1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC PHÁP LUẬT VỀ TÔN GIÁO 2021

70 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Bồi Dưỡng Kiến Thức Pháp Luật Về Tôn Giáo 2021
Trường học University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Tôn giáo, Chính sách tôn giáo, Pháp luật về Tôn giáo
Thể loại Tài liệu bồi dưỡng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 592,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1945-1975 (5)
    • 1.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1975 (5)
    • 1.2. Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1945-1975 (7)
    • 1.3. Những bài học kinh nghiệm của công tác tôn giáo giai đoạn 1945 - 1975 (11)
  • 2. Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1976 - 1990 (13)
    • 2.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1976 - 1990 (13)
    • 2.2. Những bài học kinh nghiệm của công tác tôn giáo giai đoạn 1976 – 1990 (17)
  • II. QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO THỜI KỲ ĐỔI MỚI (18)
    • 1. Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo giai đoạn 1990 - 2002 (18)
      • 1.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1990 - 2002 (18)
      • 1.2. Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1990-2002 (19)
    • 2. Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo giai đoạn 2003 đến nay (21)
      • 2.1. Quan điểm, chính sách tôn giáo trong Nghị quyết 25 -TƯ(2003) (21)
      • 2.2. Quan điểm, chính sách tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XI (2011) (24)
      • 2.3. Những nội dung mới của chính sách thể hiện qua Hiến pháp 2013 và Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016 (29)
  • I. VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA CÓ NHIỀU LOẠI HÌNH TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO (36)
  • II. Ở VIỆT NAM CÓ MỘT BỘ PHẬN ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO CÁC TÔN GIÁO (39)
  • III. ĐA SỐ TÍN ĐỒ CÁC TÔN GIÁO LÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG, TRONG ĐÓ CHỦ YẾU LÀ NÔNG DÂN (41)
  • IV. Ở VIỆT NAM CÓ LỰC LƯỢNG ĐÔNG ĐẢO CÁC CHỨC SẮC, NHÀ TU HÀNH - NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO CHUYÊN NGHIỆP (42)
  • V. CÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM CÓ MỐI QUAN HỆ QUỐC TẾ RỘNG RÃI (43)
  • VI. CÁC TÔN GIÁO Ở NƯỚC TA LUÔN LÀ ĐỐI TƯỢNG TRONG ÂM MƯU LỢI DỤNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH (45)
  • I. ĐẶC ĐIỂM CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH, TÍN ĐỒ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM (48)
    • 1. Một số khái niệm (48)
      • 2.3. Trong lối sống, nếp sống của tín đồ tôn giáo có nét riêng, mang mầu sắc tôn giáo và sinh hoạt tôn giáo được coi như là nét sinh hoạt văn hoá của mỗi tín đồ và cộng đồng tôn giáo (51)
      • 2.4. Tín đồ tôn giáo ở Việt Nam đa số là nông dân, có tinh thần yêu nước, luôn gắn bó với dân tộc (51)
      • 2.5. Chức sắc tôn giáo là rường cột của mỗi giáo hội, người trực tiếp chăm lo đời sống tôn giáo của tín đồ (52)
    • 3. Những quan điểm của Đảng, Nhà nước ta đối với công tác vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo hiện nay (53)
      • 3.1. Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc (54)
      • 3.2. Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng (54)
      • 3.3. Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào các tôn giáo, chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần của chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo; đấu tranh chống mọi hiện tượng tiêu cực, lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc (56)
  • II. NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP VẬN ĐỘNG TÍN ĐỒ, CHỨC SẮC TÔN GIÁO (57)
    • 1.3. Vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo tham gia các phong trào thi đua yêu nước, sống gắn bó, đồng hành cùng dân tộc; phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt dẹp của các tôn giáo (60)
    • 1.4. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tôn giáo (62)
    • 1.5. Quan tâm xây dựng, phát huy vai trò của những người có uy tín, tích cực trong tôn giáo (63)
    • 1.6. Công tác vận động chức sắc tôn giáo (64)
    • 2. Hình thức vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo (65)
  • III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH, TÍN ĐỒ TÔN GIÁO (67)

Nội dung

Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1945-1975

Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1975

Thời kỳ 1945-1975 là giai đoạn lịch sử đặc biệt của dân tộc ta, khi sau cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, đất nước giành được độc lập cho nửa miền Trong thời gian này, Việt Nam phải tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Đây là thời kỳ đầy cam go và gian khổ, với sự lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Giai đoạn này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ những quan niệm cực đoan về tôn giáo, cả trên thế giới và trong nước, trước năm 1945, với các sự kiện chính đáng chú ý.

