1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình quản trị doanh nghiệp

206 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình quản trị doanh nghiệp
Tác giả Nguyễn Quốc Chỉnh, Phạm Thị Hương Dịu, Trần Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Kim Oanh, Đoàn Thị Ngọc Thúy, Lê Thị Kim Oanh, Đào Hồng Vân, Nguyễn Ngọc Mai, Nguyễn Công Tiệp, Nguyễn Thị Thu Trang, Nguyễn Hải Núi
Người hướng dẫn Chủ biên: TS. Nguyễn Quốc Chỉnh, Chủ biên: TS. Phạm Thị Hương Dịu
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quản trị kinh doanh là tổng hợp các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức và kiểm tra sự kết hợp của các yếu tố sản xuất một cách có hiệu quả nhất nhằm xác định và thực hiện mục tiêu cụ thể tr

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN QUỐC CHỈNH | PHẠM THỊ HƯƠNG DỊU TRẦN THỊ THANH HUYỀN | NGUYỄN THỊ KIM OANH

ĐOÀN THỊ NGỌC THÚY | LÊ THỊ KIM OANH | ĐÀO HỒNG VÂN

NGUYỄN NGỌC MAI | NGUYỄN CÔNG TIỆP NGUYỄN THỊ THU TRANG | NGUYỄN HẢI NÚI

Chủ biên: NGUYỄN QUỐC CHỈNH | PHẠM THỊ HƯƠNG DỊU

GIÁO TRÌNH

QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2022

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng mang đến nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Để tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

Thực hiện chủ trương của Học viện Nông nghiệp Việt Nam về đổi mới nội dung, chương trình và chất lượng đào tạo, tập thể cán bộ giảng dạy Bộ môn Quản trị kinh doanh đã biên soạn giáo trình Quản trị doanh nghiệp trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu môn học, sự tìm hiểu các tài liệu liên quan trong và ngoài nước cũng như tiếp thu các ý kiến đóng góp của các giảng viên, nhà khoa học

Quản trị doanh nghiệp là môn học nền tảng, tổng hợp kiến thức của nhiều môn học chuyên ngành Giáo trình Quản trị doanh nghiệp sẽ cung cấp những kiến thức tổng hợp, hiện đại và cập nhật về quản trị doanh nghiệp phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập của giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành quản trị kinh doanh, kinh doanh nông nghiệp, kế toán, quản lý và phát triển bền vững du lịch, logistics và quản lý chuỗi cung ứng, thương mại điện tử và các ngành khác có liên quan

Giáo trình là công trình khoa học tập thể của các giảng viên bộ môn Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, bao gồm:

TS Nguyễn Quốc Chỉnh, chủ biên và biên soạn chương 1;

TS Phạm Thị Hương Dịu, đồng chủ biên và biên soạn chương 2;

ThS Trần Thị Thanh Huyền, biên soạn chương 3;

TS Nguyễn Thị Kim Oanh, biên soạn chương 4;

ThS Đoàn Thị Ngọc Thuý, biên soạn chương 5;

TS Lê Thị Kim Oanh, biên soạn chương 6;

ThS Đào Hồng Vân, biên soạn chương 1 và chương 6;

ThS Nguyễn Ngọc Mai, biên soạn chương 2 và chương 7;

TS Nguyễn Công Tiệp, ThS Nguyễn Thị Thu Trang, biên soạn chương 8;

TS Nguyễn Hải Núi, biên soạn chương 9

Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học và đồng nghiệp thuộc khoa

Kế toán và Quản trị kinh doanh về những góp ý quý báu trong suốt thời gian biên soạn giáo trình

Trang 4

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những sai sót, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn Mọi ý kiến đóng góp xin được gửi đến TS Phạm Thị Hương Dịu và TS Nguyễn Quốc Chỉnh, Bộ môn Quản trị kinh doanh, Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam hoặc qua email phamhuongdiu@vnua.edu.vn

Xin chân thành cảm ơn!

TM NHÓM TÁC GIẢ Chủ biên: TS Nguyễn Quốc Chỉnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 1

1.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1

1.1.1 Tổ chức 1

1.1.2 Quản trị 1

1.1.3 Kinh doanh 2

1.1.4 Quản trị kinh doanh 2

1.1.5 Quản trị doanh nghiệp 3

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 3

1.3 CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 4

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 5

1.4.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 5

1.4.2 Những phương pháp nghiệp vụ cụ thể 5

1.5 ĐỐI TƯỢNG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 6

1.5.1 Đối tượng của quản trị doanh nghiệp 6

1.5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

1.6 LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 7

1.6.1 Đặc điểm của lý thuyết quản trị doanh nghiệp 7

1.6.2 Nội dung của lý thuyết quản trị doanh nghiệp 8

1.7 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 9

1.7.1 Giai đoạn trước chủ nghĩa tư bản 9

1.7.2 Giai đoạn từ khi có chủ nghĩa tư bản ra đời đến khi xuất hiện các nước xã hội chủ nghĩa 9

1.7.3 Giai đoạn từ đầu những năm 1970 đến nay 12

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 15

Chương 2 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP 16

2.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP 16

2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp 16

2.1.2 Phân loại doanh nghiệp 16

2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp 17

Trang 6

2.1.4 Nguyên tắc cơ bản của lựa chọn và tổ chức các loại hình doanh nghiệp 17

2.1.5 Thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp 18

2.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC DOANH NGHIỆP 21

2.2.1 Khái niệm cơ cấu tổ chức doanh nghiệp 21

2.2.2 Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến 23

2.2.3 Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu chức năng 24

2.2.4 Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu hỗn hợp 25

2.3 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP CHỦ YẾU 27

2.3.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn 27

2.3.2 Công ty cổ phần 28

2.3.3 Doanh nghiệp nhà nước 30

2.3.4 Công ty hợp danh 32

2.3.5 Doanh nghiệp tư nhân 33

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 35

Chương 3 KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 37

3.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI KẾ HOẠCH 37

3.1.1 Khái niệm kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 37

3.1.2 Phân loại kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 37

3.2 BẢN CHẤT, VAI TRÒ CỦA KẾ HOẠCH 38

3.2.1 Bản chất 38

3.2.2 Vai trò 39

3.3 TIẾN TRÌNH KẾ HOẠCH HÓA 39

3.3.1 Lập kế hoạch 39

3.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch 39

3.3.3 Kiểm tra và điều chỉnh kế hoạch 39

3.3.4 Đánh giá kế hoạch 39

3.4 MỘT SỐ CÔNG CỤ HOẠCH ĐỊNH 40

3.4.1 Sơ đồ Gantt 40

3.4.2 Sơ đồ PERT 42

3.5 DỰ BÁO NHU CẦU ĐỂ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH 44

3.5.1 Khái niệm 44

3.5.2 Trình tự tiến hành dự báo 44

3.5.3 Các phương pháp dự báo 44

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 51

Trang 7

Chương 4 TỔ CHỨC SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 52

4.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 52

4.1.1 Khái niệm về tổ chức sản xuất 52

4.1.2 Ý nghĩa của tổ chức sản xuất hợp lý 53

4.1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất 53

4.1.4 Những nguyên tắc tổ chức sản xuất 55

4.1.5 Chỉ tiêu đánh giá trình độ tổ chức sản xuất 56

4.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC SẢN XUẤT 56

4.2.1 Khái niệm cơ cấu tổ chức sản xuất 56

4.2.2 Các nguyên tắc hình thành cơ cấu tổ chức sản xuất 56

4.2.3 Các bộ phận của cơ cấu sản xuất 57

4.2.4 Các cấp sản xuất 57

4.2.5 Các kiểu cơ cấu sản xuất 58

4.3 TỔ CHỨC SẢN XUẤT VỀ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN 58

4.3.1 Tổ chức sản xuất về không gian 58

4.3.2 Tổ chức sản xuất về thời gian 59

4.4 LOẠI HÌNH SẢN XUẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 61

4.4.1 Loại hình sản xuất 61

4.4.2 Các phương pháp tổ chức sản xuất 63

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 69

Chương 5 QUẢN TRỊ TƯ LIỆU SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 70

5.1 TƯ LIỆU SẢN XUẤT 70

5.1.1 Khái niệm, vai trò của tư liệu sản xuất 70

5.1.2 Phân loại TLSX 70

5.1.3 Nguyên tắc tổ chức tư liệu sản xuất 73

5.1.4 Xác định nhu cầu tư liệu sản xuất 73

5.1.5 Tổ chức sử dụng TLSX 74

5.1.6 Đánh giá hiệu quả sử dụng TLSX 75

5.2 QUẢN TRỊ MÁY MÓC THIẾT BỊ 75

5.2.1 Khái niệm 75

5.2.2 Tổ chức sử dụng máy móc thiết bị 75

5.2.3 Lập kế hoạch tăng năng lực máy móc, thiết bị 76

5.2.4 Công tác bảo trì trong nhà máy 76

5.3 QUẢN TRỊ CUNG ỨNG NGUYÊN VẬT LIỆU 78

Trang 8

5.3.1 Những vấn đề cơ bản 79

5.3.2 Xác định các chỉ tiêu cung ứng và dự trữ 82

5.3.3 Lựa chọn nhà cung cấp 88

5.3.4 Quản lý hệ thống kho tàng 89

5.3.5 Vận chuyển nguyên vật liệu 90

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 5 91

Chương 6 QUẢN TRỊ VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 92

6.1 VỐN VÀ NGUỒN VỐN KINH DOANH 92

6.1.1 Khái niệm vốn sản xuất kinh doanh 92

6.1.2 Vai trò của vốn sản xuất kinh doanh 92

6.1.3 Phân loại vốn sản xuất kinh doanh 93

6.1.4 Nguồn vốn của doanh nghiệp 95

6.2 QUẢN TRỊ VỐN SẢN XUẤT KINH DOANH 98

6.2.1 Quản trị vốn lưu động 98

6.2.2 Quản trị vốn cố định 102

6.2.3 Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn 112

6.3 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH 113

6.3.1 Chính sách mắc nợ 113

6.3.2 Chính sách thay thế tín dụng 115

6.3.3 Chính sách bán chịu 116

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 6 117

Chương 7 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 118

7.1 TẠO LẬP CƠ CẤU LAO ĐỘNG TỐI ƯU 118

7.1.1 Khái niệm cơ cấu lao động tối ưu 118

7.1.2 Ý nghĩa của cơ cấu lao động tối ưu đối với doanh nghiệp 118

7.1.3 Một số hoạt động giúp tạo lập cơ cấu lao động tối ưu 119

7.2 CÔNG TÁC THÙ LAO LAO ĐỘNG 137

7.2.1 Các khái niệm cơ bản 137

7.2.2 Ý nghĩa của thù lao lao động đối với doanh nghiệp 141

7.2.3 Các hình thức trả lương cho lao động 141

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 7 145

Chương 8 QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP 148

8.1 QUẢN TRỊ CHI PHÍ 148

8.1.1 Các khái niệm cơ bản 148

Trang 9

8.1.2 Phương pháp phân loại chi phí sản xuất 149

8.2 QUẢN TRỊ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 159

8.2.1 Giá thành sản phẩm 159

8.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm 160

8.2.3 Lập kế hoạch giá thành sản phẩm 160

8.2.4 Hạch toán giá thành sản phẩm 161

8.2.5 Các biện pháp hạ giá thành sản phẩm 167

8.2.6 Đánh giá kết quả trong công tác quản trị giá thành 168

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 8 169

Chương 9 KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 170

9.1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 170

9.2 KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 172

9.2.1 Các loại thước đo kết quả 172

9.2.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh 173

9.3 HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 187

9.3.1 Hiệu quả phản ánh sức sản xuất, kinh doanh 187

9.3.2 Hiệu quả phản ánh sức sinh lợi 188

9.3.3 Hiệu quả phản ánh mức hao phí 188

9.3.4 Một số chỉ tiêu hiệu quả khác 189

9.4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 189

9.4.1 Mục đích, yêu cầu và đặc điểm phân tích kinh doanh 189

9.4.2 Phương pháp và nội dung phân tích kinh doanh 190

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 9 195

Trang 10

TLSX Tư liệu sản xuất TSCĐ Tài sản cố định TSLĐ Tài sản lưu động TNHH Trách nhiệm hữu hạn QTKD Quản trị kinh doanh

