
Không chỉ quy định các vấn đề liên quan tới xã hội, hệ thống luật pháp của Mỹ còn có những quy định phức tạp hơn đối với các hoạt động kinh doanh, buôn bán trên lãnh thổ Mỹ, trong đó đặc biệt phải kể đến hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu do Quốc hội quản lý
2.2.1.3.Môi trường văn hoá – xã hội
Mỹ là một quốc gia đa chủng tộc gồm người da trắng, da đen, da vàng và cả người Indian bản địa Theo báo cáo của Trung tâm người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha,
số dân nhập cư có nguồn gốc châu Á và La-tinh nhiều hơn người da trắng và da đen Khi dân số đạt 200 triệu vào năm 1967, có đến 85% người Mỹ là dân da trắng Dân nhập cư gốc châu Á ít hơn, không đến 1% dân số Mỹ Nhưng ngày nay, người gốc Á khoảng 5%, người da trắng chiếm khoảng 82%, số còn lại là người da đen và dân bản địa Đây sẽ vừa
là thuận lợi cũng vừa là khó khăn đối với các doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trường này
Cũng do đặc điểm trên nên người dân Mỹ thường không có khung thẩm mỹ chung một phần là do họ thường đề cao chủ nghĩa cá nhân phần khác là do các nhóm