Xuất phát từ thực tế này, tôi đã chọn đề tài: “Những giả pháp nhằm nâng cao chất lợng hoạt động của đội ngũ đại lý tại Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà Nội” với hy vọng hỗ trợ hỗ trợ Công ty
Trang 1lời mở đầu
Nh mọi ngời đều biết nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ mới đợc triển khai ởnớc ta (năm 1996) do Bảo Việt xây dựng và triển khai Nhng cho đến một vàinăm gần đây, trên thị trờng bảo hiểm nhân thọ nớc ta đã có sự tham gia của cáccông ty khác, đặc biệt là các công ty bảo hiểm nhân thọ nớc ngoài nh AIA,Prudential, Manulife, Trong khi Bảo Việt triển khai nghiệp vụ bảo hiểm nhânthọ mới đợc vài năm thì các công ty bảo hiểm nhân thọ của nớc ngoài đã cómột bề dày xây dựng và phát triển hàng trăm năm, có tiềm lực tài chính khổng
lồ, có đội ngũ đông đảo các cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao trong lĩnhvực bảo hiểm nhân thọ
Hơn thế nữa trong những năm sắp tới, khi mà Việt Nam gia nhập WTOthì sức ép cạnh tranh từ nhiều công ty bảo hiểm nớc ngoài hoạt động trong lĩnhvực bảo hiểm nhân thọ, và sức ép cạnh tranh ngoài nghành là rất lớn
Do vậy, ngay từ bây giờ Bảo Việt nhân thọ nói chung và Bảo Việt nhânthọ Hà Nội nói riêng cần có sự đổi mới bắt nguồn ngay từ việc nâng cao chất l-ợng đội ngũ các cán bộ của công ty là việc làm rất cần thiết để xây dựng, pháttriển và nâng cao sức cạnh tranh trong tình hình mới Trong đó, chất lợng độingũ cán bộ t vấn của công ty là ngời trực tiếp mang lại doanh thu về cho công
ty, là ngời đại diện cho công ty và có ảnh hởng rất lớn đến uy tín của công ty,
đến sức cạnh tranh của công ty trong chiến lợc phát triển của công ty
Xuất phát từ thực tế này, tôi đã chọn đề tài: “Những giả pháp nhằm nâng cao chất lợng hoạt động của đội ngũ đại lý tại Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà Nội” với hy vọng hỗ trợ hỗ trợ Công ty có những giải pháp thích hợp
trong chiến lợc phát triển thị trờng, nâng cao sức cạnh tranh của mình từ chính
đội ngũ đại lý của công ty Kết cấu đề tài của tôi bao gồm 3 chơng:
Chơng 1: Bảo hiểm nhân thọ và kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ qua mạng lới đại lý
Chơng 2: Thực tế tổ chức và hoạt động của đội ngũ đại lý tại Công ty
Bảo hiểm nhân thọ trong những năm gần đây
Chơng 3: Những giải pháp nhằm nâng cao chất lợng hoạt động của đội
ngũ đại lý tại Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà Nội
Chơng 1
bảo hiểm nhân thọ và kênh phân phối sản phẩm
bảo hiểm nhân thọ qua mạng lới đại lí
1 Khái quát chung về Bảo hiểm nhân thọ
1.1 Một số khái niệm
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm Tuy nhiên, nhìnmột cách khái quát có thể hiểu bảo hiểm là một phơng thức xử lí rủi ro trong
Trang 2cuộc sống mà nhờ vào đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro đợc thực hiện thôngqua hoạt động kinh doanh của các tổ chức bảo hiểm.
Về mặt bản chất, bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp, trong đó ngờitham gia bảo hiểm chấp nhận đóng góp phí bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm
để đổi lấy những cam kết về khoản bồi thờng hoặc chi trả khi xảy ra sự kiệnbảo hiểm, theo những quy định ghi trong hợp đồng
Nguồn gốc của bảo hiểm là các rủi ro luôn tồn tại trong cuộc sống
Bảo hiểm nhân thọ trên phơng diện pháp lí là bản hợp đồng trong đó đểnhận đợc phí bảo hiểm của ngời tham gia bảo hiểm (ngời kí kết hợp đồng), ng-
ời bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều ngời thụ hởng bảo hiểm một sốtiền nhất định (số tiền bảo hiểm nhất định hoặc một khoản trợ cấp định kỳ)trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm bị tử vong hoặc ngời đợc bảo hiểm sống đếnmột thời điểm dợc ghi rõ trong hợp đồng
Trên phơng diện kỹ thuật: Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bao hàm nhữngcam kết, mà sự thi hành những cam kết này phụ thuộc vào tuổi thọ của con ng-ời
Dù định nghĩa bảo hiểm nhân thọ trên góc độ nào thì nó cũng thể hiện rõnét là loại bảo hiểm phụ thuộc vào tuổi thọ của con ngời Cách định nghĩa thứnhất cho thấy trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, số lợng ngời mà có thể gắnvới các nghĩa vụ hoặc quyền lợi là bốn loại ngời: ngời bảo hiểm (là các tổ chức,công ty bảo hiểm), ngời kí kết (ngời tham gia bảo hiểm), ngời đợc bảo hiểm, vàngời thụ hởng bảo hiểm Nh vậy, trong một hợp đồng bảo hiểm sẽ có hai bênliên quan:
Bên bảo hiểm: Chính là ngời bảo hiểm
Ngời bảo hiểm là thuật ngữ chỉ tổ chức bảo hiểm đợc pháp luật cho phép hoạt
động kinh doanh bảo hiểm
Bên đợc bảo hiểm:
Ngời tham gia bảo hiểm: là ngời đứng ra yêu cầu bảo hiểm; thoả thuận
và ký kết hợp đồng Ngời tham gia bảo hiểm phải đảm bảo quy định của phápluật về năng lực hành vi và năng lực pháp luật dân sự
Ngời đợc bảo hiểm: là ngời có tài sản, trách nhiệm hoặc thân thể bị rủi
ro đe doạ và đợc đảm bảo bằng hợp đồng bảo hiểm
Trong bảo hiểm nhân thọ thì ngời đợc bảo hiểm và ngời tham gia bảo hiểm cóthể là một và có thể là hai ngời khác nhau
Ngời đợc hởng quyền lợi bảo hiểm (còn gọi là ngời thụ hởng): là ngời đợc
hởng khoản tiền bồi thờng hoặc trả tiền bảo hiểm từ ngời bảo hiểm
1.2 Đặc trng của bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Tính đa mục đích của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Trang 3Trong khi tất cả các loại bảo hiểm phi nhân thọ có một mục đích là nhằmbồi thờng nhng hậu quả của một sự cố, thì bảo hiểm nhân thọ có thể rất nhiềumục đích khác nhau Từng loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ đáp ứng mộtnhu cầu nhất định Chẳng hạn hợp đồng bảo hiểm hu trí lập ra các khoản tiền
hu cho ngời đợc bảo hiểm; hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp ngời đợc bảohiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm trong trờng hợp anh ta bị tửvong; hoặc các hợp đồng trợ cấp sẽ lập ra một khoản trợ cấp trọn đời cho ng ời
đợc bảo hiểm đến một độ tuổi nhất định; ở trờng hợp ngời đợc bảo hiểm đi vayvốn, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một tài sản thế chấp
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn mang tính chất tiết kiệm ở chỗ ngời thamgia bảo hiểm chỉ phải đóng những khoản tiền nhỏ so với số tiền bảo hiểm theotháng, quý, hoặc năm tuỳ vào sự lựa chọn của ngời tham gia bảo hiểm, và saumột khoảng thời gian nhất định thì ngời thụ hởng có thể đợc nhận một khoảntiền bằng số tiền bảo hiểm nếu không có rủi ro trong thời hạn bảo hiểm Trong
đa số hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì khi ngời đợc bảo hiểm xảy ra rủi ro trongthời hạn bảo hiểm thì ngời thụ hởng sẽ đợc ngời bảo hiểm trả một số tiền nhất
định tuỳ thuộc vào rủi ro đợc bảo hiểm
Tựu trung lại thì hợp đồng bảo hiểm vừa mang tính chất tiết kiệm vừamang tính chất chống lại rủi ro
1.2.2 Mối quan hệ giữa những ngời kí kết hợp đồng (Ngời tham gia bảo hiểm), những ngời đợc bảo hiểm và những ngời thụ hởng là mối quan hệ phức tạp
Trong bảo hiểm nhân thọ ngời ta biết khá rõ ai là ngời thụ hởng bảo hiểm.Chẳng hạn nh nạn nhân của trực tiếp hay gian tiếp của sự cố Nhng đối với mộtvài hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, điều này hoàn toàn không nh vậy Trong cáchợp đồng bảo hiểm cho trờng hợp tử vong, ngời thụ hởng bảo hiểm không phải
là nạn nhân của biến cố Ngời đợc bảo hiểm chết, song ngời thụ hởng bảo hiểm
là những ngời có mối quan hệ thân thuộc với ngời đợc bảo hiểm, ví dụ nh: vợchồng, con cái, anh chị em ruột, của ngời đợc bảo hiểm Điều này làm hạnchế sự tự do của ngời đợc bảo hiểm Ngời đợc bảo hiểm không phải lúc nàocũng có thể tự do thay đổi ngời thụ hởng Và pháp luật có sự hạn chế đối vớingời tham gia bảo hiểm, họ phải là những ngời có quan hệ thân thuộc, ngờitham gia bảo hiểm có thể là: bố mẹ tham gia bảo hiểm cho con cái, con cáitham gia bảo hiểm cho bố mẹ,anh chị ruột tham gia bảo hiểm cho em ruột
1.2.3 Việc định phí bảo hiểm là sự kết hợp giao thoa của hai nhân tố:
“Tuổi thọ con ngời” và “Tài chính”
Để chứng minh rõ đặc trng này, chúng ta có thể thông qua việc phân tích
điển hình hợp đồng bảo hiểm trong trờng hợp sống
Trang 4Khác với các nghiệp vụ theo kỹ thuật phân chia phải tuân theo nguyêntắc cân bằng tài chính hàng năm Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ trong trờnghợp sống là các nghiệp vụ bảo hiểm dài hạn Chẳng hạn ngời đợc bảo hiểm tìmcách tạo ra một số tiền bảo hiểm trong một thời gian dài, hoặc anh ta mongmuốn có thêm một khoản trợ cấp khi về hu ở một độ tuổi nào đó 60 hoặc 65.