FF Finish to Finish Pert Program Evaluation and Review

Technique

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Chương 1 tập trung giới thiệu các khái niệm cơ bản về quản trị, quản trị doanh nghiệp và quản trị kinh doanh; phân tích mục đích, chức năng, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và nhiệm vụ của quản trị doanh nghiệp; lý thuyết quản trị doanh nghiệp

và lịch sử phát triển của quản trị doanh nghiệp Kết thúc chương này, người học hiểu rõ

được bản chất của quản trị doanh nghiệp

1.1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.1.1 Tổ chức

Tổ chức là tập hợp của hai hay nhiều người cùng hoạt động để đạt được mục đích chung Tổ chức là sự phối hợp ý chí hành động của một số người nhằm hoàn thành những mục tiêu chung, cụ thể thông qua sự phân chia công việc, nhiệm vụ và cấp bậc quản trị Như vậy, tổ chức có thể coi là một tập hợp nhiều người mang tính chất tự giác

có ý thức về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm thực hiện mục tiêu chung cụ thể Tổ chức là một phạm trù rộng, bao gồm cả các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế và tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Doanh nghiệp cũng là một tổ chức, nó cần được quản trị Các nguyên tắc cơ bản của tổ chức bao gồm: thống nhất mục đích của tổ chức, bộ máy tổ chức phải gắn với mục tiêu và phục vụ triệt để cho thực hiện mục tiêu, có tính hiệu quả, cân đối, linh hoạt

căn cứ để tạo ra tác động Những người làm công tác quản trị là những nhà quản trị Chức năng của quản trị: Đó là các công việc khác nhau mà các nhà quản trị phải thực hiện trong quá trình quản trị một tổ chức Tuy có nhiều ý kiến khác nhau vể quản trị, nhưng đều thống nhất quản trị có 4 chức năng chủ yếu sau:

- Hoạch định (lập kế hoạch, lập các dự án ): Xác định rõ mục tiêu, phương hướng, dự thảo chương trình hành động, tạo ra các lịch trình hành động, đề ra các biện pháp kiểm soát, cải tiến phát triển tổ chức Chức năng hoạch định giúp phối hợp hoạt động, giúp tổ chức hoạt động có hiệu quả

Trang 12

- Tổ chức các yếu tố sản xuất, các hoạt động sản xuất kinh doanh: Xác lập bộ máy

tổ chức, mô tả nhiệm vụ của các bộ phận, xây dựng tiêu chuẩn cho từng công việc

- Chỉ huy, lãnh đạo, điều hành hoạt động của doanh nghiệp

- Kiểm tra và điều chỉnh quá trình hoạt động của doanh nghiệp: Xác định các tiêu chuẩn kiểm tra, công cụ kiểm tra, đánh giá tình hình, đề ra biện pháp

Các chức năng này không phân biệt cấp bậc, ngành nghề, quy mô của tổ chức và môi trường xã hội Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức độ, sự ảnh hưởng và phương thức thực hiện

1.1.3 Kinh doanh

Kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh

doanh trên thị trường Nói cách khác, kinh doanh là các hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ do các chủ thể kinh doanh tiến hành thường vì mục đích tạo ra lợi nhuận

Kinh doanh được phân biệt với các hoạt động khác bởi các đặc điểm chủ yếu sau:

- Kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện (chủ thể kinh doanh) Chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp

- Kinh doanh phải gắn liền với thị trường

Kinh doanh phải gắn liền với đồng vốn, theo công thức:

T – H H’ – T’

Trong đó: T, T’ là tiền trong nền sản xuất hàng hóa, H, H’ là hàng hóa

- Mục đích chủ yếu của kinh doanh là sinh lời: T’ - T > 0

Như vậy, kinh doanh có thể được hiểu thông qua các dấu hiệu sau:

- Hoạt động phải được thực hiện một cách độc lập Các chủ thể nhân danh mình

để tiến hành hoạt động kinh doanh Họ tự quyết định mọi vấn đề có liên quan và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình;

- Hoạt động phải mang tính nghề nghiệp, nghĩa là chúng được tiến hành một cách chuyên nghiệp, thường xuyên, liên tục và hoạt động này mang lại nguồn thu nhập chính cho người thực hiện chúng;

- Được các chủ thể tiến hành với mục đích kiếm lời thường xuyên

1.1.4 Quản trị kinh doanh

Quản trị kinh doanh là một hoạt động phức tạp, các nhà quản trị phải tổ chức mọi

hoạt động kinh doanh từ khâu đầu đến khâu cuối của chu kỳ kinh doanh Có thể hiểu

Trang 13

quản trị kinh doanh là tổng hợp các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức và kiểm tra sự kết hợp của các yếu tố sản xuất một cách có hiệu quả nhất nhằm xác định và thực hiện mục tiêu cụ thể trong quá trình phát triển doanh nghiệp Một cách đơn giản hơn, quản trị kinh doanh là việc thực hiện quản trị hoạt động kinh doanh, bao gồm tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh doanh

1.1.5 Quản trị doanh nghiệp

Quản trị doanh nghiệp là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả mọi tiềm năng và cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất các hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật, hoạt động của quản trị là sự kết hợp các yếu tố sản xuất (lao động, vốn, không gian và thời gian) để đạt đến mục tiêu đã định, thực chất là quản trị con người

Xét về mặt kinh tế - xã hội thì quản trị doanh nghiệp là vì mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, trong quản trị doanh nghiệp thì quản trị kinh doanh của doanh nghiệp là nội dung cơ bản

Quản trị doanh nghiệp là hệ thống các quy tắc, cơ chế, quy định mà thông qua đó

doanh nghiệp được điều hành và kiểm soát Về cơ bản, quản trị doanh nghiệp liên quan đến việc cân bằng lợi ích của các bên liên quan, chẳng hạn như cổ đông, người quản lý, khách hàng, nhà cung cấp, người đầu tư vốn, chính phủ và cộng đồng Quản trị doanh nghiệp cũng lập ra các nguyên tắc nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp, bao gồm tất cả các lĩnh vực quản trị từ xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát nội bộ cho đến việc đo lường kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh và việc công bố thông tin doanh nghiệp

Quản trị doanh nghiệp là tổng hợp những hoạt động được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu xác định của doanh nghiệp thông qua sự nỗ lực của những người khác trong doanh nghiệp; Quản trị doanh nghiệp vừa mang tính khoa học vì là ngành học nghiên cứu, phân tích các công việc quản trị trong doanh nghiệp, đồng thời vừa mang tính nghệ thuật vì liên quan đến việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) theo các chương trình kinh doanh trong những điều kiện môi trường xác định, nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp

1.2 MỤC ĐÍCH CỦA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Mục đích của quản trị doanh nghiệp là đảm bảo sự bền vững và đạt lợi nhuận cao trong hoạt động kinh doanh Như vậy, nhiệm vụ then chốt mà nhà quản trị trong bất

kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tập trung thực hiện là: Xây dựng môi trường làm việc tích cực, tạo hướng chiến lược

Trang 14

Cũng giống như quản trị nói chung, quản trị doanh nghiệp mang tính khoa học và xuất phát từ tính quy luật mà các nhà quản trị phải sử dụng Cũng như quản trị, quản trị doanh nghiệp là một nghề, là một ngành khoa học cần được trang bị các kiến thức, các kiến thức đó cần được học tập trong nhà trường và cả trong thực tế sản xuất kinh doanh Mục đích của quản trị doanh nghiệp thể hiện khuynh hướng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Thứ nhất là mục đích kinh tế: Thu lợi nhuận, đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh Thứ hai là mục đích xã hội: Cung cấp hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội; Đây là mục đích quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động công ích Thứ ba là mục đích thỏa mãn các nhu cầu cụ thể và đa dạng của các thành viên tham gia hoạt động trong quản trị doanh nghiệp

1.3 CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Quản trị trong doanh nghiệp phải đảm bảo được 4 chức năng cơ bản: Chức năng

kế hoạch và dự báo; Chức năng tổ chức; Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo; Chức năng kiểm

tra kiểm soát và ra các quyết định điều chỉnh Các chức năng này bắt buộc phải có mối

quan hệ chặt chẽ trong một hệ thống quản trị thống nhất Trong quản trị doanh nghiệp, các chức năng này cần được thực hiện một cách đồng bộ và phù hợp, tạo ra sự cộng hưởng nhằm đảm bảo doanh nghiệp hoạt động liên tục và không ngừng phát triển, đạt được những mục tiêu chung đã đề ra

- Chức năng kế hoạch và dự báo Đây là chức năng đầu tiên, cơ bản của quá trình quản trị doanh nghiệp và phải đảm bảo dự báo được các nội dung sau: Tình hình

và các môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, xây dựng mục tiêu, các nguồn lực cần có, trách nhiệm của các bên liên quan, các công việc chi tiết được thực hiện trong phạm vi nguồn lực và thời gian sẵn có, các điều kiện để hoàn thành được các mục tiêu đã đặt ra

- Chức năng tổ chức Chức năng tổ chức gồm tổ chức bộ máy và con người từ hình thành cơ cấu tổ chức cho đến phân công nhân lực, phân công công tác, phân bổ nguồn lực cho các cá nhân, nhóm người, bộ phận chức năng trong một doanh nghiệp Ngoài ra, chức năng tổ chức còn bao gồm việc xây dựng và ban hành chính sách, các cơ chế phối hợp hoạt động trong doanh nghiệp để đảm bảo toàn bộ các hoạt động được thực hiện một cách hiệu quả nhất

- Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo Đây là chức năng có sự đa dạng về nghệ thuật quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp Chức năng này là việc lãnh đạo quá trình thực hiện bao gồm nhiều hoạt động liên quan đến cơ chế, chính sách, phong cách làm việc và quản trị nhằm khuyến khích nhân viên nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ của mình

- Chức năng kiểm tra, kiểm soát và ra các quyết định điều chỉnh trong quá trình kinh doanh Kiểm tra, theo dõi quá trình hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc

Trang 15

thiết lập hệ thống thông tin quản lý và thu thập các thông tin cần thiết nhằm nắm bắt tình hình thực hiện các công việc so với kế hoạch đã đề ra Chức năng này rất quan trọng, đảm bảo kế hoạch được thực hiện đúng hoặc có những điều chỉnh cần thiết, kịp thời, sát với thực tế

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Phương pháp nghiên cứu là cách tiếp cận, cách tiến hành nghiên cứu phù hợp với mục đích, yêu cầu đặt ra

