1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết khiếu nại, tố cáo - Phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

304 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết Khiếu nại, Tố cáo - Phương thức Bảo đảm Pháp chế và Kỷ luật Trong Quản lý Hành chính Nhà nước Ở Việt Nam Hiện nay
Tác giả Vũ Duy Duẩn
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Thị Hương, PGS.TS. Nguyễn Minh Mẫn
Trường học Học Viện Chính Trị - Hành Chính Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý Hành chính công
Thể loại Luận án tiến sĩ quản lý hành chính công
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 304
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải quyết khiếu nại, tố cáo - Phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH _

VŨ DUY DUẨN

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO - PHƯƠNG THỨC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ VÀ KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH _

VŨ DUY DUẨN

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO - PHƯƠNG THỨC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ VÀ KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Quản lý Hành chính công

Trang 3

MỤC LỤC Trang

LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined.

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT clxxviii DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN clxxix MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Những đóng góp mới của luận án 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5

7 Kết cấu của luận án 6

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền 7

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về quyền khiếu nại, tố cáo 8

1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về tài phán hành chính và kỷ luật hành chính 10 1.2 NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam 12

1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật khiếu nại, tố cáo và việc thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo 14

1.2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề giải quyết khiếu nại hành chính 17

1.2.4 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước, cải cách nền hành chính nhà nước, quyền công dân có liên quan đến nội dung đề tài luận án 19

1.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 20

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa 20

1.3.2 Những vấn đề đặt ra mà luận án phải tiếp tục giải quyết 22

Kết luận Chương 1 24

Trang 4

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ BẢO ĐẢM

PHÁP CHẾ, KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 25

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 25

2.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại 25

2.1.2 Tố cáo và thẩm quyền giải quyết tố cáo 34

2.2 PHÁP CHẾ VÀ BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ, KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 39

2.2.1 Quan niệm về pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước 39

2.2.2 Quan niệm về kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước 50

2.2.3 Bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước 52

2.2.4 Các phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước 54

2.3 VAI TRÒ CỦA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO ĐỐI VỚI BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ VÀ KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 67

2.3.1 Giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước 67

2.3.2 Giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm phát hiện, ngăn ngừa vi phạm pháp luật trong quản lý hành chính nhà nhà nước 69

2.3.3 Giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước 70

2.3.4 Giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm thu hút sự tham gia của quần chúng nhân dân vào hoạt động quản lý và giám sát hoạt động quản lý hành chính nhà nước 72

Kết luận Chương 2 75

Chương 3: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ, KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1999 ĐẾN NAY 77

3.1 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 77

3.1.1 Tình hình khiếu nại, tố cáo 77

3.1.2 Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo 95

3.2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ VÀ KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 107

3.2.1 Về xây dựng, ban hành pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo 107

3.2.2 Về tổ chức thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo 112

3.2.3 Về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo 118

3.2.4 Về phát hiện, xử lý kỷ luật thông qua công tác thanh tra giải quyết khiếu nại tố cáo 119

Trang 5

3.3 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ 122

3.3.1 Những ưu điểm 122

3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 126

3.3.3 Những khó khăn, vướng mắc 130

Kết luận Chương 3 132

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO NHẰM BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ, KỶ LUẬT TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 134

4.1 CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN 134

4.1.1 Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trên nguyên tắc đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động quản lý hành chính nhà nước 134

4.1.2 Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trên nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và hội nhập quốc tế 136

4.1.3 Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trên cơ sở bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước 139

4.2 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ 146

4.2.1 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế về giải quyết khiếu nại, tố cáo 146

4.2.2 Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và giải quyết khiếu nại, tố cáo 149

4.2.3 Tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các thiết chế của hệ thống chính trị trong giải quyết khiếu khiếu nại, tố cáo 151

4.2.4 Khắc phục những hạn chế trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhằm hạn chế khiếu nại, tố cáo 154

4.2.5 Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo 160

4.2.6 Nâng cao chất lượng chuyên môn cũng như đạo đức công vụ và trình độ công nghệ thông tin đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo 164

Kết luận Chương 4 165

KẾT LUẬN 166

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 168

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 169

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GS.TS HĐND KNTC KTNN NSNN PGS.TS TAND TTCP TTHC UBND UBKT VKSND VPCP XHCN

: Giáo sư, Tiến sĩ : Hội đồng nhân dân : Khiếu nại, tố cáo : Kiểm toán Nhà nước : Ngân sách nhà nước : Phó Giáo sư, Tiến sĩ : Tòa án nhân dân : Thanh tra Chính phủ : Tố tụng hành chính : Ủy ban nhân dân : Ủy ban kiểm tra : Viện kiểm sát nhân dân : Văn phòng Chính phủ : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Trang

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả công tác tiếp công dân từ năm 1999 đến năm

Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan

hành chính nhà nước từ năm 1999 đến năm 2013 95

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận Quyền khiếu nại, quyền tố cáo có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các quyền của công dân, quyền con người Thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo là thực hiện quyền dân chủ trực tiếp Một mặt, quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền tự vệ, phản kháng của công dân trước các hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền, lợi ích của họ; mặt khác, thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo công dân tham gia vào quá trình kiểm tra, giám sát xã hội, kiểm tra, giám sát hoạt động của các

cơ quan nhà nước

Thông qua khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, các cơ quan nhà nước tiếp nhận yêu cầu của công dân về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, đồng thời cảnh báo cho Nhà nước về những khiếm khuyết, bất cập của cơ chế, chính sách, về những yếu kém của hệ thống quản lý và đòi hỏi cần phải được khắc phục; cảnh báo về những vấn đề của xã hội và quản lý Công dân khiếu nại, tố cáo đối với những quyết định, hành vi trái pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc của người có chức vụ, quyền hạn nhất định hoặc các cá nhân trong xã hội; không chỉ nhằm bảo về quyền và lợi ích của họ trong một vụ việc cụ thể mà còn góp phần quan trọng vào bảo đảm quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự tuân thủ nghiêm minh pháp luật, tăng cường kỷ luật Nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cơ quan, tổ chức Mặc dù vậy, khi việc thực hiện các quyền này công dân luôn phải đối mặt với những thách thức về quyền, lợi ích bị ràng buộc bởi các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền: bởi yếu thế so sánh giữa một cá nhân với một tổ chức

Do vậy, có thể thấy rằng quyền khiếu nại, quyền tố cáo chỉ có thể được bảo đảm thực

sự trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định

Tuy nhiên trên thực tế, tình hình khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay vẫn diễn biến phức tạp với nhiều vụ việc diễn ra gay gắt, kéo dài, nhiều đoàn đông người đi khiếu nại và khiếu nại vượt cấp; đã xuất hiện khiếu nại, tố cáo có tổ chức hoặc do nhiều người cùng liên kết, gây sức ép đối với các cơ quan nhà nước, có trường hợp khiếu nại không đúng, tố cáo sai sự thật, cá biệt có trường hợp người khiếu nại, tố cáo có hành vi

vi phạm pháp luật, gây rối trật tự công cộng, hành hung người thi hành công vụ; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa được đảm bảo Các cơ quan quản lý Nhà nước có

Trang 9

thẩm quyền chưa quan tâm giải quyết khiếu nại, tố cáo Do đó, đơn khiếu nại, tố cáo tồn đọng có xu hướng tăng, tính chất vụ việc trở nên phức tạp, gây bức xúc trong xã hội Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có nơi, có vụ việc còn chậm trễ, thiếu khách quan làm giảm lòng tin của nhân dân với cơ quan chức năng của Nhà nước Mặt khác, trên thực tế, một bộ phận công dân có hiểu biết pháp luật nhưng do động cơ cá nhân đã cố tình tố cáo sai sự thật, khiếu nại đòi quyền lợi không chính đáng, vu khống nhằm mục đích bôi nhọ cán bộ lãnh đạo… làm cho tình hình thêm phức tạp Những hành vi này chưa được xử lý theo pháp luật dẫn đến công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo gặp nhiều khó khăn

Pháp chế và kỷ luật là những yếu tố cơ bản, cần thiết, có sự gắn kết hữu cơ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu lực, hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước Pháp chế và kỷ luật nghiêm minh là những đảm bảo thiết thực cho hiệu lực, hiệu quả tích cực của quản

lý hành chính nhà nước Bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước có nhiều phương thức khác nhau, trong đó giải quyết khiếu nại, tố cáo với những kết quả tích cực là một phương thức cơ bản Kết quả tích cực của giải quyết khiếu nại,

tố cáo gây được tác động kép: Một mặt đảm bảo được các quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm, bảo đảm duy trì ổn định trật tự xã hội, tạo dựng niềm tin của xã hội đối với chính quyền nhà nước Mặt khác nó tác động tích cực đến nhận thức của cán bộ, công chức cơ quan nhà nước

có thẩm quyền trong ban hành các quyết định hành chính, hành vi hành chính, hoặc kỷ luật, giúp các đối tượng này nâng cao năng lực, phẩm chất, trình độ, ý thức trách nhiệm,

ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện kỉ cương, đúng kỷ luật trong thực thi công vụ Từ

đó pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước được đảm bảo

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là bước đi có tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Đó là quá trình lâu dài với nhiều nội dung phải thực hiện Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là một nội dung quan trọng Như Văn Kiện Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X chỉ rõ: Việc xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải trên cơ sở "Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng hoàn thiện

cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền"

Trang 10

Thực trạng và những đòi hỏi trên đã và đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn nhu cầu bức thiết phải giải đáp những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với pháp luật khiếu nại, tố cáo và thực thi pháp luật khiếu nại, tố cáo phù hợp với những yêu cầu của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