Giáo hoàng Piô XI không chỉ là người chống chủ nghĩa phát xít mà còn kiên quyết phản đối chủ nghĩa Cộng sản Vào ngày 19 tháng 3 năm 1931, ông đã ban hành Tông thư Thiên Chúa cứu chuộc (Divini Redemptoris), trong đó phân tích sâu sắc về chủ nghĩa Cộng sản Tông thư này được xem là nền tảng học thuyết bác bỏ chủ nghĩa Cộng sản, cung cấp lý luận cho khuynh hướng chống Cộng sản của Tòa thánh cho đến những năm trước Công đồng Vatican II.

Giáo hoàng Piô XI, vị Giáo hoàng thứ 259, sinh ngày 31/5/1857 và đắc cử vào ngày 6/2/1922, đã bãi nhiệm vào ngày 10/2/1939 Ông lên án chủ nghĩa Cộng sản vô thần, cho rằng nó không thể hòa hợp với văn minh Kitô giáo, đồng thời công khai phản đối chiến tranh trong thông điệp của mình.

Thứ hai, Toà thánh Vatican công khai ủng hộ Pháp xâm lược lại Việt Nam

Vào ngày 3 tháng 11 năm 1951, các Giám mục Đông Dương đã họp tại Hà Nội và phát hành Thư chung năm 1951, trong đó nhấn mạnh rằng chủ nghĩa cộng sản vô thần là một mối đe dọa lớn nhất hiện nay Họ kêu gọi cộng đồng Công giáo không chỉ tránh xa Đảng Cộng sản mà còn không hợp tác hay làm bất cứ điều gì có thể giúp Đảng này nắm quyền Các Giám mục cảnh báo về những mưu mẹo của người cộng sản nhằm đánh lừa dân chúng, khẳng định rằng chủ nghĩa cộng sản là nguy cơ nghiêm trọng nhất đối với Công giáo và Việt Minh chính là đại diện cho sự vô thần sẽ tiêu diệt đạo.

Khâm sứ Toà thánh Vatican tại Việt Nam đã lên án những người Công giáo hợp tác với Việt Minh, đe dọa rút phép thông công đối với họ Chủ nghĩa cộng sản được coi là hoàn toàn xung khắc với Công giáo, đến mức Đức Thánh Cha tuyên bố rằng không thể đồng thời theo cả hai Những người Công giáo gia nhập Đảng Cộng sản sẽ bị khai trừ khỏi giáo hội.

Tình hình và thái độ hiện tại tạo ra nhiều thách thức cho nhận thức và việc xây dựng các chính sách tôn giáo, cũng như thực hiện các chính sách này trong giai đoạn trước đổi mới.

2 Thư chung các Giám mục Đông Dương họp tại Hà Nội từ ngày 3 đến ngày 10/11/1951, có 13 vị Giám mục

Trong giai đoạn này, các thế lực phản động đã lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam, đặc biệt tại Cần Thơ vào ngày 9/9/1945, khi tín đồ Hòa Hảo vũ trang kéo vào thị xã đòi cướp chính quyền, nhưng đã bị dập tắt Tháng 7/1947, lực lượng cách mạng đã trấn áp bọn phản động trong Cao Đài ở Tây Ninh Ngày 5/10/1947, cuộc đấu tranh chống lại số phản động Công giáo do Giám mục Lê Hữu Từ kích động tại Ninh Bình đã dẫn đến việc bắt gần 300 người Tháng 9/1954, vụ bạo loạn ở Phong Thổ, Lai Châu do Nông văn Kiếm và Đèo Văn Ngảnh cầm đầu cũng đã bị dập tắt để ổn định an ninh Tây Bắc Đến tháng 1/1955, các lực lượng cách mạng đã tổ chức cuộc đấu tranh chống âm mưu cưỡng ép giáo dân di cư tại Ba làng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa, một vụ bạo loạn nghiêm trọng có sự chỉ đạo của các linh mục Nguyễn Duy Hiền và Mai Đức Quyền.

Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1945-1975

Trong bối cảnh rất phức tạp của tình hình nói trên, Đảng ta vẫn sớm có nhận thức đúng đắn về tôn giáo

Vào ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố về “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” trong phiên họp đầu tiên Đề xuất này nhằm bác bỏ những quan điểm vu khống đối với người Cộng sản liên quan đến tôn giáo và điều chỉnh những sai lầm tả khuynh về tôn giáo đang diễn ra ở một số địa phương Ngày 6/4/1946, đồng chí Trường Chinh đã viết một bài đăng trên tờ Sự thật để làm rõ vấn đề này.

Những người Cộng sản không tin vào sự tồn tại của Trời, nhưng họ không cấm đoán niềm tin tôn giáo của người khác Trong hơn ba năm của chế độ vô sản chuyên chính tại Liên Xô, Công giáo vẫn tồn tại Trong khi đó, các chế độ phát xít đã tiêu diệt tôn giáo, còn Cộng sản không làm như vậy.