1.4.1 Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Đây là phương pháp chung cho mọi ngành khoa học

- Phương pháp duy vật biện chứng yêu cầu nghiên cứu, xem xét sự vật trong mối liên hệ về nhiều mặt và có hệ thống trong sự phát triển của hiện tượng Phương pháp duy vật biện chứng có các phương pháp cụ thể: phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch

- Phương pháp duy vật lịch sử yêu cầu nghiên cứu hiện tượng trong điều kiện cụ thể của nó

1.4.2 Những phương pháp nghiệp vụ cụ thể

- Phương pháp thống kê: Đó là phương pháp tổng hợp các số liệu của hiện tượng để phân tích bằng cách phân tổ, các bảng cân đối, các chỉ tiêu tính toán Qua đó tìm được quy luật, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng, rút ra được các kết luận đúng đắn

- Phương pháp thử nghiệm: Đó là cách làm thử để rút kinh nghiệm như làm thử các định mức mới, quy trình sản xuất mới, cách quản trị doanh nghiệp mới hoặc kết hợp các cách quản trị khác nhau Từ đó, có thể rút ra được những ưu điểm và nhược điểm của mỗi phương pháp

- Phương pháp chuyên khảo: Đó là nghiên cứu sâu các điển hình về doanh nghiệp,

về quản trị doanh nghiệp của các nhà khoa học, các nhà kinh tế , nó thể hiện sự am hiểu sâu sắc và rộng rãi những kiến thức có liên quan, từ đó rút ra các bài học có thể áp dụng để giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp

- Phương pháp điều tra: Khi vấn đề nghiên cứu trong doanh nghiệp chưa được theo dõi, ghi chép, chưa được cụ thể hóa và chuyên môn hóa thì cần được điều tra làm sáng tỏ vấn đề giúp cho việc quản trị doanh nghiệp hiệu quả hơn

- Phương pháp quy hoạch - xây dựng phương án, luận chứng kinh tế - kỹ thuật: Quy hoạch lại doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp để doanh nghiệp có thể hoạt động mang lại hiệu quả cao hơn

- Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp dựa vào kinh nghiệm của các nhà chuyên môn, sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia có trình độ cao trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp để xem xét, nhận định bản chất của sự việc hay thực tiễn trong doanh nghiệp có tính

Trang 16

chất phức tạp, để tìm ra giải pháp tối ưu cho các sự việc đó hay đánh giá lại doanh nghiệp Đây là phương pháp có độ tin cậy cao nhưng lại mất ít thời gian để thực hiện

- Phương pháp toán học: Đây là phương pháp khoa học nghiên cứu và phân tích những vấn đề quyết định trong quản trị doanh nghiệp mà có thể lượng hóa được để tìm được phương án tối ưu Nội dung chủ yếu của phương pháp này là toán học hóa, mô hình hóa và lý giải một cách khoa học vấn đề cũng như các phương thức giải quyết vấn

đề Để làm được điều đó, cần xây dựng được mô hình toán học nhằm diễn đạt mối quan

hệ giữa các yếu tố phụ thuộc và độc lập trong quản trị doanh nghiệp, từ đó giải quyết được nhiều vấn đề hơn trong thực tiễn

- Phương pháp khảo nghiệm kinh tế: Các vấn đề cần nghiên cứu trong doanh nghiệp sẽ được tiến hành thí nghiệm với từng nhóm, đối tượng khác nhau, từ đó rút ra những kết luận và đề xuất phương án giải quyết

Các phương pháp nghiên cứu trong quản trị doanh nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau và đều lấy phép duy vật biện chứng làm cơ sở

1.5 ĐỐI TƯỢNG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

1.5.1 Đối tượng của quản trị doanh nghiệp

Đối tượng nghiên cứu của Quản trị doanh nghiệp là những vấn đề cơ bản về tổ chức và điều hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt các mục tiêu của doanh nghiệp

Tổ chức và điều hành các hoạt động kinh doanh bao gồm việc tổ chức, sắp xếp các yếu tố sản xuất và điều hành các công việc hàng ngày để tác động, phối hợp, điều hoà hoạt động của những cá nhân, những bộ phận của doanh nghiệp để thực hiện các mục đích của doanh nghiệp

Người tổ chức và điều hành doanh nghiệp phải có các kiến thức về Quản trị doanh nghiệp cũng như yêu cầu của các quy luật khách quan khác để đạt các mục đích của doanh nghiệp

Thông thường, lợi nhuận là mục đích đầu tiên và lâu dài của doanh nghiệp nhưng lợi nhuận không phải mục đích duy nhất Ngoài mục đích về kinh tế, doanh nghiệp còn có mục đích về xã hội, về bảo vệ môi trường và sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, cùng với mục đích, doanh nghiệp phải xác định những mục tiêu cụ thể trong sản xuất kinh doanh Mục tiêu là biểu hiện mục đích của doanh nghiệp, là sự

cụ thể hoá mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong những thời gian nhất định, gắn với các giải pháp thực hiện Chẳng hạn, mục đích của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận thì mục tiêu là số lợi nhuận cần đạt được trong một thời gian cụ thể, để dạt được mục tiêu lợi nhuận đó doanh nghiệp phải có những điều kiện, những giải pháp tương ứng

Trang 17

1.5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5.2.1 Nghiên cứu, ứng dụng các quy luật và tính quy luật của sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự xuất hiện của quy luật giá trị

và quy luật hàng hóa Mọi hoạt động của chủ thể kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa đều chịu sự tác động của quy luật này Chính vì thế, chúng ta cần nghiên cứu

về quy luật, tìm hiểu vai trò và tác động của nó tới nền kinh tế và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay

1.5.2.2 Nghiên cứu các vấn đề cơ bản hợp thành nội dung của QTDN

+ Các loại hình doanh nghiệp;

+ Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp;

+ Chức năng và lĩnh vực quản trị trong doanh nghiệp;

+ Hoạch định chương trình quản trị doanh nghiệp;

+ Tổ chức sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức kinh doanh;

+ Quản trị tư liệu sản xuất trong doanh nghiệp;

+ Quản trị vốn sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp;

+ Tổ chức lao động và thù lao lao động trong doanh nghiệp;

+ Quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp;

+ Quản trị kết quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

1.6 LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

1.6.1 Đặc điểm của lý thuyết quản trị doanh nghiệp

- Lý thuyết quản trị doanh nghiệp mang tính khoa học vì có đối tượng nghiên cứu

là các quan hệ quản trị trong quá trình kinh doanh Những quan hệ này có thể là: Quan

hệ giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác (đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp liên kết, các doanh nghiệp cung ứng đầu vào), quan hệ giữa doanh nghiệp với môi trường (pháp lý, cấp trên, Nhà nước, xu hướng văn hoá, khung cảnh xã hội), quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với cá nhân và tập thể lao động trong doanh nghiệp, quan hệ giữa các chủ doanh nghiệp và quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với khách hàng

- Lý thuyết quản trị doanh nghiệp nghiên cứu các quan hệ quản trị trong doanh nghiệp nhằm tìn ra những quy luật và cơ chế vận dụng những quy luật đó trong quá trình quản trị doanh nghiệp một cách có hiệu quả Lý thuyết quản trị doanh nghiệp sẽ cung cấp những khái niệm cơ bản làm nền tảng cho việc nghiên cứu các môn học về quản trị cụ thể theo lĩnh vực hoặc theo chuyên môn hoá: Quản trị sản xuất, quản trị tiếp thị, quản trị nhân lực, quản trị tài chính hoặc quản trị doanh nghiệp công nghiệp, quản trị doanh nghiệp thương mại, quản trị bán hàng

Trang 18

- Trong xu hướng ngày nay, lý thuyết quản trị doanh nghiệp mang ý nghĩa là một khoa học liên ngành vì nó sử dụng kiến thức của nhiều khoa học khác nhau: Quản trị học, kinh tế học, tâm lý học, xã hội học, tin học, toán học, luật học xuất phát điểm của khoa học liên ngành này là tính tổng hợp trong lao động của ngành quản trị kinh doanh

- Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của lý thuyết quản trị doanh nghiệp là phương pháp phân tích hệ thống

Ngoài các phương pháp chung sử dụng chung cho nhiều ngành khoa học như phương pháp toán, thống kê, tâm lý và xã hội lý thuyết quản trị doanh nghiệp lấy quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu của mình, hay đó là phương pháp phân tích hệ thống

Phương pháp phân tích hệ thống lý thuyết quản trị doanh nghiệp được đặc trưng bởi các nội dung sau:

+ Xem doanh nghiệp như một hệ thống mở, vận động và tồn tại theo những quy luật khách quan Hệ thống này bao gồm nhiều bộ phận (phần tử), nhiều nhân tố ảnh hưởng trong mối quan hệ tác động qua lại để tạo thành một chỉnh thể Nếu một nhân tố, một bộ phận nào đó có “vấn đề” sẽ ảnh hưởng đến các nhân tố và bộ phận khác và đến

+ Nhân tố phát triển chủ yếu của doanh nghiệp là những nhân tố bên trong

1.6.2 Nội dung của lý thuyết quản trị doanh nghiệp

Quản trị doanh nghiệp mang tính khoa học vì chỉ có nắm vững và tuân thủ đúng các quy luật khách quan trong quá trình kinh doanh và quản trị doanh nghiệp mới đảm bảo cho việc kinh doanh đạt được kết quả mong muốn Toàn bộ nội dung của việc nhận thức và vận dụng quy luật được nêu trong phần cơ sở lý luận và phương pháp luận của quản trị doanh nghiệp bao gồm: Lý thuyết hệ thống kinh doanh và quản trị doanh nghiệp, vận dụng quy luật trong quản trị doanh nghiệp, các nguyên tắc và phương pháp quản trị doanh nghiệp Nghệ thuật quản trị doanh nghiệp biểu hiện việc sử dụng các phương pháp quản trị doanh nghiệp ở mức độ cao

Quá trình quản trị doanh nghiệp bao gồm: Tổ chức thu nhận và xử lý thông tin, đề

ra và tổ chức thực hiện các quyết định quản trị doanh nghiệp; các phương tiện và công

cụ sử dụng trong quản trị doanh nghiệp Các nội dung của lý thuyết quản trị doanh nghiệp giúp cho các nhà quản trị kinh doanh hiểu rõ công nghệ, những phương tiện và công cụ cần thiết để tiến hành quản trị doanh nghiệp

Trang 19

Nội dung của quản trị doanh nghiệp là thực hiện các chức năng quản trị kinh doanh Bởi vậy, nội dung thứ ba của lý thuyết quản trị doanh nghiệp là nghiên cứu các chức năng của quản trị kinh doanh bao gồm: Chức năng hoạch định, chức năng tổ chức, chức năng điều hành và chức năng kiểm tra

Quá trình kinh doanh luôn luôn đặt ra những nhiệm vụ mới cho các nhà quản trị Hoàn thiện quản trị doanh nghiệp như là một yêu cầu tất yếu trong quá trình phát triển doanh nghiệp Để cứu vãn sự đổ vỡ của doanh nghiệp hoặc đưa doanh nghiệp sang một bước phát triển cao hơn về chất đều đòi hỏi sự hoàn thiệu những nhân tố quản trị doanh nghiệp Phân tích kinh tế, quản lý rủi ro trong kinh doanh, đổi mới doanh nghiệp, và hiệu quả quản trị kinh doanh là những nội dung quan trọng của lý thuyết quản trị doanh nghiệp