Trước thực trạng trên, để góp phần thực hiện nghiêm minh pháp luật khiếu nại,

tố cáo, nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đảm bảo pháp chế

và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước tôi chọn đề tài “Giải quyết khiếu nại, tố cáo - Phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước

ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu sinh quản lý hành chính công

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích của luận án

Mục đích của luận án là nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của luận án

- Làm rõ các khái niệm có liên quan đến khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước

- Phân tích thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 1999 đến nay, có so sánh với các giai đoạn trước để làm rõ mối quan hệ và vai trò của giải quyết khiếu nại,

tố cáo trong bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính

- Chỉ rõ sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm tăng cường pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước

- Đưa ra quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay ở nước ta hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Giải quyết quyết khiếu nại tố cáo là phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề giải quyết khiếu nại, tố cáo dưới góc độ là một trong những phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước từ khi có Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1999 đến nay

Trang 11

Để có cơ sở giải quyết vấn đề nêu trên luận án dành sự nghiên cứu thích đáng cho việc nghiên cứu cơ sở lý luận về giải quyết khiếu nại, tố cáo; Các phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước; Vai trò của giải quyết khiếu nại,

tố cáo đối với bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước

- Về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu việc khiếu nại tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong khoảng thời gian từ năm 1999 đến nay

- Về không gian: Luận án nghiên cứu việc khiếu nại tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên phạm vi cả nước

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận về việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm khoa học của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về đường lối đổi mới, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính về bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Đồng thời tác giả có tham khảo và kế thừa có chọn lọc một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học

Các phương pháp tác giả sử dụng trong luận án gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh…

Trong Chương 2, để làm sáng tỏ nội dung các quan niệm, đặc điểm của "khiếu nại", "khiếu nại hành chính", "giải quyết các khiếu nại hành chính" “tố cáo”, “giải quyết

tố cáo” ; đánh giá sự tác động của "giải quyết khiếu nại, tố cáo" đến bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước luận án sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích, so sánh, diễn dịch Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, diễn dịch, quy nạp ; ở Chương 3 luận án làm rõ cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo ở nước ta thời gian qua, làm rõ nguyên nhân của khiếu nại, tố cáo, đánh giá nhận xét những tác động của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đến việc bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước; ở Chương 4, trên cơ sở sử dụng các phương pháp phân tích, diễn dịch, quy nạp, so sánh luận án làm rõ những yêu cầu khách quan và chủ quan cần phải đổi mới cơ chế, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo đáp ứng yêu cầu trong thời gian tới, góp phần vào việc tăng cường pháp chế và kỷ luật,

Trang 12

nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước

5 Những đóng góp mới của luận án

Với mục đích và nhiệm vụ nêu trên, những nội dung sau đây là những đóng góp mới của luận án:

- Làm rõ được giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong các phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước

- Làm rõ vai trò của giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước;

- Đánh giá toàn diện về khiếu nại, tố cáo , giải quyết khiếu nại, tố cáo ở nước ta

từ năm 1999 đến nay, đặc biệt là phần đánh giá những hạn chế, tồn tại của cơ chế, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay và chỉ ra xu hướng vận động của hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn tới;

- Đưa ra những quan điểm và một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án là những bổ sung quan trọng vào sự phát triển của lý luận về quản lý hành chính công, góp phần nâng cao nhận thức về khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính, tố cáo, giải quyết tố cáo Với ý nghĩa đó, luận án góp phần:

- Thống nhất một số nhận thức cơ bản về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; làm rõ vai trò của giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với bảo đảm pháp chế và

kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước;

- Khái quát thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo ở nước ta thời gian qua, chỉ ra được những nguyên nhân, tồn tại dẫn đến khiếu nại, tố cáo, những hạn chế bất cập trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo;

- Cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế, quy trình công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm góp phần bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay;

- Luận án có thể làm tài liệu khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, những người làm công tác thực tế và sinh viên, học viên trong các cơ sở đào tạo cử nhân hành chính, cử nhân luật, các trường đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ Đảng và Nhà nước

Trang 13

7 Kết cấu của luận án

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm

có 4 chương, cụ thể:

- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

- Chương 2: Cơ sở lý luận về giải quyết khiếu nại, tố cáo và bảo đảm pháp chế,

kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước

- Chương 3: Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo và bảo đảm pháp chế, kỷ

luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam từ năm 1999 đến nay

- Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố

cáo nhằm bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền

Xét nhà nước và pháp luật với nghĩa là hai vấn đề cơ bản của lý luận chung

về nhà nước và pháp luật: Nhà nước là chủ thể trong quan hệ "bình đẳng" với các chủ thể khác; pháp luật không chỉ là quy tắc để Nhà nước quản lý xã hội mà trước hết là quy tắc cho Nhà nước tổ chức và quản lý nhà nước Mối quan hệ vốn có giữa nhà nước

và pháp luật càng được thể hiện sâu sắc hơn khi xem xét chúng trên quan điểm của nhà nước pháp quyền Bởi lẽ, nói đến nhà nước pháp quyền là định hướng xem xét vai trò của pháp luật với tính chất là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước và bảo đảm sự thống trị của quyền lực nhà nước trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền công dân, quyền con người

Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1998), (Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi) [150] cho rằng Nhà nước pháp quyền là phương thức thống nhất quyền lực

để bảo vệ quyền con người, quyền công dân Trong đó pháp luật giữ địa vị thống trị; có

sự phân công quyền lực nhằm chống lại sự lạm quyền Nghiên cứu cũng dẫn chiếu đến một quan niệm khác cho rằng khi nói Nhà nước pháp quyền là đề cập đến sự ngự trị của pháp luật trong xã hội với tư cách là ý chí của nhân dân Nhà nước pháp quyền là đòi hỏi tất yếu của quá trình dân chủ, quá trình phát triển hoàn thiện nhà nước trong quan hệ pháp lý với công dân, là quá trình xác lập sự kiểm soát nhà nước nhằm bảo đảm quyền công dân, quyền con người

Nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á (2003) (Phục vụ và duy trì cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh) [153], (khi nghiên cứu về nhà nước pháp quyền trong mối quan hệ với nhân dân) đã tổng kết: Nhà nước pháp quyền

đã được nhắc đến mỗi khi các nhà khoa học pháp lý cũng như các chính trị gia xem xét, đánh giá mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, nhà nước và công dân; xem xét đến các phương thức bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về Nhà nước pháp quyền Có quan điểm cho rằng Nhà nước pháp quyền được hiểu là xác lập một trật tự pháp luật trong điều chỉnh quan hệ xã hội; pháp luật tổ chức nhà nước, do vậy nhà nước nào thừa nhận sự phân công quyền

Trang 15

lực, sự phục tùng vào pháp luật thì đó là Nhà nước pháp quyền Nhà nước pháp quyền

là xác lập chế độ pháp trị thay cho nhân trị Nhà nước pháp quyền là sự lựa chọn, thừa nhận phương thức trị nước bằng pháp luật Do đó, Nhà nước pháp quyền là sự thắng thế của tư tưởng, triết lý pháp trị; Nhà nước pháp quyền với chế độ pháp trị là hai tên gọi khác nhau của cùng một nội dung

Nhà nước pháp quyền với các chế độ chính trị khác nhau được thiết lập những

mô hình tổ chức quyền lực khác nhau Song giữa chúng luôn có những điểm chung là vươn đến tự do của loài người, là sự cố gắng một cách có ý thức nhằm ngăn chặn một nhà nước bạo lực, buộc nhà nước phải tôn trọng pháp luật và các quyền con người Bởi vậy, khi xem xét một cách tổng thể về các quan hệ xã hội mà pháp luật khiếu nại, tố cáo bảo vệ và những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền cho thấy việc hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện những nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền

Nghiên cứu của nhóm tác giả Konrad - Adenaur - Sfiftung (2002) [191] Từ các quan niệm khác nhau về nhà nước pháp quyền đã tìm hướng tiếp cận theo những đặc trưng, giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền Chẳng hạn, năm yếu tố và giá trị phổ biến của Nhà nước pháp quyền là dựa trên nền tảng của chủ nghĩa lập hiến; pháp luật giữ địa vị chi phối và có hiệu lực pháp lý tối thượng trong xã hội, bảo đảm nguyên tắc phân quyền và sự độc lập của tư pháp; pháp luật phải được áp dụng công bằng, nhất quán, phải bảo đảm tính công khai, minh bạch dễ tiếp cận, áp dụng kịp thời; tôn trọng

và bảo vệ quyền công dân và quyền con người Trong một công trình khác nhóm tác giả này lại nêu ra tám đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp quyền là: có hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảo đảm tính đồng bộ để thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật; xác định cơ chế hữu hiệu để bảo đảm tính tối cao của luật; pháp luật mang tính pháp lý cao, công bằng, nhân dân đạo, tất cả vì lợi ích của con người, nhà nước và công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; quyền tự do dân chủ và lợi ích chính đáng của con người được bảo đảm; quyền lực nhà nước được tổ chức, phân công khoa học; tồn tại trên cơ

sở một xã hội công dân; thực hiện các cam kết quốc tế

1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về quyền khiếu nại, tố cáo

Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (1999), (Bước vào thế kỉ 21) [151] Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân trong việc tiếp nhận và thỏa mãn những nhu cầu hợp pháp của công dân đã cho rằng; Pháp luật về khiếu nại, tố cáo quy định việc tiếp công dân nhằm mục đích tiếp nhận khiếu nại, tố cáo nhưng thực tế