Ví dụ: Giả sử có một ngời ở độ tuổi 40 muốn có 20.000.000 VNĐ ở tuổi
60 Giả sử theo thống kê về nhân khẩu, nếu 100 ngời ở tuổi 4 thì trung bình sẽ
có 85 ngời còn sống đến tuổi 60 Ngời ta nói rằng xác suất của những ngời 40 ởtuổi 60 là 85%
Với giả thiết này, chúng ta sẽ xem xét sự tác động của các nhân tố “tuổithọ con ngời” và “tài chính” nh thế nào?
Tác động của nhân tố “tuổi thọ con ngời”
Nếu ngời bảo hiểm cam kết với 100 ngời đợc bảo hiểm ở tuổi 40 Thì sốtiền trung bình anh ta phải có để thanh toán cho nhũng ngời sống đến tuổi 60là:
= 17.000.000 VND (với giả thiết: ở đây không có chi phí quản lý, không có lợinhuận, không có lỗ) Nh vậy do sự tác động của tỷ lệ tử vong (yếu tố “tuổi thọcon ngời”), nên mỗi ngời đợc bảo hiểm chỉ cần nộp 17.000.000 VND ở độ tuổi
40, thì sẽ đợc 20.000.000 VND ở tuổi 60 nếu họ còn sống
Tác động của nhân tố “tài chính”
Cũng theo ví dụ trên đa ra, ngời bảo hiểm yêu cầu mỗi ngời đợc bảohiểm ở tuổi 40 phải nộp một khoản phí là 17.000.000 VND thanh toán chonhững ngời còn sống đến 60 tuổi 20.000.000 VND Đây là giả thiết ngời bảohiểm bỏ toàn bộ phí vào két sắt khoá lại trong 20 năm
Nhng trên thực tế, ngời bảo hiểm với vai trò là các tổ chức trung gian tàichính, sẽ đa số tiền này vào đầu t trên các lĩnh vực: Bất động sản, chứng khoán,cho vay nhằm thu lợi nhuận Số lợi nhuận sinh ra sẽ cho phép làm giảm sẽlàm giảm các khoản phí đóng góp của ngời tham gia bảo hiểm Điều này nóilên rằng, các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ chỉ thực sự hoạt động có hiệu quảkhi có một thị trờng tài chính, thị trờng bất động sản để các nhà boả hiểm đầu
t có hiệu quả tiền vốn nhàn rỗi tạo ra từ các khoản phí thu đợc
Trang 5Để thấy rõ sự tác động của nhân tố “tài chính” ta xét trên góc độ so sánhgiữa hai giả thiết về đầu t tài chính nh sau:
Giả thiết thứ nhất về đầu t tài chính
Giả sử ta lấy từng năm trong suốt 20 năm, mỗi năm ngời bảo hiểm đầu t
1 đồng sẽ đa lại một khoản là t% của 1 đồng Theo cách lãi suất kép, chúng ta
có thể tính đợc số tiền ở cuối mỗi năm nh sau:
ở tuổi 40 nộp:
85%ì20.000.000VND
(1,07 )20 =4 393213 ,04 VNDthay vì phải nộp 17.000.000 VND Khoản phí này đợc nộp một lần này đợc gọi
là khoản phí duy nhất
Giả sử phí bảo hiểm đợc đa đi đầu t liên tục với lãi suất hàng năm là 10%, nhgiả thiết thứ hai về đầu t tài chính
Vậy (1,10)20 = 6,7274 và số phí bảo hiểm ở tuổi 40 sẽ chỉ là:
85 %ì20.000.000 VND
(1,10) 20 =2.526.941,7VND
Sự kết hợp của các nhân tố “tuổi thọ” và “tài chính”
Từ những phân tích các giả thiết trên, chúng ta có thể tóm tắt lại nh sau: mộtngời ở tuổi 50 muốn có 20.000.000 VND ở tuổi 60, thì phải:
- Hoặc, tiết kiệm “lợn nhựa” 20.000.000 VND, nếu nh ngời này không
đa vào đầu t ở quỹ tiết kiệm
- Hoặc, nộp một khoản phí bảo hiểm là 17.000.000 VND cho công tybảo hiểm nhân thọ, nếu công ty này không đầu t gì để sinh lời
- Hoặc, nộp một khoản phí bảo hiểm là 4.393.213,04 VND cho Công
ty bảo hiểm nhân thọ, nếu Công ty này đầu t khoản phí trong 20 năm với lãisuất 7%/năm
- Hoặc, nộp một khoản phí là 2.526.941,7 VND cho Công ty bảo hiểm nhân thọ, nếu công ty này đầu t liên tục trong 20 năm với lãi suất là 10%/năm
Nếu ngời bảo hiểm dầu t vào tiết kiệm với lãi suất 7%/năm, thì để có
đợc 20.000.000 VND ở tuổi 60 thì anh ta phải gửi một khoản tiền có tuổi 40vào quỹ tiết kiệm là 5.168.492 VND Trong khi nếu anh ta mua bảo hiểm nhânthọ, thì chỉ cần nộp phí bảo hiểm là 4.393.218 VND Nh vậy đầu t ngoài bảo
Trang 6hiểm sẽ bất lợi hơn vì không đợc hởng trên nguyên tắc giữa những ngời đợcbảo hiểm Nói cách khác sự tác động của nhân tố “tuổi thọ” và nhân tố “tàichính” sẽ giúp cho ngời đợc bảo hiểm bỏ ra một số tiền thấp để thu đợc số tiềnmong đợi.