1.7 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

Lịch sử phát triển của lý thuyết quản trị kinh doanh, hay nói chính xác hơn là+ lịch

sử phát triển tư tưởng quản trị kinh doanh hay quản trị doanh nghiệp đã trải qua nhiều giai đoạn

1.7.1 Giai đoạn trước chủ nghĩa tư bản

Trong giai đoạn trước chủ nghĩa tư bản, lý thuyết quản trị kinh doanh mang tính chất triết học trong quản lý xã hội, mà thành tựu lớn nhất phải kể đến công sức đóng góp của các nhà chính trị và triết học từ thời cổ xưa: Trung Quốc, Hy Lạp, La Mã, đặc biệt là của các nhà tư tưởng lớn Trung Quốc cổ đại (Quản Trọng, Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử ) Nhưng trong giai đoạn này, lý thuyết quản trị chưa tách khỏi triết học để thành một ngành khoa học độc lập

1.7.2 Giai đoạn từ khi có chủ nghĩa tư bản ra đời đến khi xuất hiện các nước xã hội chủ nghĩa

Trong giai đoạn này, lý thuyết quản trị nói chung, quản trị kinh doanh nói riêng được từng bước tách khỏi triết học và dần dần trở thành một bộ môn khoa học độc lập Giai đoạn này diễn ra vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và bao gồm các trường phái như: Trường phái cơ cấu và chế độ của hệ thống; trường phái quan hệ con người với môi trường trong hệ thống; trường phái định lượng về quản trị; trường phái quản lý của các nước xã hội chủ nghĩa

1.7.2.1 Trường phái cơ cấu và chế độ của hệ thống

Trường phái này nghiên cứu trong phạm vi hệ thống (xí nghiệp nhà máy) ở góc độ tạo ra cơ cấu tổ chức quản trị hợp lý, một chế độ điều hành khoa học và chặt chẽ để đem lại hiệu quả cao cho công tác quản trị doanh nghiệp, đóng góp to lớn cho trường phái này phải kể tới các nhà quản lý Robert Owen, Andrew Ure, Charles Babbage, Frederick Winslow Taylor, Henri Fayol

Trang 20

Robert Owen (1771 - 1858) là một trong những chủ xí nghiệp đầu tiên ở Scotland tiến hành tổ chức một “xã hội công nghiệp” có trật tự và kỷ luật Ông chú ý tới nhân tố con người trong tổ chức và cho rằng nếu chỉ quan tâm đầu tư tới thiết bị máy móc mà quên mất yếu tố con người, thì doanh nghiệp cũng không thể thu được kết quả Quan điểm quản trị của R Owen mặc dù giản đơn nhưng đã bước đầu chuẩn bị cho sự ra đời của bộ môn quản lý độc lập

Andrew Ure (1788 - 1857), người đã sớm nhìn thấy vai trò của quản trị và việc đào tạo kiến thức cho các nhà quản trị Ông là một trong những người đầu tiên chủ trương đào tạo bậc đại học cho các nhà quản trị và coi quản trị là một nghề

Charles Babage (1792 - 1871), người đầu tiên đề xuất phương pháp tiếp cận có khoa học trong quản trị Ông rất quan tâm tới các mối quan hệ giữa người quản trị và công nhân và cũng là một người góp phần tích cực đưa quản trị trở thành một bộ môn khoa học độc lập

Frederick Winslow Taylor (1856 - 1916), người được thế giới phương Tây gọi là

“cha đẻ của thuyết quản trị khoa học”, là một trong những người mở ra một “kỷ nguyên vàng” trong quản trị của người Mỹ Ông đã xây dựng một phương pháp quản trị ở các doanh nghiệp tại Mỹ, Anh, Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản F.W Taylor nhìn nhận con người như một cái máy Ông cho con người là một kẻ trốn việc và thích làm việc theo kiểu người lính Vì thế, cần thúc họ làm việc bằng cách phân chia các công việc một cách hết sức khoa học để chuyên môn hoá các thao tác của họ, để họ hoạt động trong một dây chuyền và bị giám sát chặt chẽ, không thể lười biếng Ông viết như sau:

“Khi người ta bảo anh nhặt một thỏi kim loại và khênh đi, anh sẽ nhặt nó và đi và khi người ta bảo anh ngồi xuống và nghỉ thì anh hãy ngồi xuống Anh phải làm việc đó ngay lập tức trong suốt cả ngày và không một lời cãi lại ”

“ Nhà quản trị là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch Trách nhiệm của họ là lập kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức công việc Ở những chỗ khác, họ phải tập trung vào việc lên

kế hoạch sản xuất, kiểm soát nguyên vật liệu, thủ tục hành chính và mọi chi tiết nhỏ nhặt có liên quan tới những công việc này”

Tư tưởng cốt lõi của F.W Taylor là đối với mỗi loại công việc dù nhỏ nhặt nhất, đều có một “khoa học” để thực hiện nó Ông đã tập hợp, liên kết các mặt kỹ thuật với con người trong tổ chức Ông cũng đã ủng hộ học thuyết con người thuần lý kinh tế và cho rằng, việc khuyến khích bằng tiền đối với người lao động là cần thiết để họ sẵn sàng làm việc như một người lính có kỷ luật

F W Taylor đưa ra 4 nguyên tắc quản trị:

- Nhân viên quản trị phải am hiểu khoa học, bố trí lao động một cách khoa học để thay thế cho các tập quán lao động cổ hủ

- Người quản trị phải lựa chọn người công nhân một cách khoa học, bồi dưỡng

Trang 21

nghề nghiệp và cho họ học hành để họ phát triển đầy đủ nhất khả năng của mình (còn trong quá khứ thì họ tự chọn nghề, tự cố gắng để nâng cao tay nghề)

- Người quản trị phải cộng tác với người thợ đến mức có thể tin chắc rằng công việc được làm đúng với các nguyên tắc có căn cứ khoa học đã định

- Công việc và trách nhiệm đối với công việc được chia đều như nhau giữa người quản trị và người thợ Nhân viên quản trị phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với công việc mà mình có khả năng hơn (còn trong quá khứ thì toàn bộ công việc và phần lớn trách nhiệm là đổ vào đầu người công nhân)

Henri Fayol (1841 - 1925), người chủ trương phải có một lý thuyết quản trị khoa học dựa trên các quy tắc và chức năng nhất định Trong cuốn “Lý thuyết quản trị hành chính chung và trong công nghiệp” xuất bản ở Pháp năm 1915, ông viết: “Tôi hy vọng rằng một lý thuyết sẽ bắt nguồn từ cuốn sách này” và “Quản trị hành chính là dự đoán

và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” Ông đã kết luận rằng: Một nhà quản trị tài năng có được thành công không phải nhờ những phẩm chất cá nhân, mà nhờ các phương pháp mà anh ta đã áp dụng cũng như các nguyên tắc chỉ đạo hành động của anh ta

Theo H Fayol, quản trị doanh nghiệp phải thực hiện những nguyên tắc sau:

- Có kế hoạch chu đáo và thực hiện kế hoạch một cách nghiêm chỉnh

- Việc tổ chức nhân tài, vật lực phải phù hợp với mục tiêu, lợi ích, yêu cầu của doanh nghiệp

- Cơ quan quản trị điều hành phải là duy nhất, có năng lực và tích cực hoạt động

- Kết hợp hài hoà các hoạt động trong doanh nghiệp với những cố gắng phối hợp

- Các quyết định đưa ra phải rõ ràng, dứt khoát và chuẩn xác

- Tổ chức tuyển chọn nhân viên tốt, mỗi bộ phận phải do một người có khả năng

và biết hoạt động đứng đầu, mỗi nhân viên phải được bố trí vào nơi có thể phát huy tốt nhất khả năng của họ

- Nhiệm vụ phải được xác định rõ ràng

- Khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của mọi người trong doanh nghiệp

- Bù đắp lâu dài và thoả đáng cho những công việc đã được hoàn thành

- Các lỗi lầm và khuyết điểm phải bị trừng phạt

- Phải duy trì kỷ luật doanh nghiệp

- Các mệnh lệnh đưa ra phải thống nhất

- Phải tăng cường việc giám sát trong doanh nghiệp (cả đối với lao động và vật lực)

- Kiểm tra tất cả mọi việc

Trang 22

Hạn chế chủ yếu của H.Faylol là ông chưa chú ý đầy đủ các mặt tâm lý và môi trường xã hội của người lao động, hệ thống của ông vẫn bị đóng kín, chưa chỉ rõ mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng, thị trường, các đối thủ cạnh tranh và các ràng buộc của Nhà nước

1.7.2.2 Trường phái quan hệ con người với con người trong hệ thống

Trường phái này đã quan tâm thoả đáng đến yếu tố tâm lý con người, tâm lý tập thể và bầu không khí tâm lý trong xí nghiệp, nơi những người lao động làm việc Quản trị ở đây là hoàn thành công việc thông qua người khác và tổ chức chính là con người Đại diện của trường phái này đầu tiên phải kể đến Mary Parker Follett (1868 - 1933), người đã phê phán các nhà quản trị trước kia chưa quan tâm đến khía cạnh tâm lý và xã hội của quản trị Đại diện tiếp theo là Elton Mayo (1880 - 1949), người rất quan tâm đến yếu tố cá nhân trong tập thể (nhóm), mặc dù ông đánh giá con người là thụ động trong quan hệ với tập thể

1.7.2.3 Trường phái định lượng về quản trị

Lý thuyết quản trị mới này được gọi bằng nhiều tên khác nhau: Lý thuyết định lượng về quản trị (quantitative management theory) Khoa học quản trị (management science), lý thuyết hệ thống (system theory), nghiên cứu tác vụ hay “vận trù học” (operations research), được xây dựng trên nhận thức cơ bản rằng “quản trị là ra quyết định” (management is decion - making) và muốn việc quản trị có hiệu quả, các quyết định phải đúng đắn Để có thể ra những quyết định đúng, nhà quản trị phải có một quan điểm hệ thống khi xem xét sự việc, thu thập và xử lý thông tin

Lý thuyết định lượng về quản trị được hỗ trợ tích cực bởi sự phát triển nhanh chóng của công nghệ điện toán, giúp giải quyết nhiều mô hình toán phức tạp với tốc độ cao Nói chung, lý thuyết định lượng về quản trị có thể được tóm tắt trong các nội dung sau đây:

- Nhấn mạnh đến phương pháp khoa học trong việc giải quyết các vấn đề quản trị

- Áp dụng phương thức tiếp cận hệ thống để giải quyết các vấn đề

- Sử dụng các mô hình toán học

- Định lượng hoá các yếu tố kinh tế và kỹ thuật trong quản trị hơn là các yếu tố tâm lý xã hội

- Sử dụng máy tính điện tử làm công cụ

- Đi tìm quyết định tối ưu trong một hệ thống khép kín

1.7.3 Giai đoạn từ đầu những năm 1970 đến nay

Trong những năm gần đây đã có những cố gắng tổng hợp các lý thuyết cổ điển, lý thuyết hành vi và lý thuyết định lượng, sử dụng những tư tưởng tốt nhất của mỗi trường phái Trong thời kỳ này, có các trường phái tiêu biểu sau:

Trang 23

1.7.3.1 Trường phái quản trị của các nước tư bản chủ nghĩa

Các nước tư bản chủ nghĩa khi trước cuộc khủng hoảng kinh tế thừa cùng các bế tắc của những năm 1960 đã khẩn trương điều chỉnh lại các quan điểm và cách thức quản

lý của mình và tạm thời thu được những kết quả nhất định Các nhà quản trị phương Tây, tiêu biểu là P Drucker (1909 - 2005) là người đầu tiên mở rộng phạm vi quản trị của doanh nghiệp ra với thị trường khách hàng và ràng buộc của xã hội, các đối thủ cạnh tranh và các nhà cung ứng vật tư thiết bị cho doanh nghiệp Theo P Drucker, quản trị có 3 chức năng quản trị công nhân, công việc; quản trị các nhà quản trị và quản trị một doanh nghiệp Quản trị theo P Drucker còn là sự chủ động, sáng tạo trong kinh doanh chứ không phải là sự thích nghi thụ động; đó là việc bám chắc vào khách hàng và thị trường Với tư tưởng này, P Drucker đã là một trong những nhà quản trị góp phần xây dựng nhiều lý thuyết quản trị kinh doanh hiện đại ngày nay (Marketing, kinh tế vĩ mô…) Chính với quan điểm nói trên, P Drucker đã góp phần giải quyết các bế tắc tưởng như không giải quyết nổi của chủ nghĩa tư bản Ông đã được các nhà tư bản phương Tây, Nhật và Mỹ gọi là “Peter đại đế ” Hạn chế của ông là ở chỗ không đề cập tới bản chất lợi ích của hoạt động quản trị, điều mà các nhà tư bản luôn luôn né tránh vì bản chất bóc lột của nó

Các nhà quản trị Bắc Âu lại gắn quản trị doanh nghiệp với việc điều hoà lợi ích một phần cho xã hội thông qua các cơ quan quản lý của Chính phủ Chính điều này đã làm cho nhiều nước Bắc Âu (Thụy Điển, Đan Mạch, Hà Lan ) cũng tự nhận mình là các nước xã hội chủ nghĩa Các nước này đã nhanh chóng trở thành các quốc gia phồn vinh, các tư tưởng quản trị của họ được nhiều nước theo dõi, học tập nhưng trong thập

kỷ cuối của thế kỷ XX, các nước này cũng đang bước vào nhưng bế tắc mới, với nhiều khó khăn trở ngại mà họ đang cố gắng giải quyết

Các nhà quản trị Nhật Bản và các nước ASEAN bổ sung thêm việc quản trị theo phương thức kết hợp hiện đại với sức mạnh của truyền thống dân tộc và con người Họ tạo ra một động cơ tâm lý mạnh cho cộng đồng xã hội với mong muốn nhanh chóng trở thành cường quốc dẫn đầu thế giới Các nước này cũng đã “vang bóng một thời” nhưng thành tựu của họ vẫn đang được nhiều người ca ngợi, mặc dù những năm gần đây tăng trưởng kinh tế đã bắt đầu chững lại

1.7.3.2 Trường phái quản trị ở các nước xã hội chủ nghĩa

Giai đoạn I: Cùng với sự ra đời và phát triển các nước xã hội chủ nghĩa cho đến trước khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu (cũ) tan rã Dựa trên quan điểm triết học, Mác - Lênin cho rằng: quản lý kinh tế là một hoạt động tất yếu khách quan và có tính độc lập tương đối, nảy sinh do kết quả khách quan và có tính độc lập tương đối, nảy sinh do kết quả của quá trình phân công lao động và chuyên môn hoá trong quản lý Quản lý là một chức năng xã hội, bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động C Mác nói “Trong tất cả những công việc mà có nhiều người hiệp tác với nhau, thì mối liên hệ chung và sự thống nhất của quá trình tất yếu phải biểu hiện ra ở trong

Trang 24

một ý chí điều khiển và trong những chức năng khác không có quan hệ với những công việc bộ phận, mà quan hệ với toàn bộ hoạt động của công xưởng, cũng giống như trường hợp nhạc trưởng của một dàn nhạc, vậy: đó là một thứ lao động sản xuất cần phải được tiến hành trong một phương thức sản xuất có tính chất kết hợp”

Khi phân tích quản lý tư bản chủ nghĩa, C Mác đã chỉ rõ: quản lý kinh tế có hai mặt, mặt tổ chức - kỹ thuật và mặt kinh tế - xã hội Mặt tổ chức - kỹ thuật là do nhu cầu phát triển của quá trình sản xuất quyết định, mặt kinh tế - xã hội là do các quan hệ sản xuất thống trị quyết định C.Mác đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề thực chất của quản lý

tư bản chủ nghĩa là mặt kinh tế - xã hội của nó và bản chất bóc lột do mặt kinh tế - xã hội quy định C Mác đã nêu luận điểm: Công việc quản lý của nhà tư bản không chỉ là chức năng đặc biệt bắt nguồn từ bản chất của quá trình lao động, mà việc quản lý được quyết định bởi sự đối kháng tất yếu giữa kẻ bóc lột và nguyên liệu sống của sự bóc lột

đó Ở đây, mâu thuẫn giữa những người sản xuất trực tiếp và những kẻ sở hữu tư liệu sản xuất càng ngày càng gay gắt thì thực chất bóc lột của quản lý càng bộc lộ rõ hơn Với quan điểm trên, các nước xã hội chủ nghĩa sau khi có chính quyền, đã tiến hành tổ chức nền kinh tế một cách có hiệu quả dựa trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, làm các nước tư bản chủ nghĩa phải lo ngại và tìm cách tiêu diệt Chủ nghĩa xã hội đã để lại nhiều hình tượng tốt đẹp về một xã hội công bằng và nó đã thực sự đứng vững trong giai đoạn đó, khi mà mức độ phát triển của xã hội mới đạt ở trình độ trung bình (nhu cầu và sự phát triển của con người chưa thực sự cao)

Giai đoạn II: Bắt đầu từ khi sảy ra sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu (cũ), do không thích nghi được với sự biến đổi của môi trường (sự phát triển ở mức độ cao của dân cư, dân trí, mức sống, các yêu cầu mới về phát triển công nghệ, sự tấn công ở quy

mô lớn của chủ nghĩa tư bản, sự thoái hoá của một bộ phận các giới quan chức chính quyền, sự biến chất của một số các phần tử xã hội trước cuộc sống vật chất của các nước tư bản chủ nghĩa) Giai đoạn này diễn biến hai xu thế:

- Các nhà quản lý kinh tế Đông Âu đã thay đổi lập trường quan điểm về lợi ích của quản lý, chủ trương đa nguyên về chính trị, xóa bỏ nhanh chóng chế độ công hữu về

tư liệu sản xuất, khuyến khích tự do cạnh tranh, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước tư bản chủ nghĩa Họ hy vọng đó là con đường duy nhất để đưa các nước này thoát khỏi khủng khoảng toàn diện với rất nhiều bế tắc và đổ vỡ Hậu quả tất yếu không thể tránh khỏi là

sự từ bỏ chủ nghĩa xã hội Việc đánh giá các quan điểm và phương thức quản lý của các nước này còn quá sớm, cần phải để cho lịch sử phán xét và để cho lực lượng quần chúng nhân dân của các nước này tự lên tiếng

- Một hướng khác của các nước xã hội chủ nghĩa là vẫn kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa nhưng phải nhanh chóng đổi mới cơ chế quản lý cho phù hợp với đòi hỏi của các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường và sự giao lưu quốc tế, sao cho quy

tụ được đông đảo nhân dân dưới sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp vô sản, chấp

Trang 25

nhận kinh tế thị trường mở cửa, chấp nhận cạnh tranh nhưng trong khuôn khổ có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước (Việt Nam, Trung Quốc )

Tóm lại: Lịch sử phát triển tư tưởng quản trị là lịch sử của các tìm kiếm và thử nghiệm, lịch sử của các thành công và thất bại, lịch sử của nhiều quá trình kế tiếp nhau

vô tận

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, nơi thực hiện hiệp tác và phân công lao động, là nơi kết hợp các yếu tố để tạo ra sản phẩm và dịch vụ cho xã hội Do vậy, phải có cách tổ chức, phải có những người điều hành, có người quản lý Tất cả các vấn đề đó chúng ta gọi là quản trị Hay nói cách khác, quản trị ra đời do yêu cầu của

tổ chức, phục vụ công tác điều hành sản xuất kinh doanh

Các Mác đã chỉ ra rằng: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một giàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” Sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân chính là quản trị Trong sự phát triến của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội được hình thành và phát triển Đáp ứng sự phát triển đó, nhiều ngành khoa học tương ứng cũng đã hình thành và phát triển, trong đó có khoa học quản trị nói chung và khoa học quản trị doanh nghiệp nói riêng

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Trình bày khái niệm quản trị, quản trị kinh doanh và quản trị doanh nghiệp

2 Phân tích mục đích và chức năng của quản trị doanh nghiệp

3 Trình bày phương pháp nghiên cứu quản trị doanh nghiệp Làm rõ phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Những phương pháp nghiệp vụ cụ thể là gì?

4 Trình bày đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của quản trị doanh nghiệp

5 Trình bày vai trò và nội dung của lý thuyết quản trị doanh nghiệp

6 Phân tích lịch sử phát triển của quản trị doanh nghiệp

7 Trình bày các trường phái trong quá trình phát triển quản trị doanh nghiệp

Trang 26

Chương 2 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Chương 2 khái quát các nội dung tổng quan về doanh nghiệp bao gồm khái niệm, phân loại, vai trò, nguyên tắc tổ chức và lựa chọn loại hình doanh nghiệp cũng như các vấn đề thành lập, giải thể các doanh nghiệp, đồng thời đi sâu phân tích bản chất, ưu, nhược điểm và các trường hợp áp dụng một trong bốn kiểu cơ cấu tổ chức

cơ bản hiện có Người học cũng sẽ hiểu rõ được năm loại hình doanh nghiệp phổ biến hiện nay, cũng như đặc điểm, ưu và nhược điểm của chúng Sau khi kết thúc chương này, người học có thể hiểu rõ được bản chất doanh nghiệp, cách thức tổ chức doanh nghiệp và có thể chọn được loại hình phù hợp nhất khi thành lập hoặc tư vấn thành lập doanh nghiệp

2.1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP

2.1.1 Khái niệm doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế bao gồm một tập thể lao động, hiệp tác và phân công lao động với nhau để khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm sản xuất sản phẩm hàng hoá, dịch vụ theo yêu cầu của xã hội

Theo điều 4 của Luật doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh Trong đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận

Sách trắng về doanh nghiệp cho thấy, tính đến hết năm 2019, Việt Nam đã có khoảng 760 ngàn doanh nghiệp đang hoạt động, phản ánh bức tranh phát triển sôi động của nền kinh tế nước nhà Đây là một lực lượng cốt lõi tạo ra các sản phẩm dịch vụ và của cải để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, cung cấp việc làm cho đông đảo lực lượng người lao động… Trên thực tế, có nhiều biểu hiện của các hình thức doanh nghiệp độc lập hoặc kết hợp xen kẽ với nhau tạo nên một sự năng động và phong phú của một nền kinh tế trẻ Việt Nam