2) Chúng tôi không tin có Chúa Lời, nhưng chúng tôi không hề mạt sát Chúa Lời của Công giáo…

4) Chúng tôi chủ trương “Nhà thờ li khai với Nhà nước và nhà trường li khai với nhà thờ” vì muốn cho chính quyền không can thiệp đến việc tín ngưỡng và tôn giáo, không lợi dụng tín ngưỡng mà bắt tín đồ theo ý kiến của chính quyền, không ai được lợi dụng việc dạy học mà tuyên truyền tôn giáo, mà cũng không ai được vì tôn giáo mà chế biến chương trình giáo dục của nhà nước Có như thế tôn giáo và tín ngưỡng mới được tự do không bị người ta làm sai lệch đi

6) Chúng tôi không muốn kéo dài vấn đề “Cộng sản và Công giáo” làm gì

Cướp vào nhà cần sự đoàn kết để cùng nhau đánh bại kẻ thù Đoàn kết là quan trọng, nhưng cũng cần phải phê bình để loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong hàng ngũ kháng chiến, từ đó giúp kháng chiến đạt được thắng lợi nhanh chóng.

Năm 1947, tình hình Công giáo trở nên phức tạp, đặc biệt tại các Khu II và Khu III Đảng đã nhấn mạnh cần tránh mọi hành động xâm phạm tôn giáo để ngăn chặn bọn phản động lợi dụng tuyên truyền chia rẽ.

Năm 1951, trước âm mưu chia rẽ “đạo đời” của các thế lực thù địch, Đảng ta đã nhanh chóng tuyên bố chủ trương lương - giáo đoàn kết, thể hiện rõ trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II: “Đoàn kết dân tộc, lập ”.

Mặt trận dân tộc thống nhất được thành lập vào năm 1951, bao gồm tất cả các lực lượng chống đế quốc và phản quốc, không phân biệt chủng tộc, giai cấp, tôn giáo hay khuynh hướng chính trị, dựa trên liên minh công nông Trong bối cảnh phức tạp của Công giáo, Khâm sứ Dooley triệu tập các Giám mục Đông Dương tại Hà Nội để tổ chức và tuyên truyền chống cộng, thành lập các tổ chức phản động như “Thanh niên bảo vệ Chúa” và “Chiến sĩ Công giáo chống cộng”, đồng thời kêu gọi con chiên tham gia chống cộng Giám mục Lê Hữu Từ đã cảnh cáo các chức sắc tham gia kháng chiến và bọn phản động còn tổ chức khủng bố nhằm chia rẽ tôn giáo Vấn đề lợi dụng tôn giáo không chỉ xảy ra trong Công giáo mà còn trong Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao đài Trong hoàn cảnh đó, Đảng Nhà nước đã có những chính sách đúng đắn để giải quyết vấn đề tôn giáo, với quan điểm nổi bật được ghi nhận trong văn kiện Đại hội II của Đảng vào tháng 2 năm 1951.

1) Về đánh giá tín đồ các tôn giáo, Đảng ta coi họ là lực lượng cách mạng: Thường là quần chúng công nông, phần đông họ vẫn có tinh thần ái quốc Đã có nhiều nơi đồng bào tích cực tham gia kháng chiến

2) Nhắc nhở cán bộ đảng viên phải:“Đả phá thành kiến với đồng bào Công giáo”

3) Thừa nhận tín đồ các tôn giáo : “Cần được tín ngưỡng tự do”

4 Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H, 2001, tr 56

5 Đảng cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, H, 2001, tr 132-134

4) Phải có chính sách 2 mặt: “Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng” chân chính của tín đồ và chức sắc cac tôn giáo; “đồng thời nghiêm trị những kẻ lợi dụng tôn giáo mà phản quốc”

5) Phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo: Phải có kế hoạch cụ thể cho cán bộ vào vùng hoàn toàn Công giáo để hoạt động Chúng ta không nên coi công tác này chỉ có tính chất thuần tuý tôn giáo, mà phải đặt vào công tác vận động các tầng lớp nhân dân nói chung

Đảng ta nhận thấy vẫn còn những hạn chế trong nhận thức và thực hiện chính sách đối với Công giáo Thứ nhất, nhiều cán bộ chưa phân biệt rõ giữa người tốt và người xấu trong cộng đồng Công giáo, dẫn đến thành kiến với đồng bào Công giáo Thứ hai, ở các vùng Công giáo mới giải phóng, nhiều địa phương chưa tích cực vận động quần chúng, thiếu kiên nhẫn trong tuyên truyền và tổ chức, cũng như chưa mang lại lợi ích thiết thực cho họ Thứ ba, đối với những phần tử phản động trong Công giáo, các cấp ủy thường có thái độ dè dặt, không kiên quyết vạch mặt và xử lý, dẫn đến tình trạng để họ lấn dần và có những hành động táo bạo mà không có biện pháp đối phó kịp thời.

Sau thất bại trong các năm 1950-1951 và 1951-1952, thực dân Pháp gia tăng chính sách chia rẽ dân tộc và tôn giáo nhằm phá hoại sự đoàn kết và kháng chiến Họ áp dụng chiến lược "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" Để đối phó với âm mưu này, Đảng ta đã đề ra chủ trương coi trọng việc vận động quần chúng, phân biệt rõ bạn và thù, đồng thời tin tưởng vào chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ.

Vào ngày 21/9/1954, khi đất nước vừa đạt được hòa bình, Đảng ta đã ban hành Chỉ thị số 94-CT/TW của Ban Bí thư nhằm thực hiện chính sách tôn giáo tại miền Bắc mới giải phóng Chỉ thị này đặc biệt nhấn mạnh việc chống lại âm mưu ép buộc đồng bào Công giáo di cư vào miền Nam, đồng thời phản bác những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc từ phía địch.

Năm 1955, Đảng ta đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW vào ngày 5/8 nhằm tổ chức lễ Đức Bà Maria hồn và xác lên trời, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của đồng bào Công giáo và phản bác lại những luận điệu xuyên tạc từ kẻ thù.

Vào năm 1956, Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 45/CT-TW ngày 23/8 nhằm ngăn chặn việc lôi kéo đồng bào Công giáo vào Nam và phòng ngừa các hành động phản động có thể gây ra tình trạng cưỡng ép di cư hoặc khiêu khích, phá hoại Để khắc phục sai lầm trong cải cách ruộng đất và trong vùng đồng bào Công giáo, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 17/11, nhấn mạnh việc tích cực sửa chữa sai lầm, giữ vững trật tự an ninh và kịp thời đối phó với các hành động phá hoại từ phía địch.

Những bài học kinh nghiệm của công tác tôn giáo giai đoạn 1945 - 1975

Tổng kết về nhận thức quan điểm chính sách tôn giáo thời kỳ này chúng ta rút ra được những bài học bổ ích sau:

Đảng ta kiên trì và nhất quán trong việc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, điều này đã trở thành bài học quan trọng trong suốt 30 năm qua Sự tôn trọng này không chỉ giúp đoàn kết lương giáo mà còn thúc đẩy đại đoàn kết dân tộc Nhờ đó, đồng bào có đạo đã tích cực tham gia vào sự nghiệp cách mạng, góp phần giành độc lập, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và xây dựng xã hội mới.

Cần phân biệt rõ ràng giữa tín đồ chân chính và những thế lực lợi dụng tôn giáo, đồng thời có cách ứng xử phù hợp Hãy luôn tránh khuynh hướng cực đoan “tả” và “hữu” trong công tác tôn giáo.

Tôn giáo có tính hai mặt, điều này đã được Đảng ta khẳng định qua thực tiễn lịch sử Đảng nhấn mạnh sự cần thiết phân biệt giữa tôn giáo thuần túy và không thuần túy, cũng như giữa tín đồ chân chính và không chân chính, đặc biệt là những thế lực lợi dụng tôn giáo cho mục tiêu chính trị Đồng thời, Đảng cũng rút ra bài học quan trọng về việc tránh các khuynh hướng hữu và tả khuynh trong công tác tôn giáo, coi đây là nguy cơ có thể dẫn đến sai lầm và tổn thất cho cách mạng.

Thứ ba, dám nhận khuyết điểm sai lầm, và biết khắc phục kịp thời

Trong 30 năm qua, công tác tôn giáo đã đạt nhiều thành công nhưng cũng bộc lộ không ít khuyết điểm và sai lầm Để tiến bộ, cách mạng cần dũng cảm đối mặt với những vấn đề này, nhận diện và khắc phục kịp thời các sai sót Việc kiên quyết sửa sai và xử lý cán bộ vi phạm chính sách tôn giáo là bài học quan trọng, giúp đảm bảo các chủ trương và chính sách của Đảng về tôn giáo được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả.

Thứ tư, Đảng ta sớm chú ý đến công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách tôn giáo

Công tác tôn giáo là một lĩnh vực phức tạp và nhạy cảm, liên quan đến tâm tư, nguyện vọng và đức tin của tín đồ Do đó, cần có đội ngũ cán bộ am hiểu về tôn giáo và phương pháp làm việc phù hợp Đảng và Nhà nước đã nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này từ sớm.

Để nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo, cần sớm chăm lo và đào tạo đội ngũ cán bộ, giúp họ có đủ kiến thức tôn giáo để tư vấn cho Đảng và Nhà nước Đồng thời, việc bồi dưỡng tri thức sâu rộng cho cán bộ sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động tôn giáo một cách hiệu quả.

Thứ năm, công tác tôn giáo được tiến hành đồng bộ, theo nhiều kênh, nhiều tuyến:

Công tác tôn giáo liên quan đến nhiều lĩnh vực và cấp độ trong xã hội, đòi hỏi cán bộ phải sử dụng đồng bộ nhiều phương pháp và có sự linh hoạt, tế nhị Đây là nghệ thuật tổng hợp mà các ngành cần quan tâm, thường xuyên sơ kết và tổng kết để nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo.

Thế lực thù địch đã lợi dụng tôn giáo trong suốt lịch sử, tạo ra âm mưu và hoạt động nhằm mục đích xấu Trong mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, sự hiện diện của các thế lực này, cả trong và ngoài nước, là điều không thể phủ nhận Do đó, việc nhận thức và xử lý các vấn đề tôn giáo cần phải cẩn trọng, tránh nhầm lẫn giữa kẻ lợi dụng tôn giáo và quần chúng tín đồ chân chính Nếu không, điều này có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, đẩy quần chúng tín đồ và chức sắc chân chính về phía kẻ xấu, tạo cơ hội cho kẻ thù kích động và chống phá cách mạng.

Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1976 - 1990

Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1976 - 1990

Năm 1975, sau đại thắng Mùa Xuân, Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mở ra thời cơ mới cho dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước Sự thống nhất đất nước không chỉ mang lại vận hội mà còn làm thất bại hoàn toàn âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, những kẻ đã cố gắng lợi dụng tôn giáo và các tổ chức giáo hội để chống lại Việt Nam.

Sự kiện lịch sử này đã làm thay đổi căn bản tình hình tôn giáo ở nước ta

Vào những năm 80 - 90 của thế kỷ XX, hệ thống các nước XHCN trên thế giới đối mặt với nhiều thách thức lớn, đặc biệt là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu Điều này dẫn đến một giai đoạn thoái trào của XHCN toàn cầu Trong bối cảnh đó, cách mạng Việt Nam cũng phải đối diện với những thử thách mới, yêu cầu Đảng và Nhà nước Việt Nam cần có những chuyển hướng và cách tiếp cận mới để xây dựng Chủ nghĩa xã hội phù hợp với tình hình hiện tại.

Tình hình trong nước đang đối mặt với khủng hoảng xã hội, đặt ra thách thức cho sự tồn tại của Chủ nghĩa xã hội hiện thực Sự xuất hiện của các phần tử cơ hội chính trị và những nhóm phản động, cực đoan trong tôn giáo đã tạo ra các cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại Đảng và Nhà nước Tình hình tôn giáo và dân tộc cũng trở nên phức tạp hơn, dẫn đến yêu cầu cấp bách về việc đổi mới toàn diện đất nước, bao gồm cả lĩnh vực tôn giáo Đổi mới được xem là nhu cầu thiết yếu và là vấn đề sống còn của chế độ.

2.1 Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1976-1990

Năm 1976, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Đảng khẳng định chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, nhằm đoàn kết tất cả những người yêu nước trong các tôn giáo Mục tiêu là xây dựng và bảo vệ đất nước, tạo ra cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời chống lại những hoạt động gây hại cho lợi ích của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

Vào năm 1977, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW vào ngày 18/5, đề ra chủ trương và công tác đối với các tôn giáo tại miền Nam Chỉ thị này nhấn mạnh quan điểm về việc quản lý và phát triển các tôn giáo trong bối cảnh xã hội thời điểm đó.

6 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập.37,NxbCTQG, H;2004, tr 1035

Trong văn kiện Đại hội IV, Đảng đã khẳng định 15 chủ trương, chính sách liên quan đến tôn giáo, đồng thời đưa ra hướng dẫn cụ thể cho từng tôn giáo nhằm triển khai đồng bộ các công tác tôn giáo Điều này giúp các tôn giáo ở miền Nam xây dựng lại tổ chức Giáo hội hoạt động theo luật pháp và chuẩn bị cho việc hình thành các tổ chức tôn giáo chung trên toàn quốc Năm 1977, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 297-CP, quy định một số chính sách đối với tôn giáo, từ đó tạo ra sự quản lý thống nhất cho các tôn giáo ở cả hai miền Nam - Bắc theo một văn bản pháp quy chung với 5 nguyên tắc.

1) Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân

2) Các nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo đều được hưởng mọi quyền lợi và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân

3) Các tôn giáo và mọi công dân theo đạo hoặc không theo đạo đều bình đẳng trước pháp luật

4) Các tôn giáo phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật và chủ trương, chính sách, thể lệ của Nhà nước trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình

5) Những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại nền độc lập của Tổ quốc, chống lại chế độc xã hội chủ nghĩa, phá hoại khối đoàn kết toàn dân, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, chống lại các chính sách và pháp luật của Nhà nước sẽ bị pháp luật nghiêm trị Đây là một Nghị định rất quan trọng tạo ra khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động tôn giáo ở nước ta và 5 nguyên tắc trong Nghị định ấy sau này đã trở thành 5 nguyên tắc cơ bản trong chính sách tôn giáo hiện nay

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1980, Hội đồng Giám mục Việt Nam được thành lập nhằm xây dựng Giáo hội Màu nhiệm - Hiệp thông - Truyền giáo và phục vụ con người trong xã hội, gắn bó với dân tộc Cùng năm, Hội đồng Giám mục đã ra Thư chung với đường hướng mục vụ tiến bộ, khẳng định Hội thánh vì loài người và sống Phúc âm trong lòng dân tộc vì hạnh phúc đồng bào Ngày 7/11/1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng được thành lập, thống nhất các tổ chức và sinh hoạt của tăng ni, phật tử Việt Nam, trở thành thành viên của Mặt trận.

Tổ quốc Việt Nam chứng kiến sự ra đời của Uỷ Ban Đoàn kết công giáo yêu nước vào tháng 11/1983, đại diện cho phong trào yêu nước của cộng đồng Công giáo Việt Nam.

Sự công nhận các tổ chức tôn giáo lớn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định chính trị và xã hội của đất nước, đặc biệt sau nhiều năm bị chia rẽ.

Năm 1981, Ban Bí thư (khóa V) đã ban hành Nghị quyết số 40-NQ/TW, đề cập toàn diện đến các vấn đề tôn giáo với nhiều chủ trương cụ thể Tuy nhiên, do hạn chế lịch sử, Đảng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và sức sống của tôn giáo, dẫn đến một số yêu cầu chưa phù hợp Đến năm 1984, Ban Bí thư đã ban hành chỉ thị 48-CT/TW nhằm tăng cường công tác đạo Thiên Chúa ở miền Nam và tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 40-NQ/TW.

Năm 1986, Đại hội VI đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đặc biệt là trong tư duy Tuy nhiên, đổi mới trong lĩnh vực tôn giáo diễn ra chậm hơn so với các lĩnh vực khác Các văn kiện của Đại hội VI chỉ thể hiện một cách tiếp cận mới về tôn giáo ở mức độ nhất định, nhấn mạnh rằng việc phát huy yếu tố con người và phục vụ con người là mục đích cao nhất của mọi hoạt động Do đó, cần có kế hoạch chủ động xây dựng cơ cấu giai cấp cho xã hội mới, cụ thể hóa và thực hiện đúng chính sách dân tộc và chính sách tự do tín ngưỡng.

17 ngưỡng” Thực ra đổi mới trên lĩnh vực tôn giáo được thể hiện rõ nhất từ Nghị quyết 24 năm 1990 của Bộ Chính trị.

Những bài học kinh nghiệm của công tác tôn giáo giai đoạn 1976 – 1990

Thứ nhất, phát huy tinh thần yêu nước và bản chất cách mạng của tín đồ các tôn giáo

Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu là nhân dân lao động, họ vừa gắn bó với giáo chủ, vừa có trách nhiệm với dân tộc Tinh thần yêu nước và tự tôn dân tộc luôn hiện hữu trong quần chúng tín đồ Do đó, Đảng, Nhà nước và chính quyền cần khơi dậy tiềm năng cách mạng của họ, tạo điều kiện cho những chuyển biến tích cực Khi công tác vận động tín đồ được thực hiện hiệu quả, lòng yêu nước và bản chất lao động của họ sẽ được phát huy, giúp họ sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp chung Kinh nghiệm cho thấy, ngay cả những tín đồ bị lừa gạt hay sống ở vùng toàn tòng, nếu được giáo dục và thuyết phục kiên trì, họ cũng sẽ có những chuyển biến tích cực, tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước và cải thiện đời sống.

Thứ hai, bài học về nắm quần chúng, xây dựng phong trào và cơ sở chính trị

Kinh nghiệm xây dựng phong trào cách mạng sau ngày giải phóng miền Nam cho thấy rằng việc nắm bắt quần chúng tín đồ là yếu tố quyết định thành công trong công tác tôn giáo Khi quần chúng còn gắn bó với đức tin, họ sẽ cần và giữ mối liên hệ chặt chẽ với giáo hội Do đó, việc tôn trọng và chấp nhận đức tin của họ là rất quan trọng để hiểu rõ hơn về nhu cầu tín ngưỡng Từ sự tôn trọng và thấu hiểu này, chúng ta có thể phân biệt giữa nhu cầu tín ngưỡng chân chính và việc lợi dụng tín ngưỡng, từ đó nắm bắt được giáo dân và xây dựng cơ sở chính trị cũng như phong trào tại các vùng đồng bào tôn giáo.