1.2.4 Bảo hiểm nhân thọ cho phép bảo hiểm trong cùng một hợp đồng bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngợc nhau, đó là sự kiện tử vong và sự kiện sống
Bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngợc nhau là trờng hợpduy nhất trong bảo hiểm Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, ngời ta chỉ có thể bảohiểm cho hậu quả của các sự kiện đợc bảo hiểm chứ không bảo hiểm cho việc
nó không xảy ra.Ví dụ ngời ta bảo hiểm “cháy nhà” chứ không bảo hiểm
“không cháy nhà” Trái lại trong bảo hiểm nhân thọ ngời ta có thể bảo hiểm
đ-ợc cho cả hai sự kiện trái ngđ-ợc nhau:
Hoặc, xảy ra của một biến cố tử vong (ví dụ, bảo hiểm trả một số tiềncho ngời thụ hởng trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm bị chết) Đó là hợp đồngbảo hiểm trong trờng hợp tử vong
Hoặc, không xảy ra của chính sự cố “tử vong” Ngời bảo hiểm sẽ trả tiềnbảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm khi ngời đợc bảo hiểm này khi còn sống đếnhết hạn hợp đồng Đó là hợp đồng bảo hiểm trong trờng hợp sống
Hoặc, đồng thời bảo hiểm cho cả hai sự kiện: Tử vong và không tử vong
Đó là các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp cho phép ngời đợc bảo hiểmcóthể để lại một khoản tiền nếu ngời đợc bảo hiểm này bị chết và cho phép ngờinày lập ra một khoản trợ cấp nếu còn sống sót đến hết hạn hợp đồng
1.2.5 Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một loại hợp đồng dài hạn với mức phí bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm
Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ mà các công ty bảo hiểm triển khai trênthị trờng là các hợp đồng dài hạn thờng từ 5 năm trở lên Trên cơ sở kỹ thuậtcủa việc định phí bảo hiểm các chuyên gia định phí bảo hiểm đã tính toán đểcho các khoản phí bảo hiểm không thay đổi để tạo đợc sự tin tởng, an toàn chokhách hàng và đứng vững đợc trong cạnh tranh
Để tính phí bảo hiểm đúng, ngời định phí phải tính ba bớc riêng rẽ, mỗicông đoạn phải chính xác để quỹ thực hiện các mục đích của nó và đáp ứng đ -
ợc các khoản thanh toán cần thiết khi có yêu cầu Đầu tiên chuyên viên địnhphí phải quyết định sử dụng bảng tỷ lệ tử vong nào và hiểu các thông số trongbảng đó nh thế nào, sao cho tài chính trong tơng lai của quỹ phải đúng Điềunày đòi hỏi phải theo dõi nhiều năm về sự tử vong xảy ra ở nhiều lứa tuổi khácnhau sau đó những trờng hợp tử vong ở mỗi lứa tuổi đợc đa vào một nhóm dân
số có cùng độ tuổi đó Nh vậy ngời ta thu đợc xác suất tử vong ở mỗi lứa tuổi
Trang 7Dựa vào kết quả ngời ta lập ra bảng tỷ lệ tử vong Sự tử vong của nam giới vànữ giới đợc thành lập ra các bảng tỷ lệ tử vong riêng biệt Và còn phải tính đến
sự tiến triển của tuổi thọ con ngời, yếu tố chính trị, xã hội, địa lí.v.v
Sau đó ngời bảo hiểm phải đánh giá tỷ lệ lãi suất có thể thu đợc từ quỹtrong tơng lai.Và phải có khả năng tính toán những chi phí mà quỹ bảo hiểm
1.2.7 Mức độ rủi ro đợc bảo hiểm tăng theo độ tuổi của ngời đợc bảo hiểm
Bảo hiểm nhân thọ chủ yếu liên quan đến sinh mạng và sức khoẻ của conngời do vậy khi tuổi thọ con ngời càng tăng lên thì rủi ro đối với ngời đợc bảohiểm sẽ tăng lên Điều này cũng đợc các chuyên viên định phí bảo hiểm quantâm để định phí bảo hiểm, tuổi thọ càng tăng thì phí đóng càng cao (đối vớinhững ngời đợc bảo hiểm tham gia ở các độ tuổi khác nhau thì phí đóng sẽkhác nhau)
1.3 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm nhân thọ đối với cuộc sống con ngời
Sự ra đời và phát triển của loại bảo hiểm thơng mại không chỉ giải quyết,khắc phục những rủi ro, tổn thất trong cuộc sống của cá nhân mỗi con ngời màcòn có ý nghĩa kinh tế xã hội đặc biệt quan trọng Sự cần thiết của bảo hiểm nóichung và của bảo hiểm nhân thọ nói chung đợc thể hiện trên một số phơng diệnsau:
- Bảo hiểm là phơng thức chuyển giao rủi ro hiệu quả nhất
Trên thực tế có nhiều cách chuyển giao rủi ro, song chuyển giao rủi roqua hình thức tham gia bảo hiểm là cách thức công bằng, hợp lý và hiệu quảnhất Điều quan trọng ở đây là đã huy động đợc sức mạnh của cộng đồng đểgiải quyết vấn đề tổn thất của cá nhân Mặt khác, các cá nhân tham gia hoàntoàn tự nguyện Khi tổn thất và rủi ro xảy ra đều đợc tính toán, bồi thờng về ph-
ơng diện tài chính để giúp họ vợt qua khó khăn Sự chia sẻ tổn thất qua cáccông ty bảo hiểm sẽ nâng cao đợc ý thức cộng đồng và trách nhiệm của cácthành viên
- Bảo hiểm góp phần bảo vệ tài sản, tính mạng của con ngời, tăng cờng antoàn xã hội
Trang 8Trong bảo hiểm thơng mại, các công ty bảo hiểm nh một đại diện chungcủa cộng đồng, có trách nhiệm thu gom vốn của mọi thành viên và thực hiện cảhai quá trình: đề phòng rủi ro và khắc phục rủi ro Khi bồi thờng, chi trả tiềnbảo hiểm cho các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm, các công ty bảo hiểm
đã giúp họ đợc khó khăn về mặt tài chính, bảo toàn đợc vốn liếng và đối vớibảo hiểm nhân thọ thì số tiền này có thể giúp họ đạt đợc những mục đích củamình Mặt khác trong quá trình triển khai các hoạt động kỹ thuật nghiệp vụ củamình, các công ty bảo hiểm thờng rất coi trọng các giải pháp phòng tránh cầnthiết, đảm bảo sự an toàn cho đối tợng đợc bảo hiểm Thông qua công việc
đánh giá rủi ro trớc khi nhận bảo hiểm, giám định tổn thất trớc khi bồi thờngcác công ty bảo hiểm có đợc các giải pháp đề phòng rất hiệu quả Đó chính lànhững hoạt động rất tích cực của công ty bảo hiểm nhằm bảo vệ tài sản, tínhmạng con ngời, an toàn xã hội và nâng cao chất lợng cuộc sống
- Bảo hiểm thúc đẩy hoạt động tiết kiệm, tập trung vốn cho đầu t phát triểnkinh tế đất nớc
Bảo hiểm với mỗi cá nhân và tổ chức kinh doanh bảo hiểm trớc hết là sựtiết kiệm và góp vốn vào quỹ cộng đồng để xử lý các vấn đề xã hội Với sự ra
đời của loại hình bảo hiểm nhân thọ đã tạo ra một kênh linh hoạt để tập trungvốn cho sự phát triển kinh tế của đất nớc, nâng cao ý thức tiết kiệm của cácthành viên trong xã hội Cơ chế linh hoạt thực hiện nghĩa vụ của ngời tham giabảo hiểm, cho phép các cá nhân có cơ hội có đợc một số tiền đủ lớn sau mộtthời gian nhất định Nguồn vốn mà các công ty bảo hiểm nhân thọ thu hút đợc
là rất lớn Điều đó phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nớc
Mặt khác, do đặc điểm kinh doanh của bảo hiểm là thu phí trớc, chi trảbồi thờng sau đã tập trung đợc nguồn vốn nhàn rỗi lớn Các công ty bảo hiểmvới t cách là trung gian tài chính có thể tham gia vào thị trờng vốn để đầu t,cung cấp các dịch vụ tài chính
- Đảm bảo sự an tâm về tinh thần cho ngời tham gia bảo hiểm
Khi không may gặp rủi ro đối với ngời đợc bảo hiểm thì ngời bảo hiểm sẽ
đảm bảo chi trả một số tiền đển trợ giúp họ vợt qua đợc khó khăn vì vậy sẽ làmcho cuộc sống của con ngời đợc ổn định, tạo đợc sự yên tâm làm ăn và tiếp tụctiến hành các hoạt động kinh doanh, các hoạt động sống bình thờng
1.4 Các loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
1.4.1 Bảo hiểm trong trờng hợp tử vong
1.4.1.1 Bảo hiểm tử vong có thời hạn xácđịnh
Bảo hiểm tử vong có thời hạn xác định còn có những tên gọi khác nh: “bảohiểm tử kỳ”, “bảo hiểm tử vong tạm thời”
Trang 9Bảo hiểm tử kỳ là loại bảo hiểm mà ngời bảo hiểm chỉ trả tiền bảo hiểmkhi và chỉ khi ngời đợc bảo hiểm bị chết trớc thời điểm đáo hạn của hợp đồng.Theo đó, nếu ngời đợc bảo hiểm sống và hết hạn hợp đồng thì ngời bảohiểm hết nghĩa vụ của mình và hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực Loại bảohiểm này không có tính chất tiết kiệm mà mang tính chất chống lại rủi ro Nh -
ng các khoản phí đóng lại rất nhỏ Đây là một nghiệp vụ dự phòng cho gia đìnhngời đợc bảo hiểm, hoặc bảo đảm cho những chủ nợ về những khoản vay củangời đợc bảo hiểm
Trên thực tế loại bảo hiểm này có thể biến thể thành những loại hợp đồng
nh sau:
- Bảo hiểm tử vong tạm thời có số tiền bảo hiểm cố định
Hợp đồng bảo hiểm loại này là loại đơn giản và rẻ nhất của bảo hiểm tử kỳ.Phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời gian hiệu lựccủa hợp đồng.Ngời bảo hiểm cam kết trả số tiền bảo hiểm đã ấn định trên hợp
đồng nếu ngời bảo hiểm chết trớc ngày đáo hạn hợp đồng Kể từ ngày đáo hạntrở về sau, điều khoản số tiền bảo hiểm cố định sẽ không còn giá trị nữa, nếungời đợc bảo hiểm kéo dài thời hạn hợp đồng suốt đời
- Bảo hiểm tử kỳ có số tiền bảo hiểm giảm dần
Ngời ta còn gọi loại hợp đồng bảo hiểm này này là bảo hiểm tử vong tạmthời có số tiền bảo hiểm giảm dần Loại hợp đồng bảo hiểm này có số tiền bảohiểm giảm xuống hàng năm theo một mức quy định, vào cuối kỳ hạn của hợp
đồng số tiền bảo hiểm phụ sẽ bằng 0
Ví dụ: Hợp đồng bảo hiểm có thời hạn 20 năm, số tiền bảo hiểm chính là
40.000.000 VNĐ, số tiền bảo hiểm phụ là 20.000.000 VNĐ Quyền lợi bảohiểm đợc phản ánh qua sơ đồ sau:
Nếu ngời đợc bảo hiểm tử vong vào tuổi 55, quyền lợi bảo hiểm là
45.000.000 VNĐ Phí bảo hiểm trong hợp đồng này luôn giữ ở mức cố định
Trang 10Giai đoạn nộp phí đợc áp dụng ngắn hơn thời gian của hợp đồng Mức phí bảo hiểm có thể thấp hơn bảo hiểm bảo hiểm tử vong tạm thời cố định.Hợp đồng bảo hiểm có số tiền bảo hiểm giảm dần, ở một số nớc Bắc Mỹ th-ờng đợc sử dụng bảo đảm cho một khoản nợ trả dần, chẳng hạn nh khoản tồn
đọng dùng cho việc mua nhà, vay thế chấp khi số tiền bảo hiểm có thể giảmcùng tỷ lệ với khoản tồn đọng
- Bảo hiểm tử vong tạm thời có số tiền bảo hiểm tăng dần:
Bản hợp đồng này đa ra để ngăn chặn ảnh hởng của lạm phát Theo hợp
đồng, số tiền thực của hợp đồng giảm xuống khi đồng tiền bị mất giá trong mộtkhoảng thời gian, số tiền bảo hiểm của hợp đồng tăng lên theo một tỷ lệ phầntrăm đợc lập ra hàng năm
Ví dụ: Số tiền bảo hiểm của hợp đồng trong năm đầu tiên là 50.000.000
VNĐ
Năm thứ hai số tiền bảo hiểm tăng 8%, tức là số tiền bảo hiểm là50.800.000 VNĐ
Cứ nh vậy số tiền đợc tăng lên cho đến khi kết thúc hợp đồng
Cách khác có thể áp dụng là ngời bảo hiểm có thể đa ra các hợp đồng ngắnhạn mà các hợp đồng này có thể đợc tái tục với số tiền bảo hiểm gia tăng
Ngoài ra còn có một số các loại sản phẩm bảo hiểm tử vong có thời hạn xác
định nh:
- Bảo hiểm tử vong tạm thời có thể tái tục:
- Bảo hiểm tử vong tạm thời có thể chuyển đổi:
- Hợp đồng bảo hiểm thu nhập gia đình:
- Hợp đồng bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên:
1.4.1.2 Bảo hiểm tử vong vô thời hạn
Đâu đó, ngời ta còn có tên gọi cho bảo hiểm này là “Bảo hiểm trờng sinh”.Trong loại bảo hiểm này, ngời bảo hiểm cam kết thanh toán một số tiền đợc ấn
định trên hợp đồng khi ngời đợc bảo hiểm tử vong vào bất kỳ thời điểm nào kể
từ ngày kí kết hợp đồng
Bảo hiểm tử vong vô thời hạn không đơn thuần chống lại một rủi ro tửvong mà nó tạo nên một khoản tiết kiệm cho ngời thụ hởng bảo hiểm, bởi lẽchắc chắn nhà bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm ở đây, yếu tố bấp bênh chỉ làthời điểm mà nhà bảo hiểm sẽ trả số tiền
Bảo hiểm tử vong vô thời hạn có thể có hai loại hợp đồng:
- Bảo hiểm tử vong vô thời hạn không chia lời:
- Bảo hiểm tử vong vô thời hạn có tham gia chia lời:
1.4.1.3 Bảo hiểm tử vong có điều kiện
Bảo hiểm này là loại bảo hiểm tử vong tạm thời, việc thanh toán trợ cấp chỉ
đợc thực hiện khi ngời đợc bảo hiểm chết, nhng ngời thụ hởng đợc chỉ định
Trang 11trong hợp đồng phải còn sống Nói cách khác nghĩa vụ của nhà bảo hiểm tuỳthuộc vào hai điều kiện: tử vong của ngời đợc bảo hiểm và sự sống của ngời thụhởng đợc chỉ định.
1.4.2 Những bảo hiểm trong trờng hợp sống
Là hình thức bảo hiểm mà ngời bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngời đợcbảo hiểm khi và chỉ khi ngời đợc bảo hiểm còn sống đến một thời điểm nhất
định đã đợc ghi trong hợp đồng
Bảo hiểm trong trờng hợp sống có ba dạng hợp đồng cơ bản sau:
- Bảo hiểm có số tiền bảo hiểm đợc trả sau:
Theo hợp đồng này, nhà bảo hiểm cam kết trả cho ngời đợc bảo hiểm một
số tiền bảo hiểm đợc ấn định, nếu ngời đợc bảo hiểm sống đến kỳ hạn đã đợcxác định tại ngày ký kết hợp đồng
Nói cách khác, nhà bảo hiểm hoãn thanh toán số tiền bảo hiểm trong một sốnăm
Ví dụ: Một ngời muốn tạo ra một số tiền để mua nhà, ngời này ký kết
hợp đồng vào năm 40 (tuổi) để thu đợc số tiền bảo hiểm ở tuổi 60
Phí bảo hiểm có thể đợc trả một lần vào thời điểm ký hợp đồng, hoặc cóthể trả làm nhiều lần Nếu phí bảo hiểm đợc thanh toán định kỳ, về nguyên tắc,những lần nộp có thể kéo dài đến ngày kết thúc hợp đồng Trong giả thuyết nàynếu ngời đợc bảo hiểm chết trong thời kỳ nộp phí, thì việc thanh toán phí bảohiểm sẽ ngừng lại Tuy nhiên hầu hết các hợp đồng có thêm điều khoản phí bảohiểm, trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm chết để đảm bảo quyền lợi cho phíanhững ngời tham gia bảo hiểm
- Bảo hiểm trợ cấp trả sau:
Thật ra tên gọi loại bảo hiểm này rất phức tạp, ở một vài tài liệu nhất lànhững tài liệu ngoài bảo hiểm, bảo hiểm này còn có tên là “bảo hiểm niên kimtrả sau”
Trong bảo hiểm trợ cấp trả sau thay vì cam kết trả một số tiền, nhà bảohiểm có thể cam kết thanh toán một khoản trợ cấp định kỳ thờng niên (niênkim) hoặc định kỳ hàng tháng cho ngời đợc bảo hiểm
Nếu khoản trợ cấp đợc thanh toán cho đến hết đời của ngời đợc bảo hiểm
đó gọi là bảo hiểm “bảo hiểm niên kim tron đời” Nếu chỉ đợc thanh toán trongmột thời kỳ nhất định, đó gọi là “bảo hiểm niên kim tạm thời”
Các khoản niêm kim chỉ bắt đầu đợc thanh toán vào một ngày ấn định, vàchỉ trả khi ngời đợc bảo hiểm sống Thông thờng ngày bắt đầu thanh toán niênkim là ngày về hu của ngời bảo hiểm
Những thể thức nộp phí bảo hiểm thay đổi theo thời gian hợp đồng Trênnguyên tắc, nếu hợp đồng trợ cấp là ngắn hạn (dới 2 năm), phí bảo hiểm sẽ là
Trang 12khoản phí duy nhất Ngợc lại, nếu là hợp đồng dài hạn, phí bảo hiểm sẽ đợcthanh toán thành nhiều kỳ.
Ngời ta cũng có thể đa thêm điều khoản trả phí bảo hiểm bằng cách thoảthuận đóng thêm một khoản phụ phí bảo hiểm Điều khoản hoàn phí cho phépbảo đảm sự hoàn lại khoản phí khi ngời đợc bảo hiểm chết, hoặc hoàn lại khoảnchênh lệch giữa số phí đã đóng và các khoản niên kim
Mức độ của các khoản niên kim thờng là không đổi Song cũng có thể tănghoặc giảm tuỳ theo sự thoả thuận của hợp đồng bảo hiểm
Khả năng chuyển đổi:
Sự chuyển đổi là cơ chế mà qua đó, nếu ngời đợc bảo hiểm chết, khoản trợcấp sẽ đợc chuyển cho một ngời thụ hởng khác còn sống Chẳng hạn trờng hợptrợ cấp hu trí, sau khi ngời này đợc về hu chết, khoản trợ cấp sẽ đợc trả cho vợ(hoặc chồng) nếu ngời này còn sống Trong trờng hợp này số tiền trợ cấp ban
đầu sẽ giảm xuống có thể chỉ còn từ 50% đến 60% mức ban đầu
Các khoản trợ cấp có thể đợc thanh toán hàng năm, hàng quý, hoặc nửa năm.Chúng luôn luôn đợc trả ở cuối kỳ hạn
- Bảo hiểm trợ cấp trả ngay:
Ngời đợc bảo hiểm nộp một khoản phí bảo hiểm duy nhất khi ký kết hợp
đồng bảo hiểm Số phí bảo hiểm này là một số tiền bảo hiểm, nó tạo nên cáckhoản trợ cấp Nhà bảo hiểm thanh toán cho ngời đợc bảo hiểm trong mộtkhoảng thời gian, hoặc trọn đời, một khoản trợ cấp nhất định
Bảo hiểm niên kim trả ngay – một tên gọi khác của loại bảo hiểm này, chophép cùng những lựa chọn với bảo hiểm niên kim trả sau Duy nhất, ngày bắt
đầu hởng trợ cấp là khác nhau
1.4.3 Những hợp đồng bảo hiểm hỗn hợp nhân thọ
Những bảo hiểm hỗn hợp dụa trên đồng thời hai dạngbảo hiểm: bảo hiểm tửvong và bảo hiểm trong trờng hợp sống
- Bảo hiểm hỗn hợp thông thờng:
Đây là một loại bảo hiểm tử vong tạm thời có số tiền trả sau Theo hợp
đồng bảo hiểm này, nhà bảo hiểm cam kết trả một số tiền ấn định cho ngời đợcchỉ định bởi ngời tham gia bảo hiểm
Nếu tại một thời ấn định trong hợp đồng, ngời đợc bảo hiểm còn sống, sẽ
đợc ngời bảo hiểm trả tiền bảo hiểm trờng hợp này giống nh trong bảo hiểm có
số tiền bảo hiểm trả sau
Nếu ngời đợc bảo hiểm bị tử vong trớc kỳ hạn hợp đồng, nhà bảo hiểm sẽthanh toán tiền bảo hiểm cho ngời tụ hởng bảo hiểm Đây là bảo hiểm tử vongtạm thời
Bảo hiểm hỗn hợp là một hợp đồng mang tính lỡng diện, nó dựa trên hairủi ro để thiết lập hợp đồng: tử vong và sống sót đến kỳ hạn hợp đồng Bằng
Trang 13hợp đồng này, ngời đợc bảo hiểm thực hiện một nghiệp vụ phòng ngừa và tạomột khoản tiết kiệm Ngời đợc bảo hiểm chắc chắn sẽ không bị mất đi khoảntiền đã bỏ ra.
Về nguyên tắc phí bảo hiểm đợc ấn định cho toàn bộ thời gian hiệu lực củahợp đồng Tuy nhiên nó có thể thay đổi tăng giảm Số tiền bảo hiểm thông th-ờng trong hai trờng hợp chết và sống là bằng nhau.Nếu có sự khác biệt phải đợcthoả thuận trên hợp đồng bảo hiểm
- Bảo hiểm hỗn hợp có thời hạn cố định:
ở loại bảo hiểm này, nhà bảo hiểm cam kết trả một số tiền tại một ngàyxác định, nếu ngời đợc bảo hiểm sống hoặc chết Nếu ngời đợc bảo hiểm sống
đến thời điểm ấn định, ngời này sẽ nhận đợc các khoản trợ cấp
Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc thời điểm này, ngời thụ hởng của anh ta
sẽ đợc nhận các khoản trợ cấp, nhng chỉ đợc nhận vào thời điểm ấn định màkhông phải thời điểm chết của ngời đợc bảo hiểm và việc trả phí bảo hiểm sẽngừng lại khi ngời đợc bảo hiểm bị chết Trong loại hình bảo hiểm này, phơngthức trả phí cần đợc trả theo kỳ
1.4.4 Những bảo hiểm bổ sung
- Hoàn phí bảo hiểm
Hoàn phí bảo hiểm là bảo đảm hoàn lại một phần phí bảo hiểm trong trờnghợp không phát sinh rủi ro đợc bảo hiểm Điều khoản này chỉ là một sự dự kiến
đa vào hợp đồng mang tính chủ quan, chứ không tạo ra từ một sự chắc chắn củaviệc thanh toán
Chẳng hạn, trong bảo hiểm “số tiền bảo hiểm trả sau” có thể đa thêm điềukhoản hoàn phí bảo hiểm vào hợp đồng Trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểmchết trớc thời hạn hợp đồng, sẽ dẫn đến việc hoàn phí bảo hiểm cho ngời đợcbảo hiểm
Hoàn phí bảo hiểm cũng thể hiện một lợi ích trong bảo hiểm “trợ cấp trọn
đời trả sau” Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trong thời kỳ đợc trợ cấp thì sẽ kéotheo sự hoàn phí bảo hiểm đã nộp
Nh vậy hoàn phí bảo hiểm nảy sinh từ nhu cầu của ngời đợc bảo hiểm, chứkhông phải từ bản chất kỹ thuật của các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểmhoàn phí đang đợc áp dụng phổ biến trên các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ tạiViệt Nam
- Miễn thanh toán phí bảo hiểm:
Một vài loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, đôi khi ngời bảo hiểm đa ra
điều khoản miễn thanh toán phí bảo hiểm bắt đầu từ một số ngày ngừng lao
động do tai nạn hoặc bệnh tật, ví dụ sau 60 ngày chẳng hạn
Nếu có điều khoản này, thì việc ngừng thanh toán phí bảo hiểm không gây
ra bất kỳ hậu quả nào về sự tồn tại của hợp đồng Hợp đồng vẫn có hiệu lực
Trang 14bình thờng, vẫn bảo đảm mọi cam kết trên hợp đồng, còn ngời đợc bảo hiểm sẽ
đợc miễn thanh toán phí bảo hiểm
- Bảo hiểm trong trờng hợp thơng tật vĩnh viễn:
Trong trờng hợp thơng tật toàn bộ vĩnh viễn toàn bộ, hoặc đạt đến một tỷ lệ
đợc chỉ ra trên hợp đồng, số tiền bảo hiểm đợc ấn định trong trờng hợp chết cóthể sẽ đợc trả cho ngời đợc bảo hiểm Trong những hợp đồng bảo hiểm nhânthọ, ngời bảo hiểm cũng có thể chấp nhận thêm một điều khoản thanh toán phíbảo hiểm khi ngời đợc bảo hiểm bị thơng tật và không thể tiếp tục đợc các hoạt
động của mình
- Tăng số tiền bảo hiểm tử vong trong trờng hợp tai nạn:
Một số trờng hợp bảo hiểm nhân thọ tử vong và hỗn hợp, đã bao hàm điềukhoản này Theo điều khoản này, nếu ngời đợc bảo hiểm bị tử vong vì một tainạn, số tiền bảo hiểm sẽ tăng lên gấp đôi Và tăng lên gấp ba, nếu ngời đợc bảohiểm bị tử vong vì một tai nạn giao thông
- Hoàn trả chi phí điều trị:
Để tăng tính tiện ích cho các loại bảo hiểm nhân thọ, một vài hợp đồng, ngoài đa thêm các đảm bảo trên, còn mở rông phạm vi bằng điều khoản hoàn trả chi phí điều trị Mục đích của điều khoản mở rộng này là bồi thờng những chi phí điều trị cho ngời đợc bảo hiểm
Nói tóm lại, những điều khoản bổ sung đề cập ở trên là các bảo hiểm màhợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể mở rộng, tuỳ theo sự mong muốn và yêucầu lựa chọn của ngời ký kết hợp đồng bảo hiểm Nhng để có đợc những điềukhoản bổ sung này, thông thờng nhà bảo hiểm yêu cầu một khoản phí bảo hiểmphụ thêm vào số phí của các nhà bảo hiểm Mặc dù phí bảo hiểm tăng thêm,những lợi ích và tính hấp dẫn của những bảo hiểm bổ sung khá cao, vì vậy cáchợp đồng bảo hiểm nhân thọ cũng nên đa thêm chúng vào để thu hút ngời thamgia bảo hiểm
2 Đại lí bảo hiểm - kênh phân phối chiến lợc để các công ty bảo hiểm nhân thọ nâng cao sức cạnh tranh và đứng vững trên thi trờng
2.1 Một số kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
2.1.1 Kênh phân phân phối trực tiếp
Kênh phân phối trực tiếp là loại kênh không có mặt của các trung gianphân phối Nói một cách khác, đó là phơng thức bán hàng trực tiếp của cáccông ty bảo hiểm
2.1.1.1.Bán trực tiếp
Đây là cách phân phối mới ở một số nớc phát triển vì nó dựa trên cáccông nghệ hiện đại Theo cách này, khách hàng liên hệ trực tiếp với văn phòngquản lý hợp đồng Sự liên lạc có thể thông qua bu điện, điện thoại, hoặc dựavào mạng vi tính
Trang 15Kênh phân phối này thờng đợc lựa chọn trong lĩnh vực bảo hiểm xe cơgiới và đã đa lại những kết quả tốt bởi sự tiện lợi đối với khách hàng Kênhphân phối trực tiếp bảo đảm mối quan hệ mật thiết giữa các công ty bảo hiểmvới thị trờng và khách hàng Điều đó giúp cho công ty có các thông tin vềkhách hàng một cách xác thực và nhạy bén Xét về mặt tâm lý khách hàng tỏ rayên tâm và tin tởng hơn khi giao dịch với công ty bảo hiểm Mặt khác, với kênhphân phối trực tiếp, doanh nghiệp có thể giảm bớt đợc một số chi phí trunggian, tạo điều kiện giảm giá, tạo lợi thế trong cạnh tranh Tuy nhiên, cách phânphối này chỉ có thể thực hiện đợc trong điều kiện công nghệ phát triển và trêncơ sở phù hợp với thói quen tiêu dùng của khách hàng.
2.1.1.2 Các văn phòng bán
Theo cách này, việc bán và quản lý hợp đồng đợc thực hiện tại các vănphòng đại diện (văn phòng bảo hiểm khu vực) của doanh nghiệp đặt tại mộtvùng (Thành phố, Thị xã ) khách hàng đến văn phòng để lấy thông tin chỉdẫn, ký kết hợp đồng và quay trở lại khai báo tổn thất (nếu có) hoặc lập vănbản sửa đổi
Dạng phân phối này phù hợp với các sản phẩm bảo hiểmmà sự quản líhàng ngày “thờng xuyên” hơn, nh bảo hiểm cháy, tai nạn, các rủi ro khác Tuynhiên, do việc bán sản phẩm đợc thực hiện tại văn phòng nên đòi hỏi các thôngtin đa về văn phòng phải rất đầy đủ và chính xác Cách phân phối này thờngphát sinh thái độ quan liêu, thờ ơ của các nhân viên bán hàng Vì vậy doanhnghiệp bảo hiểm khi áp dụng cách phân phối này cần chú trọng đến công tácquản lí nhân viên tại những phòng này Và chính các nhân viên văn phòng nàythờng có thái độ thờ ơ nên dễ làm cho khách hàng hiểu sai lệch về công ty vàgây mât uy tín cho chính công ty đó
Tựu trung lại, các kênh phân phối trực tiếp đề cập đến ở trên làm gia tăng
đáng kể số lợng nhân viên và văn phòng đại diện của công ty Đặc biệt đối vớithực tế thị trờng bảo hiểm Việt Nam thì các kênh phân phối trực tiếp này khôngcho phép các công ty mở rộng và phát triển thị trờng cũng nh tốc độ tiêu thụsản phẩm ở mức độ cao nhất
2.1.2 Kênh phân phối gián tiếp
Kênh phân phối gián tiếp là loại kênh tồn tại các trung gian phân phối,các công ty bảo hiểm thông qua hệ thống đại lý bảo hiểm, môi giới, các lực l-ợng bán bảo hiểm, các mạng lới phân phối kết hợp Công ty bảo hiểm phải trảcho những lực lợng này hoa hồng, hay lơng Kênh phân phối này có những ng-
ời phân phối sau:
2.1.2.1 Lực lợng bán bảo hiểm
Trang 16Đó là những ngời thực hiện việc đa dịch vụ đến tận nhà khách hàng (màkhông có văn phòng bán) và đợc hởng lơng (hoặc hoa hồng).
Dạng phân phối này phù hợp với các sản phẩm mà sự quản lý ít “thờngxuyên” do tần suất xuất hiện tổn thất và (hoặc) văn bản ít sửa đổi, chẳng hạnbảo hiểm nhân thọ Với cách phân phối này giúp doanh nghiệp bảo hiểm chủ
độngkhai thác triệt để thị trờng, song chi phí bỏ ra lớn và thờng vấp phải nhữngkhó khăn nhất định, chẳng hạn sức ép của ngời tiêu dùng khi họ muốn biết cáckhoản tiền mà ngời đi bán đựơc hởng
2.1.2.2 Môi giới bảo hiểm
Môi giới là ngời đợc uỷ quyền của khách hàng Ngời môi giới bảo hiểmthờng nắm vững về kỹ thuật nghiệp vụ, đặc biệt là những thông tin về thị trờng.Ngời môi giới bảo hiểm đứng về phía khách hàng bảo vệ những lợi ích chokhách hàng và tìm kiếm những sản phẩm bảo hiểm phù hợp với nhu cầu vớikhả năng tài chính của khách hàng, phí bảo hiểm thấp, giúp khách hàng tìmkiếm doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trên thị trờng để tham gia bảo hiểm chomình Trong thực tế ngời môi giới thờng lựa chọn trong thờng lựa chọn trên thịtrờng những doanh nghiệp bảo hiểm có mối quan hệ thân quen với mình đểgiới thiệu cho khách hàng Sự xuất hiện của ngời môi giới đã làm thúc đẩy chocung cầu về sản phẩm bảo hiểm gặp nhau, đồng thời góp phần làm tăng uy tíncủa sản phẩm, của doanh nghiệp
Tuy nhiên, kênh phân phối này doanh nghiệp cần tính đến những u đãicủa mình cho ngời môi giới nh thù lao (hoa hồng, các khoản khác ), đào tạo,bảo trợ về kỹ thuật và thơng mại, Hơn nữa, vì môi giới là ngời đại diện củakhách hàng nên doanh nghiệp bảo hiểm không đợc liên lạc trực tiếp với kháchhàng nếu không đợc sự nhất trí của ngời môi giới Do vây, đây cũng là hạn chếcủa kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm qua ngời môi giới
2.1.2.3 Các mạng lới phân phối kết hợp
Các mạng lới phân phối kết hợp nh: ngân hàng, bu điện, cơ quan thuế, có
tổ chức xã hội nh hội phụ nữ, đoàn thanh niên Việc sử dụng mạng lới phânphối này cũng có một số thuận lợi đó là các tổ chức, đoàn thể này có mối quan
hệ gần gũi và hiểu biết quần chúng nhân dân do vậy có sự tin tởng từ phía nhândân – là những khách hàng tơng lai của công ty Khi họ đã trở thành kháchhàng của công ty thì họ sẽ có sự tin tởng vào công ty hơn Tuy nhiên, ngời phânphối này hạn chế ở việc hớng dẫn, miêu tả hay giới thiệu sản phẩm Thêm vào
đó ở thời kỳ đầu doanh nghiệp bảo hiểm còn phải bảo ra các chi phí để thiết lậpmạng lới, tạo mối quan hệ tốt với những ngời này, và các chi phí khác nh chiphí thiết lập hệ thống thông tin, máy vi tính, liên lạc với khách hàng
2.1.2.4 Đại lý bảo hiểm – Kênh phân phối hiệu quả
Trang 17Đại lý bảo hiểm là những ngời đợc doanh nghiệp bảo hiểm uỷ thácnhiệm vụ tiêu thụ sản bảo hiểm (bán bảo hiểm).
Việc phân phối sản phẩm qua mạng lới đại lý sẽ giúp cho các công tybảo hiểm nắm bắt đợc những nhu cầu, những đòi hỏi của khách hàng để từ đóphát triển các sản phẩm hiện có nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu củakhách hàng Còn những thắc mắc sẽ đợc các đại lý giảng giải cặn kẽ cho kháchhàng đợc rõ do chính đặc điểm hoạt động của các đại lý là đến tận nhà gặp trựctiếp khách hàng để bán sản phẩm bảo hiểm Đại lý tiếp xúc trực tiếp với kháchhàng có thể nắm bắt đợc tâm lý, biết đợc suy nghĩ của khách hàng về sản phẩmcủa doanh nghiệp mình với sản phẩm của doanh nghiệp khác đang có trên thịtrờng; xem xét sự hiểu biết của khách hàng về doanh nghiệp Những thông tinnày giúp doanh nghiệp điều chỉnh các chính sách marketing, chính sách sảnphẩm, chính sách đối ngoại, các dịch vụ sau bán cho phù hợp với những đòihỏi của thị trờng, dần đổi mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh
Mặt khác, theo luật bảo hiểm thì khi các doanh nghiệp bảo hiểm bán bảohiểm thông qua môi giới thì công ty bảo hiểm không đợc trao đổi trực tiếp vớikhách hàng, còn đối với việc bán hàng qua mạng lới đại lý các công ty bảohiểm có thể trao đổi trực tiếp với khách hàng Điều này sẽ giúp củng cố mốiquan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng từ đó tạo sự yên tâm, tintởngtừ phia khách hàng
Đặc biệt, với tình hình thực tế ở nớc ta, các sản phẩm bảo hiểm đối vớinhiều ngời dân còn khá mới mẻ, đặc biệt là các lợi ích liên quan đến họ, cácthuật ngữ, các điều khoản bảo hiểm khá phức tạp đã làm cho nhiều ngời dânkhông hiểu hết đợc, mà điều này chỉ có việc thông qua mạng lới đại lý mới giảiquyết đợc
Do vậy sự có mặt của đội ngũ đại lý là một yếu tố không thể thiếu đợctrong cạnh tranh của các công ty bảo hiểm
2.2 Đại lý bảo hiểm nhân thọ
2.2.1 Chức năng của đại lý bảo hiểm
- Chức năng tiêu thụ sản phẩm:
Đại lý bảo hiểm là ngời tiêu thụ các sản phẩm của doanh nghiệp bảo hiểm,
do vậy chức năng này là chức năng quan trọng nhất Để đánh giá một ng ời đại
lý là hoạt động hiệu qủa hay không thì chức năng này phải đợc đặt lên hàng
đầu, ta phải đánh giá dựa trên số lợng hợp đồng bảo hiểm mà đại lý đó khaithác đợc, và doanh thu phí bảo hiểm là cao hay thấp, sau đó mới đánh giá đếncác yếu tố khác Vì vậy, việc học tập và rèn luyện kỹ năng khai thác là côngviệc quan trọng nhất và thờng xuyên suốt đời của các cán bộ đại lý
- Chức năng thông tin hai chiều:
Trang 18Khi xuất hiện mạng lới đại lý bảo hiểm thì các công ty bảo hiểm khôngcòn quan hệ trực tiếp nh phơng thức bán hàng tại văn phòng công ty cho kháchhàng Đại lý bảo hiểm là ngời trung gian đa thông tin từ phía các công ty bảohiểm đến với khách hàng và ngợc lại, trong đó đại lý có chức năng duy trì và