2.1.2 Phân loại doanh nghiệp

Có nhiều cách để phân loại doanh nghiệp dựa vào những đặc điểm về trình độ xã hội hoá về tư liệu sản xuất, số lượng chủ sở hữu hay là quy mô của doanh nghiệp Căn cứ vào trình độ xã hội hoá TLSX, doanh nghiệp được chia thành 3 loại hình chủ yếu: (i) doanh nghiệp Nhà nước, (ii) doanh nghiệp tập thể (hợptác xã), (iii) doanh nghiệp tư nhân

Trang 27

Căn cứ vào số lượng chủ sở hữu thì có 2 loại hình doanh nghiệp gồm (i) Doanh nghiệp một chủ sở hữu và (ii) Doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu

Doanh nghiệp một chủ sở hữu bao gồm (i) Doanh nghiệp nhà nước và (ii) Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp nhà nước có thể có mục đích hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích; có thể là doanh nghiệp độc lập hoặc thành viên, có thể tổ chức có hội đồng quản trị hoặc không có hội đồng quản trị

Doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu bao gồm loại hình Công ty và Hợp tác xã Các công ty có thể là Công ty hợp doanh hoặc Công ty hợp vốn; có thể là Công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc Công ty cổ phần

Căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp sẽ gồm 4 loại hình: (i) Doanh nghiệp lớn, (ii) Doanh nghiệp vừa, (iii) Doanh nghiệp nhỏ, (iv) Doanh nghiệp siêu nhỏ

2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp

Có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau nhưng đều là đơn vị sản xuất kinh doanh và có ba vai trò cốt lõi như sau:

Một là, doanh nghiệp là tế bào kinh tế của xã hội, doanh nghiệp là nền tảng cho kinh tế đáp ứng nhu cầu của xã hội

Hai là, doanh nghiệp là nơi trực tiếp tổ chức và sử dụng các tài nguyên và các nguồn lực khác

Ba là, doanh nghiệp là nơi trực tiếp chuyển giao khoa học công nghệ và các thành quả của nghiên cứu khoa học

2.1.4 Nguyên tắc cơ bản của lựa chọn và tổ chức các loại hình doanh nghiệp

Nguyên tắc thứ nhất: Bảo đảm hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp

Đây là nguyên tắc bao trùm và quan trọng nhất khi lựa chọn loại hình doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện kết quả thu được đó:

Q có thể là: năng suất lao động, vốn đầu tư, doanh lợi

Nguyên tắc thứ hai: Doanh nghiệp phải là một tổ chức kinh tế tự chủ

Nguyên tắc này tạo điều kiện cần thiết và khách quan để doanh nghiệp có tư cách pháp nhân

Trang 28

Doanh nghiệp có quyền sở hữu và sử dụng các yếu tố sản xuất như tài sản, đất đai, tiền vốn, lao động, cơ sở vật chất Có quyền chọn cơ cấu sản xuất, phương thức tổ chức sản xuất, lựa chọn và áp dụng khoa học công nghệ, phương thức tiêu thụ sản phảm phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Doanh nghiệp có quyền hợp tác liên kết, liên doanh từng mặt hay nhiều mặt với các đơn vị kinh doanh khác để có hiệu quả nhất

Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật, đồng thời có quyền tự do cạnh tranh và bình đẳng trong khuôn khổ của pháp luật quy định

Nguyên tắc thứ ba: Phù hợp với đặc điểm kinh tế và xã hội của đất nước

Đặc điểm kinh tế xã hội của nước ta là sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật thấp, trên 70% lao động xã hội làm nghề nông, 80% dân số sống ở nông thôn với hơn 90% là

hộ nông dân

Nguyên tắc thứ tư: Bảo đảm tính thống nhất về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý

và quan hệ phân phối của doanh nghiệp

Mỗi một hình thức doanh nghiệp có quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối phù hợp với nó và thuộc phạm trù quan hệ sản xuất Chẳng hạn hình thức doanh nghiệp tập thể thuộc sở hữu tập thể, quản lý dân chủ theo các nguyên tắc của Hợp tác

xã và phân phối theo nghị quyết của đại hội thành viên, theo lao động và mức độ đóng góp Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý và quan hệ phân phối Ngược lại, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối cũng có ảnh hưởng đến quan hệ sở hữu Ví dụ: Trong Hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể, đòi hỏi phải quản lý dân chủ, đại hội thành viên

là cơ quan quyền lực cao nhất, mỗi thành viên hợp tác xã đều bình đẳng với nhau không

lệ thuộc vào số cổ phần đóng góp Đặc trưng phân phối theo lao động và cổ phần đóng góp thể hiện sở hữu tập thể, vì vậy thay đổi quan hệ phân phối này thì không còn là

doanh nghiệp tập thể

2.1.5 Thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp

Quan niệm doanh nghiệp như một tổ chức sống cho thấy, doanh nghiệp thành lập không phải tồn tại mãi mãi và bất biến Mỗi doanh nghiệp có lịch sử và văn hoá riêng, sức sống của doanh nghiệp là phụ thuộc vào các nguồn nhân lực, tài chính và kỹ thuật

Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào sức khoẻ, sự thích nghi của doanh nghiệp với môi trường sống

Quan niệm doanh nghiệp là một hệ thống mở, thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa doanh nghiệp và môi trường sống của nó, đây là điều kiện khởi đầu và kết thúc của hoạt động doanh nghiệp Đồng thời phản ánh tổ chức chặt chẽ và quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp được tạo lập thường có 3 dạng: doanh nghiệp mới, doanh nghiệp được mua lại, đại lý đặc quyền Mọi nội dung, hồ sơ, quy trình, thủ tục được quy định

Trang 29

chi tiết từ Điều 17 đến Điều 45 trong chương II về “Thành lập doanh nghiệp” của Luật doanh nghiệp năm 2020

- Tạo lập doanh nghiệp mới

Thông thường, việc tạo lập một doanh nghiệp mới xuất phát từ ba lý do sau: (i) Nhà kinh doanh đã xác định được dạng sản phẩm hoặc dịch vụ có thể thu được lãi; (ii) Nhà kinh doanh có những điều kiện lý tưởng trong việc lựa chọn địa điểm kinh doanh, phương tiện sản xuất kinh doanh, nhân viên, nhà cung ứng, ngân hàng…; (iii) Lựa chọn hình thức doanh nghiệp mới có thể tránh được các hạn chế nếu mua lại một doanh nghiệp có sẵn hoặc làm đại lý đặc quyền

Để tạo lập một doanh nghiệp mới hay còn gọi là khởi nghiệp thì điều vô cùng quan trọng là tìm được một cơ hội, tạo được một ưu điểm kinh doanh có khả năng cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác, đó chính là cơ hội kinh doanh thực sự Các ý tưởng khởi nghiệp thường được nảy sinh bất ngờ trong khi làm việc hoặc vui chơi giải trí, từ việc nghiên cứu thận trọng, từ việc sáng chế (hoặc mua lại sáng chế) về sản phẩm mới hoặc là kinh nghiệm đúc rút từ các doanh nghiệp khác

Sau khi đã có ý tưởng, sáng kiến trên, việc hoàn thiện một ý tưởng kinh doanh sẽ

có ý nghĩa quyết định thành công Việc hoàn thiện một ý tưởng kinh doanh, đó chính là

đi đến một dự án kinh doanh

- Mua lại một doanh nghiệp sẵn có

Việc mua lại một doanh nghiệp sẵn có xuất phát từ 3 lý do: (i) Muốn giảm bớt rủi

ro của việc tạo lập một doanh nghiệp mới; (ii) Tránh được việc phải xây dựng mới trong mua bán, giao dịch với ngân hàng, đào tạo nhân viên mới; (iii) Ít tốn kém hơn so với lập

ra một doanh nghiệp mới (đa số trường hợp)

Để mua lại một doanh nghiệp sẵn có, chúng ta cần phải điều tra, kiểm tra, đánh giá, điều đình và ký kết thương vụ này Điều tra doanh nghiệp định mua này có thể thực hiện bằng cách trực tiếp tìm hiểu và trao đổi với chủ doanh nghiệp đó Cũng có thể bằng cách qua trao đổi với khách hàng, các nhà cung ứng của doanh nghiệp, ngân hàng, đặc biệt thông qua nhân viên kế toán, luật sư của doanh nghiệp đó Việc kiểm tra sổ sách của doanh nghiệp định mua cần giao cho một kiểm toán viên độc lập để đảm bảo tính chính xác Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp định mua có thể căn cứ vào những điều sau: (i) Mức lãi trong quá khứ để tính mức lãi trong tương lai; (ii) Mức rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh; (iii) Sự tín nhiệm của khách hàng; (iv) Tình trạng cạnh tranh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp định mua này có bị ràng buộc nào về các hợp đồng đã ký kết và các vụ

tố tụng (đang xử và đã xử) hay không? Sau cùng là điều đình và ký kết về giá cả, điều kiện thanh toán và ký kết văn bản mua doanh nghiệp này nên thực hiện với sự tư vấn của luật sư, theo đúng pháp luật

Trang 30

- Đại lý đặc quyền

Đại lý đặc quyền có quyền kinh doanh như một chủ sở hữu độc lập, song phải tuân theo một số phương pháp và điều kiện từ phía người nhượng quyền quy định Các quyền kinh doanh này được ghi trong hợp đồng giữa đại lý đặc quyền và người nhượng đặc quyền Giá trị của hợp đồng thể hiện ở việc đặc quyền của người làm đại

lý đặc quyền có được nhiều hay ít

Những đặc quyền mà đại lý được nhận có thể bao gồm quyền được dùng tên hiệu hoặc biển hiệu của người nhượng đặc quyền, cũng có thể được sử dụng cả hệ thống tiếp thị của người này Tuy vậy, đại lý đặc quyền cũng vẫn được coi là doanh nghiệp độc lập, trong đó có quyền tự thuê mướn nhân công, tự điều khiển hoạt động kinh doanh Hiện nay có 3 loại hệ thống đại lý đặc quyền phổ biến như sau:

(i) Người nhượng quyền là nhà sản xuất, nhà sáng lập, trao quyền bán sản phẩm cho đại lý là nhà buôn sỉ

(ii) Người nhượng quyền là nhà buôn sỉ và đại lý là nhà bán lẻ

(iii) Người nhượng quyền là nhà sản xuất, nhà sáng lập và đại lý là nhà bán lẻ, hệ thống này rất thông dụng hiện nay, như đại lý bán ô tô, trạm xăng, đại lý mỹ phẩm Đại lý đặc quyền có những lợi thế là được quyền dùng những nhãn hiệu đã nổi tiếng, được người nhượng quyền huấn luyện kinh doanh, được người nhượng quyền làm công việc quảng cáo, được bảo đảm cung cấp hàng hoá và có thể cung cấp tài chính Những lợi thế trên đây của đại lý đặc quyền chính là những điều khiến cho việc tạo lập một doanh nghiệp mới hay mua lại một doanh nghiệp có sẵn thường gặp khó khăn Tuy nhiên, đại lý đặc quyền cũng thường chịu 3 giới hạn như sau:

(i) Để có đặc quyền, người đại lý phải trả cho người nhượng quyền các khoản tiền gồm: Lệ phí đại lý và tiền sử dụng đặc quyền

(ii) Chịu giới hạn về sự phát triển doanh nghiệp: Các hợp đồng đại lý đặc quyền thường buộc đại lý chỉ được kinh doanh trong một khu vực nhất định