Trang 16

không phải chỉ diễn ra như vậy Khi đến nơi tiếp công dân, người khiếu nại, tố cáo có thể đưa khiếu nại, tố cáo hoặc phản ánh, kiến nghị, thắc mắc về tất cả những vấn đề liên quan đến các mặt của đời sống xã hội Tiếp dân là kênh giao tiếp để người dân có thể góp ý, hiến kế, phản ánh kiến nghị, các cơ quan, tổ chức có thông tin phản hồi về hệ thống và công tác điều hành quản lý của mình Do còn có những nhận thức rất khác nhau về mục đích, ý nghĩa của công tác tiếp dân, cho nên việc tiếp công dân hiện nay chưa được tổ chức với một mô hình thống nhất giữa trung ương và địa phương Thông tin về tiếp công dân còn phân tán, chưa được quản lý thống nhất, chưa được phân tích

xử lý triệt để phục vụ yêu cầu quản lý của các cơ quan, tổ chức và phục vụ yêu cầu đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật Tình trạng người khiếu nại, tố cáo không biết gửi đơn ở đâu là đúng thẩm quyền, phải đi lại đến nơi tiếp công dân nhiều lần; công dân không nhận được tư vấn kịp thời và thuận lợi tại nơi tiếp công dân chủ yếu làm công việc hướng dẫn chuyển đơn và không tiếp nhận xử lý các kiến nghị, phản ánh, thắc mắc còn là hiện tượng phổ biến

Từ kinh nghiệm các nước trên thế giới trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, nghiên cứu khuyến cáo, một số công dân có nhiều thông tin và tích cực phản ánh về hành động của lãnh đạo, chính quyền thì việc giám sát sẽ tốt hơn Từ đó, đòi hỏi lãnh đạo phải có thái độ trung thực hơn

Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (2002), (Kiềm chế tham nhũng hướng tới một mô hình xây dựng sự trong sạch quốc gia) [152] Khi nghiên cứu về cách thức kiềm chế để đi đến giải quyết có hiệu quả nạn tham nhũng đã cho rằng: Quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền dân chủ trực tiếp Dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân Nó là một phương thức tổ chức quyền lực và là biện pháp để kiểm soát quyền lực Dân chủ còn được nhận biết về ý nghĩa là nội dung của quyền con người Theo ý nghĩa đó, dân chủ được coi là một tiêu chí để xem xét những tiến bộ của thời đại, của các thể chế chính trị Quan hệ giữa Nhà nước và công dân hiện nay hầu hết được nhìn nhận trong các giá trị về bảo đảm dân chủ, cụ thể là việc xem xét đến giới hạn can thiệp của Nhà nước đối với các quyền cơ bản của công dân, giới hạn các quyền

tự do của công dân trong mối quan hệ với quản lý nhà nước cùng với việc bảo đảm các điều kiện cho công dân thực hiện các quyền cơ bản của mình

Nghiên cứu của nhóm tác giả Jen - Michel De - Forger (1995), (Luật Hành chính) [190], khi bàn về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính đã cho rằng Việc pháp luật ghi nhận khiếu nại, tố cáo là những quyền cơ bản của công dân có

Trang 17

ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố địa vị pháp lý của công dân trong quan hệ với các cơ quan công quyền, trong việc hỗ trợ, bảo đảm thực tế cho quyền tự do, quyền dân chủ của con người Ghi nhận quyền khiếu nại, quyền tố cáo là quyền cơ bản cũng là việc Nhà nước thừa nhận sự phản kháng theo pháp luật của công dân trước việc làm trái pháp luật Về bản chất, khiếu nại, tố cáo phản ánh mối quan hệ giữa công dân, cơ quan,

tổ chức với Nhà nước hoặc giữa công dân, cơ quan, tổ chức với nhau thông qua việc đòi hỏi về sự can thiệp của Nhà nước Khiếu nại, tố cáo là sự phản chiếu mức độ đúng đắn của chính sách pháp luật, thước đo về sự hài lòng của dân chúng đối với cơ quan công quyền và thước đo về thái độ của công dân đối với chế độ

1.1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về tài phán hành chính và kỷ luật hành chính

Xét trên khía cạnh dân chủ thì tài phán hành chính và kỷ luật hành chính là một

cơ chế bảo đảm quyền dân chủ bằng cách cho phép công dân có thể chống lại (phản đối) các quyết định hoặc hành vi hành chính của các cơ quan công quyền và công chức

đã lạm quyền, vi phạm pháp luật làm thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Từ khía cạnh trên đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới tiêu biểu như:

Nghiên cứu của tác giả Francis Lamy với tựa đề Tài phán hành chính ở cộng hòa Pháp được trình bày tại hội thảo Việt Pháp về Tòa án hành chính - Hà Nội, 1994 [187] Khi tập trung nghiên cứu về tài phán hành chính tác giả nhận xét: việc trao quyền xét xử các tranh chấp hành chính cho chính bản thân cơ quan hành chính lại dẫn đến một hậu quả đương nhiên là làm lẫn lộn chức năng hành chính và chức năng tài phán

do có hai điểm hạn chế rõ ràng sau:

Một là, các nhà hành chính nhiều khi không phải là các luật gia vì thế phán

quyết của họ không phải lúc nào cũng chính xác về phương diện pháp lý

Hai là, quan trọng hơn là cơ quan hành chính vừa là người bị kiện lại vừa là

người xử kiện, vừa là thẩm phán lại vừa là đương sự, họ là người có quyền phán xét hành vi của chính mình hoặc của cấp dưới, như vậy rõ ràng không thể bảo đảm tính công bằng và vô tư trong quá trình giải quyết vụ kiện Để hạn chế sự bất hợp lý đó ông đưa ra một nguyên tắc của nền hành chính, đó là nguyên tắc phân chia hành chính quản

lý và hành chính tài phán với lý lẽ: Nền hành chính quốc gia là thống nhất gồm hai hoạt động:

Trang 18

- Hành chính quản lý hay hành chính điều hành tức là toàn bộ hoạt động thường ngày của cơ quan hành chính trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

- Hành chính tài phán là hoạt động xem xét tính hợp pháp của các hành vi hành chính thông qua việc giải quyết các khiếu kiện của người dân khi họ phản đối các quyết định của cơ quan hành chính

Hai bộ phận này nhìn bề ngoài có vẻ mâu thuẫn nhau nhưng thực ra đều có mục đích chung là làm cho bộ máy công quyền ngày càng hoàn thiện hơn, tính kỷ luật và chịu trách nhiệm trong quản lý hành chính sẽ cao hơn nhất là trong quá trình ra quyết định hành chính cũng như tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân

Nghiên cứu, Những cơ sở của tài phán hành chính ở Cộng hòa Liên bang Đức của tác giả Karl-Peter Sommermann được chính tác giả trình bày tại Hội thảo Việt Nam - Đức về Tòa án hành chính - Hà Nội, 1994 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Khi các đạo luật thực hiện chức năng của mình với tư cách là phương tiện chống lại sự chuyên chế của nhà nước thì tất nhiên cũng phải tìm kiếm những phương tiện nhằm thi hành đạo luật đó về mặt thực tế Có nghĩa rằng phải có một cơ chế để kiểm soát hoạt động của bộ máy nhà nước bảo đảm hoạt động của nó theo đúng khuôn khổ của pháp luật cho phép, không được lạm quyền, lộng quyền Điều đó đòi hỏi tất yếu phải có hoạt động tài phán hành chính Do đó cần thiết phải có Tòa án hành chính độc lập với hoạt động điều hành của cơ quan hành chính

Một tác phẩm khác có nhan đề Nhà nước pháp quyền của tác giả Otto Beahr, xuất bản tại Đức năm 1964 đã viết: pháp luật và đạo luật chỉ có thể giành được ý nghĩa

và quyền lực thực sự ở nơi nó sẵn sàng tìm thấy sự phán quyết về việc thi hành chúng Ông đưa ra một câu hỏi mang tính bản chất của việc xử lý các khiếu kiện hành chính là: Khi đã đi đến một quyết định cơ bản là cần thiết phải tổ chức việc kiểm tra hoạt động hành chính theo con đường tòa án thì cùng với nó sẽ đặt ra vấn đề: việc kiểm tra này sẽ giao cho các tòa án “thường” hay tòa án “chuyên trách” về hành chính Câu hỏi này đã được trả lời bằng việc thành lập các tòa án chuyên trách ở Đức sau này

Qua nghiên cứu về tài phán hành chính (mô hình ở một số nước) cho thấy tổ chức cơ quan tài phán hành chính ở các nước trên thế giới rất khác nhau nhưng về tổng quát, có thể phân ra làm mấy hệ thống cơ bản sau đây:

* Pháp và một số nước theo mô hình Pháp: Có các Toà án hành chính độc lập nhưng gắn bó chặt chẽ với nền hành chính quốc gia thông qua việc giao thêm cho Toà

án hành chính chức năng tư vấn pháp lý, nhất là ở trung ương Cùng với Pháp là các

Trang 19

nước: Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Bỉ, Italia, Ai Cập, Côlômbia

* Một số nước có hệ thống cơ quan tài phán hành chính chỉ làm nhiệm vụ xét xử hành chính Đó là: Cộng hoà liên bang Đức, Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo, Bồ Đào Nha, Mêhicô…

* Một số nước chọn giải pháp trung gian: Toà án hành chính không tổ chức thành hệ thống độc lập mà thành các toà án chuyên trách về hành chính trong hệ thống Toà án thường như ở Trung Quốc, Inđônêxia, Bênanh, Cônggô, Bờ biển Ngà, Mađagaxca, Môritani, Nigiênia, Xênêgan, Tôgô…

