Trải qua hơn 20 năm đổi mới được sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các cơ chế chính sách nhằm phát triển sản xuất hàng tiêu dùng, cộng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp, hàng Việt Nam đã
Trang 1THựC TRạNG Về HàNG VIệT NAM,
THựC TRạNG Về HàNG VIệT NAM,
NGƯời tiêu dùng việt nam,
NGƯời tiêu dùng việt nam, cơ chế, chính sách đối với
cơ chế, chính sách đối với người tiêu dùng và những vấn đề đặt ra người tiêu dùng và những vấn đề đặt ra
Trang 2
THỰC TRẠNG VỀ HÀNG VIỆT NAM, NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM, CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất trong vòng 80 năm gần đây; nhiều phân tích đã xác định, những năm tới sẽ còn vô cùng khó khăn Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Tổ chức Hợp tác của các nước Phát triển (OECD) đều đưa ra những dự báo bi quan về triển vọng
và cho rằng tình trạng suy thoái sẽ còn tiếp tục ở những nền kinh tế lớn như Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản, còn những nền kinh tế mới nổi Trung Quốc và Ấn Độ tăng trưởng kinh tế cũng đều giảm sút
Suy thoái kinh tế thế giới đã và đang làm cho thị trường xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam bị thu hẹp trên thị trường quốc tế Nhiều doanh nghiệp phải hạn chế sản xuất và hàng hóa tồn đọng Điều này kéo theo những biến động tiêu cực trong nước, dẫn đến hoạt động sản xuất-kinh doanh trong nước bị đình trệ, thất nghiệp gia tăng, gây hậu quả khôn lường đến đời sống kinh tế chính trị xã hội ở Việt Nam Trước yêu cầu đưa nền kinh tế đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững, giải quyết tốt
an sinh xã hội, việc hỗ trợ kinh tế và kích cầu tiêu dùng, làm thay đổi nhận thức, định hướng kinh doanh cho doanh nghiệp trong nước, tạo đà và duy trì tốc độ tăng trưởng là những vấn đề hết sức quan trọng hiện nay Tuy nhiên, thị trường trong nước hiện gặp nhiều khó khăn do lâu nay nhiều doanh nghiệp ít quan tâm đến thị trường tiêu dùng trong nước và tâm lý "sính ngoại" của người tiêu dùng Việt Nam hiện vẫn đang ở mức "quá đáng" Nhiều mặt hàng của Việt Nam chất lượng và giá cả bằng hoặc hơn hàng ngoại, nhưng vẫn không bán chạy bằng hàng ngoại
Trước tình hình đó, ngày 31/7/2009, Bộ Chính trị đã ban hành văn bản số
264-TB/TƯ thông báo Kết luận về việc tổ chức cuộc vận động "Người Việt
Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" Mục đích của cuộc vận động là nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, xây dựng văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam và sản xuất nhiều hàng Việt Nam có chất lượng, sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
1 Đặc điểm về hàng Việt Nam và người tiêu dùng Việt Nam
1.1 Đặc điểm về hàng Việt Nam
Cho đến nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau về thế nào là hàng Việt Nam Trước cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của
Bộ chính trị, nhiều nơi đã đưa tiêu chí hàng Việt là hàng: phải sản xuất tại Việt Nam, xuất xứ tại Việt Nam; chủ doanh nghiệp là người Việt,…Hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh giá
Trang 3Hàm lượng này bao nhiêu tùy theo ngành hàng mà xác định Tuy nhiên, chỉ tiêu này hiện nay chưa có cơ quan nào hoặc đối tượng nào thẩm định cả
Sản xuất là gốc của phân phối, của bán buôn, bán lẻ và tiêu dùng xã hội Trải qua hơn 20 năm đổi mới được sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các cơ chế chính sách nhằm phát triển sản xuất hàng tiêu dùng, cộng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp, hàng Việt Nam đã có nhiều tiến bộ so với thời kỳ bao cấp Một số ngành hàng chủ yếu như: Lương thực, thực phẩm, dệt may, tạp phẩm, dụng cụ gia đình của Việt Nam sản xuất đã có mặt hầu hết ở thị trường nội địa, hàng hoá có chất lượng khá hơn trước, mẫu mã có cải tiến và đa dạng, một số mặt hàng đã xuất khẩu sang các nước Tại các trung tâm thương mại, siêu thị, hàng Việt chiếm lĩnh từ 80-90%1 Hàng loạt các thương hiệu đã được xây dựng, tín nhiệm với người tiêu dùng Việt Nam như: May 10, Việt Tiến, lụa Thái Tuấn, bóng đèn phích nước Rạng Đông, màn Tuyn 10-10 Cho dù có nhiều cố gắng, song trong bối cảnh đất nước đã hội nhập vào khu vực và quốc tế, hàng hoá các nước đã, đang và sẽ thâm nhập mạnh vào thị trường Việt thì sức cạnh tranh của hàng Việt phải được nâng cao hơn rất nhiều mới có thế đáp ứng tiêu dùng của xã hội và chiếm lĩnh được thị trường nội địa
Tuy nhiên, theo đánh giá chung, hàng hoá do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất còn có nhiều nhược điểm như: Hàng hoá kém đa dạng phong phú, ít thay đổi kiểu dáng mẫu mã bao bì, nhãn mác xấu, sản xuất chưa thật sự bám sát nhu cầu của thị trường Việc doanh nghiệp bỏ ra kinh phí để nghiên cứu sâu về sản phẩm còn rất ít, sự sáng tạo trong sản xuất còn khiêm tốn Chất lượng hàng hoá của Việt Nam chưa cao, nếu không nói là thấp, độ ổn định kém, các quy chuẩn mang tính quốc gia, khu vực và quốc tế chưa có nhiều Do vậy, hàng Việt Nam dễ bị hàng nhái, hàng giả tấn công làm thiệt hại cho doanh nghiệp sản xuất, làm mất uy tín của nhà phân phối và gây thiệt hại cho người tiêu dùng
Hàng hoá sản xuất trong nước ở một số nhóm hàng như: Dệt may, da dày,
đồ nhựa, dụng cụ gia đình phụ thuộc rất lớn vào nguyên phụ liệu nhập ngoại,
do vậy giá cả bấp bênh, không chủ động
Đa số các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất trên thiết bị và công nghệ lạc hậu từ những năm 50-60, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn từ 2-15 lần
so với khu vực và thế giới, do đó chất lượng hàng hoá không cao, dẫn tới khó cạnh tranh với hàng hoá nhập ngoại của các nước có nền công nghiệp phát triển tiên tiến Đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật phục vụ cho sản xuất được đào tạo chưa đầy đủ, chưa chuyên nghiệp, do vậy ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Việc xây dựng thương hiệu đăng ký sở hữu trí tuệ các sản phẩm Việt chưa được coi trọng Số thương hiệu nổi tiếng ở trong nước còn rất ít, còn lại đa phần
1 Theo báo cáo của Hội Siêu thị thành phố Hà Nội năm 2009
Trang 4không có thương hiệu Trong số các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam 96% là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, vốn rất ít
Một khía cạnh khác cần được đề cập, đó là tính cộng đồng, sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt với nhau Đa phần mạnh ai người đó làm, nhiều khi còn cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp Việt với nhau Sự kém liên kết còn thế hiện giữa sản xuất và phân phối bán buôn, bán lẻ để tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam thiếu chiến lược sản xuất lâu dài và những phương thức tiếp cận thị trường tiêu thụ một cách khoa học bài bản
1.2 Đặc điểm về người tiêu dùng Việt Nam
Người tiêu dùng Việt Nam thường có 3 đặc điểm căn bản2 trong tiêu dùng
Đó là: Tiêu dùng dựa trên Giá trị; Tiêu dùng Thông minh; và Tiêu dùng có Trách nhiệm Hành vi tiêu dùng được phản ánh thông qua văn hoá tiêu dùng của người tiêu dùng
1.2.1.Tiêu dùng dựa trên giá trị
Trong nền văn hóa tiêu dùng Việt Nam mới, người tiêu dùng sẽ không còn
bị động chờ đợi, tìm kiếm những giá trị trong hàng hóa – dịch vụ, mà người tiêu dùng trở nên chủ động “đặt hàng” với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những sản phẩm phù hợp những chuẩn mực về giá trị mà mình yêu cầu
Để chứng minh giá trị một thương hiệu hàng hóa, doanh nghiệp phải làm rõ đồng thời 3 nội dung mà cộng đồng tiêu dùng có thể chấp nhận và nhận diện được, Đó là: Chất lượng sản phẩm; Trách nhiệm xã hội; và Văn hóa kinh doanh Tiêu dùng dựa trên giá trị là hành vi lựa chọn những sản phẩm, dịch vụ tốt, bền, giá cả phù hợp, thỏa mãn cao nhất nhu cầu cá nhân của người tiêu dùng Nghĩa là tiêu dùng là hoạt động sử dụng giá trị của sản phẩm hay dịch vụ nào đó
để thỏa mãn nhu cầu nhất định của mình
Khi người tiêu dùng chọn mua “Giá trị trong hàng hóa” cũng đồng nghĩa họ thúc đẩy doanh nghiệp tạo ra các giá trị khác Như vậy, chọn mua sản phẩm tức
là chọn mua doanh nghiệp, vì vậy người tiêu dùng cũng tìm hiểu kỹ doanh nghiệp trước khi chọn mua sản phẩm
Một nền văn hóa tiêu dùng Việt Nam mới theo chủ nghĩa giá trị không chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho người tiêu dùng, mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng sáng tạo ra giá trị phục vụ cộng đồng Nói cách khác, tiêu dùng có thể tác động đến doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa phù hợp với yêu cầu về giá trị mà tiêu dùng đặt ra Đồng thời, thông qua các nội dung cốt lõi của văn hóa tiêu dùng doanh nghiệp tìm thấy con đường
2 Theo báo cáo của Viện Nghiên Cứu Tư Vấn Phát Triển Xã Hội (Trường ĐH Quốc Gia TP.HCM), năm 2010
Trang 5để định hướng doanh nghiệp phát triển phù hợp kỳ vọng và lợi ích cộng đồng Triết lý “Tiêu dùng tạo ra Giá trị” cũng đặt ra vấn đề rất mới về mối tương quan giữa tiêu dùng và sản xuất kinh doanh: mỗi hành vi tiêu dùng thông qua doanh nghiệp đều gián tiếp đóng góp giá trị cá nhân vào hệ thống giá trị chung của xã hội
1.2.2 Tiêu dùng thông minh
Tiêu dùng thông minh là hành vi tiêu dùng dựa trên tư duy nhận thức, tiêu dùng những gì mình biết, mình hiểu rõ, tập hợp những thông tin đầy đủ của sản phẩm, của doanh nghiệp để đưa ra quyết định đúng đắn, không bị tác động của những người tiêu dùng khác để bảo vệ lợi ích bản thân, cộng đồng và xã hội
1.2.3 Tiêu dùng có trách nhiệm
Tiêu dùng có trách nhiệm là hành vi tiêu dùng mang tính xã hội cao Người tiêu dùng có trách nhiệm không chỉ là biết tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu đời sống cá nhân, biết lựa chọn những hàng hóa trong nước sản xuất mà còn biết lựa chọn hàng hóa của những doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội, đóng góp cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng và xã hội Bên cạnh đó, người tiêu dùng còn biết thể hiện quyền lực tối thượng của mình đối với những doanh nghiệp có hành vi xâm phạm đến quyền lợi tiêu dùng, vi phạm pháp luật
Tiêu dùng có trách nhiệm không chỉ là hưởng thụ Việc tiêu dùng có trách nhiệm là một phần không thể tách rời của kinh doanh có trách nhiệm Chính khách hàng là nhân tố thúc đẩy các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ thay đổi quan niệm về thương mại Chính người tiêu dùng là động lực ủng hộ, định hướng sản xuất kinh doanh thân thiện với môi trường Cộng đồng tiêu dùng sẽ
cổ súy tinh thần và phong trào sử dụng sản phẩm sinh thái, thân thiện môi trường sống của doanh nghiệp và sẽ liên kết lại, chia sẻ thông tin và trừng phạt những doanh nghiệp làm ăn gian dối, thiếu đạo đức
Ngoài ra, sức mua và nhu cầu của người tiêu dùng còn được phản ánh thông qua các đặc điểm sau:
Tiêu dùng được phân loại theo thu nhập: Đối tượng có thu nhập cao chủ yếu ở thành thị, mua sắm khá mạnh dạn, nhằm vào hàng hoá có thương hiệu, chất lượng cao, khối lượng mua sắm lớn, mua nhiều hàng hoá có giá trị cao, nhiều hàng hoá là hàng nhập khẩu chủ yếu mua tại các siêu thị, trung tâm thương mại Đối tượng còn lại có thu nhập trung bình và thấp chủ yếu ở nông thôn tập trung vào mua sắm hàng lương thực thực phẩm thiết yếu hàng ngày, nếu có dư dật mới mua sắm thêm các hàng hoá khác, chủ yếu là hàng Việt Nam
và hàng Trung Quốc nhập khẩu tại các cửa hàng lẻ và các chợ
Tiêu dùng được phân loại theo lứa tuổi: Thanh thiếu niên dưới 35 tuổi mua sắm nhiều hàng hoá có thương hiệu thường xuyên đổi mới, chạy theo mốt của
Trang 6thời đại, nhất là ở thành thị, chuộng hàng ngoại ít quan tâm đến hàng nội địa Lứa tuổi trung và cao niên mua sắm khiêm tốn theo khả năng ăn chắc mặc bền,
ít thay đổi, chủ yếu là các hàng may mặc sẵn, hàng nội địa có giá cả vừa phải
Tiêu dùng được phân loại theo vùng miền: Miền đồng bằng thu nhập khá hơn mua sắm mạnh dạn hơn Miền núi chủ yếu tự cung tự cấp, chỉ mua những sản phẩm không sản xuất được là các nhu yếu phẩm hàng ngày cho gia đình và
cá nhân do thu nhập còn rất thấp và chủ yếu mua bán tại chợ quê, chợ phiên ở đồng bằng và miền núi
1.2.4 Người tiêu dùng Việt Nam khó tính
Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam thấp và hơn 70% dân
số sống ở khu vực nông thôn Nhiều doanh nghiệp cho rằng Việt Nam là một thị trường dễ tính trong con mắt của các nhà sản xuất Thực tế, theo tâm lý chung ai cũng muốn đồ tốt và rẻ Hiện tại, Việt Nam có 3 xu thế chính Xu thế phổ biến nhất ở các vùng nông thôn, xa các trung tâm đô thị, là thích đồ rẻ, không quan tâm tới thương hiệu cũng như các vấn đề khác Xu thế thứ 2 là chỉ thích hàng có thương hiệu, mà phải là thương hiệu ngoại và đắt mấy cũng mua Còn xu thế thứ
3 là tìm đến các thương hiệu trong nước có tên tuổi, có uy tín và có trách nhiệm với người tiêu dùng Chẳng hạn, liên quan đến ngày may mặc, từ năm 1996, Công ty May 10 đã làm hàng sơ mi cho Pierre Cardin, nhưng phải mất nhiều năm sau người tiêu dùng trong nước mới biết tới và thích dùng hàng Pierre Cardin Từ thực tế, cho thấy rằng người tiêu dùng Việt Nam là những người tiêu dùng khó tính và khi mua hàng thì đòi hỏi giá sản phẩm không được cao mà chất lượng lại phải tốt nhất
1.3 Tình hình tiêu thụ hàng Việt Nam tại thị trường nội địa
Phát triển thị trường nội địa là một trong những giải pháp chiến lược hướng vào mục tiêu phát triển bền vững, vừa nâng cao mức sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng các tầng lớp dân cư, vừa thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Chính vì vậy mà trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, Chính phủ đều rất quan tâm đến mục tiêu nâng cao mức sống các tầng lớp dân cư và phát triển thị trường nội địa
Trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề
án "Tiếp tục tổ chức thị trường trong nước, tập trung phát triển thương mại
nông thôn đến năm 2010" và đã triển khai thực hiện có kết quả Bước vào kế hoạch 5 năm 2006-2010, cùng với mục tiêu phát triển rộng và đều khắp thị trường nội địa, tạo cơ sở cho phát triển xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của các tầng lớp dân cư, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo nhiều Bộ, ngành xây dựng Đề án phát triển thị trường nội địa đến năm 2010 với tầm nhìn đến năm 2020
Việc thực hiện các đề án nêu trên với những cơ chế chính sách khuyến khích và thúc đẩy đồng bộ đã mang lại những kết quả khích lệ Thị trường nội
Trang 7địa đã trở nên sôi động, tổng khối lượng hàng hóa bán buôn và bán lẻ trên thị trường nội địa tăng đáng kể thời gian qua
Trong những năm cuối của thời kỳ kế hoạch 2006-2010, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã làm cho dòng lưu thông hàng hóa trên thị trường quốc tế thu hẹp, cầu tiêu dùng trên thị trường ngoại thương giảm mạnh Các quốc gia đã và đang hạn chế nhập khẩu hàng hóa và hướng mạnh vào việc phát triển thị trường nội địa, nhằm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm đầu ra của nền kinh tế mỗi nước để bù đắp lại sự giảm sút thị trường và sản phẩm xuất khẩu Nền kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động mạnh bởi những chính sách này Trong bối cảnh đó, Chính phủ một lần nữa đã chú trọng phát triển thị trường nội địa, coi đây là giải pháp quan trọng, vừa để tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, vừa đáp ứng mục tiêu nâng cao mức sống các tầng lớp dân cư Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách, giải pháp để hỗ trợ phát triển thị trường thương mại trong nước, kích thích tiêu dùng của các tầng lớp dân cư Năm 2009, Bộ Công thương đã triển khai đề án đầu tư 51.000 tỷ đồng để xây dựng và phát triển mạng lưới thị trường nội địa
1.3.1 Thực trạng phát triển của thị trường nội địa Việt Nam
Thị trường nội địa luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Đối với Việt Nam, một nước có dân số hơn 90 triệu người và đang trong giai đoạn tiến tới việc hình thành đầy đủ và đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc phát triển thị trường nội địa càng có ý nghĩa to lớn
Thị trường nội địa bao gồm mạng lưới bán buôn và bán lẻ Hệ thống này ngày càng phát triển và đa dạng do có sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế bao gồm: các doanh nghiệp; các tập đoàn kinh tế; các hiệp hội; các công ty đa quốc gia; hệ thống các cửa hàng bán lẻ, siêu thị, các trung tâm thương mại; người tiêu dùng,…Hiện nay, cả nước có trên 8.500 chợ các loại; 480 siêu thị và trung tâm thương mại lớn (trong đó, doanh nghiệp nước ngoài có 26 siêu thị)
Thị trường nội địa giữ vai trò liên kết giữa nhà sản xuất và tiêu dùng, nó tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các nhà sản xuất và lợi ích của người tiêu dùng
Sự phát triển của thị trường nội địa làm cho quá trình chuyển dịch hàng hóa gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường, giúp cho nhà sản xuất có những điều chỉnh thích hợp Việc xây dựng và phát triển thị trường nội địa đã và đang trở thành nhu cầu bức thiết trong việc ổn định kinh tế
Từ vai trò và ý nghĩa quan trọng đó, Đảng và Nhà nước đã xác định: “Phát triển thị trường nội địa là một giải pháp chiến lược hàng đầu hướng vào mục tiêu phát triển bền vững có tác động nhiều mặt đến thúc đầy sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn dân, nâng cao mức sống và góp phần bảo
Trang 8đảm an sinh xã hội”3 Trong thời gian qua, chủ trương phát triển thị trường trong nước để kích thích tiêu dùng nội địa đã được triển khai khá rộng lớn trên cả nước với sự chỉ đạo điều hành của nhiều bộ, ngành và các cấp từ trung ương đến địa phương, sự tham gia của các doanh nghiệp và sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, nên đã tạo được những kết quả quan trọng
Nhìn chung, thị trường nội địa đã đạt được những tiến bộ nhất định, được thể hiện ở các mặt sau đây:
- Thị trường đã được hình thành, từ chỗ bị cắt khúc theo địa giới hành chính đến nay đã hình thành thị trường tương đối thống nhất, thông suốt trong cả nước, từ thành thị, nông thôn tới miền núi, hải đảo,… Từ chỗ chỉ có 2 chủ thể chính tham gia vào thị trường là thương nghiệp quốc doanh và hợp tác
xã buôn bán đến nay thị trường đã có nhiều chủ thể cùng tham gia Trong đó, khu vực ngoài nhà nước ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của mình Giá
cả nhiều mặt hàng đã được hình thành theo quy luật giá trị và cung - cầu hàng hóa trên thị trường
- Các chủ thể kinh tế đã được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, từ chỗ các chủ thể tham gia thị trường không có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh
mà chỉ làm theo kế hoạch tập trung và mệnh lệnh của cấp quản lý nhà nước có thẩm quyền về thương mại đến nay đã dần dần phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về thương mại với chức năng quản lý kinh doanh của các chủ thể tham gia thị trường Từ đó, sắp xếp lại các doanh nghiệp thương mại nhà nước theo hướng tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Còn các cơ quan quản lý nhà nước chỉ làm chức năng quản lý hành chính về lĩnh vực thương mại và thị trường
- Hàng hoá đã đáp ứng được một phần nhu cầu thị trường Từ chỗ khan hiếm hàng hóa đến nay trên thị trường nội địa hàng hóa đã dồi dào, phong phú với giá cả tương đối ổn định, đáp ứng các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong cả nước cũng như xuất khẩu Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội không ngừng tăng cao, cơ cấu lưu chuyển hàng hóa theo các chủ thể tham gia thị trường có sự thay đổi đáng kể Cơ cấu lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội của kinh tế nhà nước tuy tăng không mạnh, nhưng kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ chốt trong lưu chuyển buôn bán, nhất là đối với thị trường nông thôn và miền núi Các DNNN vẫn là lực lượng chủ lực thực hiện các chính sách xã hội về lưu thông hàng hóa, như cung ứng các mặt hàng thiết yếu thuộc diện chính sách cho đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa và tổ chức thu mua hàng hóa nông sản cho nhân dân ở vùng đặc biệt khó khăn
Từ những kết quả đã đạt được, có thể nói rằng, thị trường nội địa Việt Nam đang khá hấp dẫn Các doanh nghiệp nước ngoài coi đây là cơ hội kinh doanh lớn và đang chuẩn bị cho cuộc đổ bộ vào thị trường Việt Nam Một trong những
3 Thông báo số 264-TB/TƯ ngày 31/7/2009 của của Bộ Chính trị
Trang 9nhân tố chính khiến thị trường nội địa được coi là thị trường có nhiều tiềm năng,