đảm bảo đảm tốt mối quan hệ về thông tin giữa công ty và thị trờng Một mặt,các đại lý là ngời đại diện cho các công ty bảo hiểm chuyển tải đến cho kháchhàng các thông tin về sản phẩm bảo hiểm, về hình ảnh, uy tín và cung cáchkinh doanh của công ty bảo hiểm đến với khách hàng Mặt khác, các đại lý còn
là cán bộ nghiên cứu thi trờng và tiếp thị Thờng xuyên định kỳ ngời, ngời đại
lý phải có nhiệm vụ thu thập và cập nhật các thông tin về thị trờng và kháchhàng phản ánh với công ty bảo hiểm Từ đó giúp các công ty bảo hiểm đa ra đ-
ợc các giải pháp ứng xử cho phù hợp với tình hình cụ thể nhằm đạt hiệu quảcao của hoạt động kinh doanh
- Chức năng cộng đồng trách nhiệm:
Quan hệ cộng đồng trách nhiệm của công ty bảo hiểm và ngời đại lý bảohiểm đó là mối quan hệ phụ thuộc và chi phối lẫn nhau, và đợc thể hiện tronghợp đồng bảo hiểm Trong đó quy định quyền và nghĩa vụ của các bên.Vì vậyngời đại lý phải thấy đợc thực chất mối quan hệ này Họ cần phải xác định rõ
họ chính là ngời của công ty bảo hiểm, quyền lợi của họ luôn gắn chặt với uytín, sự phát triển và hiệu quả của công ty Mặt khác, công ty bảo hiểm vừa phải
có cơ chế khuyến khích động viên đội ngũ đại lý bảo hiểm bằng việc khen ởng những ngời có doanh thu cao, hoạt động tốt, có sự quan tâm sâu sắc đến
th-đại lý để tạo sự tin tởng, gắn bó của các th-đại lý với công ty Nhng đồng thờicông ty phải có các chính sách, cơ chế kiểm soát chặt chẽ và điều hành có hiệuquả đội ngũ đại lý của mình
- Chức năng phát triển thị trờng:
Đại lý là ngời bán hàng – bán các sản phẩm bảo hiểm, đồng thời đại lýphải là những nhân viên Marketing trong việc tìm kiếm khách hàng tiềm năng,tạo mối quan hệ tốt với công chúng Vì vậy, về phía công ty bảo hiểm phảiquán triệt về những nội dung, quan điểm trong chiến lợc phát triển chung củacông ty Và tạo điều kiện vật chất cho các đại lý thực hiện tốt chức năng vànhiệm vụ của mình
Ngời đại lý phải nhận thức rõ các chức năng của mình để có một phơng ớng làm việc có hiệu quả, đó cũng là cách đem lại lợi ích cho mỗi đại lý
h-2.2.2 Các điều kiện pháp lý liên quan đến đại lý bảo hiểm
Trang 19Để trở thành đại lý chuyên nghiệp của một công ty bảo hiểm, một ngời phải đảm bảo đủ các điều kiện sau (Theo quy định tại Điều 86 – luật kinh doanh bảo hiểm):
Là công dân Việt Nam, thờng trú tại Việt Nam
Cá nhân không đợc phép hoạt động đại lý khi:
Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang thi hành án
Là cán bộ công nhân viên của chính doanh nghiệp bảo hiểm hay của
đơn vị tham gia bảo hiểm hay ngời đợc bảo hiểm
Nếu không có thoả thuận riêng với doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận làm đại
lý, đại lý bảo hiểm không đợc nhận làm đại lý cho một doanh nghiệp bảo hiểmkhác
Hoạt động đại lý phải đợc thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng đại lý đã kýkết với doanh nghiệp bảo hiểm
2.2.3 Đặc điểm hoạt động của đại lý
Khác với các sản phẩm khác, sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình Dovậy nó chi phối rất nhiều phơng thức hoạt động của ngời bán hàng Mặt kháccác điều khoản, các thuật ngữ bảo hiểm khá phức tạp, sự hiểu biết của ngời dân
có hạn Bán sản phẩm bảo hiểm đó là việc nhà bảo hiểm bán lời hứa, lời camkết, do vậy khác với các sản phẩm khác ngời đợc bảo hiểm có thể tiêu dùngmột cách tức thì sau khi mua sản phẩm đó ở đây, ngời tham gia bảo hiểm bỏtiền ra mua sản phẩm nhng họ chỉ đợc nhận về mình những lời hứa lời cam kếtcủa nhà bảo hiểm, họ không thấy đợc những lợi ích trớc mắt Do vậy, sự có mặtcủa đội ngũ đại lý bảo hiểm là rất cần thiết Hoạt động bán hàng chủ yếu củangời đại lý bao gồm:
- Đa đến cho khách hàng những sản phẩm bảo hiểm – những giải pháp mà
họ cần Khác với các sản phẩm khác ngời bán chỉ cần mở một cửa hàng, trngbày các sản phẩm của mìnhvà tự khách hàng tìm đến với mình Còn đại lý phảichủ động tiếp cận với khách hàng, tìm kiếm khách hàng ở mọi nơi, mọi lúc
Đến gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với khách hàng giúp khách hàng hiểu về lợi íchsản phẩm bảo hiểm
Trang 20- Đến trực tiếp với khách hàng giải đáp những khúc mắc, do dự của kháchhàng về sản phẩm, về công ty, về lợi ích của sản phẩm
- Hớng dẫn khách hàng điền vào giấy yêu cầu bảo hiểm, và ký kết hợp
định, thời gian hoạt động của đại lý không cố định, cung cách phục vụ kháchhàng công ty bảo hiểm rất khó kiểm soát đợc
Các đặc trng hoạt động của đại lý bảo hiểm so với các công việc khác doanhnghiệp bảo hiểm cần phải quan tâm, để từ đó đa ra quy chế kiểm soát mạng lới
đại lý sao cho phù hợp nhất, thích ứng nhất với đặc điểm riêng của nghành và
có các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của đội ngũ đại lý
2.2.4 Các nhân tố ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt
động đại lý
2.2.4.1 Các nhân tố trong nội bộ ngành kinh doanh bảo hiểm
Các nhân tố trong ngành có ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh bảo hiểmcủa công ty và hoạt động đại lý bao gồm:
- Các công ty kinh doanh bảo hiểm
Trong một số năm trở lại đây chúng ta đã chứng kiến sự phát triển mạnh
mẽ của thị trờng bảo hiểm nớc ta, từ chỗ chỉ có Bảo Việt là công ty kinh doanhbảo hiểm duy nhất, đến nay, đã có sự gia nhập mạnh mẽ vào thị trờng của cáccông ty bảo hiểm nớc ngoài nh: Bảo Long, Bảo Minh, AIA, Manulife Sựtham gia của các công ty bảo hiểm đã làm cho sức ép cạnh tranh trên thị trờngbảo hiểm gia tăng, và có sự ảnh hởng không nhỏ đến doanh nghiệp bảo hiểm và
đại lý của công ty Điều này đòi hỏi các công ty bảo hiểm phải hoạch định chomình một chiến lợc chiến thuật cạnh tranh hiệu quả nhất Các đại lý cũng vậy,
họ cũng chịu sự cạnh tranh từ phía đại lý của công ty khác đang có mặt trên thịtrờng
- Quan hệ công chúng của công ty bảo hiểm
Mối quan hệ tốt với công chúng sẽ làm cho công ty phát triển vợt lên trêncác công ty khác, thị phần của công ty sẽ đợc gia tăng
Các công ty bảo hiểm cần phải phân tích đợc các tiềm lực, điểm mạnh, điểmyếu cũng nh khả năng cạnh tranh đợc tạo ra bởi những mối quan hệ với côngchúng Đồng thời phải đa ra đợc các giải pháp khai thác và xử lý tốt nhất từngmối quan hệ
- Nội bộ các công ty bảo hiểm
Trang 21Sức mạnh kinh doanh của công ty đợc xây dựng và phát triển trên cơ sởcủa truyền thống đoàn kết nhất trí; năng lực và hiệu quả công tác của mỗi cácnhân, mỗi bộ phận; sức mạnh về tài chính; hiệu quả hoạt động tổ chức và quản
lý, ý thức tổ chức kỷ luật; việc chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần củamỗi cá nhân trong công ty
2.2.4.2 Môi trờng vĩ mô
Môi trờng kinh tế
Các nhân tố kinh tế có ảnh hởng đến hoạt động bảo hiểm bao gồm:
- Số lợng, chất lợng và sự phân bố của các nguồn lực xã hội
- Tốc độ tăng trởng của nền kinh tế
- Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và khả năng ứng dụng chúng vàohoạt động sản xuất, kinh doanh
- Thu nhập quốc dân và chi tiêu của Chính phủ
- Quan hệ kinh tế đối ngoại và xu hớng phát triển kinh tế trong khu vực
- Chính sách đầu t, thuế, bảo hộ sản xuất
Môi trờng dân c
- Dân số và mật độ dân số
- Sự phân bố dân c theo vùng lãnh thổ, tỷ trọng và chất lợng của nguồn lao
động trong dân c
- Cơ cấu dân c, đặc điểm về giai tầng xã hội
- Thu nhập và khả năng thanh toáncủa dân c, các yếu tố về đặc điểm tiêudùng và tâm lý tiêu dùng
Môi trờng văn hoá - xã hội
Tuy nhân tố này không có sự ảnh hởng mạnh mẽ nh các nhân tố kinh tế vànhân tố dân c nhng nhân tố về môi trờng văn hoá - xã hội có vai trò rất quantrọng đến sự biến động và phát triển của thị trờng bảo hiểm nói chung và củadoanh nghiệp bảo hiểm nói riêng Đặc biệt, các nhân tố này có ảnh hởng lớn
đến sự hình thành và phát triển của nhu cầu bảo hiểm Các nhân tố này gồm có:
- Bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện qua phong tục, tập quán, tín ngỡng,truyền thống văn hoá cộng đồng
- Trình độ văn hoá, ý thức của dân c
- Chính sách và kết quả đầu t cho việc phát triển văn hoá - xã hội, các
ph-ơng tiện thông tin
- Các sự kiện văn hoá - xã hội
Môi trờng chính trị, pháp luật
Trang 22- Các biến động xã hội: chiến tranh, sự kiện chính trị
Môi trờng tự nhiên và các môi trờng khác
Các nhân tố tự nhiên có ảnh hởng trực tiếp đến khả năng xảy ra rủi ro cho conngời Đó là thời tiết, khí hậu, môi trờng sinh thái, dịch bệnh Ngoài ra, kinhdoanh bảo hiểm còn chịu ảnh hởng tác động của các nhân tố khác nh: biến
động về tâm lý, tiêu dùng, xu hớng đầu t
chơng 2
thực tế tổ chức và hoạt động của đội ngũ đại lý
tại công ty bảo hiểm nhân thọ hà nội
trong những năm gần đây
Trong một vài năm gần đây, thị trờng bảo hiểm nớc ta đã có những bớcphát triển nhanh chóng, có sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía các công ty bảohiểm Với sự gia nhập vào thị trờng bảo hiểm của các công ty bảo hiểm nớcngoài đã làm thúc đẩy nền kinh tế trong nớc nói chung, và sự phát triển của cáccông ty bảo hiểm nói riêng Cạnh tranh mạnh mẽ trong nghành bảo hiểm đòihỏi các công ty bảo hiểm đổi mới phơng thức kinh doanh, đa dạng hoá sảnphẩm, đổi mới cách làm việc trong công ty, các dịch vụ đi kèm sản phẩm,chiến lợc marketing hiện đại đã làm tăng thêm tính chuyên nghiệp cho cáccông ty bảo hiểm trong nớc
Công ty bảo hiểm nhân thọ Hà Nội là một trong những công ty có sự đổimới một cách nhanh chóng về mọi mặt và đã đem lại cho công ty một bớc pháttriển mới với thế và lực mới
1 Thực tế tình hình hoạt động của công ty bảo hiểm nhân thọ
Cùng với sự phát triển của công ty Bảo Việt nhân thọ, trong những năm gần
đây công ty bảo hiểm nhân thọ Hà Nội đã có những bớc phát triển rất lớn Cósức cạnh tranh cao trên thị trờng, công ty đã giải quyết đợc công ăn việc làmcho hàng nghìn ngời lao động, uy tín của công ty ngày càng đợc nâng cao,khách hàng đợc chăm sóc một cách chu đáo, lấy tiêu chí “phục vụ khách hàngtốt nhất để phát triển”
Sự phát triển của công ty đợc thể hiện trên nhiều mặt, doanh thu củacông ty luôn đạt ở mức cao, doanh thu năm sau cao hơn năm trớc đợc thể hiệntrên bảng số liệu thống kê sau:
Trang 23Bảng số 1: Bảng thống kê về doanh thu của Công ty Bảo hiểm nhân thọ trong một vài năm gần đây
(Theo nguồn số liệu do Công ty Bảo hiểm nhân thọHà Nội cung cấp)
Số hợp đồng khai thác đợc hàng năm đều vợt mức kế hoạch đề ra Số ợng hợp đồng bị huỷ từ năm 2003 trở về trớc vẫn là con số tơng đối lớn nhng tỷ
l-lệ duy trì hợp đồng của công ty so với các công ty bảo hiểm khác trên thị trờngvẫn đợc đánh giá là cao hơn Và tính đến hết năm 2004 thì tỷ lệ duy trì hợp
đồng của công ty đạt mức cao 98%
Tình hình kinh doanh bảo hiểm nhân thọ của công ty trong năm 2004 vừa quarất khả quan đợc thể hiện trên một số nội dung sau:
Bảng số 2: Tình hình hoạt động năm 2005 tại Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà Nội
Phí bảo hiểm bình quân (trđ)
Số tiền bảo hiểm bình quân (trđ)
Chi giải quyết quyền lợi bảo hiểm (tỷ đ)
(Theo nguồn số liệu do Công ty Bảo hiểm nhân thọHà Nội cung cấp)
Bảng số 3: Tình hình công tác khai thác theo từng loại hình sản phẩm
Trang 24Tỷ lệ
%
44,69 5,09 12,51 33,73 0,50 0,87 2,61 100Doanh
(Theo nguồn số liệu do Công ty Bảo hiểm nhân thọHà Nội cung cấp)
Trong năm 2004, công ty thu đợc 205,8 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm,
đồng 1 ngời 1 tháng Do vậy đối với các công ty bảo hiểm nhân thọ đây là mộtthuận lợi rất lớn
Trình độ hiểu biết của ngời dân về sản phẩm bảo hiểm, đặc biệt là nộithành trong những năm gần đây đợc nâng cao rõ rệt, họ đã hiểu biết sâu về cácsản phẩm, các điều khoản và quyền lợi của họ khi tham gia bảo hiểm, ý thứctham gia bảo hiểm của mọi ngời đối với tính mạng, sức khoẻ của họ, con cái họcũng tốt hơn trớc rất nhiều Sản phẩm bảo hiểm đã gần gũi với mọi ngời, mọinhà
Khu vực Hà Nội là nơi có số dân đông, nhu cầu lớn thị trờng này còn rấttiềm năng với các công ty bảo hiểm nhân thọ
Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c còn khá lớn
Thực tế thì cạnh tranh của các công ty bảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểmnhân thọ là cha lớn và còn rất non trẻ so với thị trờng của các nớc trong khuvực và trên thế giới Số lợng các công ty bảo hiểm hoạt động trong lĩnh vực nàymới chỉ là 5 công ty, cụ thể bao gồm các công ty bảo hiểm nhân thọ sau:
Bảng số 4: các công ty bảo hiểm nhân thọ tại việt nam
Trang 25STT Tên doanh nghiệp Hình thức sở
hữu
Vốn điều lệ khi đăng ký hoạt động
Lĩnh vực hoạt động
Thời gian thành lập
15/2/1965 (Bảo Việt nhân thọ là năm 1996)
(Theo tài liệu so sánh các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của Công ty Bảo hiểm
nhân thọ Hà Nội)
Nh vậy, đây là điều kiện thuận lợi để Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà Nộitriển khai các nghiệp vụ của mình trên địa bàn thành phố đợc tốt hơn và ngàycàng nâng cao chất lợc sản phẩm và sức cạnh tranh của mình trên thị trờngtrong thời gian này để sẵn sàng đối phó với sức cạnh tranh cao của nền kinh tếthị trờng, khi mà Việt Nam gia nhập WTO
Mặt khác, do Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà Nội ra đời sau (năm 1996)
so với các công ty bảo hiểm khác trong khu vực và trên thế giới, nên Công ty
có thể học hỏi kinh nghiệm từ các công ty đi trớc trong lĩnh vực này Chính vìvậy đây cũng là một lợi thế lớn của một công ty ra đời sau nh Bảo Việt nhânthọ Hà Nội
2.1.2 Khó khăn
Công ty Bảo hiểm nhân thọ Hà Nội trực thuộc Công ty Bảo Việt nhân thọ
đợc thành lập năm 1996, là doanh nghiệp đầu tiên triển khai nghiệp vụ bảohiểm nhân thọ trên thi trờng Việt Nam Do vậy, đã mang lại cho công ty nhiềukhó khăn đó là: kinh nghiệm còn non trẻ, trong khi đó các công ty bảo hiểm n-
ớc ngoài đã có kinh nghiệm hàng trăm năm về triển khai nghiệp vụ bảo hiểmnhân thọ, với đội ngũ chuyên gia dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểmnhân thọ trong việc đa ra các sản phẩm xâm nhập vào thị trờng thị trờng, trongviệc định phí, giám định rủi ro, tổn thất, giải pháp marketing,
Trong một vài năm gần đây với sự gia nhập vào thị trờng bảo hiểm nớc tacủa các công ty bảo hiểm nớc ngoài đã làm cho thị trờng bảo hiểm thêm sôi
động lên, nhng kèm với nó là cạnh tranh đã tăng lên Bảo Việt nhân thọkhông phải là công ty độc quyền hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểmnhân thọ nữa, và đi theo đó là thị phần sẽ bị thu hẹp lại, doanh thu bị chia sẻ, có
sự tranh giành đại lý giỏi giữa các công ty