* Ở các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ: Toà án thường có chức năng tài phán hành chính, ngoài Anh, Mỹ có các nước Ailen, Aixơlen, Nauy, Đan Mạch, Canađa, Síp, Nigênia, Irắc, Ixraen Một số nước Đông Nam Á ảnh hưởng Mỹ cũng theo

hệ thống này

Việc lựa chọn mô hình tổ chức cơ quan tài phán hành chính ở mỗi nước căn cứ vào nhiều yếu tố và hoàn cảnh cụ thể Cách thức tổ chức có thể thích hợp với nước này nhưng lại không thể áp dụng với nước khác hoặc ngược lại Tuy nhiên, qua khảo sát thực tiễn hoạt động xét xử các vụ kiện về hành chính ở một số nước, có thể nhận thấy rằng, mỗi mô hình tổ chức đều có những ưu điểm và hạn chế của nó

1.2 NHÓM CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Những vấn đề về pháp luật khiếu nại, tố cáo và bảo đảm pháp chế trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam là những chủ đề giành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về khoa học pháp lý và các nhà hoạt động thực tiễn ở nước ta trong những năm gần đây Có thể chia các công trình nghiên cứu về những chủ để trên thành các nhóm sau:

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

Nhà nước pháp quyền và bảo đảm pháp chế là vấn đề giành được sự quan tâm sâu, rộng của các nhà khoa học pháp lý trong và ngoài nước Ở Việt Nam từ sau những năm 1990 trở lại đây, việc nghiên cứu về nhà nước pháp quyền trở thành cấp thiết Các công trình thuộc nhóm này được thể hiện trong những bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, các giáo trình đào tạo luật học và các tài liệu chuyên khảo như:

- "Nhà nước pháp quyền - một hình thức tổ chức nhà nước", PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6 (7/2001): trong nghiên cứu này tác giả

Trang 20

đi sâu nghiên cứu phân tích những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền trong đó

có sự so sánh, phân tích từ lý luận đến thực tiễn trong xây dựng nhà nước pháp quyền qua đó đưa ra những nhận xét mang tính khoa học về sự cần thiết phải xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bởi đây được xem như là một hình thức tổ chức nhà nước đáp ứng những yêu cầu về thực hiện dân chủ trong hoạt động quản lý nhà nước cũng như phát huy quyền làm chủ của nhân dân [117]

- "Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng", GS.TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2001; "Nhận diện Nhà nước pháp quyền", PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2002; "Về tư tưởng Nhà nước pháp quyền và khái niệm Nhà nước pháp quyền" PGS.TS Lê Minh Tâm, Tạp chí Luật học, số 2/2002; "Học thuyết Nhà nước pháp quyền, một vấn đề trong lịch sử hình thành và phát triển", TS Lê Cảm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2002; "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng", Tô Xuân Dân, Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Cộng sản, số 4 tháng 2/2004; Các công trình nghiên cứu này chủ trương tìm hiểu và cắt nghĩa về những đặc trưng có bản của nhà nước pháp quyền, sự cần thiết phải xây dựng nhà nước pháp quyền là cơ sở

để thực hiện dân chủ trong quản lý nhà nước đồng thời nhấn mạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền và pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ trọng tâm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân Các nghiên cứu này đều thống nhất về mặt tư tưởng là xây dựng nhà nước pháp quyền phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong chế độ nhân dân làm chủ, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện chủ yếu bằng thiết chế quyền lực nhà nước Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn xã hội cũng chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thật

sự của dân, do dân, vì dân, trong sạch, vững mạnh, quản lý có hiệu lực, hiệu quả cao trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối nội, đối ngoại của đất nước luôn là mối quan tâm, là nhiệm vụ hàng đầu của Ðảng và nhân dân ta

- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa", GS.TS Hoàng Văn Hảo, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2004: trong nghiên cứu này tác giả đi sâu nghiên cứu hệ thống các tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đồng thời tác giả đã có những đánh giá, nhận xét về việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay qua đó chỉ ra những cách thức cơ bản để xây dựng nhà nước pháp quyền trong tình hình mới đồng thời nêu ra một số

Trang 21

biện pháp, cách thức để thực hiện và bảo đảm pháp chế trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay

- "Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật - Nhiệm vụ trọng tâm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân", PGS.TS Trần Ngọc Đường, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7/2004: trong nghiên cứu này tác giả đưa ra khuyến nghị cần thường xuyên tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức trong các tầng lớp nhân dân, để nhân dân biết và nghiêm chỉnh thi hành Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra Kịp thời thưởng phạt nghiêm minh theo đúng pháp luật, để pháp luật ngày càng đi vào cuộc sống

- Ngoài ra còn có một số nghiên cứu như; "Bàn về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta", PGS.TS Phạm Hồng Thái - Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3/2005, cuốn "Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Chương VII, Chương IX", Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội 2005 [167]; cuốn "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" TS Trần Hậu Thành, Nxb Chính trị, Hà Nội 2005; cuốn "Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", GS.TSKH Đào Trí Úc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005; cuốn "Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" GS.TSKH Đào Trí Úc (Chủ biên), Nxb Tư pháp, Hà Nội 2006 : phần lớn các nghiên cứu này đi nghiên cứu khảo nghiệm về cả hai phương diện lý luận và thực tiễn trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, trong đó phần lớn các nghiên cứu đều có nhận xét là muốn xây dựng thành công nhà nước pháp quyền trước hết cần nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật đồng thời cải thiện khả năng tổ chức triển khai thực hiện luật của các cơ quan nhà nước đặc biệt là khả năng tổ chức triển khai thực hiện của các cơ quan hành chính nhà nước trên cở sở mọi hoạt động đều hướng đến mục tiêu phục vụ nhân dân, phát huy quyền làm chủ nhân dân trong đó có bàn đến quyền được khiếu nại, tố cáo của nhân dân và trách nhiện của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết kịp thời những kiến nghị hợp pháp của công dân

1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật khiếu nại,

tố cáo và việc thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo

Nhóm này bao gồm các công trình nghiên cứu:

Trang 22

- Bài "Những yêu cầu đặt ra trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về KNTC", Phạm Văn Khanh, Tạp chí Thanh tra, số 9/1999; "Việc giải quyết khiếu nại của công dân trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước sau khi Tòa án hành chính được thiết lập", Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ); Đề tài Nghiên cứu khoa học năm 1996, 2004; "Xây dựng quy trình nghiệp vụ giải quyết khiếu nại hành chính", Thanh tra Nhà nước (nay là Thanh tra Chính phủ)

- Một số giáo trình phục vụ nghiên cứu và giảng dạy có đề cập đến KNTC và giải quyết KNTC như: cuốn "Tìm hiểu Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân", PGS.TS Lê Bình Vọng, Nxb Pháp lý, Hà Nội 1991; cuốn "Kỉ yếu Bác Hồ với Thanh tra", Thanh tra Nhà nước, Nxb Thống kê, Hà Nội 1991; cuốn "Giải đáp Luật hành chính Việt Nam, Chương XIX", TS Phạm Hồng Thái và TS.Đinh Văn Mậu, Nxb TP

Hồ Chí Minh 1996; cuốn "Tìm hiểu pháp luật về khiếu nại, tố cáo" PGS.TS Phạm Hồng Thái (Chủ biên), Nxb TP Hồ Chí Minh 2003; cuốn "Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ và cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam", Viện khoa học Thanh tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2004; cuốn "Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Chương XXI, Chương XXII", Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2005

- Một số luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ luật học có liên quan như: Luận văn thạc sỹ luật học của Phạm Văn Long, năm 2002: "Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay [142]; Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Trần Văn Sơn (2006):

"Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay" [161]…

Các nghiên cứu này có nội dung cơ bản sau:

+ Chiếm đại bộ phận là các công trình nghiên cứu về khiếu nại, tố cáo từ góc độ của pháp luật hành chính Tập trung nghiên cứu phân tích, lý giải những vấn đề thực tiễn thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo hiện hành; về tăng cường pháp chế; về đổi mới tổ chức, bộ máy giải quyết khiếu nại, tố cáo; về đổi mới quy trình thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo; cơ chế, phương thức nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật… + Một số công trình đã có nhiều nội dung phân tích, đề cập đến pháp luật khiếu nại, tố cáo từ nhãn quan của lý luận chung, tuy nhiên các kết quả đạt được cũng mới dừng lại ở việc tìm hiểu về vấn đề này

+ Một số công trình nghiên cứu có định hướng cụ thể vào hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo nhưng kết quả đạt được còn hạn chế, chưa thực sự xem xét việc pháp

Trang 23

luật khiếu nại, tố cáo từ góc độ của nhà làm luật, người xây dựng và hoàn thiện pháp luật mà vẫn còn bị cuốn hút bởi việc thực thi pháp luật khiếu nại, tố cáo trong tình hình hiện nay

Nhìn chung các công trình nghiên cứu các vấn đề về pháp luật khiếu nại, tố cáo hoặc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam với tư cách là những đề tài riêng biệt Trong quá trình phân tích các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng đây chủ yếu là những công trình nghiên cứu về pháp luật

Ngoài ra còn có một số các nghiên cứu khác như:

- “Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Lương Thanh Cường Nội dung luận văn tập trung nghiên cứu lý luận về quyền khiếu nại, tố cáo Sự hình thành, phát triển của pháp luật

về quyền khiếu nại, tố cáo ở nước ta Thực trạng khiếu nại tố cáo ở nước ta từ 1999 đến nay Đồng thời luận văn đưa ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo [17]

- “Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật của Mai Thị Chung (2001) Nội dung luận văn tập trung làm rõ những quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo của công dân, cũng như vai trò, thực trạng và vấn đề hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước

ta [16];

- "Quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Cao Mạnh Linh (2006) Nội dung luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền giám sát của Quốc hội, thực trạng giám sát của Quốc hội và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền giám sát của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân [141]

- “Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Luận án tiến sỹ luật học của tác giả Ngô Mạnh Toan (2008) Nội dung luận án tập trung giải quyết vấn đề hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo từ những yêu cầu của xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa [172]

- "Phân biệt khiếu nại hành chính với khiếu kiện hành chính", Vũ Trọng Hách, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3 năm 2008 Bài viết của tác giả tập trung phân tích làm

rõ những đặc điểm chung và khác nhau giữa khiếu nại hành chính và khiếu kiện hành

Trang 24

chính, tránh nhận thức nhầm lẫn giữa hai quyền này trong hoạt động thực tiễn và trong thực hiện quyền khiếu nại và quyền khiếu kiện [128]

- "Đổi mới công tác tiếp dân trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo", Luận văn thạc sĩ Luật của Trần Thị Thúy Mai (2010) Nội dung luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận

về tiếp công dân, thực trạng công tác tiếp dân, quan điểm, giải pháp đổi mới công tác tiếp dân trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính [146]

1.2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề giải quyết khiếu nại hành chính

1.2.3.1 Nhóm các đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật học

và chuyên ngành hành chính công đề cập đến việc giải quyết khiếu nại của công dân

- “Tăng cường hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thế Thuấn (2001) Nội dung luận án tập trung phân tích làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý của quyền khiếu nại, tố cáo và hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tham số

và các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; thực trạng pháp luật và kết quả, tồn tại, nguyên nhân trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước; hệ thống các giải pháp cơ bản tăng cường hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân [171]

- "Thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành chính nhà nước", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Nguyễn Thị Minh Hà (2002) Nội dung luận văn tập trung làm rõ thẩm quyền giải quyết KNTC của cơ quan hành chính nhà nước đề và vấn

đề hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả về giải quyết khiếu nại, tố cáo [127]

- "Vai trò của các cơ quan Thanh tra nhà nước trong giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Nguyễn Văn Kim (2004) Luận văn tập trung làm rõ cơ sở pháp luật, vai trò và các giải pháp nâng cao vai trò của các

cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại hành chính [137]

- "Một số giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại nhằm bảo đảm các quyền công dân" (qua thực tiễn tỉnh Đồng Nai), Luận văn cao học hành chính công của tác giả Phan Văn Châu (2004) Nội dung luận văn tập trung làm rõ việc giải quyết khiếu nại - phương thức bảo đảm quyền công dân; thẩm quyền, thủ tục giải quyết khiếu nại; thực trạng khiếu nại và giải quyết khiếu nại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại ở Đồng Nai [106]

- "Nâng cao năng lực của công chức hành chính nhà nước trong giải quyết khiếu

Trang 25

nại", Luận văn cao học quản lý hành chính công của tác giả Hoàng Ngọc Dũng (2006) Nội dung luận văn tập trung làm rõ cơ sở pháp lý về giải quyết khiếu nại hành chính, về khái niệm, thực trạng và các giải pháp nâng cao năng lực của công chức hành chính trong giải quyết khiếu nại hành chính [118]

- "Giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta hiện nay", Luận văn cao học chuyên ngành quản lý hành chính công của tác giả Trương Tiến Dũng (2007) Nội dung luận văn tập trung làm rõ tình hình khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai, nêu rõ các nguyên nhân, tồn tại trong quá trình giải quyết khiếu nại về đất đai và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai [119]

- "Giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Hải Dương hiện nay", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Nguyễn Hoài Thoa (2007) Nội dung luận văn tập trung làm rõ vấn đề khiếu nại về đất đai và việc giải quyết khiếu nại

về đạt đai, các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh Hải Dương [169]

- “Hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước ở Ninh Bình hiện nay", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thơm (2009) Nội dung luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo, pháp luật về khiếu nại, tố cáo; thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Ninh Bình; phương hướng hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo ở tỉnh Ninh Bình [170]

1.2.3.2 Nhóm các tác phẩm, đề tài khoa học liên quan đến giải quyết khiếu nại

- "Giải quyết khiếu tố của nhân dân - thực trạng và những bài học kinh nghiệm",

Đề tài khoa học cấp bộ do Tiến sĩ Nguyễn Văn Mạnh chủ nhiệm (1998-1999) Nội dung đề tài tập trung làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý về quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân, tình hình giải quyết khiếu nại và các kinh nghiệm, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương [145]

- "Một số vấn đề đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam", của tiến sĩ Nguyễn Văn Thanh - luật gia Đinh Văn Minh, Nxb Tư pháp, Hà Nội

2004 Nội dung cuốn sách tập trung đề cập đến khiếu kiện hành chính (nghĩa rộng - khiếu nại hành chính và khiếu kiện hành chính), thực trạng và vấn đề đổi mới cơ chế nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu kiện hành chính của công dân [149]

Trang 26

- Ngoài ra còn một số công trình khác tiếp cận về khiếu nại và giải quyết khiếu nại nhưng chỉ đề cập tới từng nội dung cụ thể về khiếu nại, giải quyết khiếu nại

1.2.4 Nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước, cải cách nền hành chính nhà nước, quyền công dân có liên quan đến nội dung đề tài luận án

1.2.4.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về bản chất nhà nước, quyền công dân, trong đó có quyền khiếu nại

- "Về quyền con người và quyền công dân", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả

Võ Gia Phúc (1995) Nội dung luận văn tập trung làm rõ quyền con người và quyền công dân theo pháp luật Việt Nam, trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo [154]

- "Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của nhà nước ta", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Nguyễn Xuân Chiến (1996) Nội dung luận văn tập trung làm rõ tư tưởng

Hồ Chí Minh về một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [107]

- "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tây", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Bùi Thị Phương Liên (2006) Luận văn tập trung làm rõ nội dung Quy chế dân chủ ở cơ sở qua thực tế địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ) và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở [140]

- "Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay" của PGS.TS Bùi Xuân Đức, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2007 Tác giả cuốn sách đi sâu phân tích quan điểm, nguyên tắc cải cách bộ máy nhà nước (trong đó có cải cách bộ máy hành chính nhà nước), luận giải những phương hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN [123]

- "Bộ máy hành chính các nước ASEAN trong cải cách hành chính", Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Nguyễn Thị Hồ Điệp (2005) Nội dung luận văn tập trung làm

rõ bộ máy hành chính và vấn đề cải cách, đánh giá về cải cách bộ máy hành chính ở các nước ASEAN và vấn đề tiếp tục cải cách bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam[124]

1.2.4.2 Nhóm các đề tài nghiên cứu về cải cách hành chính nhà nước

- "Một số vấn đề về xây dựng và cải cách nền hành chính nhà nước Việt Nam" của GS Đoàn Trọng Truyến (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

1996 Nội dung cuốn sách phân tích quá trình phát triển nền hành chính Việt Nam, nền hành chính học trên thế giới, đề cập một số vấn đề lý luận và quan điểm chung về hành chính học chỉ đạo công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước ta, cải cách hành chính

Trang 27

phải gắn liền với cải cách kinh tế [173]…

- "Cải cách nền hành chính quốc gia ở nước ta" của PGS.TSKH Nguyễn Duy Gia, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996 Nội dung cuốn sách đề cập một cách có hệ thống về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung, về nền hành chính quốc gia nói riêng như: những vấn đề chung về nền hành chính quốc gia; xu hướng quốc tế hóa nền hành chính quốc gia, những nội dung chủ yếu về nền hành chính quốc gia ở nước ta [126]…

- "Cải cách nền hành chính ở địa phương - lý luận và thực tiễn" của các tác giả

Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Tri, Nguyễn Hữu Đức (đồng chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998 Nội dung cuốn sách làm rõ những cơ sở lý luận chung về cải cách hành chính nhà nước, cải cách chính quyền địa phương các tác giả đã đề cập đến những vấn đề cần cải cách về bộ máy, quản lý nhân sự và đào tạo, vấn đề phân định lãnh thổ, phương hướng và giải pháp tổ chức quản lý chính quyền địa phương [129]

- "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam" do TS Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001 Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam, các rào cản trong cải cách hành chính, nguyên nhân, đặc điểm, nguyên tắc, phương hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam [130]

- "Cải cách nền hành chính Việt Nam thực trạng và giải pháp", Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2009 Nội dung cuốn sách gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả tập trung làm rõ những vấn đề về hành chính công và phát triển kinh tế ở Việt Nam, cải cách nền hành chính cho thế kỷ XXI; quản lý tài chính công tăng cường hiệu quả điều hành và quản lý nhà nước; cải cách hệ thống công vụ; cơ cấu tổ chức chính phủ để cung ứng dịch vụ công tốt nhất; cải cách thể chế hành chính công ở Việt Nam hiện nay

1.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN

ĐỀ ĐẶT RA

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa

Như đã tổng thuật ở trên, các công trình nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo trên cả hai khía cạnh lý luận và thực tiễn

Các công trình nghiên cứu trên có nhưng ưu điểm và hạn chế sau:

Thứ nhất, về nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

Trang 28

Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nhà nước pháp quyền và bảo đảm pháp chế, những yêu cầu cơ bản của pháp chế và sự cần thiết phải xây dựng nhà nước pháp quyền cơ sở để thực hiện dân chủ trong quản lý nhà nước đồng thời nhấn mạnh việc xây dựng nhà nước pháp quyền và nền pháp chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ trong tâm trong việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, tổ chức Mặt khác phần lớn các nghiên cứu đi sâu phân tích để chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa hoạt động ban hành pháp luật với hoạt động tổ chức triển khai thực hiện pháp luật, các tác giả cho rằng muốn xây dựng thành công nhà nước pháp quyền trước hết cần nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật đồng thời cải thiện khả năng tổ chức triện khai thực hiện luật của các cơ quan nhà nước đặc biệt là khả năng tổ chức triển khai thực hiện của các cơ quan hành chính nhà nước trên cở sở mọi hoạt động đều hướng đến mục tiêu phục vụ nhân dân, phát huy quyền làm chủ nhân dân trong đó có bàn đến quyền được khiếu nại, tố cáo của nhân dân và trách nhiện của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và thỏa mãn theo quy định những kiến nghị hợp pháp của công dân

Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ góp phần làm rõ nội hàm của pháp chế chưa chỉ ra mối quan hệ và vai trò của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bảo đảm pháp chế, chưa có những nghiên cứu giải quyết một cách thấu đáo tầm quan trọng của pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước, một hoạt động được diễn ra thường xuyên liên tục và có tác động rất lớn đến khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo trong thực tiễn quản lý ở nước ta hiện nay

Thứ hai, về nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật khiếu nại,

tố cáo và việc thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo

Có thể nói các nghiên cứu thuộc nhóm này rất phong phú về nội dung và tác giả nghiên cứu Các tác giả tập trung nghiên cứu về một số nội dung của luật khiếu nại,

tố cáo đặc biệt phần lớn các nghiên cứu tập trung đi tìm câu trả lời cho câu hỏi, làm thế nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam hiện nay

Như vậy, về cơ bản các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến từng khía cạnh của khiếu nại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết tố cáo chưa có công trình nào nghiên cứu về giải quyết khiếu nại, tố cáo dưới góc độ là phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước

Thứ ba, về nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề giải quyết khiếu

Trang 29

nại hành chính, khiếu kiện hành chính

Các công trình này nghiên cứu việc giải quyết khiếu nại ở nhiều góc độ khác nhau như: Hiệu quả của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo; thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo; quy trình giải quyết khiếu nại…những vấn đề liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục…và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại của công dân Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này chỉ tập trung giải quyết một nội dung, khía cạnh rất nhỏ trong giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc một nội dung cụ thể nào đó về thẩm quyền, quy trình giải quyết khiếu nại hành chính, khiếu kiện hành chính chứ chưa giải quyết mối quan hệ giữa giải quyết khiếu nại hành chính, khiếu kiện hành chính với bảo đảm kỷ luật trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Thứ tư, về nhóm các công trình nghiên cứu về nhà nước, cải cách nền hành chính nhà nước, quyền công dân có liên quan đến nội dung đề tài luận án

Các nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong quản

lý xã hội, về tầm quan trọng, sự cần thiết phải cải cách nền hành chính nhà nước, các nội dung, mục tiêu, phương hướng của cải cách nền hành chính nhà nước để hướng đến một nền hành chính hoạt động có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của tình hình mới Bên cạnh những nghiên cứu về nhà nước và cải cách nền hành chính nhà nước cũng đã có những nghiên cứu về việc làm thế nào để phát huy dân chủ trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên cả bốn yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước là thể chế hành chính nhà nước, tổ chức bộ máy hành chính, động ngũ cán bộ, công chức hành chính và nguồn tài chính công

1.3.2 Những vấn đề đặt ra mà luận án phải tiếp tục giải quyết

Qua nghiên cứu tổng quan về các công trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu này mặc dù đã giải quyết những vấn đề cơ bản trên cả phương diện lý luận và phương diện thực tiễn nhưng các công trình này mới chỉ giải quyết những nội dung cụ thể của khiếu nại, tố cáo, pháp chế hoặc một số nội dung của cải cách hành chính nhà nước Chưa có nghiên cứu nào tập trung giải quyết một cách hệ thống những nội dung sau:

- Một là, những vấn đề có tính lý luận về khiếu nại, khiếu nại hành chính, giải

quyết khiếu nại hành chính, tố cáo, giải quyết tố cáo, phương thức bảo đảm pháp chế và

kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước; làm rõ các khái niệm: khiếu nại, giải quyết khiếu nại hành chính, tố cáo, giải quyết tố cáo, phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền

Trang 30

XHCN Việt Nam, đặc biệt là trong điều kiện Hiến pháp năm 2013 mới được ban hành

- Hai là, xác định mối quan hệ giữa giải quyết khiếu nại, tố cáo với bảo đảm

pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước hiện nay ở Việt Nam;

- Ba là, đánh giá toàn diện về cơ chế, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo ở

Việt Nam từ năm 1999 đến nay, đặc biệt là phần đánh giá những hạn chế, tồn tại của cơ chế, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay và chỉ ra xu hướng vận động của hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn tới;

- Bốn là, đưa ra những căn cứ khoa học, xác định yêu cầu, quan điểm, giải pháp

nhằm hoàn thiện cơ chế, quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Do vậy, cần thiết phải đặt vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về những vấn đề có liên quan, tác động đến hiệu quả, tiến độ của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, cũng như tác động của nó đến việc bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản

lý hành chính nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 31

Kết luận Chương 1 Xây dựng Nhà nước pháp quyền là một quá trình, đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, pháp chế phải được bảo đảm, quyền con người, quyền công dân phải được tôn trọng và bảo vệ, kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước phải được đề cao

Pháp luật khiếu nại, tố cáo là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống pháp luật nói chung và là pháp luật về quyền bảo vệ quyền, bảo vệ các giá trị, chuẩn mực đã được pháp luật quy định Bởi thế, việc nghiên cứu về pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước không thể tách rời những vấn đề về quyền khiếu nại, tố cáo và ngược lại Khiếu nại, tố cáo là hiện tượng có tính pháp lý, chính trị và xã hội sâu sắc nhưng có gắn bó mật thiết với hoạt động quản lý hành chính nhà nước cho nên giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được thực hiện theo những yêu cầu có tính nguyên tắc về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; bảo đảm tôn trọng sự thật khách quan của vụ, việc; bảo đảm tính công khai, công bằng trong quá trình giải quyết; đề cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, đề cao quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người tố cáo

Với đề tài: Giải quyết khiếu nại, tố cáo phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay nhằm hướng tới đạt được những mục đích sau:

- Thứ nhất, thống nhất một số nhận thức cơ bản về khiếu nại, khiếu nại hành

chính, tố cáo; chỉ ra mối quan hệ giữa giải quyết khiếu nại, tố cáo với bảo đảm pháp chế

và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước hiện nay ở nước ta;

- Thứ hai, khái quát thực trạng quá trình công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở

nước ta thời gian qua, chỉ ra được những nguyên nhân, tồn tại dẫn đến khiếu nại, tố cáo, những hạn chế bất cập trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo;

- Thứ ba, cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế, quy trình công

tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm góp phần bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản

lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay

Như vậy so sánh với các công trình nghiên cứu trước đó, nội dung và hướng nghiên cứu của đề tài không trùng lắp và có tính khả thi cao Đề tài sẽ góp phần thực hiện nghiêm minh pháp luật khiếu nại, tố cáo, nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại,

Trang 32

tố cáo của công dân đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại

2.1.1.1 Quan niệm về khiếu nại, khiếu nại hành chính

a Quan niệm về khiếu nại

Khiếu nại, tố cáo là những hiện tượng xã hội, như là một phản ứng, tự vệ trước những quyết định hoặc hành vi được con người nhận thức là không đúng quy định, không phù hợp với những giá trị, chuẩn mực chung được nhà nước hoặc xã hội thừa nhận

Quyền khiếu nại, tố cáo là những quyền cơ bản của công dân, được hình thành dần tường bước trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam

Hiến pháp Việt Nam năm 1946 quy định: công dân có quyền tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc (Điều 7); quyền phúc quyết về hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia (Điều 21) Mặc dù chưa có điều khoản cụ thể nào quy định về quyền khiếu nại của công dân nhưng thể chế dân chủ mà bản Hiến pháp này tạo dựng nên đã là nền tảng cơ bản để hình thành quyền khiếu nại của công dân [155] Hiến pháp năm 1959 là bản hiến pháp đầu tiên ghi nhận quyền khiếu nại, quyền

tố cáo của công dân “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền khiếu nại

và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những việc làm vi phạm pháp luật của

Trang 33

nhân viên cơ quan Nhà nước…” [155] Có thể nói đây là một bước phát triển rất quan

trọng của Hiến pháp 1959 so với Hiến pháp năm 1946

Việc quy định quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã góp phần củng cố thêm một bước địa vị pháp lý của công dân trong xã hội, khẳng định vai trò tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của công dân Đồng thời

là một sự bổ trợ quan trọng đối với các quyền tự do dân chủ khác của công dân

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975 nước nhà thống nhất, Hiến pháp năm 1980 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất Quyền khiếu nại của công dân tiếp tục được ghi nhận và có bước phát triển cao hơn Điều 73 Hiến pháp 1980 quy

định: “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị đó…” So

với Hiến pháp năm 1959, đối tượng của quyền khiếu nại được mở rộng hơn, không chỉ giới hạn trong phạm vi các cơ quan nhà nước, cán bộ nhân viên nhà nước mà còn bao gồm tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân… bên cạnh đó, Hiến pháp năm 1980 còn

có quy định cơ chế để bảo đảm cho quyền khiếu nại được thực hiện, đó là: “Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử

lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường” [155]

Quyền khiếu nại của công dân không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp, mà được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác

Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ngày 27/11/1981 là văn bản pháp lý chuyên biệt đầu tiên, dựa trên cơ sở quy định trong

Hiến pháp 1980, Pháp lệnh đã quy định: Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất

cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái chính sách, pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức văn hoá, xã hội, và đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ

cá nhân nào thuộc các cơ quan và tổ chức đó làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân [181] Sau khi Pháp lệnh được ban

hành, ngày 29/3/1982 Hội đồng Bộ trưởng ban hành nghị định số 58/HĐBT hướng dẫn thi hành Pháp lệnh trên [33]

Qua 10 năm thực hiện Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại,

tố cáo của công dân năm 1981 đã có nhiều thành tựu đạt được, tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đã có nhiều biến động, Pháp lệnh năm 1981 đã tỏ ra có những hạn chế nhất định Vì thế, ngày 02/5/1991 Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo được ban hành

Trang 34

thay thế Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981

Trong Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991, lần đầu tiên quyền khiếu nại của công dân được quy định riêng biệt với quyền tố cáo

Công dân có quyền khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quyết định hoặc việc làm trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước hoặc nhân viên Nhà nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Quyền khiếu nại của công dân đối với quyết định của cơ quan tiến hành

tố tụng hình sự, dân sự, trọng tài kinh tế do pháp luật tố tụng hình sự, dân

sự, trọng tài kinh tế quy định [182]

Như vậy Pháp lệnh đã đặt cơ sở cho việc phân biệt khiếu nại hành chính và

khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp

Ngày 28/01/1992, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 38/HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 ra đời đã khắc phục những khuyết điểm trong Pháp lệnh năm 1981 đồng thời góp phần củng cố và phát triển thêm một bước cơ sở pháp lý quyền khiếu nại của công dân [132]

Sau năm 1986 khi cả nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện về mọi mặt của xã hội, Hiến pháp năm 1992 ra đời đã phát triển hoàn thiện thêm một bước quyền

khiếu nại của công dân phù hợp với tiến trình đổi mới Hiến pháp quy định:

Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào… Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu

nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác [156]

Việc quy định quyền khiếu nại của công dân trong Hiến pháp năm 1992 thể hiện

sự thống nhất trong pháp luật của Nhà nước ta khi thừa nhận quyền khiếu nại là một quyền hiến định quan trọng của công dân Trong lịch sử lập pháp, quyền khiếu nại của công dân không ngừng được phát triển và hoàn thiện đã tạo nên những bảo đảm pháp lý vững chắc để hiện thực hoá quyền khiếu nại của công dân Điều này thể hiện ở việc văn bản thể chế hoá quyền khiếu nại của công dân ngày càng được nâng cao về mặt hiệu lực pháp lý Minh chứng là Luật Khiếu nại, được Quốc hội thông qua ngày 11/11/2011

Trang 35

có hiệu lực ngày 01/7/2012 thay thế Luật Khiếu nại, tố cáo 1998 (gọi tắt là Luật Khiếu nại năm 2011)

Theo Khoản 1, Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011, đã đưa ra quan niệm: Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Thông qua quy định này có thể nhận thấy một số nội dung sau đây:

- Chủ thể thực hiện quyền khiếu nại có thể là công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức

- Đối tượng bị khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan đó

- Nội dung khiếu nại là quyền hay lợi ích của người khiếu nại bị quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền xâm phạm tới

Việc quy định như vậy chưa thật đầy đủ, đã loại trừ những quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý hành chính nhà nước của cơ quan không phải

là cơ quan hành chính nhà nước ra khỏi đối tượng khiếu nại Mặt khác, trong thực tiễn không chỉ cơ quan nhà nước mới ban hành quyết định hành chính, mà cả đơn vị sự nghiệp công lập cũng ban hành quyết định hành chính, đây chính là hạn chế của Luật khiếu nại, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức cũng là quyết định hành chính Hơn nữa trong xu hướng hội nhập, mở cửa, xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người, quyền công dân do đó quyền khiếu nại của những người không phải là công dân Việt Nam cũng không thể bị hạn chế

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 2013 (gọi tắt là Hiến pháp năm 2013) giành Chương 2 ghi nhận về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, tại Điều 30 ghi nhận: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” Quy định của Hiến pháp mở ra một hướng nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo, đổi mới hoạt động thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo Với quy định của Hiến pháp có thể hiểu “mọi cá nhân” là (công dân Việt Nam, người

Trang 36

nước ngoài, người không có quốc tịch, tổ chức do công dân thành lập nên) đều có quyền khiếu nại; cơ quan có thể là cơ quan nhà nước, cơ quan của tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội; tổ chức ở đây có thể là tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, hay dân lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội quần chúng; người có thẩm quyền là những người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức; việc làm trái pháp luật có thể là quyết định, hay hành vi không đúng với quy định của pháp luật, vi phạm pháp luật Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã mở ra một xu hướng mới về sự điều chỉnh của pháp luật đối với khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trong thực tiễn đời sống xã hội đã chỉ ra rằng để bảo vệ quyền, lợi ích của mình, của tổ chức và xã hội cá nhân có thể khiếu nại, tố cáo không chỉ đối với những quyết định, hành vi trái pháp luật, mà còn khiếu nại đôi với cả những hành vi, quyết định trái quy tắc, quy định của các tổ chức xã hội, tổ chức không phải là tổ chức công lập, quy tắc cộng đồng dân cư

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Theo nghĩa rộng, khiếu nại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại một quyết định, một hành vi khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi ấy xâm hại đến quyền, lợi ích của mình Với quan niệm này, đối tượng của khiếu nại là quyết định,

hành vi trái pháp luật hoặc trái với quy định của tổ chức, cộng đồng Do vậy, khiếu nại theo nghĩa rộng được đề cập không chỉ trong phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước mà cả trong các tổ chức, các cộng đồng

Theo nghĩa hẹp, khiếu nại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi trái pháp luật khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi ấy xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Cơ quan nhà nước có thể là cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp và các cơ quan độc lập khác như Chủ tịch nước, Kiểm toán Nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia

Trong phạm vi nghiên cứu, Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu khiếu nại trong phạm vi hoạt động quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu để so sánh, phân tích thì khiếu nại theo nghĩa rộng cũng sẽ được đề cập nếu thấy cần thiết

b Khiếu nại hành chính

Trong giải quyết khiếu nại ở nước ta hiện nay, khiếu nại có tính pháp lý chủ yếu xảy ra trên trên hai lĩnh vực là quản lý hành chính nhà nước và hoạt động tư pháp

Trang 37

Trong hệ thống pháp luật nước ta, không có quy định cho phép cá nhân, tổ chức khiếu nại đối với các văn bản quy phạm pháp luật Trên thực tế, các khiếu nại được thực hiện

đa phần là trong lĩnh vực hành chính nhà nước (khiếu nại hành chính)

Từ khái niệm khiếu nại quy định trong Luật Khiếu nại năm 2011, có thể đưa ra

khái niệm khiếu nại hành chính như sau: Khiếu nại hành chính là việc cá nhân hay tổ chức khiếu nại đối với quyết định hành chính hay hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước, thực hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của chính bản thân hoặc tổ chức mình

Như vậy, khiếu nại hành chính là một loại khiếu nại, vì thế ngoài các đặc điểm chung của khiếu nại, còn có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, khiếu nại hành chính là khiếu nại diễn ra trong lĩnh vực quản lý hành

chính nhà nước Đây là lĩnh vực hoạt động chấp hành - điều hành nhằm thực thi pháp luật Xét trên phương diện tổ chức quyền lực nhà nước, các chức năng của nhà nước có thể chia thành ba chức năng cơ bản: Lập pháp, hành pháp và tư pháp Khiếu nại hành chính nảy sinh trong lĩnh vực hành pháp

Thứ hai, các khiếu nại hành chính do nhiều cơ quan nhà nước (Cơ quan quyền

lực nhà nước, Chủ tịch nước, cơ quan hành chính, cơ quan toà án, cơ quan kiểm sát) giải quyết, nhưng chủ yếu là cơ hành chính nhà nước Trong khi đó, khiếu nại tư pháp thì chỉ được thực hiện trong phạm vi các cơ quan tư pháp: Cơ quan toà án, cơ quan kiểm sát, cơ quan điều tra

Thứ ba, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính là thủ tục hành chính.Thủ tục

hành chính giải quyết khiếu nại hành chính được thực hiện đơn giản hơn thủ tục tố tụng

do các cơ quan tư pháp thực hiện

Thứ tư, mục đích của khiếu nại là bảo vệ và khôi phục những quyền và lợi ích

hợp pháp của người khiếu nại bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật

Thứ năm, các khiếu nại hành chính thường phát sinh trong hai loại trường hợp

sau:

+ Khiếu nại trong các hoạt động liên quan đến việc tổ chức thực hiện pháp luật như: Đăng ký kinh doanh, đăng ký quyền sử dụng đất, trưng dụng đất, v.v Đây là các hoạt động thuộc lĩnh vực hành chính trong đó, pháp luật được thực hiện không có tính chất bảo vệ pháp luật

Trang 38

+ Khiếu nại trong các hoạt động liên quan đến các hoạt động bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực hành chính: Khiếu nại với các hoạt động xử lý vi phạm hành chính, hoạt động xử lý vi phạm kỷ luật

Đối tượng của khiếu nại hành chính là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức

2.1.1.2 Giải quyết khiếu nại hành chính

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, việc sử dụng quyền khiếu nại thể hiện tính tích cực chính trị của công dân trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của mình Đây là hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân trực tiếp tham gia vào quản

lý nhà nước và quản lý xã hội

Việc công dân sử dụng quyền khiếu nại là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ giữa cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại với người khiếu nại, phát sinh tranh chấp trong quản lý hành chính nhà nước Mà việc giải quyết tranh chấp thuộc về cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của người khiếu nại

Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 quan niệm “Giải quyết khiếu nại là việc xác

minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người giải quyết khiếu nại” [157] Đến Luật Khiếu nại năm 2011, khoản 11, điều 2 quy định: Giải quyết khiếu nại là việc thụ

lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại [159, tr.7]

Thực tiễn để giải quyết khiếu nại, cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp nhận khiếu nại (nhận đơn, hay ghi lời khiếu nại của người khiếu nại), phải xác minh tính xác thực của khiếu nại, phân tích đánh giá nội dung khiếu nại, đối chiếu quyết định, hay hành vi bị khiếu nại với những quy định của pháp luật, trên cơ sở đó đưa ra những kết luận về tính đúng, sau của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, tính đúng sai của khiếu nại

Trên cơ sở những luận giải trên có thể hiểu: Giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính là hoạt động kiểm tra, xác minh, đánh giá, kết luận về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của Nhà nước và xã hội Nói cách khác, giải quyết khiếu nại của

các cơ quan hành chính Nhà nước là việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thuộc thẩm quyền

Trang 39

giải quyết của các cơ quan hành chính để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật

Khi giải quyết khiếu nại, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp khác nhau để xử lý đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính như: đình chỉ việc thực hiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, bãi bỏ toàn bộ một phần hay quyết định hành chính, khắc phục hậu quả do việc thực hiện quyết định hành chính, hành vi hành chính gây nên, hoặc giữ nguyên quyết định hành chính, hành vi hành chính Thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, mà tăng cường, củng cố pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước

Giải quyết khiếu nại là một mặt của quản lý hành chính nhà nước, có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận khiếu nại hành chính của công

dân là các cơ quan hành chính nhà nước Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, rất nhiều các cơ quan khác cũng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, phản ánh của công dân để đưa tin, chuyển đến các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền để xem xét giải quyết, như cơ quan báo chí, các cơ quan giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại theo luật định, các tổ chức đoàn thể khác

Thứ hai, mối quan hệ giữa các chủ thể là mối quan hệ giữa cơ quan hành chính

trong giải quyết khiếu nại đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính Ngay chính trong nội bộ các cơ quan hành chính cũng có những mối quan hệ hết sức đa dạng, phức tạp, phản ánh mọi mặt quản lý của đời sống xã hội

Thứ ba, giải quyết khiếu nại về bản chất đó là giải quyết mối quan hệ giữa Nhà

nước và công dân, giữa người quản lý và người bị quản lý khi ở đó phát sinh những vấn

đề trong quản lý Việc giải quyết các vụ khiếu nại do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện được tiến hành theo trình tự được quy định, từ nhận đơn, tiếp công dân, đến việc thẩm tra, xác minh, ban hành quyết định giải quyết đều thể hiện rõ nét những đặc điểm của hoạt động hành chính

Cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính được hình thành và ngày càng được hoàn thiện, nhằm tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền khiếu nại Nếu như trước đây, việc giải quyết khiếu nại hành chính do chính các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, thì cho tới nay, nhất là sau khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005, Luật Khiếu nại

2011 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

Trang 40

án hành chính năm 2006, Luật Tố tụng hành chính năm 2011 thì ngoài việc thực hiện các quyền khiếu nại tại các cơ quan hành chính nhà nước, thì công dân còn có quyền khởi kiện một quyết định hành chính, một hành vi hành chính tại Tòa hành chính, Tòa

án nhân dân

2.1.1.3 Đối tượng của khiếu nại

Nếu căn cứ vào tính chất của quyết định, hành vi và các quan hệ pháp luật phát sinh, chúng ta có thể nhận dạng, phân loại khiếu nại (theo nghĩa rộng) thành các dạng

cơ bản sau:

Khiếu nại hành chính là một dạng khiếu nại có đối tượng là quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, mà người khiếu nại cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đó trái pháp luật gây thiệt hại về quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Theo Luật Khiếu nại, khiếu nại được tiếp cận từ chủ thể của quyết định hành chính, hành vi hành chính Do vậy, nó chỉ giới hạn trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương Điều đó cũng có nghĩa là, khiếu nại hành chính không bao gồm các khiếu nại về quyết định hành chính, hành vi hành chính trong hoạt động tổ chức, điều hành của các cơ quan kiểm soát, tòa án

Trong hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội và các doanh nghiệp (gọi chung là các tổ chức) cũng xuất hiện những quyết định, hành vi xâm hại đến quyền, lợi ích của các tổ chức, cá nhân trong nội bộ tổ chức đó Do vậy, việc xuất hiện những khiếu nại, giải quyết khiếu nại loại này không thuộc phạm vi xem xét của các cơ quan nhà nước Mà nó được xem xét giải quyết theo các quy chế pháp lý nội bộ tổ chức đó

Theo Luật Khiếu nại năm 2011 thì đối tượng của khiếu nại bao gồm: quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức

Quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại được hiểu : Quyết định hành chính

là văn bản do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể [159, tr.7] Như vậy, quyết định hành chính là đối tượng của khiếu nại hành chính chỉ bao gồm quyết định hành chính cá biệt, được thể hiện thành văn bản và do cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành Tuy nhiên

Ngày đăng: 03/06/2014, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương (1996), Chỉ thị số 50/CT-TW ngày 04/7/1996 về việc tăng cường công tác kiểm tra, việc chấp hành các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 50/CT-TW ngày 04/7/1996 về việc tăng cường công tác kiểm tra, việc chấp hành các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1996
2. Ban Bí thư Trung ương (1987), Thông tri số 210/TT-TW ngày 22/11/1987 về việc tăng cường tổ chức Ủy ban kiểm tra của Đảng và đẩy mạnh công tác thanh tra của các cơ quan Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tri số 210/TT-TW ngày 22/11/1987 về việc tăng cường tổ chức Ủy ban kiểm tra của Đảng và đẩy mạnh công tác thanh tra của các cơ quan Nhà nước
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1987
3. Ban Bí thư Trung ương (2005), Tài liệu Hội nghị tổng kết thực hiện Chỉ thị 09 - CT/TW và pháp luật về KNTC, tập I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội nghị tổng kết thực hiện Chỉ thị 09 - CT/TW và pháp luật về KNTC, tập I
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương
Năm: 2005
4. Nguyễn Thanh Bình (2004), Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án - sự bảo đảm công lý trong quan hệ giữa nhà nước và công dân, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền xét xử khiếu kiện hành chính của Tòa án - sự bảo đảm công lý trong quan hệ giữa nhà nước và công dân
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
5. Bộ Chính trị (2008), Thông báo số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 về việc lãnh đạo thực hiện một số giải pháp trong công tác giải quyết KNTC, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 về việc lãnh đạo thực hiện một số giải pháp trong công tác giải quyết KNTC
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2008
6. Bộ Thủ tục hành chính (2009), Bộ thủ tục hành chính của các Bộ, UBND cấp tỉnh được công bố năm 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ thủ tục hành chính của các Bộ, UBND cấp tỉnh được công bố năm 2009
Tác giả: Bộ Thủ tục hành chính
Năm: 2009
7. Phan Văn Châu (2004), Một số giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại nhằm bảo đảm các quyền công dân" (qua thực tiễn tỉnh Đồng Nai), Luận văn Thạc sĩ Hành chính công, Học viện Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại nhằm bảo đảm các quyền công dân
Tác giả: Phan Văn Châu
Nhà XB: Học viện Hành chính
Năm: 2004
8. Nguyễn Xuân Chiến (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của nhà nước ta, Luận văn thạc sĩ Luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất của nhà nước ta
Tác giả: Nguyễn Xuân Chiến
Năm: 1996
9. Chính phủ (1994), Nghị định 60/CP ngày 05/7/1994; Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 60/CP ngày 05/7/1994; Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1994
10. Chính phủ (1999), Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999 quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành luật KNTC, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999 quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành luật KNTC
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
11. Chính phủ (2006), Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 136/2006/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
12. Chính phủ (2007), Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
13. Chính phủ (2012), Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
14. Chính phủ (2012), Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
15. Chính phủ (2013), Báo cáo của về công tác giải quyết KNTC từ năm 1999 đến năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của về công tác giải quyết KNTC từ năm 1999 đến năm 2013
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
16. Mai Thị Chung (2001), Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật, Đại học Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Tác giả: Mai Thị Chung
Năm: 2001
17. Lương Thanh Cường (2001), Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lương Thanh Cường
Năm: 2001
18. Nguyễn Đăng Dung (2001), “Nhà nước pháp quyền - một hình thức tổ chức nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền - một hình thức tổ chức nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp
Năm: 2001
86. Website: http://www.wattpad.com/3019865- Chương 8- Chức năng Kiểm tra Link
87. Website: http://www.thuvienphapluat.vn; http://hanhchinh.com.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả công tác tiếp công dân - Giải quyết khiếu nại, tố cáo - Phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả công tác tiếp công dân (Trang 85)
Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo  của các cơ quan hành chính nhà nước từ năm 1999 đến năm 2013 - Giải quyết khiếu nại, tố cáo - Phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước từ năm 1999 đến năm 2013 (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w