(iii) Mất tính tự chủ hoàn toàn trong kinh doanh

Trước khi tạo lập một đại lý đặc quyền, nhà kinh doanh phải lượng giá được cơ hội mua đại lý đặc quyền Việc lượng giá này bao gồm: Tìm đúng cơ hội, điều tra, khảo sát và nghiên cứu kỹ hợp đồng đặc quyền

- Phá sản doanh nghiệp

Phá sản doanh nghiệp được thực hiện theo Luật phá sản doanh nghiệp ngày 19 tháng 6 năm 2014 Theo quy định tại khoản 2 điều 4 tại Luật này, “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” Hay nói cách khác, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong họat động kinh doanh sau khi đã áp

Trang 31

dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn có nợ, nợ đến hạn phải thanh toán, mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Theo Nghị định 22/2015/NĐ-CP, Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản, nếu kinh doanh bị thua lỗ trong 2 năm liên tiếp, đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động và hợp đồng lao động trong 3 tháng liên tiếp

Sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không được doanh nghiệp thanh toán nợ, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn đến tòa án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Ngoài ra, mọi nội dung, các trường hợp, các điều kiện, trình tự, thủ tục… liên quan tới thành lập, tổ chức lại, sát nhập, chuyển đổi, giải thể… đã quy định rõ tại chương 9 và các điều liên quan đến từng loại hình doanh nghiệp trong Luật doanh nghiệp năm 2020

2.2 CƠ CẤU TỔ CHỨC DOANH NGHIỆP

2.2.1 Khái niệm cơ cấu tổ chức doanh nghiệp

2.2.1.1 Khái niệm

Cơ cấu tổ chức là hệ thống các bộ phận có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá và có trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được tổ chức thành các cấp, các khâu khác nhau nhằm thực hiện các chức năng quản trị và phục vụ mục tiêu chung của tổ chức

Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp là hệ thống các bộ phận khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp được hiểu là mô hình cơ cấu tổ chức được doanh nghiệp lựa chọn thiết lập Mô hình cơ cấu tổ chức quản trị của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận theo chiều dọc (các cấp quản trị) và các bộ phận theo chiều ngang (các khâu quản trị), được phân chia quyền hạn, trách nhiệm cho các bộ phận, cá nhân trong

bộ máy tổ chức của mỗi doanh nghiệp

Việc thiết lập mô hình cơ cấu tổ chức cho doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều yếu

tố, trong đó có triết lý, năng lực quản trị của chủ sở hữu doanh nghiệp và các nhà quản trị trong doanh nghiệp Nhìn chung, các căn cứ cơ bản để doanh nghiệp lựa chọn và thiết lập mô hình cơ cấu tổ chức bao gồm: mục tiêu của của doanh nghiệp; trình độ chuyên môn hóa trong doanh nghiệp; lĩnh vực hoạt động hay sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; quy mô của doanh nghiệp; năng lực lãnh đạo của các nhà quản trị trong doanh nghiệp

Trang 32

Tùy thuộc các mục tiêu khác nhau các doanh nghiệp lựa chọn thiết lập được các

bộ phận chức năng và phân công nhiệm vụ các bộ phận sẽ khác nhau Cụ thể, phần lớn các doanh nghiệp có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, cắt giảm chi phí thì giải pháp họ hướng tới là tinh giản bộ máy quản trị Để đạt được mục tiêu tinh giản bộ máy, cơ cấu

tổ chức được lựa chọn cần đảm bảo gia tăng tầm hạn quản trị (số thuộc cấp một nhà quản trị có thể quản lý hiệu quả) Qua đó số cấp quản trị trung gian được cắt giảm, những mô hình có số cấp quản trị trung gian nhỏ sẽ tiết kiệm đáng kể chi phí quản lý Các doanh nghiệp có quy mô lớn và mức độ chuyên môn hóa cao thường hình thành các bộ phận chức năng chuyên biệt và xây dựng mô hình với nhiều khâu quản trị cho nhiều lĩnh vực đặc thù Trong khi đó, các doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ có

xu hướng giảm số cấp và số khâu quản trị Thực tế thì khối lượng công việc cần giải quyết của doanh nghiệp quy mô lớn sẽ nhiều hơn Ví dụ, một số doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ thường có bộ phận kế toán đảm nhận tất cả các nhiệm vụ về văn thư lưu trữ, kế toán doanh nghiệp, quản lý hành chính nhân sự Nhưng đối với những doanh nghiệp quy mô vừa trở lên, họ thường thiết lập bộ phận riêng biệt hay phòng ban riêng biệt cho các hoạt động trên, bao gồm phòng văn thư hay phòng hành chính; phòng nhân sự và phòng kế toán

Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau dẫn tới mỗi doanh nghiệp sẽ

có các khâu quản trị theo chiều ngang khác nhau Doanh nghiệp sản xuất có các dây chuyền, tổ hay phân xưởng sản xuất, trong khi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có các khâu như bộ phận khách hàng, bộ phận chăm sóc khách hàng…

Quan điểm và năng lực quản lý sẽ quyết định tầm hạn quản trị của doanh nghiệp, qua đó sẽ quyết định số cấp quản trị trong doanh nghiệp Các chủ sở hữu doanh nghiệp

có thể lựa chọn loại hình doanh nghiệp khác nhau do mục tiêu về trách nhiệm dân sự đối với doanh nghiệp hay khả năng huy động vốn khác nhau, nhưng nếu quan điểm quản trị và năng lực quản trị tương đồng thì mô hình cơ cấu tổ chức được thiết lập giữa các doanh nghiệp có thể tương đồng

2.2.1.2 Nguyên tắc thiết lập cơ cấu tổ chức doanh nghiệp

Khi thiết lập mô hình cơ cấu tổ chức, các doanh nghiệp cần xem xét đảm bảo các nguyên tắc trong xây dựng cơ cấu tổ chức:

(i) Nguyên tắc ủy quyền: Nguyên tắc này được hiểu là người quản lý cấp trên sẽ trao quyền thực hiện một phần công việc đơn giản, có tính lặp đi lặp lại nhiều trong công việc của mình cho cấp dưới Như vậy, cấp trên sẽ giao hết quyền đối với công việc

đó của họ cho cấp dưới và chỉ thực hiện những công việc phức tạp Sự ủy quyền ở cấp cao thì ít xảy ra hơn cấp dưới, do mức độ phức tạp và tầm quan trọng của công việc mà các nhà quản trị cấp cao đảm nhiệm Các nhà quản trị cấp dưới sẽ có xu hướng ủy quyền nhiều hơn Ví dụ, giám đốc doanh nghiệp thì không ủy quyền vay vốn cho kế

Trang 33

toán trưởng hay các nhà quản trị cấp dưới nhưng kế toán trưởng có thể ủy quyền cho kế toán viên kê khai và làm việc với cơ quan thuế

(ii) Nguyên tắc thống nhất giữa trách nhiệm và quyền hạn: Trao quyền phải song hành với trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà quản trị đối với nhiệm vụ được giao Nếu vi phạm sẽ dẫn tới lạm quyền vô trách nhiệm hoặc không đủ quyền lực để thi hành nhiệm

vụ Các nhà quản trị chỉ giao quyền và nhiệm vụ thực hiện hay nhiệm vụ báo cáo công việc đối với cấp dưới Để đảm bảo mọi việc thực hiện đúng yêu cầu và quyết định đề ra, các nhà quản trị phải giữ lại quyền kiểm soát và nghĩa vụ giám sát

(iii) Nguyên tắc phạm vi kiểm soát: Nguyên tắc này nói về tầm hạn quản trị của doanh nghiệp Xu hướng mong muốn cắt giảm tầng nấc trung gian và gia tăng tầm hạn quản trị của các doanh nghiệp nhằm mục đích cắt giảm chi phí lao động quản lý Tuy nhiên, nếu năng lực của cả cấp trên và cấp dưới đều tốt thì doanh nghiệp có điều kiện để

mở rộng tầm hạn quản trị Ngược lại, nếu năng lực của cấp trên và cấp dưới chưa tốt dẫn tới khó kiểm soát, cấp trên cần nhiều thời gian và công sức cho việc hướng dẫn và chỉ đạo nhân viên, họ sẽ không quản lý được số thuộc cấp đông

(iv) Nguyên tắc chuyên môn hóa: Nguyên tắc này nhằm mục tiêu nâng cao hiệu suất công việc Theo trường phái quan điểm quản trị cổ điển, công việc nên được chia thành nhiều phần và phân công cho nhiều người, mỗi người chỉ đảm nhận phần công việc chuyên biệt của mình

Mặc dù việc thiết lập mô hình cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều yếu tố, tuy nhiên, có 3 loại mô hình cơ cấu tổ chức cơ bản bao gồm, mô hình cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến, mô hình cơ cấu tổ chức kiểu chức năng, mô hình cơ cấu tổ chức kiểu hỗn hợp mà doanh nghiệp có thể lựa chọn để thiết lập (Yoshiaki Takahashi, 2009)

2.2.2 Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến

Nguyên tắc xây dựng của kiểu mô hình này là các cấp quản trị chỉ nhận quyết định, thực thi quyết định và báo cáo từ cấp trên duy nhất Mọi hoạt động trong mô hình được thực hiện theo tuyến (chiều dọc) Mô hình không cho phép tuân thủ đối với cấp trên không phải là trực tiếp

Mô hình có ưu điểm nổi bật là đảm bảo nguyên tắc thống nhất chỉ huy, một trong

14 nguyên tắc quản trị quan trọng trong trường phái tư tưởng quản trị hành chính tổng quát mà Henri Fayol (1841 - 1925) làm đại diện Mối quan hệ trách nhiệm - quyền hạn trong loại mô hình này được phân định rõ ràng và chặt chẽ Đó là cơ sở để đảm bảo sự thống nhất và tập trung cao trong tổ chức Mô hình này có thể áp dụng hiệu quả đối với những doanh nghiệp quy mô nhỏ, hoạt động đơn ngành đơn lĩnh vực

Mô hình này khá hạn chế trong việc áp dụng cho các doanh nghiệp quy mô lớn,

đa ngành, đa lĩnh vực Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến vi phạm nguyên tắc

Trang 34

chuyên môn hóa trong quản trị, một trong những nguyên tắc quản trị được đề xuất ở trường phái quan điểm quản trị cổ điển Khối lượng công việc của các nhà quản trị trong

mô hình này dễ dẫn tới quá tải do họ phải giải đáp và giải quyết nhiều nhiệm vụ chức năng khác nhau Doanh nghiệp khó đào tạo các nhà quản trị kỹ năng trong lĩnh vực chuyên sâu

Sơ đồ 2.1 Ví dụ mô hình cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến

2.2.3 Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu chức năng

Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu chức năng được thiết lập theo nguyên tắc phân chia các chức năng quản trị riêng biệt cho các nhà quản trị tại các đơn vị khác nhau Qua đó hình thành những người lãnh đạo chuyên môn hóa Các đơn vị chức năng trở thành một cấp quản lý, có quyền ra các quyết định quản lý cho các đơn vị trực tuyến Cấp dưới nhận và thực thi quyết định từ nhiều người lãnh đạo chức năng khác nhau, xuất hiện nhiều cấp trên trực tiếp