Thứ ba, bài học về công tác vận động quần chúng, chức sắc đấu tôn giáo tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo

Vận động quần chúng, chức sắc tôn giáo và đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo là những công tác liên quan chặt chẽ và không thể tách rời Công tác vận động và giác ngộ quần chúng tín đồ là cơ bản, vì nó tạo nền tảng vững chắc để tranh thủ giáo sĩ, cải tạo giáo hội và đấu tranh chống các thế lực thù địch Thực tế cho thấy, ở những địa phương thực hiện tốt công tác tranh thủ giáo sĩ và gần gũi với giáo hội, sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc vận động quần chúng.

Thứ tư là bài học về chống chủ quan nóng vội

Trong thời kỳ trước giải phóng và những năm đầu sau giải phóng miền Nam, đã tồn tại cách nhìn chủ quan và phiến diện về tôn giáo, dẫn đến định kiến và cái nhìn tiêu cực Điều này đã cản trở việc phát huy những mặt tích cực của chức sắc và tín đồ tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Hệ quả của cách nhìn sai lệch này là những sai lầm trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở một số địa phương và cơ sở.

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÔN GIÁO THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo giai đoạn 1990 - 2002

1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1990 - 2002

Vào thập niên 80 của thế kỷ XX, sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều quốc gia theo chế độ xã hội chủ nghĩa trên toàn cầu đã rơi vào khủng hoảng, trong đó có Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đất nước, diễn ra trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và đổi mới tư duy, Đảng ta đã đưa ra những quyết sách cần thiết để cải cách và phát triển.

Đại hội đổi mới đã tác động đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội, và sau gần 5 năm, Đảng ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới tư duy về tôn giáo Trong Văn kiện Đại hội VI, vấn đề tôn giáo chỉ mới được khởi phát, nhưng đến Nghị quyết 24 năm 1990 của Bộ Chính trị, đã có sự chuyển biến và đổi mới căn bản trong nhận thức về tôn giáo.

1.2 Quan điểm, chính sách tôn giáo giai đoạn 1990-2002

Ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đánh dấu quan điểm mới của Đảng về tôn giáo với ba luận điểm chính: tôn giáo là vấn đề lâu dài, tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, và đạo đức tôn giáo phù hợp với xây dựng xã hội mới Nghị quyết cũng đưa ra ba quan điểm chỉ đạo: cần giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng, đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo, và công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị Ngoài ra, Nghị quyết xác định ba nhiệm vụ quan trọng: chăm lo đời sống vật chất và văn hóa cho đồng bào có đạo, hướng dẫn hoạt động tôn giáo theo luật pháp, và tăng cường đoàn kết lương - giáo.

3 Tăng cường cảnh giác, kịp thời chống lại những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân) Nghị quyết đã xác định rõ 3 nguyên tắc chính sách (1 Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của mọi công dân Công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều được bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền và nghĩa vụ của công dân;

2 Các tôn giáo phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật và các luật lệ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 3 Những hoạt động trong tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ được bảo đảm Mọi hoạt động mê tín dị đoan bị bài trừ Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để phá hoại nền độc lập dân tộc, chống Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân đều bị xử lý theo pháp luật) Nghị quyết nêu ra 5 chính sách cụ thể (1 Đối với tín đồ; 2 Đối với chức sắc nhà tu hành; 3 Đối với tổ chức giáo hội; 4 Đối với hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo; 5 Đối với hoạt động đối ngoại và quan hệ quốc tế của tôn giáo) Có thể thấy rằng đây là một hệ thống khá đầy đủ các quan điểm, chủ trương, chính sách cho việc nhận thức, chỉ đạo vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo

Năm 1991, Chính phủ ban hành Nghị định 69-HĐBT 3/1991 để cụ thể hoá nội dung chính sách trong Nghị quyết 24-NQ/TW, góp phần tích cực vào tình hình tôn giáo ở Việt Nam Ngày 20/6/1994, Ban Bí thư công bố Thông báo số 76-TB/TƯ, lần đầu tiên giới thiệu khái niệm "đảng viên có đạo" Tiếp theo, vào ngày 14/4/1995, Ban Tổ chức Trung ương đã hướng dẫn 03 về việc đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo và phát triển đảng viên là người có đạo, nhấn mạnh việc kết nạp đảng viên không chỉ giới hạn ở quần chúng tín đồ mà còn bao gồm cả chức sắc tôn giáo.

Từ năm 1994 đến 1999, Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân cho một số hệ phái Cao Đài và thành lập Ban đại diện của Phật giáo Hòa Hảo, đồng thời tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 24.

Quan điểm, chính sách đối với tôn giáo giai đoạn 2003 đến nay

2.1 Quan điểm, chính sách tôn giáo trong Nghị quyết 25 -TƯ(2003)

Vào ngày 12-3-2003, tại Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Đảng ta đã ra Nghị quyết 25-TƯ về công tác tôn giáo, thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến tôn giáo trong bối cảnh hiện nay Nghị quyết này không chỉ đánh giá toàn diện tình hình tôn giáo mà còn xác định các quan điểm, chính sách và nhiệm vụ cụ thể để thực hiện công tác tôn giáo hiệu quả.

Nghị quyết nhấn mạnh mục tiêu cơ bản của hoạt động tôn giáo là tăng cường đoàn kết giữa các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Điều này nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, thực hiện thành công công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc vững chắc, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Trong Nghị quyết, Đảng ta khẳng định 5 quan điểm chính sách đối với tôn giáo, bao gồm: 1 Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, tồn tại song song với dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội 2 Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách đoàn kết toàn dân tộc 3 Công tác tôn giáo tập trung vào việc vận động quần chúng 4 Công tác tôn giáo là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị 5 Vấn đề theo đạo và truyền đạo cần được chú trọng.

Nhìn chung so với Nghị quyết 24-TƯ và Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị, Nghị quyết

25 - NQ/TW ngày 12-3-2003 đã xác nhận thêm một nấc thang mới trong nhận

Đảng Cộng sản Việt Nam trong Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTW khoá IX đã đưa ra những điểm nhấn quan trọng về lý luận tôn giáo và công tác tôn giáo Thứ nhất, Đảng khẳng định và phân biệt rõ giữa tín ngưỡng và tôn giáo Thứ hai, Đảng nêu rõ rằng "Tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH", thay vì chỉ khẳng định sự tồn tại lâu dài như trước Thứ ba, Nghị quyết nhấn mạnh việc "giữ gìn và phát huy giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân" Cuối cùng, Nghị quyết coi trọng vai trò của tôn giáo trong xã hội.

Mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh là nền tảng gắn kết các tôn giáo trong sự nghiệp chung Đảng đã chính thức nêu rõ quan điểm về vấn đề theo đạo và truyền đạo, thể hiện sự quyết tâm và rõ ràng trong chính sách.

2.1 Quan điểm, chính sách tôn giáo trong Văn kiện Đại hội X (2006)

Về tôn giáo và chính sách pháp luật liên quan, Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2006) đã nêu rõ các quan điểm và chủ trương cụ thể.

Chúng ta cam kết thực hiện chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của công dân, bao gồm cả những người theo và không theo tôn giáo Đoàn kết giữa các tín đồ tôn giáo và những người không theo tôn giáo là rất quan trọng Chúng ta cần đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để thực hiện các hoạt động trái pháp luật, gây chia rẽ trong cộng đồng và ảnh hưởng đến lợi ích chung của đất nước.

Đoạn trích trên nhấn mạnh ba vấn đề quan trọng, trong đó Đảng ta khẳng định chính sách nhất quán từ trước đến nay về việc tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Chủ trương đoàn kết tôn giáo và sự gắn bó giữa các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, cũng như giữa những người theo tôn giáo và những người không theo tôn giáo, cần được khẳng định và phát huy.

8 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, HN-2006, trang 42-43

Trong chủ trương đại đoàn kết dân tộc, việc đấu tranh chống lại các hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo để gây hại cho lợi ích chung của đất nước là rất quan trọng.

Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng thông qua chính sách tự do tín ngưỡng, chủ trương đại đoàn kết tôn giáo, và nỗ lực đấu tranh chống lại việc lợi dụng tôn giáo và dân tộc.

Báo cáo Chính trị của Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc Chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của công dân, bao gồm cả quyền sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật, cần được thực hiện nhất quán Cần đoàn kết giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau và giữa những người theo và không theo tôn giáo, đồng thời phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo Các tổ chức tôn giáo hợp pháp phải hoạt động theo pháp luật và được bảo hộ Cần thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội để nâng cao đời sống của đồng bào các tôn giáo, đồng thời tăng cường đào tạo cán bộ làm công tác tôn giáo Cuối cùng, cần đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan và các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo gây hại đến lợi ích chung của đất nước.

Các vấn đề về tôn giáo, tín ngưỡng và quan điểm chính sách tôn giáo theo tinh thần Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam bao gồm 8 nội dung chủ yếu.

9 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, HN-2006, trang 122-123

1) Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật

2) Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo

3) Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo

4) Động viên, giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”

5) Các tổ chức tôn giáo hợp pháp hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ

6) Thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của đồng bào các tôn giáo

7) Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo

8) Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo

Những nhận thức và chính sách đã được đề ra đã đóng góp quan trọng trong việc giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến tôn giáo trong những năm qua.

2.2 Quan điểm, chính sách tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XI (2011)

ĐẶC ĐIỂM CHỨC SẮC, CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH, TÍN ĐỒ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP VẬN ĐỘNG TÍN ĐỒ, CHỨC SẮC TÔN GIÁO

Ngày đăng: 25/07/2023, 23:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w