đó là cơ cấu dân số của Việt Nam Hiện tại, Việt Nam với dân số trên 90 triệu người sống trong nước, trong đó khoảng 70% là dân số trẻ Thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam hiện nay đã đạt trên mức 1300 USD/người/1 năm Bên cạnh đó, sức mua của các tầng lớp dân cư liên tục tăng Chính sức mua của nhân dân được kích thích nên đã thúc đẩy thị trường nội địa hoạt động tích cực và sôi nổi, hiệu quả hơn
Tại Việt Nam đang hình thành thế hệ khách hàng có sở thích “mua sắm” ngày càng “sành điệu” Tỷ lệ tiêu dùng so với GDP của Việt Nam cũng thuộc loại cao so với các nước trong khu vực Tỷ lệ này ở Việt Nam hiện nay là trên 70%, trong khi đó Singapore là 55,9%, Malaysia 58,2%, Thái Lan 67,7% Hơn nữa, Việt Nam cũng là cửa ngõ để dẫn vào các thị trường Đông Nam Á
Chính phủ có nhiều chính sách và hành động cụ thể nhằm khuyến khích sự phát triển của thị trường nội địa Các gói kích thích kinh tế nhằm tháo gỡ những khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tạo một cú hích và định hướng tiêu dùng nội địa, thúc đẩy mạnh mẽ hơn các hoạt động kinh doanh, mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường trong nước, kể
cả khu vực nông thôn, nông nghiệp, nông dân Năm 2009, Bộ Công thương triển khai Đề án đầu tư 51 nghìn tỷ đồng để xây dựng và phát triển thị trường nội địa
đã có bước tiến mạnh mẽ Cùng với đó, thì cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” do Bộ Chính trị phát động, đã tạo nên những động lực mới cho tiêu dùng nội địa
Các doanh nghiệp đã tiếp cận và nắm bắt nhu cầu thị trường trong từng vùng, từng nhóm dân cư, kể cả vùng sâu, vùng xa, vùng có khó khăn về giao thông và triển khai vận chuyển hàng hóa, mở rộng mạng lưới bán buôn, bán lẻ, nên tổng mức tiêu thụ hàng hóa tăng lên đáng kể Đây là một tín hiệu tốt cho việc tiếp tục phát triển thị trường nội địa khi thị trường xuất khẩu bị thu hẹp do tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu Tuy chưa có con số đánh giá chính thức, nhưng có thể khẳng định rằng, Chương trình xúc tiến thương mại thị trường năm
2009 cơ bản là thành công Chưa năm nào nhận thức của cộng đồng về dùng hàng Việt lại nhiều như thời gian qua Thực tế cho thấy, hàng trăm lượt doanh nghiệp đưa hàng về nông thôn, doanh số bán hàng đều ngoài dự kiến của doanh nghiệp Qua đó cho thấy đây là thị trường tiềm năng, bảo đảm khả năng tăng trưởng dài hạn của các doanh nghiệp
Đến nay, sau hơn 4 năm thực hiện cuộc vận động, thị trường nông thôn được nhìn nhận chính là nơi tiêu thụ hàng hóa lớn nhất Bộ Công thương đã phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA) chọn thị trường nông thôn làm điểm nhấn nhằm đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa Những đánh giá của các tổ chức quốc tế về chính sách phát triển thị trường nội địa Việt Nam cho thấy niềm tin tiêu dùng của dân cư Việt Nam đang rất khả
Trang 10quan Theo đánh giá của Tập đoàn quốc tế Master Card thực hiện khảo sát trong tháng 10 và tháng 11 năm 2009, trên cơ sở ý kiến phản hồi của 10.623 người tiêu dùng tiến hành ở 24 nền kinh tế toàn cầu: Chỉ số niềm tin tiêu dùng của Việt Nam có mức phục hồi cao nhất, dẫn đầu ở mức 90% bằng mức trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
Tổ chức Nielsen đánh giá về chỉ số niềm tin của người tiêu dùng công bố tháng 4 năm 2009 thì người tiêu dùng Việt Nam có độ tin tưởng rất lớn vào thị trường nội địa và việc phát triển thị trường này sẽ giúp Việt Nam thoát khỏi thời kỳ tuột dốc
Hãng tư vấn A T Kearney đánh giá, Việt Nam luôn nằm trong nhóm đầu các nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất Đặc biệt trong năm 2008, Việt Nam đã vượt qua Trung Quốc và Ấn Độ để trở thành thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới4
Bảng 3: Điểm số và thứ hạng của thị trường bán lẻ Việt Nam
Quốc gia
Nguồn: A.T Kearney
Trước tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới, các doanh nghiệp xuất khẩu
là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất và gặp nhiều khó khăn Một số doanh nghiệp đứng trước nguy cơ bị phá sản do thị trường xuất khẩu bị thu hẹp,
số lượng khách hàng và hợp đồng bị giảm sút và chắc chắn sẽ không thể phục hồi nhanh được Vì vậy, thị trường nội địa chính là cứu cánh, là lối thoát cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong lúc này Thực tế cho thấy xu hướng quay
về thị trường nội địa của các doanh nghiệp xuất khẩu ngày càng rõ nét Tuy nhiên, để chiếm được thị phần và đứng vững tại thị trường này là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp
1.3.2 Những thuận lợi khi phát triển thị trường nội địa
- Chính phủ chủ trương duy trì sự ổn định của thị trường nội địa, làm nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế, xã hội và cho hội nhập quốc tế. Việc xây dựng mục tiêu phát triển thị trường nội địa từ nay đến 2015 đã và đang được Chính phủ theo đuổi Theo đó: Chính phủ sẽ duy trì nhịp độ tăng trưởng tổng
4 Tập đoàn Tư vấn AT Kearney nghiên cứu và công bố xếp hạng thị trường bán lẻ (TTBL) hấp dẫn nhất thế giới của 30 trong số 185 quốc gia được xem xét Trong đó, GRDI là chỉ số được Tập đoàn Tư vấn AT Kearney xây dựng dựa trên thang điểm 100 Thị trường nào có GRDI càng cao có nghĩa là triển vọng phát triển càng lớn Trong đó, các tiêu chí hình thành GRDI được chia thành 4 nhóm lớn gồm: Độ rủi ro quốc gia và rủi ro kinh doanh; Độ hấp dẫn của thị trường; Độ bão hoà của thị trường; Áp lực thời gian
Trang 11mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ từ 11-15%/năm; Chỉ số giá hàng tiêu dùng tăng khoảng 5%/năm; Hình thành một thị trường hàng hóa ổn định, tạo ra các mạng lưới kinh doanh, kênh lưu thông, phân phối hài hòa và hợp lý; Đưa công tác xây dựng, củng cố kết cấu hạ tầng của ngành thương mại thành chương trình phát triển quốc gia; Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường
- Chiến lược phát triển thị trường nội địa mang tính dài hơi đã được khẩn trương tiến hành. Bộ Công Thương đang phối hợp với các bộ, ngành, hiệp hội xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình: tổ chức hệ thống phân phối một
số mặt hàng trọng điểm; phát triển thương mại nông thôn, chính sách phát triển
hạ tầng thương mại Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nghiệp khai thác thị trường nội địa bằng các công cụ quản lý thị trường hiệu quả hơn, để nó vận hành lành mạnh hơn và qua đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và thời gian tiếp cận thị trường Chính phủ có những hỗ trợ mạnh mẽ cả về vốn và chính sách vĩ mô thông qua việc triển khai các gói kích thích kinh tế, các chương trình xúc tiến thương mại, mặt bằng kinh doanh … với những ưu đãi lớn và cụ thể cho các doanh nghiệp Có thể nói đây là những thuận lợi rất lớn cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường nội địa Việt Nam
- Các doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn khi tiếp cận thị trường nội địa.
Không chỉ thuận lợi về đường lối và chính sách phát triển của Nhà nước,
mà các doanh nghiệp Việt Nam còn có ưu thế hơn các doanh nghiệp nước ngoài
ở chỗ hiểu thị trường, hiểu thị hiếu, thói quen, văn hóa tiêu dùng của người Việt Nam, nên có cơ hội để cạnh tranh Từ chỗ hiểu thị trường, doanh nghiệp sẽ trả lời các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất bao nhiêu? Và phân phối như thế nào? Từ đó sẽ dễ dàng trong việc lựa chọn hàng hóa, đối tượng khách hàng và phương thức thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất
- Người tiêu dùng vẫn có xu hướng chọn kênh phân phối truyền thống. Có tới 85% người Việt Nam vẫn lựa chọn kênh phân phối truyền thống trong khi các nhà phân phối nước ngoài vào Việt Nam vẫn chủ yếu là phát triển kênh phân phối hiện đại Xu hướng mua sắm ở các siêu thị và trung tâm thương mại tăng lên nhưng chỉ chủ yếu tập trung ở các thành phố và các đô thị lớn Hơn nữa, theo đánh giá của các chuyên gia, trong vòng ít nhất là 5 năm tới thì hình thức phân phối nhỏ lẻ thông qua hệ thống chợ, cửa hàng bán buôn, bán lẻ vẫn giữ được vai trò của mình ngay cả trong các thành phố lớn do tập quán tiêu dùng của người Việt Nam và vị trí nắm sát khu vực có nhiều dân cư sinh sống
Ngoài ra, khi tiếp cận thị trường nội địa, chi phí của các doanh nghiệp trong nước sẽ thấp hơn về vận chuyển, phân phối tiếp thị, quản lý Nhờ đó, các doanh nghiệp có thêm nhiều lợi thế cạnh tranh về giá so với các doanh nghiệp nước ngoài Thêm vào đó, thị trường Việt Nam còn rất giàu tiềm năng với quy
mô dân số trên 86 triệu người sống trong nước, dân số trẻ, tiêu dùng tăng
Trang 12trưởng mạnh5 trong những năm qua với mức tăng trưởng trên 20% Bên cạnh
đó, khu vực thị trường nông thôn và miền núi chiếm tới 70% doanh số hàng tiêu dùng nhưng chưa được khai thác nhiều trong khi chí phí cho việc bán hàng ở nông thôn chỉ bằng 1/10 ở các đô thị
1.3.3 Những hạn chế của thị trường nội địa
Mặc dù, thị trường nội địa đạt được một số kết quả đáng khích lệ, nhưng nhìn nhận một cách khách quan thì khả năng tiêu dùng hàng hóa ở thị trường nội địa của các tầng lớp dân cư, nhất là ở nông thôn nước ta còn rất thấp Nguyên nhân có nhiều nhưng có thể thấy rõ là do kinh tế của nước ta còn nghèo, thu nhập bình quân đầu người mới vượt ngưỡng 1.000 USD, phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, nhu cầu mua sắm hàng hóa có khả năng thanh toán hằng năm không cao Đồng thời, đa số dân cư có tâm lý để dành tiền còn nặng, quỹ tiết kiệm trong dân chưa được khai thác phục vụ tiêu dùng và các hoạt động dịch vụ tối thiểu khác
Ngoài ra, một số bộ phận không nhỏ cư dân ở nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa thuộc diện phải xóa đói, giảm nghèo có thu nhập cực thấp lại đang thiếu những nhu yếu phẩm thiết yếu, trong khi năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong nước lại dư thừa đang là nghịch lý phải xử lý Do vậy, việc phát triển thị trường nội địa Việt Nam đang gặp phải rất nhiều khó khăn, trở ngại Nguyên nhân của các khó khăn này đến từ nhiều phía, trong đó có cả chủ quan
và khách quan Đó là:
- Thị trường nội địa chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của Nhà nước cũng như doanh nghiệp Chính phủ chưa chú trọng phát triển thị trường nội địa do sức ép của xuất khẩu để thu ngoại tệ Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều chú trọng phát triển thị trường xuất khẩu mà bỏ quên thị trường nội địa Chính bản thân doanh nghiệp cũng chưa nhận thức được vai trò quan trọng nền tảng của thị trường nội địa Hầu hết, các doanh nghiệp đang kinh doanh theo kiểu cơ hội, ăn sẵn, thiếu một chiến lược và tư duy tổ chức kinh doanh Vì vậy, hiện nay thị trường nông thôn, một phân khúc đầy tiềm năng, gần như bị “bỏ hoang”, việc phân phối hàng hóa ở đây còn hết sức sơ khai
Có thể nói, với thị trường nội địa, doanh nghiệp Việt Nam ít bị phụ thuộc vào biến động của thị trường thế giới Thị trường nội địa là nơi để doanh nghiệp
“tập dượt” trong cạnh tranh, là điểm tựa để vươn ra thị trường thế giới Vì muốn cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, trước hết phải cạnh tranh được trên thị trường nội địa Tuy vậy, thay vì sản xuất, kinh doanh các mặt hàng phục vụ nội địa, doanh nghiệp thường chọn xuất khẩu vì vừa có lãi nhanh, lại ít phải bỏ ra các khoản chi phí theo quy định của Nhà nước
5 Theo báo cáo đánh giá của hãng tư vấn AT Keaney về thị trường bán lẻ Việt Nam, năm
2008
Trang 13- Hệ thống phân phối chưa được đầu tư đúng mức. Kênh phân phối của các doanh nghiệp Việt Nam còn quá yếu, không chuyên nghiệp như các nước trên thế giới, trong khi đó hạ tầng còn chưa đồng bộ Các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng hệ thống phân phối riêng cho mình Ngoài ra, do
đã bỏ quên thị trường nội địa quá lâu nên các doanh nghiệp phải bắt tay lại từ đầu Đây là việc làm rất tốn kém cả về thời gian và chi phí
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp là hết sức cần thiết nhưng còn phải qua phân phối thật tốt, thật hợp lý thì hàng hóa mới tiêu thụ được Các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn đều nhỏ bé, non trẻ nên một phần là chưa có nhận thức đúng về tầm quan trọng của hệ thống phân phối, một phần là tài lực quá yếu không đủ sức gây dựng Nhiều ý kiến cho rằng, hệ thống phân phối ở Việt Nam còn đang ở bước khởi đầu, còn rất sơ khai; không gian thị trường, hệ thống kết nối giữa sản xuất – phân phối – tiêu dùng chưa được hình thành, thậm chí chưa có mô hình một cách hoàn chỉnh và bền vững Điều này đã tạo ra những lỗ hổng lớn làm thị trường Việt Nam không
ổn định, các nhà bán lẻ Việt Nam vì thế khó vạch ra chiến lược kinh doanh của mình
Ở nhiều nước, hệ thống phân phối sản phẩm được chuyên môn hoá để giảm chi phí bán hàng và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Đồng thời, đây cũng là nơi phản ảnh thông tin tốt nhất cho nhà sản xuất những yêu cầu của người tiêu dùng về mẫu mã, chất lượng của sản phẩm Về mặt này, đây chính
là điểm yếu kém trong hệ thống phân phối của các doanh nghiệp Việt Nam vì tính chuyên môn hoá trong việc phân phối sản phẩm thấp và mới chỉ có quy mô nhỏ
- Doanh nghiệp Việt Nam tuy đông về số lượng, nhưng còn yếu kém, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như của sản phẩm thấp. Hơn 90% doanh nghiệp hiện nay là doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhiều hạn chế về tài chính, trình
độ lao động, năng lực quản lý, kinh nghiệm kinh doanh,… và nhiều hạn chế khác, như khả năng nắm bắt cơ hội, linh hoạt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh đều xuất phát từ bản thân các doanh nghiệp Trong khi đó, sự hỗ trợ của Nhà nước chưa có hiệu quả
Về quản lý giá, do thị trường nội địa còn manh mún, chắp vá, với rất nhiều tầng lớp trung gian, chưa tạo thành chuỗi khép kín từ sản xuất đến lưu thông, nên giá cả hàng hóa khó có thể kiểm soát Có những luật, nghị định, quy định, chỉ thị đã ban hành nhưng vẫn chưa thực hiện hoặc thực hiện không tốt Chẳng hạn, theo Luật Cạnh tranh, hàng hóa của một doanh nghiệp chiếm từ 30% thị phần trở lên thì giá phải được nhà nước quản lý, nhưng có một số doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa chiếm hơn 30% thị phần mà giá cả không ai quan tâm
- Thị trường nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa chưa được chú trọng, quan tâm đúng mức. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có quan niệm nông
Trang 14dân thu nhập thấp nên sức mua kém, lại có phong cách sống tằn tiện nên thường chỉ mua sắm hàng hóa cấp thấp, rẻ tiền Thậm chí, khi tham gia Chương trình
“Đưa hàng về nông thôn” quan niệm này vẫn chi phối một số doanh nghiệp, nên
họ đưa hàng kém phẩm chất, lỗi mốt, hàng xuất khẩu bị loại, hàng thùng về cho nông thôn, khiến người tiêu dùng bất bình, do đó gây mất lòng tin về hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam
Theo Viện Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp thì nông thôn Việt Nam chiếm đến 70% lượng tiêu thụ hàng hóa, 70% số hộ cũng ở nông thôn,
số lượng các cửa hàng bán lẻ cũng tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn (97%) Nghiên cứu tiếp thị của Công ty Truyền thông Tiếp thị Việt Nam cho biết nông thôn nước ta có số lượng khách hàng sẵn sàng mua sắm gấp 3 lần thành thị Nhiều hộ gia đình ở nông thôn đã tiêu thụ một số mặt hàng cao cấp như tivi, đài, xe máy, điện thoại… Tuy nhiên, hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam lại chưa được phủ kín ở thị trường này
- Hàng hóa của Việt Nam chưa có vị trí vững chắc trong nhận thức của người dân và phải cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa nhập khẩu Mặc
dù đã có những cải tiến về chất lượng, mẫu mã nhưng nhìn chung hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn đơn điệu, chất lượng hạn chế, giá thành cao Giá của một loại hàng hóa có cùng mẫu mã nhưng hàng Việt Nam thường
có giá cao hơn từ 10–20%, về mẫu mã thì mỗi tuần Trung Quốc tung ra 1-3 mẫu mới, bình quân hàng tháng có thể đưa ra hàng chục mẫu lạ và có thể cho thu hồi lại các hàng đã lỗi mốt, còn hàng Việt Nam lại ít thay đổi Chế độ bảo hành thường không được thực hiện nghiêm túc, chỉ làm qua loa, chiếu lệ Điều này cũng góp phần làm cho người tiêu dùng mất lòng tin
Việc quảng bá sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước rất kém, bao bì sản phẩm không bắt mắt, nên khó thu hút khách hàng Thiếu thông tin khiến nhiều mặt hàng có thương hiệu uy tín nhưng khách hành không biết mua ở đâu Nhiều mặt hàng khác có chất lượng không thua hàng ngoại, nhưng thiếu hướng dẫn, hệ thống phân phối chưa phù hợp, chưa bao phủ được thị trường nên vẫn không bán được hàng
- Thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống phân phối. Trong hệ thống phân phối, nhân viên trình độ cao rất khan hiếm, nhân viên bậc trung cũng thiếu trầm trọng, đến nhân viên bậc sơ cấp cũng khó tuyển dụng, ít ổn định
Số nhân viên này cũng chỉ 4–5 % được đào tạo có bài bản, còn nói chung đều chưa qua đào tạo Người lao động vẫn coi bán hàng là một công việc tạm bợ, không lâu dài, nên không gắn bó với công việc
Các doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế am hiểu văn hóa của người Việt Nam, ít nhiều sẽ có cách ứng xử gần gũi tạo sự thân thiện trong giao dịch bán hàng, song đa số nhân viên lại ít chú ý đến phục vụ khách hàng một cách chu đáo Trên thực tế, nhân viên không hiểu rõ nguồn gốc xuất xứ sản phẩm của cửa
Trang 15hàng, không nắm được tính năng, công dụng, tính ưu việt của sản phẩm mình đang bán nên không giải đáp nổi thắc mắc của khách hàng, không đủ sức hướng dẫn tiêu dùng, bảo quản, bảo vệ, chứng minh chất lượng, tiện ích của sản phẩm Nhiều nhân viên còn có thái độ thờ ơ, ít chịu lắng nghe khách hàng, không biết cách thương lượng với khách hàng, có nhân viên còn có thái độ không lịch sự Do đó, Nhà nước cần có sự hỗ trợ tích cực việc đào tạo nhân viên ngành phân phối mang tính chuyên nghiệp và biết lấy khách hàng là trung tâm Đào tạo đội ngũ bán hàng không chỉ cần chú ý kỹ năng cơ bản (kiến thức sản phẩm, kỹ năng bán hàng, quản trị khách hàng, hoạch định phân tích số liệu,…) mà còn cần cả những kỹ năng như vi tính, trình bày, ngoại ngữ v.v
- Kết cấu hạ tầng không theo kịp sự phát triển của thị trường Mặt bằng của các doanh nghiệp, các cửa hàng kinh doanh khó khăn và khan hiếm, đặc biệt là ở các thành phố và các khu đô thị lớn Giá thuê diện tích mặt bằng ngày càng tăng vọt Trong khi đó, ở nhiều địa phương còn thiếu chợ, có nơi để chợ mọc tự phát, trong khi nhiều nơi xây dựng chợ nhưng lại bỏ hoang không ai vào mua bán
- Sự lỏng lẻo trong liên kết giữa các doanh nghiệp và hiệp hội Ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, đóng gói, hệ thống bán lẻ Việt Nam hoàn toàn chưa có sự liên kết chặt chẽ với nhau như chuỗi liên hoàn cung ứng khép kín từ khâu nguyên vật liệu cho đến khâu thành phẩm để đưa đến tay và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay chưa có sự liên kết: giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng loại sản phẩm trong từng vùng, từng miền; giữa các doanh nghiệp sản xuất và các doanh nghiệp phân phối; giữa các doanh nghiệp sản xuất, phân phối với các hiệp hội, ngành hàng Do đó, siêu thị, trung tâm, cửa hàng thương mại muốn có hàng phải đi thu mua khi tăng khi giảm thất thường; không đồng bộ Còn doanh nghiệp sản xuất thường gặp khó khăn trong tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm làm ra tự đem bán được khoảng 3%, các cửa hàng phân phối tiêu thụ khoảng 12%, 80-85% phải bán cho thương lái và chịu bị ép giá, khiến nhiều khi bán hàng rồi không thu hồi lại đủ vốn
- Tâm lý sính ngoại, thích tiêu dùng hàng ngoại đang trở nên phổ biến, là cản trở không nhỏ đối với Nhà nước và các doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường nội địa. Tại thị trường Việt Nam, một thực tế được các chuyên gia chỉ
ra là phần lớn người tiêu dùng Việt Nam phải mua hàng ngoại chỉ vì hàng Việt Nam chất lượng thấp, quá đắt so với giá trị của nó hoặc không có cùng chủng loại Người tiêu dùng Việt sẵn sàng ủng hộ hàng Việt nhưng không phải ủng hộ bằng bất cứ giá nào Chúng ta không thể kêu gọi Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt một cách chung chung, buộc mọi người phải chấp nhận mua hàng nội kém chất lượng, mẫu mã xấu, giá cao hơn hàng ngoại cùng loại được Trong khi hàng hóa có chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì lại đem xuất khẩu, còn hàng xấu, hàng không đạt tiêu chuẩn lại điều về thị trường nội địa
Trang 162 Phân tích và đánh giá thực trạng về cơ chế, chính sách đối với người tiêu dùng Việt Nam
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống phân phối hàng hóa, kể cả bán buôn và bán lẻ, ở Việt Nam đã đạt được sự phát triển rõ ràng, nhất là trong việc phát triển các loại hình phân phối văn minh, hiện đại, và đang dần thích ứng với nền kinh tế thị trường mở của Cơ cấu hệ thống phân phối hàng hóa Việt Nam đã và đang có những biến đổi sâu sắc, từ chỗ chủ yếu do Nhà nước, các hợp tác xã (HTX) chiếm độc quyền và đơn loại hình (cửa hàng bách hóa bán hàng theo phương thức truyền thống do thương nghiệp nhà nước nắm giữ, và cửa hàng HTX do HTX mua bán đảm nhận) với số lượng cơ sở (cửa hàng, điểm
bán lẻ) rất hạn chế đã chuyển sang ngành bán lẻ đa loại hình với nhiều thành
phần kinh tế tham gia và số lượng cơ sở ngày một tăng Nhờ đó, đã từng bước tạo ra một thị trường bán lẻ ngày càng cạnh tranh và có nhiều cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng trong một môi trường mua sắm ngày càng thuận tiện, văn minh
Các loại hình tổ chức bán lẻ hiện đại theo mô hình của các nước tiên tiến như: siêu thị tổng hợp, siêu thị chuyên doanh, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng hội viên dạng nhà kho, các loại chuỗi cửa hàng và trung tâm thương mại đã lần lượt xuất hiện ngày càng nhiều ở các địa phương, nhất là khu vực đô thị để đáp ứng nhu cầu mua sắm đa dạng và ngày càng cao của các đối tượng tiêu dùng ở Việt Nam Không ít nhà sản xuất trong nước và doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đã thiết lập được hệ thống cửa hàng theo mô hình hiện đại chuyên bán hàng hóa mang thương hiệu của mình
Bên cạnh việc bán hàng qua cửa hàng (hiện hữu) các doanh nghiệp bán lẻ còn sử dụng hình thức bán hàng không qua cửa hàng, như bán hàng qua ti-vi
bán hàng trực tuyến, Các hình thức này đang được áp dụng và đang phát triển
mạnh ở Việt Nam, nhất là hình thức bán hàng trực tuyến (với việc hình thành các "siêu thị ảo", “cửa hàng ảo" trên mạng) Ngoài ra, hình thức bán lẻ hàng hóa qua máy bán hàng tự động cũng đã và đang được một số doanh nghiệp nghiên
cứu, áp dụng vào Việt Nam
Tuy nhiên, có thể nói hệ thống phân phối hàng hóa trong nước chưa có khả năng phản ứng thích hợp đế hạn chế các tiêu cực trước sự biến động của thị trường thế giới, chưa tạo được tiền đề để "tiếp nhận’’ nhanh sự can thịệp của Nhà nước vào thị trường Quá ít những doanh nghiệp và những hệ thống phân phổi đủ mạnh, có khả năng tài chính, có mạng lưới kinh doanh, có lực lượng con người, có công nghệ quản lý và điều hành phù hợp với xu thế hiện đại hóa và chuyên nghiệp hóa, tương xứng với các đối tác quốc tế trong quá trình hội nhập
và mở cửa thị trường trong nước với bên ngoài Nói cách khác, trên thị trường thiếu những doanh nghiệp và hệ thống phân phối rường cột và nòng cốt, bảo đảm kiểm soát và chi phối được thị trường xã hội, nhất là trong những tình huống căng thẳng, gay gắt
Trang 17Quá nhiều loại hình tổ chức mua bán và thương nhân nhỏ lẻ (chợ, cửa hàng độc lập, hộ kinh doanh cá thể) không được định hình phát triển, không được tổ chức thành đối tượng của quản lý nhà nước Đa số các chủ thể này hoạt động tự
do và độc lập "ngoài vòng kiểm soát”, làm cho thị trường trở nên manh mún, tản mạn, lộn xộn và rối loạn, pháp luật của nhà nước và lợi ích của người tiêu dùng không được tôn trọng
Xét trên nhiều khía cạnh, cả quy mô doanh số và diện tích bán lẻ hàng tiêu dùng trên đầu người, nhất là bán lẻ qua các loại hình bán lẻ hiện đại vẫn còn rất thấp và nhỏ bé so với các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển ở châu
Á
2.1.Thực trạng về cơ chế chính sách bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Ba văn bản cơ bản
để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do UBTVQH ban hành, Luật Cạnh tranh (2004) và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (2010)
Để Pháp lệnh và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được thực hiện hiệu quả, với mục đích phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước giải quyết, tham vấn, bảo đảm, bênh vực lợi ích chính đáng cho người tiêu dùng, còn có hệ thống hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng gồm: Hội tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam ở cấp trung ương và 26 hội ở các tỉnh và thành phố Khi bị thiệt hại, người tiêu dùng có quyền gửi khiếu nại đến nhà sản xuất, kinh doanh, văn phòng khiếu nại, hội bảo vệ người tiêu dùng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra toà án có thẩm quyền Trong đó, cơ quan nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chính là: Bộ Công thương và các Sở Công thương ở địa phương
Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam nguyên là Hội Khoa học kỹ thuật về tiêu chuẩn hoá đo lường chất lượng, được thành lập năm 1988 Năm 1990, hội đã đưa nội dung bảo vệ người tiêu dùng vào tôn chỉ mục đích của hội và đổi tên thành Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam Tuy nhiên, hoạt động của hội còn mang tính hình thức vì ban lãnh đạo thường là cán bộ ngành đo lường, kiểm nghiệm đã về hưu Hội chưa liên kết với các tổ chức quần chúng khác để mở rộng sự giám sát Việc xử lý các khiếu nại thường chỉ bằng cách thương lượng đòi bồi thường
Với các cách hoạt động chưa có luật pháp bảo vệ như hiện nay, quyền lợi của người tiêu dùng, dù họ có được nhà kinh doanh gọi là “Thượng đế”, vẫn liên tục bị xâm hại và đến khi người tiêu dùng thực hiện quyền khiếu nại, quyền đòi bồi thường của mình thì không biết “chạy đâu cho đúng cửa”
2.2.Trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của doanh nghiệp
Trang 18Theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thì tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ phải:
- Đăng ký, công bố tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật và thực hiện đúng cam kết với người tiêu dùng; thường xuyên kiểm tra về an toàn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ, thực hiện việc cân, đong, đo, đếm chính xác
- Thông tin, quảng cáo chính xác và trung thực về hàng hoá, dịch vụ; niêm yết giá hàng hoá, dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng hàng hoá, dịch vụ của mình cho người tiêu dùng
- Giải quyết kịp thời mọi khiếu nại của người tiêu dùng về hàng hoá, dịch
vụ của mình không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; thực hiện trách nhiệm bảo hành hàng hoá, dịch vụ đối với khách hàng
- Có trách nhiệm thu thập, nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của người tiêu dùng; bồi hoàn, bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Điều 10 của Luật còn quy định các hành vi bị nghiêm cấm Đó là cấm:
1 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác về một trong các nội dung sau đây:
a) Hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp;
b) Uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
c) Nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
2 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hóa, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng từ 02 lần trở lên hoặc có hành vi khác gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng
3 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ép buộc người tiêu dùng thông qua việc thực hiện một trong các hành vi sau đây:
a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người tiêu dùng;
Trang 19b) Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để ép buộc giao dịch
4 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, đề nghị giao dịch trực tiếp với đối tượng là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất năng lực hành vi dân sự
5 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ yêu cầu người tiêu dùng thanh toán hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp mà không có thỏa thuận trước với người tiêu dùng
6 Người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác
7 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng
8 Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng
2.3 Người tiêu dùng Việt Nam đang sống trong môi trường thiếu an toàn
Người tiêu dùng Việt Nam hiện phải sống trong môi trường mà mức độ không an toàn ngày càng gia tăng, quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm ngày càng nhiều Theo Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng, thực trạng công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam cho thấy, các vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ Hàng loạt các vụ vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích của người tiêu dùng được phát hiện như vụ xăng pha aceton, vụ nước tương nhiễm chất 3-MCPD, vụ gian lận xăng dầu Gần đây nhất là việc phát hiện hàng loạt các cơ sở kinh doanh
mỡ động vật không rõ nguồn gốc xuất xứ… Những vụ việc này đã gây thiệt hại không chỉ về tài sản mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe thậm chí là tính mạng của người tiêu dùng.6
Theo thống kê của Bệnh viện K, mỗi năm Việt Nam có khoảng 77.000 ca mới mắc bệnh ung thư trong đó 80% là do môi trường sống và chỉ có khoảng 5% là do gen di truyền Còn theo khảo sát của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, tại một số điểm bán xăng dầu, sai số đo lường bình quân khoảng 5% (với mức tiêu thụ xăng dầu hiện nay số tiền mà người tiêu dùng bị thiệt hại lên tới hàng ngàn tỷ đồng) Kết quả tổng kiểm tra mới đây của Bộ Khoa học và Công nghệ cũng cho thấy khoảng 28% cơ sở kinh doanh sai phạm về đo lường (có nơi sai số gần 10%), 17% vi phạm về chất lượng Cùng với đó, nhiều
6 Phát biểu của Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng trước Quốc hội về Dự án luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngày 3/6/2010
Trang 20hình thức bán hàng mới tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho người tiêu dùng như: bán hàng đa cấp, bán hàng tận cửa, bán hàng trực tuyến… Thực tiễn công tác bảo vệ người tiêu dùng cho thấy, trình độ, nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế
Những con số trên đây chỉ là sự thống kê một phần rất nhỏ và mới chỉ phản ánh được phần nào thực trạng xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Có thể nói rằng người tiêu dùng Việt Nam hiện đang phải sống trong một môi trường mà mức độ không an toàn có xu hướng ngày càng gia tăng, quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm ngày càng nhiều Trong khi đó, các quy định của pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập, không tạo thuận lợi cho quá trình phát hiện và xử lý các vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng
Theo thống kê của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vinastas) trong 2 tháng (5 và 6 của năm 2010), việc tiếp nhận và tư vấn giải quyết hàng trăm khiếu nại trực tiếp hoặc gián tiếp qua điện thoại và thư điện tử của người tiêu dùng trên phạm vi cả nước cho thấy, người tiêu dùng khiếu nại về tất cả các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ "Chất lượng hàng hóa dịch vụ được phản ánh không chỉ của trong nước sản xuất mà còn nhập khẩu, thậm chí là cả các hãng tên tuổi" Hơn 95% "nguyên đơn" trong các vụ này là người tiêu dùng (cá nhân hoặc thể nhân là tổ chức, doanh nghiệp) đã mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ, còn lại 5% “nguyên đơn” là tập thể khiếu nại về chất lượng hàng hóa, dịch vụ, gian lận thương mại, ô nhiễm môi trường Điểm đáng chú ý "bị đơn"- người bị khiếu nại không phải luôn luôn là thương nhân mà còn
có cả đơn vị hành chính nhà nước, các đơn vị và tổ chức hoạt động phi lợi nhuận Theo đó, thương nhân, kinh doanh lợi nhuận chiếm tới hơn 93%, số còn lại thuộc về tổ chức phi lợi nhuận và hành chính công
Đến nay, Vinastas đã tiếp nhận khiếu nại của 95,5% người tiêu dùng là các
cá nhân mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ; 93,3% người bị khiếu nại là thương nhân, kinh doanh vì lợi nhuận; 100% các vụ khiếu nại liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa dịch vụ; 17,7% khiếu nại liên quan đến thông tin quảng cáo, lừa dối, giả nhãn mác; 91% đòi quyền lợi chính đáng bị thiệt hại do chất lượng hàng hóa không đạt yêu cầu, các vấn đề khiếu nại về vệ sinh, an toàn, ô nhiễm môi trường và đóng góp ý kiến giúp các doanh nghiệp, tổ chức cải tiến và hoàn thiện sản phẩm dịch vụ chiếm hơn 15%
Điều này cho thấy, người tiêu dùng đã bắt đầu nhận thức được về quyền lợi chính đáng của mình khi chất lượng hàng hóa không đạt yêu cầu, dịch vụ không hoàn hảo như quảng cáo, bảo hành không đúng cam kết, lừa đảo, Người tiêu dùng đã bắt đầu quan tâm đến chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, Báo cáo cũng cho thấy, có 4,5% người tiêu dùng lợi dụng quyền khiếu kiện, gây áp lực với doanh nghiệp, tổ chức để đòi quyền lợi quá mức