Mô hình khắc phục được hạn chế của mô hình cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến Đảm bảo nguyên tắc chuyên môn hóa trong quản trị Có thể giải phóng cấp quản trị khỏi tình trạng quá tải (không cần kiến thức toàn diện), thúc đẩy họ nâng cao tay nghề chuyên môn, góp phần gia tăng sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức giữa cấp trên

và cấp dưới Doanh nghiệp dễ tìm nhà quản quản trị chuyên môn, dễ đào tạo

Tuy nhiên, trong mô hình này thì một thuộc cấp có thể nhận quyết định từ nhiều nhà quản trị Các nhiệm vụ và quyết định được giao có thể bị chồng chéo, gây khó khăn cho người nhận và thực thi nhiệm vụ Do vậy, mô hình không đảm bảo nguyên tắc thống nhất chỉ huy trong quản trị; gây khó khăn trong việc phối hợp giữa các bộ phận,

Nhân viên Nhân viên

bán hàng

Nhân viên bán hàng

Công nhân sản xuất

Công nhân sản xuất

Trang 35

phòng/ban và các nhà quản trị là chuyên gia trong lĩnh vực hẹp sẽ khó khăn trong đào tạo và phát triển lên các vị trí cấp cao

Sơ đồ 2.2 Ví dụ mô hình cơ cấu tổ chức kiểu chức năng

2.2.4 Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu hỗn hợp

- Loại mô hình trực tuyến - chức năng

Sơ đồ 2.3 Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến - chức năng

Trang 36

Khi thiết lập loại mô hình cơ cấu trực tuyến - chức năng trong doanh nghiệp, các

bộ phận chức năng của doanh nghiệp thường được trao cho quyền hạn tham mưu, quyền trực tuyến chỉ tồn tại trong phạm vi trực thuộc bộ phận chức năng Các bộ phận chức năng thể hiện vai trò cung cấp thông tin, tư vấn, hỗ trợ các cấp trực tuyến về mặt chuyên môn của họ để các cấp trực tuyến ra quyết định Nhìn chung, mô hình này khắc phục được nhược điểm của mô hình cơ cấu trực tuyến và mô hình cơ cấu chức năng, đồng thời cũng phát huy ưu điểm của hai mô hình trên Theo mô hình này, cơ cấu được thiết lập đảm bảo nguyên tắc chuyên môn hóa và thống nhất chỉ huy

- Loại mô hình cơ cấu tổ chức kiểu ma trận

Hình 2.4 Mô hình cơ cấu tổ chức kiểu ma trận

Trong mô hình này thường hình thành các tuyến sản phẩm hay dự án, tạo ra một nhà quản trị ở cấp dự án hay sản phẩm Mô hình còn có tên gọi khác (mô hình ô bàn cờ) với các tuyến chức năng hoạt động theo chiều dọc và tuyến sản phẩm hay dự án hoạt động theo chiều ngang Cá nhân thuộc tuyến dự án/sản phẩm tuân thủ các quyết định của người quản lý ở bộ phận chức năng và các nhà quản trị tuyến dự án/sản phẩm Khi kết thúc dự án hay sản phẩm thoái lui khỏi thị trường, các thành viên trở về bộ phận chức năng ban đầu để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới

Mô hình này rất linh hoạt, dễ dàng thiết lập thêm các cấp dự án/sản phẩm và cũng

dễ dàng giải thể Thích hợp hợp đối với những doanh nghiệp quy mô lớn, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực Ví dụ, đối với các doanh nghiệp xây dựng có công trình ở nhiều địa phương, nhiều khu vực địa lý khác nhau, mỗi công trình sẽ hình thành một tuyến dự án Cho đến khi hoàn thành và bàn giao công trình thì tuyến đó sẽ được giải thể Cũng có thể thấy dạng mô hình này trong các doanh nghiệp thường xuyên phát triển sản phẩm

Trang 37

mới Khi các tuyến dự án/sản phẩm tận dụng được các nguồn lực có sẵn từ nhân sự chức năng sẽ mang lại chi phí sử dụng và đào tạo nhân lực tiết kiệm hơn

Phạm vi áp dụng mô hình hạn chế do chỉ phù hợp các doanh nghiệp lớn, đa ngành Ngoài ra, giống mô hình cơ cấu tổ chức kiểu chức năng, mô hình cơ cấu tổ chức kiểu ma trận cũng bị phá vỡ nguyên tắc thống nhất chỉ huy trong quản trị khi thuộc cấp phải nhận quyết định và tuân thủ chỉ đạo của cả lãnh đạo dự án/sản phẩm cũng như lãnh đạo cấp chức năng

2.3 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP CHỦ YẾU

2.3.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn

a Khái niệm

Là công ty do các thành viên góp vốn ngay khi thành lập công ty, được chia lãi theo vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn góp vào công ty, các thành viên được quyền chuyển nhượng vốn trong nội bộ công ty và được tham gia giải quyết các vấn đề quan trọng của công ty

b Đặc điểm

+ Về tư cách pháp lý: Có tư cách pháp nhân, được phát hành trái phiếu riêng lẻ

nhưng không có quyền phát hành cổ phần

+ Về thành viên: Thành viên của công ty có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng

không vượt quá 50 người

+ Về vốn góp: Vốn của công ty được chia từng phần gọi là vốn góp, không thể

hiện dưới hình thức cổ phiếu và được nộp đủ ngay từ khi thành lập công ty

+ Về chuyển nhượng: Được tự do chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên

nếu có sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ¾ vốn điều lệ của công ty

+ Về quyền tham gia: Nếu thành viên không quá 11 người thì tất cả đều có quyền

tham gia vào các vấn đề chủ chốt Nếu thành viên từ 12 người trở lên thì phải tiến hành đại hội đồng, bầu hội đồng quản trị và các kiểm soát viên Hội đồng quản trị có quyền quyết định các vấn đề chủ chốt của công ty

c Phân loại

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Là hình thức đặc biệt của công ty

trách nhiệm hữu hạn do một tổ chức hay một cá nhân là chủ sở hữu chịu toàn bộ trách nhiệm trước pháp luật

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên: Là hình thức công ty có

hai thành viên trở lên và không vượt quá 50 thành viên, chịu toàn bộ trách nhiệm trước pháp luật Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên bắt buộc phải có Chủ tịch hội đồng thành viên, Hội đồng thành viên, Giám đốc và có hoặc không có Ban kiểm soát

Trang 38

d Ưu điểm và nhược điểm

Ưu điểm: Công ty trách nhiệm hữu hạn có bốn ưu điểm chính như sau:

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Việt

Nam hiện nay, phù hợp với quy mô kinh doanh vừa và nhỏ

+ Các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn

+ Số lượng thành viên công ty không nhiều và các thành viên thường là người

quen biết nên độ tin cậy hay xử lý các công việc sẽ dễ dàng

+ Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên

Nhược điểm: Công ty trách nhiệm hữu hạn có ba nhược điểm chính sau:

+ Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác không cao,

gây khó khăn trong việc ký kết hợp đồng

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn

là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh

+ Công ty trách nhiệm hữu hạn không có quyền phát hành cổ phiếu nên việc huy

+ Về sở hữu: Cá nhân và tổ chức nắm giữ cổ phiếu của công ty trở thành chủ sở hữu của công ty, gọi là cổ đông

+ Về chuyển nhượng: Được tự do chuyển nhượng đối với cổ phiếu không ghi tên Các cổ phiếu ghi tên chỉ được được chuyển nhượng khi có sự đồng ý của hội đồng quản

Trang 39

trị Số cổ phiếu tối thiểu mà các thành viên hội đồng quản trị phải có sẽ không được chuyển nhượng trong suốt thời gian tại chức và trong thời hạn hai năm

+ Về trách nhiệm tài sản: Chịu trách nhiệm hữu hạn trong khoản vốn góp

+ Về huy động vốn: Có khả năng huy động vốn bằng phát hành chứng khoán Công ty có thể tăng vốn điều lệ bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu

c Phân loại

+ Thứ nhất là công ty cổ phần nội bộ: Là công ty chỉ phát hành cổ phiếu trong số những người sáng lập, cán bộ, công nhân viên trong công ty và các pháp nhân đơn vị trực thuộc cùng trong tập đoàn Cổ phiếu này là cổ phiếu ký danh, không được chuyển nhượng hoặc chỉ được chuyển nhượng khi được sự đồng ý của 3/4 thành viên sáng lập

Do vậy, việc tăng vốn là rất hạn chế nhưng được xem là giai đoạn “tích luỹ” để trưởng thành ở loại hình thứ hai

+ Thứ hai là công ty cổ phần đại chúng: Là công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu rộng rãi ra công chúng, bên cạnh những đối tượng nội bộ như ở loại hình công ty cổ phần nội bộ

+ Thứ ba là công ty cổ phần niêm yết: Là công ty cổ phần có niêm yết tại các sở giao dịch chứng khoán Đây thường là những công ty cổ phần hàng đầu của quốc gia, có

uy tín, danh tiếng, được hưởng nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh và huy động vốn

d Ưu điểm và nhược điểm

Ưu điểm: Công ty cổ phần có tám ưu điểm chính như sau:

+ Các cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn về nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi ro không cao

+ Khả năng huy động vốn rất cao thông qua phát hành cổ phiếu ra công chúng Đây là đặc điểm riêng biệt chỉ công ty cổ phần có

+ Công ty không hạn chế số lượng cổ đông và có thể huy động vốn trên cả thế giới Do vậy, công ty cổ phần có khả năng huy động vốn rộng rãi nhất

+ Cổ đông có thể dễ dàng, tự do chuyển nhượng, mua bán, thừa kế cổ phần thông qua việc bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

+ Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực ngành nghề

+ Việc hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu + Được tính lương, thưởng của các cổ đông góp vốn tại các vị trí quản lý vào chi phí hoạt động công ty để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp

+ Mọi quyết định trong việc kinh doanh cần thu thập ý kiến của các cổ đông nên rất minh bạch trong quản lý, điều hành

Trang 40

Nhược điểm: Công ty cổ phần có ba nhược điểm chính như sau:

+ Việc quản lý và điều hành Công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích

+ Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do công ty phải công khai

và báo cáo với các cổ đông

+ Việc quản lý, điều hành công ty cổ phần cũng phức tạp hơn đặc biệt là chế độ tài chính, kế toán

2.3.3 Doanh nghiệp nhà nước

a Khái niệm

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và

tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao

Theo quy định tại khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều

lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này

Ở nước ta, một số doanh nghiệp nhà nước tiêu biểu hiện nay là: Tập đoàn Điện lực Việt Nam; Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam; Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Hóa chất Việt Nam…

b Đặc điểm

So với loại hình doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp Nhà nước thường được cho

là kinh doanh kém hiệu quả và có lợi nhuận thấp hơn Một trong những lý do chính là doanh nghiệp Nhà nước thường phải chịu trách nhiệm của xã hội, hoạt động vì lợi ích của người dân, được thành lập để đối phó với những thất bại của nền kinh tế Do vậy, các doanh nghiệp Nhà nước thường có tâm lý chưa cố gắng tối đa hóa lợi nhuận như các doanh nghiệp tư nhân

Các doanh nghiệp Nhà nước có những đặc điểm nổi bật sau:

+ Về tư cách pháp lý: Có tư cách pháp nhân, có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với

các doanh nghiệp khác và hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn do doanh nghiệp quản lý

+ Về chủ đầu tư: Nhà nước đầu tư cùng với các tổ chức cá nhân khác

+ Về sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu vốn góp chi phối trên 50% vốn điều lệ hoặc sở hữu toàn bộ 100% vốn điều lệ

+ Về hình thức: Được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn

hoặc công ty cổ phần

Ngày đăng: 25/07/2023, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm