1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam

157 464 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chính sách phát triển kinh tế
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề quan trọng và luôn được ưutiên hàng đầu trong chính sách phát triển của mỗi quốc gia Để phát triển nguồn nhânlực có thể thực hiện theo hai cách, cách thứ nhất là thông qua giáo dục và đào tạonguồn nhân lực tại chỗ, cách thứ hai là thu hút đội ngũ lao động chuyên môn cao ởnơi khác đến Di chuyển lao động nước ngoài chuyên môn cao giữa các quốc giađang là một hiện tượng phổ biến trên thị trường do tác động của toàn cầu hóa, cuộccách mạng khoa học công nghệ và sự thiếu hụt cung cầu trên thị trường lao độngquốc tế Tuy nhiên, di chuyển lao động quốc tế luôn có tính hai mặt, buộc các chínhphủ phải có những chính sách can thiệp của nhà nước để phát huy tính tích cực củalực lượng lao động chuyên môn cao nước ngoài trên thế giới, đồng thời hạn chếnhững tiêu cực nảy sinh Hiện nay trên thế giới, nhiều quốc gia đã coi chính sách thuhút lao động chuyên môn cao nước ngoài là một trong những chính sách hàng đầu đểđẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế Tại một số nước châu Á như Singapore, TrungQuốc, lao động chuyên môn cao nước ngoài có những đóng góp quan trọng đối với

sự phát triển kinh tế, bổ sung sự thiếu hụt lao động chuyên môn cao trong nước,đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động, góp phần tích cựcvào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành nền tảng công nghệ mới choquá trình công nghiệp hóa và tạo hiệu ứng tốt cho phát triển nguồn nhân lực trongnước Tuy nhiên, quản lý lao động chuyên môn cao nước ngoài đòi hỏi các nướcphải có những chiến lược bài bản, rõ ràng để tránh những tác động xấu đến nước tiếpnhận, đặc biệt trong vấn đề giải quyết xung đột tranh chấp giữa lao động trong nước

và lao động nước ngoài, hạn chế tiếp nhận lao động không đúng kỹ năng và nhu cầucủa đất nước v.v… Trung Quốc và Singapore là hai nước châu Á điển hình cónhững điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách thu hút lao động chuyên môncao, nhưng cả hai nước đều gặp hái được những kết quả tích cực trong phát triểnkinh tế do nguồn lao động chuyên môn cao nước ngoài mang lại

Tại Việt Nam, chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài bắt đầuđược chú trọng từ năm 2003 đến nay, nhưng chưa đồng bộ và thống nhất Những hạnchế của các chính sách này còn nhiều, gây ra những khó khăn, vướng mắc trong thuhút và quản lý lao động chuyên môn cao nước ngoài Là một nước đông dân, ViệtNam rất cần phải có hệ thống chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước

Trang 2

ngoài thống nhất, chặt chẽ để tránh những hệ lụy khó tháo gỡ trong việc quản lý laođộng nước ngoài, đặc biệt là lao động kỹ năng thấp nhập cư ngày càng nhiều vàoViệt Nam Kinh nghiệm thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài của Singapore

và Trung Quốc là hết sức cần thiết trong điều kiện Việt Nam hiện nay bởi chúng ta

có thể học hỏi được cách thức quản lý lao động chuyên môn cao nước ngoài bài bản(như ở Singapore – nước có dân số ít) và học hỏi được chính sách thu hút trí thứcngoại kiều về nước làm việc (như ở Trung Quốc – nước có dân số đông) Với những

lý do đó và từ thực tiễn hiện nay đặt ra, đề tài “Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam” là mang tính cấp thiết nhằm đánh giá những chính sách và tác động của chính

sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài ở một số nước và rút ra những bàihọc kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc hoạch định và thực thi chính sáchthu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài trong thời gian tới Đây cũng chính là

lý do cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu của luận án

2 Tình hình nghiên cứu:

Nghiên cứu chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài là mộttrong những chủ đề được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước bàn đến, phần sauđây tôi xin trình bày một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước

2.1 Nghiên cứu trong nước:

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về chính sách thu hút laođộng chuyên môn cao nước ngoài còn rất ít và mới chỉ dừng ở giai đoạn nghiên cứuban đầu và mang tính tổng quan, phổ quát Đây cũng là điều dễ hiểu bởi mảng đề tàinghiên cứu về lao động chuyên môn cao nước ngoài mới được Việt Nam chú trọng

và nhấn mạnh kể từ đầu thập niên 2000 khi đất nước bắt đầu chuẩn bị thực thi chínhsách tuyển dụng lao động nước ngoài Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu là:

- “Di chuyển lao động quốc tế”, tác giả Nguyễn Bình Giang (chủ biên), NXB

Khoa học xã hội, Hà nội 2011 Cuốn sách phân tích những vấn đề nổi bật trong dichuyển lao động trên thế giới thập niên đầu thế kỷ XXI, những xu hướng cơ bản của

di chuyển lao động quốc tế, các chính sách mà các chính phủ thường sử dụng, nhữngtác động chủ yếu của di chuyển lao động quốc tế đối với nước tiếp nhận và nước gửilao động, xu hướng di chuyển quốc tế đến năm 2020 Tác phẩm này đem lại nhữngkiến thức cơ bản về dòng di chuyển lao động ra thế giới của nhiều quốc gia điểnhình Tuy nhiên, thực trạng di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế không đượcphân tích sâu và không đi vào những kinh nghiệm cụ thể

Trang 3

- “Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài của Trung Quốc”, tác giả Lại Lâm Anh – Nguyễn Minh Phương, tạp chí Những vấn đề kinh tế

và chính trị thế giới, số 7/2010 Bài nghiên cứu này phân tích chính sách nhân tài củaTrung Quốc trong thu hút lao động chuyên môn cao người Hoa kiều về quê hươnglàm việc, đặc biệt ở hai thành phố Bắc kinh và Thượng Hải Tuy nhiên, bức tranhtổng thể về Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài của TrungQuốc trong cả hai khía cạnh: thu hút lao động nước ngoài và thu hút lao động HoaKiều chưa được làm rõ và chưa cập nhật tình hình

- “Chiến lược nhân tài của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay”, Nguyễn Thị

Thu Phương (chủ biên), Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Cuốn sáchgóp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về khái niệm nhân tài và cơ sở hình thành chiếnlược nhân tài của Trung Quốc, đánh giá về thành tựu trong chiến lược nhân tài củaTrung Quốc từ năm 1978 đến nay và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho chiếnlược phát triển nhân tài của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- “Chính sách thu hút nhân tài của Singapore: bài bản và chuyên nghiệp”, tác

giả Hà Minh, đăng trên Dân trí ngày 24/1/2008 Bài viết phân tích những chính sáchtuyển dụng tài năng trong nước và ngoài nước của Singapore trong nhiều lĩnh vựckinh tế, chính trị, xã hội, những đặc điểm cơ bản của chính sách Tuy nhiên, cácchính sách cụ thể để thu hút nhân tài nước ngoài và tác động của các chính sách đóđối với phát triển kinh tế Singapore chưa được đề cập đến

- “Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia châu Á và những gợi ý cho Việt Nam”, tác giả Lê Thị Hồng Điệp,

Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà nội, số 25, năm 2009 Bài viết đã tổng kếtkinh nghiệm trong dụng nhân tài của một số quốc gia châu Á, trong đó có Singapore

và Trung Quốc, trong đó có những kinh nghiệm thu hút nhân tài nước ngoài củaSingapore bằng những ưu đãi và ràng buộc thông qua kênh giáo dục đại học củaSingapore và những kinh nghiệm trong thu hút Hoa kiều tài năng của Trung Quốc, từ

đó đề xuất 5 gợi ý cho Việt Nam trong thu hút và trọng dụng nhân tài

Ngoài các tác phẩm, bài viết tiêu biểu kể trên, những công trình nghiên cứutrong nước về kinh nghiệm thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài và bài họcrút ra cho Việt Nam còn rất thiếu vắng Chỉ có thể kể tên một số bài viết trên báo chí

Việt Nam như: Văn Hòa (2005), Chính sách chiêu mộ nhân tài là Hoa Kiều của Trung Quốc, Báo công an nhân dân, ngày 28/9, chuyên mục An ninh thế giới; HSBC (2012), Các chuyên gia nước ngoài giàu có đổ về khu vực Đông Nam Á, Tin News

Trang 4

Release, ngày 10/11; Mai Lan (2011), Chuyên viên kỹ thuật ngày càng thiếu, Báo Tuần Việt Nam, ngày 11/9; Vũ Nguyên (2010), Chuyên gia ở Bình Dương phải thuê nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh, Báo Sài gòn Tiếp thị, ngày 2/7….

2.2 Nghiên cứu ngoài nước:

Nghiên cứu ngoài nước về vấn đề liên quan để đề tài “Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam” tương đối nhiều, mỗi tài liệu đề cập một nội dung cụ thể khác nhau.

Về cơ sở lý thuyết của đề tài, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:

“Labour migration and risk aversion in less developed countries”, tác giả Katz và Stark (1986), đăng trên Journal of labor economics, trang 131-149; “Economic developement with unlimited supplies of labour”, tác giả Lewis w.Arthur (1954),

đăng trên The Manchester School of economic and social studies, trang 139-191;

“International mobility of highly skilled”, tác phẩm của OECD năm 2001 Những tác

phẩm này đã phân tích về những khái niệm và nguyên nhân xuất hiện di chuyển laođộng chuyên môn cao nước ngoài, những tác động cơ bản của dòng di chuyển này.Tuy nhiên, các nội dung phân tích còn rời rạc, chưa mang tính hệ thống, chưa nêubật được vấn đề luận án cần quan tâm

Về kinh nghiệm thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài, có thể kể đến

một số tác phẩm như: “International mobility of the highly skilled: the case between Eurrope and Latin America”, tác giả Andres Solimano, Molly Pollack (2004) đăng trên Working Papers, No 1, Santiago, Chile; “Foreign labour in Singapore: trends, policies, impacts and challenges”, tác giả Chia Siow Yue (2011), đăng trên Discussion paper series No 2011-2014, Philippine; “Singapore’s structural dependence on foreign talent: causes and consequences”, tác giả Kris Terauds

(2008), đăng trên Graduate institute of international and development studies,

Geneva, Switzarland; “China’s competition for global talents: strategy, policy and recommendations”, tác giả Huiyao Wang (2012), đăng trên Asia Pacific Foundation

of Canada, May 24; hoặc tác phẩm của McKinsey & Company (2005), Addressing China’s looming talent shortage, McKinsey Global Institute, October….Những tác

phẩm nghiên cứu này phân tích những chính sách cơ bản mà các nước đang pháttriển thường sử dụng để thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài, đặc biệt làTrung Quốc và Singapore, tác động của chính sách đó cả về mặt tích cực lẫn tiêu cựcđối với nước tiếp nhận Đây là những tài liệu cơ bản để tác giả luận án có những luận

cứ và dữ liệu phân tích các chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài

Trang 5

của Trung Quốc và Singapore, từ đó rút ra kinh nghiệm và kiến nghị chính sách choViệt Nam.

2.3 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây cả về mặt lý thuyết lẫn thựctiễn đã giải quyết những vướng mắc về cơ sở lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm một

số nước trong thực hiện chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài,đặc biệt là ở Trung Quốc và Singapore So với các công trình nghiên cứu ngoàinước, thì các công trình nghiên cứu trong nước còn khá ít, mới chỉ dừng ở cung cấpthông tin và những đánh giá bước đầu Chưa có tác phẩm nghiên cứu nào đánh giáhoàn thiện về hệ thống chính sách và tác động của hệ thống chính sách thu hút laođộng chuyên môn cao nước ngoài ở Trung Quốc và Singapore, vì vậy các kinhnghiệm và các đề xuất kiến nghị chính sách không được phân tích đánh giá một cáchbài bản, hữu ích và khả năng áp dụng trên thực tế Ngay trong mảng nghiên cứuchính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài ở Việt Nam cũng còn thiếuvắng trong các công trình nghiên cứu trong nước, vì thế không phát hiện được toàndiện những yếu kém của hệ thống chính sách này và những hệ lụy đối với phát triểnkinh tế xã hội ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu ngoài nước tương đối phong phú, cung cấp nhữngthông tin, dữ liệu cần thiết cho luận án Tuy nhiên, các công trình này được phân tích

ở nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có cả những quan điểm của nước chủ nhàthực hiện chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài, có các quan điểmcủa các chuyên gia nước ngoài, các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước v.v… Quanđiểm đa chiều, số liệu chưa cập nhật và hệ thống, hàm lượng phân tích về các bài họcrút ra cho các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) không nhiều

Từ việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có thể thấy, cáccông trình nghiên cứu nói trên còn rời rạc, chưa hệ thống, chưa cập nhật, còn nhiềukhoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn, chính sách và tình hình thực thi chính sáchthu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài ở một số nước như Trung Quốc,Singapore Đặc biệt, từ trước tới nay, Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu riêngbiệt, chuyên sâu nào về chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài ởSingapore, Trung Quốc và rút ra bài học và kiến nghị chính sách cho Việt Nam Do

vậy, đề tài của luận án là hoàn toàn mới và mang tính cấp thiết.

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu:

Trang 6

Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu chính sách thu hút lao động chuyên môncao nước ngoài của khu vực châu Á, điển hình là Singapore, Trung Quốc, Việt Nam.

Tác giả luận án lựa chọn khu vực châu Á là đối tượng nghiên cứu (chứ khônglựa chọn các nước khác trên thế giới) bởi vì Việt Nam là nước nằm trong khu vựcnày, có sự tương đồng và phụ thuộc với nhiều nước châu Á về cơ cấu kinh tế, cơ cấuxuất nhập khẩu, thị trường lao động, nên rất cần xem xét khu vực châu Á có nhữngchính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài như thế nào để có thể rút rabài học kinh nghiệm Tác giả luận án lựa chọn Trung Quốc và Singapore làm trườnghợp nghiên cứu điển hình là vì: Singapore là nước châu Á có hệ thống chính sách thuhút lao động nước ngoài chuyên môn cao bài bản nhất châu Á, có thể học tập đượcnhiều kinh nghiệm trong hoàn thiện chính sách cho Việt Nam; còn Trung Quốc cónhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam (dư thừa lao động, có lực lượng ngoại kiềutri thức lớn ở nước ngoài, rất có nhu cầu thu hút lao động chuyên môn cao nướcngoài…), vì vậy có thể học tập được kinh nghiệm của Trung Quốc trong thu hútngoại kiều trí thức về nước làm việc

Việt Nam cũng là một đối tượng nghiên cứu của luận án nhằm mục đích sosánh, đối chiếu và rút ra bài học kinh nghiệm sau khi nghiên cứu các trường hợp điểnhình ở châu Á là Trung Quốc và Singapore

+ Về không gian: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu chính sách thu hút lao

động chuyên môn cao nước ngoài ở Trung Quốc và Singapore qua ba khía cạnh:nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện chính sách, các chính sách cơ bản và tác độngcủa các chính sách đó Luận án xin phép không nghiên cứu chính sách quản lý laođộng chuyên môn cao nước ngoài ở hai nước này và không nghiên cứu tác động đốivới nước gửi lao động chuyên môn cao ra nước ngoài

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 7

- Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn trong chính sách thu hút laođộng chuyên môn cao trên thế giới, để từ đó xem xét kinh nghiệm thu hút lao độngchuyên môn cao của của một số nước, trong đó nhấn mạnh hai trường hợp điển hình

là Trung Quốc và Singapore Phân tích các chính sách cơ bản trong thu hút lao độngchuyên môn cao của Trung Quốc và Singapore, những tác động của chính sách đó,

sự tương đồng khác biệt, thuận lợi khó khăn trong thu hút lao động chuyên môn cao

ở hai nước này, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách choViệt Nam

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là thực hiện được các công việc sau:

Thứ nhất, nghiên cứu, phân tích các vấn đề có tính lý luận về chính sách thu

hút lao động chuyên môn cao nước ngoài của một số nước trên thế giới và tác độngcủa chính sách đối với nước tiếp nhận lao động chuyên môn cao nước ngoài

Thứ hai, nghiên cứu, phân tích, đánh giá chính sách thu hút lao động chuyên

môn cao của hai nước điển hình là Trung Quốc và Singapore So sánh hai mô hìnhthu hút lao động chuyên môn cao của Trung Quốc và Singapore để thấy rõ điểmtương đồng, khác biệt và nguyên nhân của nó Phân tích kết quả và hạn chế củachính sách thu hút lao động chuyên môn cao của hai nước điển hình là Trung Quốc

và Singapore

Thứ ba, phân tích chính sách và kết quả thu hút lao động chuyên môn cao của

Việt Nam trong thời gian qua, ưu điểm và hạn chế của chính sách thu hút lao độngchuyên môn cao của Việt Nam và nguyên nhân của nó

Thứ tư, từ thực tiễn của Trung Quốc và Singapore, kết hợp với tình hình thực

tiễn trong thu hút lao động chuyên môn cao của Việt Nam, luận án đưa ra các bàihọc kinh nghiệm trong chính sách thu hút lao động chuyên môn cao của Trung Quốc

và Singapore, cả bài học thành công lẫn không thanh công để từ đó nêu các giải pháp

có tính khuyến nghị trong chính sách thu hút lao động chuyên môn cho Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài dự kiến sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

(i) Các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, và cácphương chung trong nghiên cứu khoa học xã hội, trong kinh tế học, phương pháptrừu tượng hoá khoa học

(ii) Các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

Trang 8

(iii)Phương pháp so sánh để làm rõ hơn về chính sách thu hút lao độngchuyên môn cao ở các nước trên thế thế giới cũng như so sánh với Việt Nam, để đưa

ra các dự báo và làm rõ hơn đặc điểm, bản chất, nội dụng nghiên cứu

(iv) Luận án sử dụng phương pháp Swot (phân tích điểm mạnh, điểm yếu)trong chính sách của Trung Quốc và Singapore

(v) Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu diện (rộng) và không giannghiên cứu điểm (trường hợp điển hình: Trung Quốc, Singapore)

+ Ở phương pháp nghiên cứu diện, tác giả luận án chủ yếu phân tích những

ưu tiên chính sách và chiến lược của một số nước trên thế giới trong thu hút lao độngchuyên môn cao nước ngoài (Mỹ, EU, Nhật Bản, một số nước châu Á), từ đó phântích tình hình lao động chuyên môn cao nước ngoài ở một số nước châu Á trong thờigian vừa qua, những nhân tố dẫn đến di chuyển lao động chuyên môn cao nướcngoài ở một số nước châu Á và một số tác động cơ bản đối với nước châu Á tiếpnhận lao động chuyên môn cao nước ngoài

+ Ở phương pháp nghiên cứu điểm, tác giả luận án tập trung nghiên cứuchính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài ở Singapore và Trung Quốc

và những tác động đối với Trung Quốc và Singapore;

6 Những đóng góp khoa học của luận án:

Luận án có những đóng góp khoa học sau đây:

- Khái quát và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về di chuyển lao độngchuyên môn cao quốc tế, phân biệt rõ lao động chuyên môn cao và lao động phổthông; hệ thống chính sách biện pháp chủ yếu để thu hút lao động chuyên môn caoquốc tế; những tác động chủ yếu (tích cực và tiêu cực) của dòng lao động chuyênmôn cao nước ngoài đối với nước tiếp nhận lao động Đúc rút một số xu hướng vàđặc điểm của dòng lao động chuyên môn cao trên thế giới hiện nay

- Đánh giá khách quan, khoa học và phát hiện ra các vấn đề cần giải quyếttrong chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài của Trung Quốc vàSingapore, có sự so sánh hiệu quả, hạn chế của hai mô hình này

- Rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam (cả bài học thànhcông và bài học thất bại), từ đó nêu những kiến nghị quan điểm, chính sách, biệnpháp cho Việt Nam nhằm thu hút hiệu quả dòng lao động chuyên môn cao nướcngoài trong tương lai

7 Kết cấu luận án:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương:

Trang 9

Chương 1: Nêu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về chính sách thuhút lao động chuyên môn cao nước ngoài.

Chương 2:Trình bày chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoàicủa Trung Quốc và Singapore

Chương 3: Nêu bài học kinh nghiệm trong Chính sách thu hút lao độngchuyên môn cao của thế giới, đặc biệt của Trung Quốc và Singapore, và khuyến nghịchính sách cho Việt Nam

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT LAO

ĐỘNG CHUYÊN MÔN CAO NƯỚC NGOÀI

1 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH THU HÚT LAO ĐỘNG CHUYÊN MÔN CAO NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Những vấn đề lý luận về lao động chuyên môn cao và lao động chuyên môn cao nước ngoài

1.1.1.1 Khái niệm

- Chuyên môn:

Theo từ điển tiếng Việt, chuyên môn là lĩnh vực kiến thức riêng của một ngànhkhoa học, kỹ thuật

- Lao động chuyên môn:

Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến lao động chuyên môn của các tổ chứcquốc tế OECD cho rằng lao động chuyên môn là lao động có kỹ năng Theo địnhnghĩa của OECD (2001), lao động kỹ năng là những người có kỹ năng làm việc chonhững lĩnh vực nhất định trên thị trường lao động Nhìn chung, lao động kỹ năngphản ánh trình độ nguồn nhân lực trên thị trường lao động Lao động kỹ năng caođồng nghĩa với phát triển nguồn nhân lực Kỹ năng được phản ánh rất đa dạng, từnhững việc làm đòi hỏi một nhóm người để hoàn thành một nhiệm vụ được giao liênquan đến các công việc cần sự phối hợp bằng tay và mắt, sự khéo léo và sức mạnh,đến các công việc liên quan đến kỹ năng nhận thức (phân tích, tổng hợp, kỹ năngtoán học, kỹ năng nói ) và kỹ năng phối hợp (lãnh đạo, tư vấn )[77]

Tổ chức phân loại tiêu chuẩn quốc tế về giáo dục (ISCED – Internationalstandard classification of education,1997), thuộc UNESCO cho rằng lao độngchuyên môn là lao động phải qua đào tạo Lao động có chất lượng phản ánh trình độnhất định về giáo dục hoặc bằng cấp chính thức của một cá nhân trên thị trường laođộng [49]

Từ các định nghĩa trên, có thể đưa ra khái niệm như sau: Lao động chuyênmôn là những lao động thực hiện các công việc chuyên môn, phải qua đào tạo Laođộng chuyên môn là những công việc đòi hỏi phải được thực hiện bởi chỉ một loại

Trang 11

lực lượng lao động có kỹ năng làm việc đặc thù, chuyên nghiệp, đã được đào tạo

nhằm đáp ứng được việc thực hiện các công việc đó

- Lao động chuyên môn cao:

Lao động chuyên môn cao những lao động được đào tạo chuyên sâu, có kinhnghiệm thực hành, đầy đủ năng lực và kỹ năng làm việc trong một lĩnh vực cụ thể.Người được công nhận là lao động chuyên môn cao thường phải trải qua các khóahuấn luyện, đào tạo chuyên biệt, bao gồm các nhà quản lý, quản trị doanh nghiệp,chuyên gia tư vấn, các doanh nhân, các giáo sư, các nhà khoa học, những người đãtốt nghiệp đại học trở lên ở nhiều chuyên ngành khoa học kỹ thuật, có chuyên môncao, có nghiệp vụ kỹ thuật cao, hoặc những người lao động có kỹ năng lao động giỏihoặc đã được chuyên môn hóa, có khả năng hòa nhập và thích ứng với những thayđổi của xã hội, của khoa học công nghệ, tham gia lao động có hiệu quả cao, có khảnăng đóng góp cho sự phát triển của các tổ chức và toàn xã hội

- Lao động chuyên môn cao nước ngoài:

Lao động chuyên môn cao nước ngoài là những lao động chuyên môn cao, cókhả năng di chuyển lao động trên thị trường lao động trong nước từ các tổ chức quốc

tế hoặc các công ty xuyên quốc gia, hoặc tìm kiếm việc làm trên thị trường lao độngquốc tế Các nước tiếp nhận đều hoan nghênh những lao động chuyên môn cao nướcngoài và có những chương trình khuyến khích thu hút lao động chuyên môn caotham gia thị trường trong nước

Như vậy, lao động nước ngoài chuyên môn cao là một khái niệm rộng liênquan đến cả nền tảng giáo dục và cơ sở nghề nghiệp của người lao động Khái niệmnày chưa được định nghĩa theo tính chất quốc tế, mà chỉ theo những tiêu chí và quyước của các tổ chức như OECD, UNESCO và EU

Có thể phân lao động chuyên môn cao nước ngoài theo ba loại sau:

+) Lao động chuyên môn cao nước ngoài trực tiếp tham gia các lĩnh vực sảnxuất: bao gồm các doanh nhân, kỹ sư, chuyên gia kỹ thuật, sáng chế kỹ thuật, sángtạo kinh doanh Họ là những người trực tiếp tham gia các lĩnh vực sản xuất và có tácđộng trực tiếp đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ

+) Lao động nước ngoài diện chuyên gia học thuật: bao gồm các nhà khoa học,các học giả, các sinh viên quốc tế Những cá nhân này thường làm việc trong cáctrường đại học, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm Họ không tham gia trực

Trang 12

tiếp sản xuất nhưng lại có khả năng chuyển giao các kết quả nghiên cứu theo hướngthương mại hóa, hoặc làm tăng giá trị sản phẩm.

+) Lao động chuyên môn cao nước ngoài trong các ngành văn hóa và xã hội:bao gồm các bác sĩ, y sĩ, nhà văn, họa sĩ, nhạc sĩ v.v Họ liên quan trực tiếp đến hoạtđộng của ngành chăm sóc sức khỏe, y tế, hoặc sáng tạo, gìn giữ bản sắc văn hóa

1.1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến di chuyển lao động nước ngoài chuyên môn cao

Di chuyển lao động nước ngoài chuyên môn cao được tuân thủ theo nhữngnguyên tắc nhất định của thị trường lao động quốc tế, trong đó cung và cầu lao độngchuyên môn cao trên thị trường lao động quốc tế là những nguyên nhân mang tínhchất quyết định Di chuyển lao động chuyên môn cao là một hiện tượng bình thường,

và ngày càng xảy ra thường xuyên hơn của thị trường lao động Nền kinh tế càngphát triển, hiện tượng này càng phổ biến, và là điều kiện không thể thiếu của sự pháttriển lành mạnh Những người lao động tri thức là những người có tính di động rấtcao Muốn đẩy nhanh sự phát triển kinh tế-xã hội và xây dựng nền kinh tế tri thức,thì các quốc gia phải khôn ngoan đối mặt với hiện tượng di chuyển của những ngườilao động nói chung và người lao động tri thức nói riêng, có chính sách "trọng dụng"

họ, tạo mọi điều kiện (về vật chất và tinh thần) để họ làm việc có hiệu quả Theo cácchuyên gia kinh tế, có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản sau dẫn đến sự di chuyển laođộng chuyên môn cao quốc tế:

a Nguyên nhân thuộc nguồn cung lao động chuyên môn nước ngoài:

Lý thuyết kinh tế học vĩ mô tân cổ điển đã giải nghĩa di chuyển lao động quốc

tế trong tiến trình phát triển kinh tế (Lewis 1954 [57], Ranis và Fei 1961[68], Todaro

1976 [69]) Các tác giả đưa ra giả định với những nước có trình độ phát triển gầnnhư nhau Theo các lý thuyết này, di chuyển lao động quốc tế là do có sự khác biệtđịa lý về nguồn cung và nguồn cầu lao động Các nước có nguồn cung lao động dồidào thường có mức lương trung bình thấp, trong khi các nước có nguồn cung laođộng khan hiếm thường có mức lương trung bình cao hơn Sự khác biệt về lương đãkhiến lao động ở những nước có mức lương thấp di chuyển đến nước có mức lươngcao hơn

Lý thuyết kinh tế học vi mô tân cổ điển lại giải thích di chuyển lao động quốc

tế dựa trên hành vi lựa chọn của mỗi cá nhân Theo các lý thuyết vi mô (Sjaastad1962[71], Todaro 1969, 1976, 1989, Todaro và Maruszko 1987), di chuyển lao động

Trang 13

quốc tế được quan niệm là một hình thức đầu tư nguồn nhân lực Con người sẽ lựachọn đến những địa điểm lao động có thể cho năng suất cao nhất, thể hiện được kỹnăng của họ tốt nhất; nhưng trước khi di chuyển họ cần phải đầu tư nhất định chogiáo dục, nghề nghiệp, văn hóa, ngoại ngữ để thích ứng với thị trường lao động mới Như vậy, nhân tố quyết định nguồn cung lao động là sự khác biệt về mứclương và các cơ hội thu nhập giữa các nước và các khu vực, khiến người lao động dichuyển từ nước này đến nước khác Nhìn chung, con người không thể giữ được thái

độ trung lập trước sự khác biệt lớn về thu nhập giữa các thành phố, giữa các ngànhkinh tế, giữa các quốc gia, và điều đó dẫn đến di chuyển lao động quốc tế Động cơdẫn đến việc di chuyển lao động chuyên môn cao cũng không nằm ngoài xu hướngtrên, ngay cả trong những lao động chuyên môn làm việc trực tiếp trong lĩnh vực sảnxuất, cũng như những lao động làm việc trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, hay họcthuật Chẳng hạn, nếu như nhà thiết kế phần mềm ở một nước đang phát triển nhậnđược mức thu nhập tương xứng và ngang bằng với các nhà thiết kế phần mềm kháctrên thế giới, xu hướng di chuyển lao động quốc tế chuyên môn cao sẽ không xảy ra.Nhưng khi chênh lệch về lương và các cơ hội thu nhập xảy ra, các nhà lao độngchuyên môn cao sẽ có động cơ di chuyển sang các nước trả lương cao hơn Nhìnchung, di chuyển lao động quốc tế đối với lao động chuyên môn cao phụ thuộc phầnlớn vào sự khác biệt thu nhập giữa trong nước và nước ngoài Điều này cũng dẫn đến

sự khác biệt lớn giữa mức sống và năng suất tiềm năng giữa các nước Các lao độngchuyên môn cao thường có xu hướng dịch chuyển từ các nước có trình độ phát triểnkinh tế thấp, sang nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn Khoảng cách pháttriển giữa các nước phản ánh sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người và mứcsống giữa các quốc gia Tại các nước có thu nhập thấp và trung bình, lao động cóchuyên môn cao thường có thu nhập và điều kiện sống thấp, không được ưu đãi vàkhuyến khích hấp dẫn như ở nước ngoài Chính vì vậy, nguồn cung lao động chuyênmôn cao trên thế giới có xu hướng gia tăng

Bảng 1.1 Những nguyên nhân dẫn đến di chuyển lao động chuyên môn

cao trên thế giới Nhân tố đẩy (phía cung) Nhân tố kéo (phía cầu)

1 Mức chênh lệch trong chi trả

lương/thu nhập lao động chuyên môn cao

Trang 14

2 Cơ hội việc làm và triển vọng nghề

6 Luật đối với lao động di cư cởi mở

Nguồn: OECD (2001), International mobility of highly skilled, OECD Publication, France , trang 86.

Ngoài vấn đề về lương, nguồn cung lao động chuyên môn cao trên thế giới còn

do những nguyên nhân khác Nhiều lao động chất lượng cao muốn di chuyển ra nướcngoài vì những lý do cá nhân, như thích cuộc sống độc lập không gắn bó với gia đìnhhoặc quá mệt mỏi với môi trường trong nước Ngoài vấn đề lương và thu nhập, laođộng chuyên môn cao muốn di chuyển ra nước ngoài bởi ở đó môi trường làm việc

ưu đãi, khuyến khích nhân tài, khuyến khích họ làm việc và cống hiến một cách côngbằng, tránh được những rủi ro về kinh tế, sức khỏe và tinh thần như ở trong nước Lýthuyết kinh tế học về di cư (economics of migration) với các lý thuyết gia nổi tiếngnhư Stark và Levhari (1982 [72], Katz và Stark (1986) [53] cho rằng quyết định di

cư của một cá nhân không chỉ do chính cá nhân người đó đưa ra mà còn do nhữngngười trong gia đình anh ta làm ảnh hưởng, không chỉ vì lý do nâng cao thu nhập,

mà còn nhằm tránh những rủi ro và sức ép do khuyết tật thị trường mang lại Chẳnghạn, ở các nước phát triển, rủi ro về thu nhập đối với hộ gia đình là rất thấp bởi chínhphủ thực hiện các chương trình bảo hiểm thất nghiệp và an sinh xã hội của chínhphủ, nhưng ở các nước đang phát triển, các cơ chế này còn thiếu, yếu kém và ở mứcthấp Nhìn chung, động cơ khuyến khích lao động chuyên môn cao di chuyển ranước ngoài rất đa dạng và họ có được môi trường bên ngoài ưu đãi hơn so với laođộng kỹ năng thấp hoặc lao động phổ thông

b Nguyên nhân thuộc nguồn cầu lao động chuyên môn nước ngoài:

Lý thuyết thị trường lao động cho rằng, di chuyển lao động quốc tế xuất phát

từ nguyên nhân về cầu dài hạn về lao động nước ngoài nhập cư để bù đắp cho nhữngvấn đề cơ cấu kinh tế của các nước phát triển Theo Piore (1979) [67], di chuyển laođộng quốc tế không chỉ do nhân tố đẩy từ các nước gửi lao động ra nước ngoài(lương thấp, thất nghiệp cao), mà còn do nhân tố kéo ở các nước tiếp nhập lao động

Trang 15

(nhu cầu không thể tránh khỏi về lao động nước ngoài) Các lý thuyết gia thuộctrường phái thị trường lao động cho rằng, tiền lương không chỉ phản ánh các điềukiện cung và cầu lao động, mà nó còn phản ánh địa vị và uy tín, công bằng xã hội.Nhìn chung, người lao động thường có thái độ cho rằng lương cần phản ánh địa vị xãhội, vì vậy họ thường có nhu cầu đòi mức lương cao hơn cho tương xứng với nghềnghiệp của họ Kết quả là, chủ doanh nghiệp thường không đáp ứng đầy đủ các nhucầu tăng lương của người lao động Họ có xu hướng đi tìm những lao động nướcngoài để cân đối quỹ lương và cân bằng nhu cầu tăng lương của người lao độngtrong nước

Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế là hậu quả của sự khan hiếm laođộng chuyên môn cao của nước nhận lao động Sự khan hiếm lao động chuyên môncao được phản ánh thông qua việc trả lương cho lao động có chuyên môn cao hơnmức thu nhập của lao động trong nước Lao động có chuyên môn cao thường thamgia vào các ngành công nghiệp có kỹ năng cao (high – tech), vào việc quản lý cácdoanh nghiệp đa quốc gia (MNEs) và tham gia vào các ngành khoa học công nghệ,các ngành công nghiệp tri thức toàn cầu Di chuyển lao động chuyên môn cao đượcđặc trưng bởi “cầu kéo” (demand – pull) từ phía các nước nhận lao động Các chínhsách di chuyển lao động của nước nhận lao động phản ánh sự thiếu hụt của thịtrường lao động trong nước Kết hợp cùng với những tác động của sự chọn lựa từphía cung (nước gửi lao động), điều này sẽ dẫn đến tỉ lệ di chuyển vốn nhân lực cóchuyên môn cao từ các nước đang phát triển tới các nước phát triển

Bảng 1.2 Nhân tố tác động đến di chuyển lao động chuyên môn cao theo

nhóm ngành nghề Theo nhóm ngành

nghề Nhân tố chính tác động đến sự di chuyển lao động

Nhà quản lý, quản trị

doanh nghiệp Sự hợp nhất và kiểm soát quá trình đầu tư trực tiếp nướcngoài

Kỹ sư, kỹ thuật viên

cao cấp Cơ hội kinh tế ở nước tiếp nhận lao độngChính sách di chuyển lao động

Các hoạt động nghiên cứu và phát triểnCác nhân tố riêng khác

Giáo sư, các nhà khoa

học Cơ chế hoạt động nghiên cứu và phát triểnDi chuyển quốc tế giữa các viện hàn lâm khoa học

Các doanh nhân Các điều kiện và cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế

Di cư và những chính sách thuế khóa

Trang 16

Thạc sĩ, tiến sĩ Cơ hội nghiên cứu và phát triển sau tiến sĩ

Sự ủng hộ, trợ cấp về tài chínhChính sách di chuyển lao động

Nguồn: Nguyễn Bình Giang (2011), Di chuyển lao động quốc tế, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế một phần lớn là do chính sáchthu hút nguồn nhân lực chuyên môn cao của các nước phát triển Các nước phát triểnluôn có những điều kiện làm việc tốt hơn, cơ chế ưu đãi hơn đối với lao động chuyênmôn cao, đặc biệt là lương, thưởng, bảo hiểm, nhà cửa và nhiều tiện nghi khác Tạicác nước đang phát triển, do thiếu thốn vốn và không đủ năng lực để phát triển khoahọc công nghệ, do vậy lao động chuyên môn cao thường phải làm việc trong điềukiện vất vả, thu nhập thấp và mọi cơ chế chính sách không được phát huy để khaithác hết tiềm năng của đội ngũ lao động chuyên môn cao Chênh lệnh về lương, thunhập, chế độ đãi ngộ, bảo hiểm… giữa các nước phát triển và các nước đang pháttriển là nguyên nhân thúc đẩy lao động có chuyên môn di chuyển ra nước ngoài

Ngoài ra, lao động chuyên môn cao nước ngoài còn được thúc đẩy bởi các cơchế quản lý rủi ro và dịch vụ bảo hiểm ở nước tiếp nhận Ở các nước phát triển, cácrủi ro nghề nghiệp, rủi ro trong đầu tư mạo hiểm đều được tối thiểu hóa thông qua thịtrường bảo hiểm của tư nhân và chính phủ Các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vựccông nghệ cao hoặc y tế ở các nước phát triển đều được bảo hiểm rủi ro, đặc biệttrong môi trường làm việc với cường độ cao và mức độ rủi ro lớn Bảo hiểm tráchnhiệm nghề nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp phápcho lao động chuyên môn cao và điều này được thực hiện ở hầu hết các quốc giaphát triển Ở các nước đang phát triển, cơ chế quản lý rủi ro không hoàn hảo, ngườilao động khó có khả năng tiếp cận được thị trường bảo hiểm Do vậy, người lao động

có xu hướng di chuyển về thị trường lao động có bảo hiểm để tối đa hóa nguồn thunhập và tối thiểu hóa những mất mát, rủi ro Những lao động tri thức, có chuyên môncao hơn ai hết lại là những người nhận thức rõ điều này Và do những hạn chế, yếukém trong cơ chế, chính sách ở các nước đang phát triển đã tạo ra dòng di chuyển laođộng quốc tế mạnh mẽ

c Nguyên nhân thuộc về môi trường quốc tế

Môi trường quốc tế cũng có những ảnh hưởng quan trọng đối với di chuyển laođộng chất lượng cao trên toàn cầu Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế là do

Trang 17

kết quả của quá trình toàn cầu hóa Quá trình toàn cầu hóa là một xu thế khách quan,khiến các nước có nhiều cơ hội tiếp nhận nguồn vốn, công nghệ và việc làm, nhưngcũng có xu hướng làm tăng chênh lệch thu nhập giữa các quốc gia do khả năng tiếpnhận các cơ hội của toàn cầu hóa là khác nhau, dẫn đến trình độ phát triển không đều

về kinh tế và xã hội giữa các nước trên thế giới Quá trình toàn cầu hóa và nhữngchính sách di cư chọn lựa ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển laođộng có chuyên môn cao quốc tế Toàn cầu hóa đi kèm với nền kinh tế tri thức khiếntri thức và công nghệ trở thành yếu tố quyết định đến sự phát triển của một quốc gia.Biên giới phẳng giữa các nước do toàn cầu hóa mang lại khiến việc di chuyển laođộng giữa các quốc gia ngày càng thuận tiện hơn, trong đó lao động càng có trình độchuyên môn cao càng có xu hướng di cư nhiều

Cuộc cách mạng công nghệ thông tin và viễn thông trong những thập kỷ gầnđây khiến mức cầu về lao động chuyên môn cao ngày càng tăng Kỹ sư, người lậpchương trình phần mềm tin học, nhà khoa học và những lao động chuyên môn caokhác trong lĩnh vực thông tin và viễn thông trở nên rất có giá trị Hơn thế, các công

ty xuyên quốc gia hiện nay đang là chủ thể đầu tư chủ yếu trên thế giới và sự pháttriển mở rộng của các công ty này kéo theo nhu cầu về đội ngũ lao động chuyên môncao di chuyển ra nước ngoài làm việc

Toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang là một xu thếkhách quan, tạo ra động lực cạnh tranh gay gắt trong thu hút lao động chuyên môncao trên toàn thế giới Ở cấp độ quốc tế, hiện nay chưa có cơ chế toàn cầu nào đượcthành lập để tạo điều kiện cho lao động chuyên môn cao di chuyển trên toàn cầu vàcũng chưa có cơ chế nào thích ứng với cung và cầu lao động chuyên môn cao trênthế giới Vấn đề lao động chuyên môn cao nước ngoài đang trở thành mối quan tâmtrên toàn cầu, cả ở nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển Dichuyển lao động chuyên môn cao nước ngoài hiện nay được tạo điều kiện thuận lợithông qua các công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và những kiến nghị củaILO hướng tới đảm bảo quyền lợi cho người lao động Các công ước liên quan đếnlao động nước ngoài của ILO có thể kể đến là Công ước 97 (1949) và Công ước 143(1975); Ngoài ILO, còn có một số tổ chức khác như Tổ chức di cư quốc tế, Ủy bantoàn cầu về di trú quốc tế (thành lập năm 2003), Diễn đàn toàn cầu về lao động di trú

và phát triển (2007, 2008) Ở cấp khu vực, có thể kể đến một số thỏa thuận liên

Trang 18

quan đến lao động chuyên môn cao nước ngoài như: thỏa thuận đa phương về việccông nhận bằng cấp (như UNESCO, OECD, EU), quản trị di chuyển lao động dichuyển tự do (như EU) hoặc tạo điều kiện cho việc di chuyển lao động kỹ năng(cộng đồng các quốc gia Caribe) Ở cấp song phương, các thỏa thuận lao độngsong phương ngày càng được ký kết nhiều hơn, tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảolợi ích cho lao động chuyên môn cao nước ngoài

1.1.2 Các chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài

Để thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài, cần phải tạo ra môi trườngchính sách hấp dẫn ở trong nước Lực lượng lao động chuyên môn cao nước ngoàiluôn tìm kiếm các điểm đến hấp dẫn để nhập cư, hay nói cách khác là chính môitrường trong nước là điều kiện quyết định dòng di cư lao động chuyên môn cao quốc

tế Môi trường chính sách hấp dẫn lao động chuyên môn cao nước ngoài được thểhiện qua mô hình sau đây:

Hình 1.1 Các nhân tố thuộc về môi trường chính sách quyết định việc lựa chọn điểm đến của lao động chuyên môn cao nước ngoài

Nguồn: Demetrios G.Papadenetriou, Madeleine Sumption (2012), Attracting and Selecting from the Global Talent Pool – Policy Challenges, Migration Policy Institute, BertelsmannStiftung.

Trang 19

Như vậy, từ động cơ lựa chọn điểm đến của lực lượng lao động chuyên môncao, có thể thấy môi trường kinh tế - xã hội ở nước tiếp nhận lao động chuyên môncao đóng vai trò quan trọng Môi trường này bao gồm các cơ hội sẵn có cho lao độngchuyên môn cao bằng nhiều hình thức khác nhau Lực lượng lao động chuyên môncao thường có nhu cầu tiếp tục đầu tư phát triển kỹ năng của họ, bởi vậy nước thuhút lao động chuyên môn cao cần phải tạo điều kiện để họ tiếp tục học tập, nghiêncứu, triển khai các dự án, xây dựng các phòng thì nghiệm, các trung tâm công nghệcao và tạo dựng môi trường đầu tư mạo hiểm cho họ Ngoài ra, môi trường kinh tế -

xã hội trong nước cũng là một điều kiện quan trọng để hấp dẫn lao động chuyên môncao, bao gồm mô hình xã hội của nước tiếp nhận lao động, cách sống, môi trườngsống và sự an toàn của xã hội Chẳng hạn, một nước có hệ thống an sinh xã hội tốt(chăm sóc sức khỏe, y tế, chăm sóc trẻ em, bảo trợ gia đình, chất lượng trườnghọc…) sẽ có sức hút lớn đối với lao động chuyên môn cao nước ngoài, tạo cho họyên tâm cống hiến và định cư lâu dài với gia đình của họ Hơn nữa, những điều kiệnthuận lợi về ngôn ngữ (đa dạng hóa ngôn ngữ), văn hóa, tôn giáo ở nước tiếp nhậncũng là một nhân tố hấp dẫn lao động chuyên môn cao

Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài chủ yếu bao gồm:

Thứ nhất, chính sách thu hút và khuyến khích lao động chuyên môn cao nước ngoài vào nước làm việc Các chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước

ngoài rất đa dạng, bao gồm từ cho phép ký kết hợp đồng tạm thời đến định cư vĩnhviễn để tìm kiếm việc làm ở nước tiếp nhận Thông thường, có 3 loại chính sáchtuyển dụng lao động chuyên môn cao nước ngoài, đó là:

- Chính sách tuyển dụng lao động theo hợp đồng sử dụng lao động: đối với loạichính sách này, lao động chuyên môn cao nước ngoài sẽ được ký kết hợp đồng tuyểndụng lao động tạm thời, theo đó người sử dụng lao động phải có hợp đồng lao độngvới người lao động nhập cư có kỹ năng cao trước khi có thẻ visa vào làm việc [18;90].Thông thường, chủ sử dụng lao động phải đệ trình yêu cầu tuyển dụng và chứngminh rằng loại kỹ năng đó là không thể tìm kiếm thay thế trong nước theo cách đãđăng ký tuyển dụng Các nước thường áp dụng biện pháp kiểm tra người lao độngnước ngoài trước khi họ tham gia thị trường lao động Các biện pháp kiểm tra nàyđược đưa ra nhằm bảo vệ tính cạnh tranh trên thị trường lao động giữa người laođộng trong nước và lao động nước ngoài Biện pháp kiểm tra này thường rất ngặt

Trang 20

nghèo, không mang tính ưu đãi nhập cư và khuyến khích các chủ doanh nghiệp tănglương cho lao động trong nước Hầu hết lao động chuyên môn cao nước ngoài đềuphải qua các biện pháp kiểm tra ở nước tiếp nhận Các biện pháp kiểm tra này rất đadạng, tùy thuộc vào yêu cầu của từng nước và yêu cầu của từng ngành nghề.

- Chính sách tuyển dụng lao động theo con đường nhập cư: lao động kỹ năng

có thể được lấy visa vào các nước phát triển theo con đường nhập cư Các tiêu chuẩnxét chọn nhập cư và cấp visa thường dựa trên đặc tính về nhân lực muốn nhập cư.Nhiều nước đã thiết lập hệ thống visa lao động với những quy định chặt chẽ về tiêuchuẩn tay nghề, trình độ chuyên môn của người lao động Ký hiệu của các loại visa

sẽ chứng tỏ nước đó ưu đãi, hay đang hạn chế người nước ngoài nhập cư Các kỹnăng chung cần kiểm tra để có thể được cấp visa đó là: ngôn ngữ, giáo dục, nghềnghiệp, kinh nghiệm, tuổi tác Hệ thống chấm điểm ở các nước đối với các kỹ năngnày là khác nhau Chẳng hạn tại Mỹ, loại Visa mang ký hiệu H1-B là giành chonhững lao động nước ngoài chuyên môn cao ở nhiều loại nghề nghiệp khác nhau H-1B được đưa ra cho giai đoạn tối đa là sáu năm Trong những trường hợp nhất định,các cá nhân có thể gia hạn trên mức tối đa 6 năm Còn tại Úc, loại Visa mang ký hiệuVisa 457 là giành cho lao động nước ngoài có kỹ năng để bổ sung vào các vị trí đãđược chỉ định ở Úc trong giai đoạn từ 3 tháng đến 4 năm

- Chương trình nhập cư đặc biệt giành cho lao động kỹ năng cao: Đó là cácchương trình như sinh viên quốc tế, chuyển dịch lao động nội bộ công ty Chính sáchsinh viên quốc tế được nhiều nước sử dụng như là một công cụ để thu hút lao động

kỹ năng cao, trong đó có hai loại hình thu hút sinh viên quốc tế như: sinh viên vừahọc vừa làm trong thời gian học tập; và sinh viên khi tốt nghiệp xong sẽ phải cam kết

ở lại làm việc trong một khoảng thời gian nhất định Chính sách chuyển dịch laođộng nội bộ công ty chủ yếu áp dụng cho các công ty đa quốc gia, chuyển dịch laođộng kỹ năng cao giữa công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài hoặc giữa các chinhánh nước ngoài với nhau Thông thường, các chính phủ ở các nước tiếp nhận đầu

tư thường chỉ cho phép các công ty đa quốc gia được dịch chuyển lao động chuyênmôn cao ở cấp quản lý hoặc nhân viên cao cấp nhằm mục đích thúc đẩy đào tạo kỹnăng và tay nghề cho lao động địa phương

Bảng 1.3 Hệ thống thang điểm khác nhau đối với lao động nước ngoài

chuyên môn cao ở một số nước trên thế giới

Trang 21

Các kỹ năng Anh Australia Canada New Zealand

Tiến quỹ trong giai đoạn đầu 10 bắt buộc

Tuổi (trẻ hơn nhiều điểm hơn) 5-20 15-30 0-10 5-30

Kinh nghiệm làm việc trong

Người đỡ đầu tại vùng dự kiến 25

Kỹ năng ngoại ngữ chuyên môn 5

Nguồn: Jonathan Chaloff and George Lamaitre (2009), Managing highly skilled labour migration: a comparative analysis migration policies and challenges

in OECD countries, OECD social, employment and migration working paper No 79, trang 23.

Thứ hai, chính sách quản lý lao động chuyên môn cao nước ngoài Để hạn

chế nhập cư lao động không có chuyên môn và lao động chuyên môn cao không đápứng đúng yêu cầu của nền kinh tế, các nước thường có các cơ quan quản lý lao độngnước ngoài Biện pháp quản lý lao động chuyên môn cao nước ngoài thường đượccác nước sử dụng là hạn ngạch Hạn ngạch là công cụ thông dụng để điều tiết sốlượng lao động trong thị trường lao động thông qua các mức trần số lượng được đưa

ra theo kế hoạch trong một giai đoạn nhất định, thông thường là trong một năm [18,p75].Đây là một công cụ quan trọng tại các nước tiếp nhận lao động Mức trần có thểđược tính toán là số cố định, hay theo phần trăm trong tổng lực lượng lao động củanước tiếp nhận lao động Hạn ngạch thường được thiết lập ở cấp quốc gia, dựa vàokết quả dự báo kinh tế, cung cầu thị trường lao động

Ngoài hạn ngạch, các nước tiếp nhận lao động chuyên môn cao thường banhành danh mục các ngành nghề khan hiếm và yêu cầu đặt ra đối với lao động nướcngoài Danh mục các ngành nghề này thường yêu cầu rất cụ thể trình độ chuyên môn

Trang 22

ngành nghề Ngoài ra, các nước tiếp nhận thường yêu cầu chủ doanh nghiệp phảithường xuyên báo cáo mức cung – cầu về lao động chuyên môn cao nước ngoài,những yêu cầu về thời hạn buộc phải thay thế lao động nước ngoài bằng lao độngtrong nước và những quy định khác về mức lương giữa lao động nước ngoài và laođộng trong nước nhằm bảo vệ lao động trong nước và hạn chế thuê lao động nướcngoài ở những ngành nghề không cần thiết.

Để hạn chế lao động không kỹ năng và lao động chuyên môn cao nước ngoàilàm việc bất hợp pháp, các nước phát triển thường áp dụng các chính sách điều tiếtlao động bất hợp pháp Biện pháp thường áp dụng để quản lý lao động nước ngoàibất hợp pháp là xử phạt tài chính đối với chủ sử dụng lao động và người lao động bấthợp pháp, yêu cầu chủ sử dụng lao động phải đăng ký số lượng lao động chuyênmôn cao nước ngoài cần tuyển dụng và giải trình thời gian và lý do cần tuyển dụnglao động nước ngoài, tăng cường quản lý dòng lao động di cư quốc tế nhằm hạn chếlao động di cư bất hợp pháp gây tác động tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế – xãhội ở nước tiếp nhận

Thứ ba, các chính sách thực thi sau khi lao động chuyên môn cao nước ngoài tới làm việc: Sau khi lao động chuyên môn cao nước ngoài được tuyển dụng , các

nước thường áp dụng các chính sách sau đây nhằm tạo điều kiện và môi trườngthuận lợi cho lao động nước ngoài, đó là:

- Bảo vệ người lao động: Sau khi cấp visa cho lao đông nước ngoài, các nướcthường đưa ra những quy định về lương, điều kiện lao động, các loại việc làm đốivới lao động nhập cư Hình thức bảo vệ người lao động này được áp dụng cho cả laođộng trong nước và lao động nước ngoài, và yêu cầu các chủ doanh nghiệp phải thựchiện nghiêm túc Một số nước đã ban hành một số luật để giúp ngăn chặn nạn bóc lộtlao động nhập cư và đảm bảo mức lương và các điều kiện của lao động trong nướckhông bị cắt giảm Các nước đều có những luật, chính sách về nhập cư, trong đó cónhững vấn đề về khung hình phạt giành cho các nhà tuyển dụng vi phạm nghĩa vụbảo lãnh người nhập cư

- Các cơ chế đối với người lao động nhập cư: Hệ thống chính sách của cácnước tiếp nhận lao động nhập cư thường đi kèm với những cơ chế liên quan đến anninh và bộ máy hành chính của họ Quá trình tiếp nhận lao động nhập cư nghiêmngặt có thể làm chậm lại hoặc ngăn cản vấn đề nhập cư Một số nước đã áp dụng một

Trang 23

số quy định buộc các bộ ngành liên quan phải chịu trách nhiệm đối với lao độngnhập cư sau khi tiếp nhận họ Hệ thống quản lý lao động nhập cư hiện nay ở nhiềunước đang ngày càng chặt chẽ hơn để hạn chế lao động nhập cư.

- Những quy định về trách nhiệm của người tuyển dụng: Visa lao động tạmthời hay lâu dài đòi hỏi người nhập cư phải có câu trả lời từ người tuyển dụng Ở hầuhết các nước, chính sách này đưa ra rất rõ ràng, đòi hỏi người tuyển dụng phải tự sắpxếp vấn đề lao động nhập cư, có trách nhiệm đàm phán với người nhập cư về các vấn

đề việc làm, tiền lương và các quy định khác của doanh nghiệp

- Những quy định đối với người đi theo (vợ/chồng hoặc người sống phụthuộc) Các nước tiếp nhận lao động nước ngoài thường có những quy định hạn chếrất rõ ràng đối với người đi theo (vợ/chồng hoặc người sống phụ thuộc) Thôngthường, người lao động sẽ không được phép mang theo người thân khi sang làm việctại người ngoài theo visa truyền thống Tuy nhiên, một số nước đã nới lỏng quy địnhnày để khuyến khích lao động nước ngoài chuyên môn cao

- Quyền lợi được cư trú lâu dài: Lao động chuyên môn cao khi làm việc ởnước ngoài thường được cấp visa làm việc tạm thời và ban đầu họ không có ý địnhlàm việc lâu dài Nhưng để khuyến khích người lao động chuyên môn cao nướcngoài ở lại định cư lâu dài, một số nước thường đưa ra những quy định ưu đãi định

cư lâu dài đối với họ Các quy định này thường là khác nhau giữa các nước

- Các quyền lợi an sinh xã hội:Lao động chuyên môn cao nước ngoài sau khiđược tiếp nhận sẽ được hưởng các quyền lợi về hỗ trợ thu nhập, hỗ trợ hội nhập, trợcấp xã hội, bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm y tế giáo dục và các hỗ trợ tìm chỗ ở.Những quyền lợi này đối với người lao động chuyên môn cao nước ngoài thườngtương đối bình đẳng so với lao động bản địa, khiến họ yên tâm làm việc và cống hiếntri thức

Nhìn chung, những ưu tiên chính sách của các nước tiếp nhận lao độngchuyên môn cao nước ngoài có sự khác nhau về chương trình và biện pháp Hầu hếtcác nước đều cố gắng thực hiện các chính sách ưu đãi đối với lao động chuyên môncao nước ngoài và hạn chế nhập cư lao động phổ thông, kỹ năng thấp Tuy nhiên,trên thực tế các chính sách này không mang lại nhiều lợi ích như mong muốn và cácnước tiếp nhận vẫn phải đối mặt với tình trạng nhập cư gia tăng – đặc biệt là với laođộng kỹ năng thấp Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài thường

Trang 24

theo 4 kênh cơ bản: 1) Theo hợp đồng sử dụng lao động nhập cư; 2) Theo con đườngnhập cư; 2) Theo chương trình nhập cư đặc biệt giành cho lao động kỹ năng cao; 4)Theo chương trình tự do di cư Trên thực tế, chỉ có những nước như Úc, Mỹ,Canada, Đức đã tiến hành nghiên cứu có hệ thống chính sách thu hút lao động nướcngoài chuyên môn cao, có các chương trình và biện pháp thu hút lao động nướcngoài rất ngặt nghèo và hệ thống Còn ở nhiều nước phát triển và đang phát triểnkhác, các chương trình và biện pháp thu hút lao động nước ngoài chuyên môn cao rất

Thứ nhất, lao động chuyên môn cao nước ngoài làm tăng hiệu quả hoạt động kinh tế và sự phát triển của nước tiếp nhận lao động.

Di chuyển lao động chuyên môn cao ra nước ngoài đồng nghĩa với việc nướctiếp nhận nhận được một hàm lượng chất xám tương đối lớn Hàm lượng chất xámcủa lao động chuyên môn cao nước ngoài sẽ làm tăng nguồn vốn nhân lực, khắcphục sự khan hiếm hoặc chưa đầy đủ về kỹ năng cần thiết cho quá trình sản xuấthoặc nghiên cứu Nếu một quốc gia có lực lượng lao động chuyên môn cao nướcngoài làm việc trong các ngành khoa học và công nghệ, thông tin, hóa chất v.v hoặc có số lượng người nước ngoài có học vị giáo sư, tiến sĩ thì những lợi ích kinh

tế mang lại sẽ lớn hơn, trong đó có việc thúc đẩy tỷ lệ đổi mới cao hơn Thực tế, sựđóng góp của sinh viên và các nhà khoa học nước ngoài đối với nền tảng tri thức đãkéo theo hiệu suất lao động tăng lên ở các nước tiếp nhận lao động

Lao động chuyên môn cao nước ngoài làm tăng sức mạnh của tầng lớp doanhnhân ở nước tiếp nhận lao động Đi kèm theo lực lượng lao động có kỹ năng cao, làtầng lớp doanh nhân tinh hoa từ nước ngoài được khuyến khích nhập cư vào cácnước tiếp nhận Hầu hết các nước phát triển đều công khai cạnh tranh với nhau đểthu hút các tài năng quy tụ về quốc gia mình nhằm mục đích phát triển ở cấp độ toàncầu và sự đóng góp của những người nhập cư theo đó cũng rất khác nhau Tầng lớp

Trang 25

doanh nhân nước ngoài là lực lượng lao động có chất lượng cao, có kỹ năng quản lýtốt, có tiềm lực tài chính và công nghệ, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của doanhnghiệp và nền kinh tế của nước tiếp nhận

Lao động chuyên môn cao nước ngoài làm tăng dòng chảy tri thức đến cácnước tiếp nhận Họ là những người có kỹ năng, có trình độ chuyên môn, mang lạinhững hiệu quả kinh tế tích cực cho các nước phát triển trong việc thúc đẩy sự pháttriển của các ngành kinh tế mũi nhọn Nhờ chính sách thu hút lao động chuyên môncao mang tính ưu đãi, nhiều nước đã tiếp nhận được các chuyên gia công nghệ thôngtin, các nhà khoa học, bác sĩ, y tá để từ đó mang lại những hiệu quả nhất định đốivới tăng trưởng kinh tế và phát triển khoa học kỹ thuật ở nước tiếp nhận

Cùng với các tác động tích cực trên đối với phát triển kinh tế, lao động chuyênmôn cao nước ngoài còn tạo nên sự sáng tạo và đa dạng về băn hóa xã hội đối vớinước tiếp nhận lao động Do nguồn lao động di chuyển từ nhiều quốc gia với nhiềutôn giáo và bản sắc văn hóa khác nhau, nước tiếp nhận lao động nhập cư sẽ tiếp nhậnluôn cả nền văn hóa, phong tục tập quán, lối sống và ngôn ngữ của lao động nướcngoài Các trung tâm quốc tế lớn như New York, London là những bằng chứng rất

rõ ràng cho sự đa dạng và sáng tạo này từ việc tiếp nhận lao động chuyên môn caonước ngoài

Thứ hai, lao động chuyên môn cao nước ngoài làm tăng hiệu quả của hệ thống giáo dục ở nước tiếp nhận lao động.

Việc tiếp nhận lao động chuyên môn cao nước ngoài (bao gồm cả sinh viênnước ngoài) sẽ khiến các chương trình giảng dạy được mở rộng hoặc cải tiến Hơnthế, sinh viên nước ngoài được phép thi và ghi điểm cao hơn trong các chương trìnhhọc tập ở nước tiếp nhận để từ đó có những nỗ lực đạt được bằng cấp rất cao nhằmmục đích vượt qua những yêu cầu ngặt nghèo phải kiểm tra trên thị trường lao động.Chính vì vậy, lợi ích của các chương trình giảng dạy đối với sinh viên (cả sinh viêntrong nước và sinh viên nước ngoài) ngày càng lớn và ngày càng phải cải tiến nhằmđáp ứng nhu cầu học tập và cạnh tranh của sinh viên nước ngoài

Thứ ba, lao động chuyên môn cao nước ngoài làm tăng hiệu quả tài chính đối với nước tiếp nhận Đối với những nước tiếp nhận đầu tư, lao động chuyên môn cao

thường đi kèm với thu nhập cao hơn và đi kèm với đó là mức thuế thu nhập cũng caohơn Do vậy, người lao động có trình độ thường đòi hỏi mức lương cao hơn để phù

Trang 26

hợp với khả năng và trình độ của mình, đồng thời tìm mọi cách để không phải đóngthuế cao hơn Thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài sẽ giúp các nước tiếpnhận giải quyết cả hai vấn đề: lương và thuế thu nhập Doanh nghiệp có thể tiết kiệmđược tiền lương bởi những quy định về lương và công việc luôn rõ ràng đối vớingười nước ngoài, họ có thể chấp nhận, hoặc không chấp nhận làm việc với mứclương thấp hơn mức lương của người bản địa Thêm vào đó, người lao động nhập cưnước ngoài phải tuân thủ nghiêm túc các quy định về đóng thuế thu nhập, vì vậy cáckhoản thất thu thuế thu nhập dường như ít xảy ra đối với lao động nước ngoài.Người lao động nhập cư sẵn sàng chấp nhận những công việc mà người dân nước sởtại không thích làm, hoặc không đủ người làm và sự sẵn sàng chấp nhận này đồngnghĩa với mức lương thấp hơn người dân bản địa Lao động nhập cư chuyên môn caođem lại những lơi ích tài chính nhiều hơn cho nước tiếp nhận, bởi theo cách đánh giácủa nhiều chuyên gia thế hệ nhập cư đầu tiên có thể khiến nước tiếp nhận phải trangtrải đủ các vấn đề an sinh xã hội cho người nhập cư, gây ra những chi phí tài chínhtương đối lớn so với mức đóng góp của người nhập cư; nhưng sang các thế hệ nhập

cư tiếp theo lại có xu hướng tạo ra thặng dư tài chính lớn cho chính phủ nước tiếpnhận [18]

Thứ tư, lao động chuyên môn cao nước ngoài đem lại những tác động tích cực đối với thị trường lao động của nước tiếp nhận

Lao động nhập cư có tác dụng bù đắp sự thiếu hụt lao động của nước sở tại,đặc biệt là bù đắp lực lượng lao động có chuyên môn cao đang thiếu hụt của cácnước này Sự bù đắp những thiếu hụt về nguồn vốn nhân lực chất lượng cao sẽ đemlại những tác động tích cực đối với năng suất và tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, tầnglớp doanh nhân nước ngoài nhập cư sẽ khiến nền kinh tế hình thành những ngànhnghề kinh doanh mới hoặc đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh, từ đó góp phần tạoviệc làm nhiều hơn cho thị trường lao động

Trang 27

Thứ nhất, lao động chuyên môn cao nước ngoài làm giảm những ưu đãi đối với người dân bản địa trong việc tìm kiếm kỹ năng cao hơn.

Khi lao động chuyên môn cao nước ngoài thay thế lao động bản địa trên thịtrường lao động trong nước, thì theo quy luật cung cầu trên thị trường lao động, mứclương sẽ giảm cùng với các nghề nghiệp có kỹ năng cao hơn [45] Điều này dẫn đếnviệc giảm những ưu đãi đối với lao động bản địa trong việc đầu tư phát triển nguồnvốn nhân lực Các lý thuyết kinh tế vĩ mô tân cổ điển và lý thuyết thị trường lao độngđều phân tích một số tác động tiêu cực của các mô hình đầu tư nguồn vốn nhân lực.Các lý thuyết gia cho rằng lao động chuyên môn cao nước ngoài có thể tạo ra mộtnguồn đầu tư vốn mới và bổ sung những thiếu hụt trên thị trường lao động, và việc

mở rộng lực lượng lao động chuyên môn cao hơn có thể dẫn đến những thay đổikinh tế, làm tăng mức cầu về các dịch vụ cho họ và vì thế làm giảm bớt áp lực củanguồn cung lao động trong nước Điều này dẫn đến vấn đề nhập cư lao động chuyênmôn cao sẽ được mở rộng trong hầu hết lĩnh vực đang đem lại cơ hội việc làm tươngđối tốt cho người lao động Lao động bản địa vì thế sẽ không có cơ hội để tìm kiếm

kỹ năng cao hơn trong một số lĩnh vực nhất định đang ưu đãi lao động nước ngoài

Thứ hai, lao động bản địa sẽ không có cơ hội tiếp cận giáo dục tiên tiến do chính sách nhập cư lao động chuyên môn cao nước ngoài.

Khi tiếp nhận lao động chuyên môn cao nước ngoài, người dân bản địa sẽ bịbật ra khỏi các cơ hội học tập các chương trình bậc cao và các nguồn đào tạo tiêntiến khác Chẳng hạn, nếu một trường đại học hạn chế chỉ tiêu sinh viên đầu vào,một sinh viên nhập cư có trình độ cao hơn có thể cản trở cánh cửa vào trường đạihọc đó của sinh viên bản địa Tại các viện nghiên cứu và các tổ chức công nghệ cao,những ưu tiên bằng cấp và chất lượng nghề nghiệp có thể khiến người lao động nướcngoài nỗ lực hết mình để được tuyển dụng, trong khi cơ hội giành cho người bản địa

ở các viện nghiên cứu và các tổ chức công nghệ cao bị hạn chế do họ không cónhững nỗ lực đạt được bằng cấp theo yêu cầu

Thứ ba, những tác động tiêu cực khác

Đó là nhập cư lao động chuyên môn cao có thể tăng sự khác biệt về văn hóagiữa người bản địa và người lao động nước ngoài, từ đó tạo nên những rào cản đốivới người bản địa khi tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ Chẳng hạn tạicác trường đại học, sinh viên bản địa phải cố gắng hết mình mới hiểu được giọng nói

Trang 28

của các giáo sư đến từ nước ngoài, như vậy khả năng nắm bắt khoa học công nghệtiên tiến của sinh viên bản địa sẽ bị hạn chế Hơn nữa, vị trí làm việc trong các doanhnghiệp cũng sẽ có sự phân biệt giữa người bản địa và người nước ngoài, người khácsắc tộc, khác quốc qua với nhau Điều này có thể tạo ra những rủi ro chính trị - xãhội đối với các nước tiếp nhận lao động nhập cư nước ngoài có chuyên môn cao.

Bảng 1.4 Những tác động kinh tế của lao động chuyên môn cao nước

ngoài ĐỐI VỚI NƯỚC TIẾP NHẬN

+ Tăng tri thức và hiệu quả kinh tế

+ Đa dạng văn hóa và sáng tạo

- Phát triển hệ thống giáo dục cao

hơn

- Tăng hiệu quả tài chính

- Tăng hiệu quả thị trường lao động

2 Tác động tiêu cực

-Lao động bản địa không còn được

ưu đãi trong các ngành kỹ năng cao

- Lao động bản địa bị đẩy ra ngoài hệ

thống giáo dục cao hơn

- Rủi ro tiềm tàng từ sự khác biệt văn

hóa, tôn giáo

ĐỐI VỚI NƯỚC GỬI LAO ĐỘNG

1 Tác động tích cực

- Hiệu quả phát triển

+ Tăng tri thức và hợp tác, tăng mối quan

hệ với các viện nghiên cứu nước ngoài.+ Cơ hội xuất khẩu công nghệ

+ Kiều hối+ Kinh nghiệm quản lý có giá trị, tăng sựtiếp cận với hệ thống sản xuất toàn cầu

- Hiệu quả đối với nguồn vốn nhân lực+ Tăng khuyến khích đối với người bản địa

để tìm kiếm kỹ năng cao hơn+ Giảm rủi ro trong đầu tư giáo dục ở mức

- Tăng sự tập trung chi tiêu toàn cầu cho khoa học và công nghệ

- Tạo nên cạnh tranh mang tính quốc về do khan hiến nguồn lực, ưu đãi thu hútnguồn nhân lực chất lượng cao

- Tăng bất bình đẳng toàn cầu

Nguồn: Andres Solimano, Molly Pollack (2004), International mobility of the highly skilled: the case between Eurrope and Latin America, Working Papers, No 1, Santiago, Chile, trang 13.

Trang 29

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH THU HÚT LAO ĐỘNG CHUYÊN MÔN CAO NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Quá trình phát triển và đặc điểm di chuyển lao động chuyên môn cao nước ngoài trên thế giới

Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, di chuyển lao động quốc tế diễn ra sôiđộng Hàng triệu người dân ở các vùng địa lý trên thế giới đã vượt qua biển Atlantic,Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương để tìm đến những vùng đất có điều kiện phát triểnkinh tế tốt hơn.Trong thời kỳ này, di chuyển lao động quốc tế được mở rộng do sựkhan hiếm lao động kỹ năng thấp, đặc biệt trong ngành nông nghiệp và khai khoáng

ở các nước châu Âu, Mỹ, Australia Vào năm 1965, toàn thế giới có khoảng 75,2triệu lao động làm việc ở nước ngoài, chiếm 2,3% dân số toàn thế giới, trong đó laođộng nước ngoài có quốc tịch tại các nước phát triển chiếm 40,4% và có quốc tịch tạicác nước đang phát triển chiếm 59,6% Vào năm 1990, thế giới có 119,8 triệu laođộng làm việc ở nước ngoài, vẫn chiếm khoảng 2,3% dân số toàn thế giới, trong đócác nước phát triển chiếm 45,3% và các nước đang phát triển chiếm 54,7% [80] Hầu hết những người lao động nước ngoài trong thời kỳ này có nguồn gốc từ châu

Á, Bắc Mỹ, Châu Âu và châu Phi

Sang nửa cuối thế kỷ XX, bắt đầu có sự chuyển dịch về chất trong di chuyểnlao động quốc tế Trong thời kỳ này, cuộc cách mạng công nghệ thông tin, viễnthông và vận tải đã làm giảm chi phí giao dịch trên thị trường lao động, tăng lợi íchcủa các nước xuất khẩu lao động nhờ những điều kiện hấp dẫn hơn của thị trường laođộng nước ngoài và bắt đầu xuất hiện những chênh lệch về lương và thu nhập trênthị trường lao động ở các nước Chính sách nhập cư và tuyển dụng lao động nướcngoài của nhiều quốc gia bắt đầu thay đổi, đặc biệt là Mỹ, EU và Australia Lao độngnước ngoài có điều kiện lựa chọn đa dạng về thị trường lao động và thị trường laođộng quốc tế có xu hướng dịch chuyển sang lao động chuyên môn cao hơn nhờ sựthay đổi chính sách của nhiều nước phát triển Trong những năm đầu thập niên1990s, các nước phát triển tiến hành xây dựng khung khổ chính sách hấp dẫn để thuhút lao động chuyên môn cao, đặt biệt là các nước châu Âu do tỷ lệ sinh tại nước nàyngày càng giảm, sự già hóa dân số và chính sách an sinh xã hội hào phóng Cácchính sách này rất đa dạng, tùy thuộc vào nhu cầu của từng quốc gia, đồng thời chính

Trang 30

phủ các nước (đặc biệt là các nước phát triển) thường xuyên thay đổi chính sách đểcân đối cung cầu thị trường lao động chuyên môn cao tại nước mình.

Bảng 1.5 Các ưu tiên chính sách và chiến lược của một số nước để thu

hút lao động chuyên môn cao nước ngoài

Nước Khung khổ chính sách Chiến lược Kết quả và vấn đề Canada - Nhập cư là một yếu tố

cơ bản của chiến lược

- Tạo điều kiện chosinh viên nước ngoài

- Đáp ứng được

mục tiêu đề ra

- Một số vấn đề vềlao động nướcngoài chuyên mônthấp bị thiếu việclàm

Australia - Nhập cư là một yếu tố

cơ bản của chiến lược

- Tạo điều kiện chosinh viên nước ngoài

- Đáp ứng được

mục tiêu đề ra

- Một số vấn đề về

kỹ năng ngoại ngữđối với sinh viênnước ngoài

Mỹ -Bảo vệ công nhân bản

địa trong khi vẫn đáp ứng

được các nhu cầu của

giới chủ

- Ngăn chặn nhập cư kỹ

năng thấp và hạn chế

nhpaaj cư nói chung

- Cấp quotas cho hầuhết các loại lao độngchuyên môn cao

- Đệ trình việc làm dựkiến là rất cần thiết-Chương trình nhập cưtạm thời lớn

- Ít tạo điều kiện chosinh viên nước ngoài

- Chương trình quádài, thời gian chờđợi quá lâu

- Phải trông chờvào các loại visathay thế

Anh - Cho phép lao động kỹ

năng cao nhất được nhập

cư, hạn chế lao động kỹ

năng thấp

- Áp dụng hệ thốngđiểm để thu hút laođộng nước ngoàichuyên môn cao,không cấp hạn ngạch(quotas)

- Danh sách các nghềgiành cho lao độngchuyên môn cao rấtngắn

- Tạo điều kiện chosinh viên nước ngoài

Hệ thống nhập cưmới vẫn đang trongquá trình thảo luận

Pháp - Bảo vệ công nhân bản

địa trong khi vẫn đáp ứng - Các biện pháp kiểmtra trên thị trường lao Hạn chế nhập cư

Trang 31

giới chủ

- Tăng nhập cư vì lý do

kinh tế

- Danh sách các nghềgiành cho lao độngchuyên môn cao rấtngắn

Hà Lan Giảm nhập cư đối với

những lao động chuyên

môn thấp và không thông

thạo tiếng Hà Lan

- Kiểm tra ngoại ngữngặt nghèo

-Các biện pháp kiểmtra trên thị trường laođộng rất ngặt nghèo

- Lương cao

- Nếu đáp ứng tiêuchuẩn về chuyênmôn, lao độngnước ngoài sẽ cócuộc sống nhưmong muốn

- Một số nhà tuyểndụng vẫn sử dụnggiấy phép lao động

Đức - Hạn chế nhập cư trong

khi vẫn cho phép lao

động chuyên môn cao

- Định cư lâu dài nếu

có chuyên môn cao vàđược trả lương cao

- Áp dụng các quy địnhhạn chế đối với các đốitượng khác

- Một số trách nhiệmđối với sinh viên nướcngoài đã ra trường

- Hạn chế nhập cư

Nhật

Bản - Chấp nhận nhập cư laođộng chuyên môn cao

nước ngoài trong khi vẫn

- Cho phép sinh viênnước ngoài kiếm việclàm

- Ít lao độngchuyên môn caonước ngoài vàoNhật mặc dù tiêuchuẩn cởi mở

- Sinh viên ở lạitìm kiếm việc làm

Nguồn: Jonathan Chaloff and George Lamaitre (2009), Managing highly skilled labour migration: a comparative analysis migration policies and challenges

in OECD countries, OECD social, employment and migration working paper No 79, trang 30.

Có thể nói, từ cuối thế kỷ XX cho đến nay, chính sách của nhiều nước đối vớilao động chuyên môn cao nước này đã đáp ứng được những thay đổi về công nghệ

và cấu trúc kinh tế của nền kinh tế thế giới Cuộc cách mạng tin học là một trongnhững nhân tố khiến cầu trên thị trường thế giới về lao động chuyên môn cao ngàycàng tăng, làm nới rộng khoảng cách giữa lao động chuyên môn cao và lao độngkhông kỹ năng về mức lương, điều kiện làm việc, điều kiện nhập cư, điều kiện sống.Các chương trình thiết kế phần cứng, phần mềm tin học, các kỹ sư tự động hóa ởnhiều nước đã khiến nhu cầu về lao động chuyên môn cao ngày càng tăng để thay

Trang 32

thế lao động kỹ năng thấp và làm việc tay chân Cùng với cuộc cách mạng tin học,

xu hướng toàn cầu hóa lan rộng cũng làm giảm chi phí di chuyển lao động quốc tế,khiến lực lượng lao động nước ngoài ngày càng tăng lên cả về số lượng và chấtlượng Vào năm 2000, trong tổng số lao động nước ngoài người châu Âu đạt trình độgiáo dục đại học trở lên , có tới 36,7% sinh sống ở châu Âu, 49,9% sinh sống ở BắcPhi, số còn lại sinh sống ở châu Á, châu Đại Dương và Mỹ latinh Trong cơ cấu laođộng nước ngoài người châu Á năm 2000, có tới 73,1% sinh sống ở Bắc Mỹ, 14,5%sinh sống ở châu Âu và 4,2% sinh sống ở châu Á [66]

Bảng 1.6 Tỷ lệ % lao động nước ngoài có trình độ đại học trở lên tính theo quốc tịch và địa điểm tiếp nhận lao động, 1990 và 2000

Trang 33

Hình 1.2 Tỷ lệ % lao động nước ngoài có trình độ giáo dục đại học trở

lên, năm 2000/01 và 2009/10

Nguồn: OECD international migration database, 2012, trang 3.

Từ năm 2000, tỷ lệ người nước ngoài (chủ yếu là lao động nhập cư) trong tổngdân số của các nước OECD tăng lên đáng kể Nước có người nước ngoài đông nhất

là Luxembourg (chiếm 37,6% dân số năm 2010), Thụy Điển (26,6%), New Zealand(23,2%), Australia (26,8%) và Canada (19,9%) [65] Tỷ lệ lao động nước ngoài cógiáo dục cao trên thế giới tăng lên rất nhanh trong giai đoạn 2000-2010, đặc biệt là ởcác nước OECD (trừ Tây ban Nha, Hy Lạp, Italy và Mexico).Tỷ lệ lao động nướcngoài có chuyên môn cao chiếm tỷ lệ cao nhất ở Canada (trên 50% lao động nướcngoài có trình độ đại học trở lên), tiếp theo là Anh và Ireland Trung bình cho cảkhối OECD, có tới 30% lao động nước ngoài đạt trình độ đại học trở lên vào năm

2010, tăng so với con số dưới 25% của năm 2000 [65]

Xu hướng lao động chuyên môn cao nước ngoài ngày càng lên trong tổng laođộng nước ngoài đã phản ánh sự đầu tư giáo dục gia tăng ở hầu hết các quốc gia trênthế giới Tại nhiều nước, điển hình là Canada, Australia, Anh, các chương trình tiếpnhận và thu hút lao động nước ngoài đều được cải cách rất mạnh, chỉ tập trung vàođối tượng lao động chuyên môn cao và hạn chế tiếp nhận lao động phổ thông Chính

vì vậy, số lượng lao động nước ngoài chuyên môn cao ngày càng gia tăng trên thếgiới trong những năm đầu thế kỷ XXI

1.2.2 Tác động của chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước

Trang 34

Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy, lao động chuyên môn cao nước ngoài cónhững đóng góp tích cực đối với các nước tiếp nhận lao động Ngân hàng Thế giớicũng ước tính nếu các nước đang có dân số giảm cho phép lực lượng lao động củamình tăng 3% bằng việc cho thêm 14 triệu lao động nhập cư trong khoảng thời gian

từ 2001-2025 thì mỗi năm nền kinh tế thế giới sẽ có thêm khoảng 365 tỷ USD Phầnlớn số tiền này sẽ chảy về và tạo thành nguồn vốn quan trọng cho các nước đangphát triển Còn đối với các nước tiếp nhận lao động, những lợi ích thu được là bổsung lực lượng lao động chuyên môn cao đang thiếu hụt trong nước, tăng cường hiệuquả của nền kinh tế, tăng cường hiệu quả của thị trường lao động và nhiều tác độngtích cực khác Chẳng hạn tại các nước EU, đóng góp của lao động chuyên môn caonước ngoài đáng được ghi nhận Vào năm 2007, các nước EU15 có khoảng 27 triệungười dân có quốc tịch nước ngoài [82] Hầu hết họ là những lao động có tay nghề

và chuyên môn cao, đến từ các quốc gia châu Âu láng giềng, châu Á, châu MỹLatinh Tại Anh và Ireland – nơi cho phép dòng nhập cư lao động chuyên môn caotrên quy mô lớn từ các quốc gia Đông Âu, mức sản lượng đầu ra của nền kinh tế cóthể cao hơn từ 0,5% - 1,5% trong vòng 1 thập kỷ [18] Tại các nước có lực lượng laođộng nhập cư tương đối cao trong tổng dân số và trong tổng lực lượng lao động(chẳng hạn như các nước vùng Vịnh), đóng góp của lao động chuyên môn cao nướcngoài cho tổng thể nền kinh tế và cho từng lĩnh vực còn lớn hơn rất nhiều Chẳnghạn tại UAE, dân số năm 2008 ước tính là khoảng 6 triệu người, trong đó chỉ có dưới20% dân số là mang quốc tịch UAE, còn lại là các chuyên gia và người lao động đến

từ khắp nơi trên thế giới 30 năm trước đây, UAE là một trong những nước được xếpvào hạng kém phát triển nhất trên thế giới, nhưng ngày nay đây được đánh giá là mộttrong những quốc gia có thu nhập bình quân đầu người ngang bằng với các quốc giacông nghiệp phát triển và là nước đạt thứ hạng cao trong chỉ số phát triển nguồnnhân lực (HDI), chỉ số minh bạch quốc tế và chỉ số cạnh tranh toàn cầu Thu hút lựclượng lao động nước ngoài vào UAE khiến đất nước này dễ dàng thực hiện chínhsách phát triển kinh tế tăng tốc, bởi với dân số mang quốc tịch UAE quá ít, đất nướcnày sẽ không thể thực hiện được các dự án kinh tế khổng lồ nếu thiếu các chuyên gianước ngoài Theo số liệu thống kê của chính quyền UAEs, có tới 88% dân số và lựclượng lao động tập trung ở Dubai và Abu Dhabi Nếu như năm 1989, tỷ lệ biết chữcủa người dân UAE (kể cả lao động nhập cư) là 53,5%, thì năm 2003 con số này đã

Trang 35

tăng lên đạt 77,9% Vào năm 2007, chỉ số HDI của UAE đạt 0,903, cao thứ 35 trênthế giới, cho thấy lực lượng lao động của UAE có trình độ giáo dục, kỹ năng, taynghề đạt loại rất cao ở khu vực Trung Đông Ngoài hệ thống giáo dục mở rộng (bằngcả tiếng Arập và tiếng Anh), đất nước này còn có hệ thống chăm sóc sức khoẻ rấthiện đại Tổng chi tiêu cho hệ thống chăm sóc sức khoẻ trong giai đoạn 1996-2003lên tới 436 tỷ USD, chiếm khoảng 2,6% GDP và chi tiêu sức khoẻ đầu người chongười dân UAE bình quân là 673 USD/năm Nhờ chú trọng phát triển hệ thống giáodục và chăm sóc sức khoẻ, UAE là lực hút hấp dẫn đối với đội ngũ lao động vàchuyên gia trên toàn thế giới, khiến đất nước này dễ dàng “cất cánh” trong một thờigian rất ngắn.

Lao động chuyên môn cao nước ngoài mang lợi những lợi ích kinh tế lớn hơncho các nước tiếp nhận lao động Số liệu của Mỹ cho thấy, giai đoạn 1950-2000 laođộng chuyên môn cao nước ngoài là lực lượng thúc đẩy đổi mới mạnh mẽ nhất: cứtăng 1,3% tỷ trọng sinh viên tốt nghiệp đại học là người nhập cư sẽ làm tăng số bằngphát minh sáng chế lên 15%, với sự đóng góp đáng kể của các nhà khoa học và kỹ sưnhập cư, một thành quả đáng tự hào mà người dân bản địa không làm được [18].Theo một nghiên cứu về đăng ký bằng sáng chế trên quy mô toàn cầu, các nhà khoahọc thuộc các trường đại học Harvard, Duke và New York (Mỹ) cho biết, tỷ lệ bằngsáng chế do những người có quốc tịch nước ngoài sống tại Mỹ đăng ký trong thập kỷđầu tiên của thế kỷ XXI đã tăng gấp ba Thời báo New York Times ngày 30/8/2004

đã nhận xét rằng Mỹ là một trong những nước có ưu thế vượt trội trong các lĩnh vựckhoa học và sáng tạo mũi nhọn, trong đó có những đóng góp tích cực của lao độngchuyên môn cao nước ngoài Ví dụ như ở lĩnh vực bằng sáng chế, Mỹ vẫn chiếmphần lớn, trong đó người nước ngoài, đặc biệt là người châu Á, ngày càng tăng(chiếm khoảng ¼ số bằng sáng chế do chính người Mỹ cấp) và ở một số lĩnh vực cònvượt cả người Mỹ Theo một cuộc nghiên cứu mới đây do Trường Đại học Californiathực hiện theo yêu cầu của Viện Nghiên cứu Chính sách Công cộng California, trong

số 2.300 giám đốc doanh nghiệp của California với 90% là người nhập cư từ Ấn Độ,

TQ và Đài Loan, 82% cho biết họ chia sẻ công nghệ thông tin mới với các đồngnghiệp ở quê nhà, 40% nói họ giúp sắp xếp các hợp đồng ở quê nhà, và, giống như

Lu, gần 20% cho biết họ đầu tư tiền của chính họ vào việc lập các công ty mới haycác quỹ vốn nơi quê cha đất tổ của họ Trong nhiều năm, châu Á đã gửi những sinh

Trang 36

viên tốt nhất của mình sang Mỹ để theo các bậc học cao hơn nhưng rất ít người trong

số họ hồi hương Theo thống kê của Viện Giáo dục Quốc tế Mỹ, kể từ năm 1979,hơn 400.000 người TQ đại lục ra nước ngoài du học, nhưng chỉ 10-20% trong số nàyquay trở về nước Phần lớn các sinh viên TQ tốt nghiệp ngành khoa học máy tínhđến các bang California, Texas hay Washington để gia nhập đội ngũ cùng hàng ngànngười Ấn Độ, những người vào Mỹ bằng các thị thực tạm thời H1-B dành cho nhữngngười nhập cư có các kỹ năng cần thiết cho các công ty công nghệ cao mới đượcthành lập Sự hiện diện của những người châu Á đã giúp thay đổi bộ mặt của ngànhcông nghệ cao Mỹ Những người châu Á lưu lại tại Mỹ sau khi tốt nghiệp hay tậndụng quy chế thị thực H1-B của Mỹ đã được nhìn nhận như những nhà lãnh đạodoanh nghiệp tài năng Người TQ và Nam Á điều hành khoảng 30% các doanhnghiệp công nghệ cao của Silicon Valley Họ tạo ra 19,5 tỉ USD doanh số hàng nămcho Silicon Valley và 72.800 việc làm [18] Chính môi trường làm việc thuận lợi ở

Mỹ đã là động cơ tốt đối với lao động chuyên môn cao nước ngoài Mỹ là một địađiểm có sức hút hấp dẫn đối với giới khoa học, chủ yếu do chính sách nhập cư hấpdẫn và chính sách ưu đãi nhân tài của chính phủ Mỹ Các nhà khoa học nước ngoàihọc tập và nghiên cứu tại Mỹ đều có xu hướng muốn ở lại Mỹ làm việc Mặc dùtrong thời kỳ gần đây, các chính sách nhập cư ở Mỹ ngày càng thắt chặt,khiến Mỹrơi vào tình trạng chảy máu chất xám ngược, nhưng những đóng góp của lao độngnhập cư đối với việc thúc đẩy đổi mới và phát triển khoa học công nghệ đối với Mỹ

là rất lớn, đặc biệt trong những lĩnh vực đỉnh cao như nghiên cứu về sự sống trên saoHỏa, tiến bộ trong lĩnh vực vật lý nguyên tử…Các nhà khoa học nói rằng lực lượnglao động chuyên môn cao nước ngoài là "động cơ" của nền kinh tế và ngành phátminh công nghiệp của Mỹ

Lao động chuyên môn cao nước ngoài còn góp phần phân khúc thị trường laođộng, khiến lao động các nước tiếp nhận dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm việc làm

Nó góp phần giảm bớt tình trạng già hóa dân số ở một số nước tiếp nhận, đặc biệt là

ở các nước EU, Nhật Bản Chẳng hạn tại Đức, nhằm đối phó với tình trạng thiếu laođộng trong khi tỷ lệ dân số già hóa cao, chính phủ Đức vừa lần đầu tiên công bốdanh sách những ngành nghề cần tuyển dụng công nhân có tay nghề từ các nướcngoài Liên minh châu Âu (EU) Bộ trưởng Lao động Ursula von der Leyen ngày22/7/2013 cho biết Đức cần những lao động nhập cư có tay nghề nhằm đảm bảo sự

Trang 37

phát triển thịnh vượng lâu dài Tại Nhật Bản, tình trạng già hóa dân số cũng diễn ratrầm trọng, buộc chính phủ Nhật Bản phải kiếm tìm giải pháp cân đối thị trường laođộng bằng lao động chuyên môn cao nước ngoài Theo quan điểm quốc tế, khi tỉ lệngười già trên 65 tuổi vượt trên 7% dân số thì gọi là già hóa dân số Con số này ởNhật Bản từ năm 1970 đã là 7,1%, năm 1980 là 9,1%, 1990 là 12,1%, 2010 là 26%,

dự báo đến năm 2020 sẽ là 27,8% (số liệu của Viện nghiên cứu Đông Bắc Á – ViệnHàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) Hiện nay Nhật Bản đang phải nhập khẩu laođộng trong lĩnh vực công nghệ thông tin và một số lĩnh vực khác từ các nước ĐôngNam Á và Ấn Độ Trong thời đại toàn cầu hóa, sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt vềcông nghệ và kinh tế đòi hỏi Nhật Bản phải tính đến một điều không mong muốn, đó

là nới lỏng chế độ cho người nhập cư, hoặc thực hiện chế độ nhập cư chính thức laođộng từ nước ngoài

Lao động chuyên môn cao nước ngoài cũng góp phần giúp hiệu quả tài chínhcủa các nước tiếp nhận lao động được cải thiện đáng kể Một nghiên cứu mới đâycủa Đại học London (Anh) cho biết trong năm 2008-2009, những người nhập cư từĐông Âu đóng thuế cho nước Anh nhiều hơn 37% so với mức phúc lợi họ đượcnhận.Tại Mỹ, Hội đồng Cố vấn kinh tế của Tổng thống cũng ước tính nền kinh tếđầu tàu thế giới mỗi năm thu được khoảng 37 tỷ USD nhờ những người nhập cư vàtrên 10% số người tự kinh doanh là người nhập cư

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực, di cư quốc tế lại là vấn đề gây không

ít phiền toái đối với nhiều nước Lao động nhập cư gây ra nhiều vấn đề cho nướcnhập cư Sự phân biệt đối xử, sự chênh lệch về trình độ dân trí, sự khác biệt về vănhóa, xã hội cũng là mầm mống gây xung đột xã hội Đối với lao động chuyên môncao nước ngoài, các tác động tiêu cực không nhiều đối với các nước tiếp nhận laođộng Tuy nhiên, nếu khung khổ luật pháp không rõ ràng và hợp lý, lao động chuyênmôn cao nước ngoài sẽ làm mất cân đối thị trường lao động, gây thiếu hụt lao động ởngành cần lao động và gây dư thừa lao động ở những ngày không cần lao động, dẫnđến những xung đột xã hội và gánh nặng tài chính cho lao động nhập cư Lao độngnước ngoài chuyên môn cao làm giảm động lực đào tạo kỹ năng cho lao động trongnước, khiến lao động trong nước thường bị giảm mức lương và ngày làm Tại Mỹ,trong một số ngành nhập khẩu nhiều lao động kỹ năng cao như tin học, thí nghiệmsinh hóa, lao động nhập khẩu đã lấy đi nhiều việc làm của lao động trong nước [18]

Trang 38

Tại châu Âu, kể từ khi cơ chế tự do đi lại dành riêng cho hơn 400 triệu người ở EU

ra đời vào năm 1995, do có vị trí gần nhất với châu Phi, Italia đã trở thành "cửakhẩu" để những người vượt biên có thể nhập cư vào các nước Châu Âu Kể từ khibất ổn nổ ra tại khu vực Bắc Phi, theo thống kê, có tới hơn 25.000 người vượt biểnsang các đảo ở miền Nam Italia Điều này khiến Italia đã ra quyết định cấp thị thựcSchengen 3 tháng cho những người này cùng với quyền di chuyển khắp Châu Âu,trong đó có Pháp Động thái này khiến Pháp và Italia xảy ra bất đồng bởi Phápkhông muốn chịu những áp lực của dòng người di trú đang có xu hướng tăng nhanh.Cùng với Pháp, nhiều quốc gia EU cũng dần cảm nhận được sự bất cập của hệ thống

đi lại tự do không cần visa, không bị kiểm soát ở đường biên giới khi tỷ lệ tội phạmgia tăng đồng hành với tỷ lệ nhập cư Hậu quả là có tới 15/25 thành viên Hiệp ướcSchengen đã ủng hộ việc xem xét lại chính sách đi lại tự do trong Châu Âu ĐanMạch đã đơn phương thiết lập vĩnh viễn các trạm kiểm soát biên giới nhằm giảiquyết tình trạng tội phạm và nhập cư bất hợp pháp Tuy nhiên, việc thay đổi hiệpđịnh đã tồn tại suốt 16 năm qua đang có nguy cơ thổi bùng một cuộc tranh cãi lớnhơn trong nội bộ EU, giữa một bên là Áo, Đức, Hà Lan - những quốc gia khôngmuốn vác thêm gánh nặng người nhập cư trong hoàn cảnh nợ công đang kéo dài vàkhó giải quyết như hiện nay Hiệp ước Schengen nhằm tạo điều kiện tự do đi lại chocông dân toàn EU, và một trong số những mục đích đó là thu hút lao động chuyênmôn cao từ các nước EU mới sang làm việc tại các nước EU cũ Tuy nhiên, nhữngbất cập của làn sóng lao động dịch chuyển ồ ạt sang EU15 khiến các nước này đanggặp phải nhiều gánh nặng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội trong nước

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ những nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách thu hút laođộng chuyên môn cao nước ngoài, tác giả đi đến một số kết luận sau đây:

Thứ nhất, di chuyển lao động chuyên môn cao nước ngoài là một xu hướng

tất yếu của di cư lao động quốc tế Trong thế giới có nhiều thay đổi về chất, cùng với

xu hướng toàn cầu hóa, các cuộc cách mạng khoa học công nghệ cuối thập niên

1990, lao động nước ngoài đang có xu hướng thay đổi từ lao động phổ thông, kỹnăng thấp, sang lao động chuyên môn cao để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế củacác quốc gia đang khan hiếm lao động chuyên môn cao Những nghiên cứu về cơ sở

lý luận cho thấy, lao động chuyên môn cao nước ngoài có những đặc điểm cá biệt sovới lao động nước ngoài nói chung, lao động phổ thông nói riêng Chính vì vậy, hệthống chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài cũng rất rõ ràng, ngàycàng được điều chỉnh mang tính ưu đãi hơn nhằm thu hút lao động chuyên môn cao.Đóng góp của lao động chuyên môn cao nước ngoài so với lao động phổ thông đốivới cả nước tiếp nhận, nước gửi lao động, và trên phạm vi toàn cầu luôn mang tínhhai mặt: tích cực và tiêu cực

Thứ hai, xét về bối cảnh lịch sử, lao động chuyên môn cao nước ngoài trên

thế giới bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1990s, sôi động ở thập niên 2000strở lại đây Số lượng lao động và chất lượng lao động chuyên môn cao nước ngoàingày càng được cải thiện Ngoài một số khu vực tiếp nhận lao động chuyên môn caonước ngoài truyền thống như Mỹ, EU, Australia, New Zealand, các khu vực kháctrên thế giới bao gồm cả các nước đang phát triển cũng đang nỗ lực điều chỉnh chínhsách để thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài

Thứ ba, lao động chuyên môn cao nước ngoài đem lại những tác động đa

chiều cả ở những nước tiếp nhận và những nước gửi lao động Chính vì thế, rất cầnphải có sự phối hợp chính sách ở cả nước tiếp nhận và nước gửi lao động để có thểtận dụng những đóng góp của lao động chuyên môn cao nước ngoài, đồng thời hạnchế những tác động tiêu cực hoặc những tác động không mong muốn của lực lượnglao động này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt ở các nước tiếp nhận laođộng, cần có những chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài ổn địnhnhất để bù đắp những thiếu hụt về nguồn lực, tri thức, công nghệ, kỹ năng và giúpnền kinh tế quốc gia tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT LAO ĐỘNG CHUYÊN MÔN CAO NƯỚC NGOÀI TRÊN THẾ GIỚI: TRƯỜNG HỢP SINGAPORE VÀ TRUNG

QUỐC

2.1 TỔNG QUAN LAO ĐỘNG CHUYÊN MÔN CAO NƯỚC NGOÀI Ở KHU VỰC CHÂU Á

2.1.1 Thực trạng lao động chuyên môn cao nước ngoài ở khu vực châu Á

Châu Á là khu vực có tỷ lệ lao động di cư sang nước ngoài đông nhất , đồngthời cũng là nơi tiếp nhận lao động nước ngoài đông nhất trong nhóm nước đangphát triển Trong những năm gần đây, châu Á là nơi cung cấp lao động lớn nhất rathế giới, đặc biệt là vào các nước OECD Đặc điểm chung của lao động châu Á là cótrình độ giáo dục và kỹ năng cao Vào giữa thập niên 2000s, có tới 15,5 triệu ngườichâu Á độ tuổi 15 trở lên sinh sống ở các nước OECD, chiếm tới 17% trong tổng sốngười lao động có quốc tịch nước ngoài sinh sống ở OECD Người châu Á chiếmđông nhất ở Canada (33% năm 2005/06), ở Anh (29%), ở Australia (28%) và ở Mỹ(19%) [65], trong đó đông nhất là người Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Philippin vàViệt Nam, tiếp theo là người Nhật Bản và Hàn Quốc Khoảng 49% người châu Á di

cư ra nước ngoài có trình độ giáo dục cao và tỷ lệ người châu Á có giáo dục caongày càng tăng nhanh hơn kể từ năm 2000 trên thị trường lao động quốc tế Chẳnghạn, trong giai đoạn 5 năm (2000-2005), những người châu Á lao động tại các nướcOECD có trình độ đại học trở lên đã tăng từ 52% lên 56% Tại các nước tiếp nhậnlao động chuyên môn cao như Australia, Canada, New Zealand, người nước ngoàichâu Á có giáo dục cao còn được phép mang theo gia đình, khiến lao động nướcngoài người châu Á trên các thị trường này ngày càng tăng Tại một số nước pháttriển, sinh viên châu Á được khuyến khích ở lại làm việc ngắn hạn sau khi ra trường

Châu Á cũng là địa điểm hấp dẫn người nước ngoài đến làm việc và sinhsống Theo đánh giá của Ủy ban toàn cầu về di cư quốc tế (GCIM) năm 2005, nhữngnước châu Á chủ yếu có người dân di cư ra nước ngoài là Trung Quốc, Philippin, Ấn

Độ, Bangladesh, Srilanca, Pakistan, Cambodia, Indonesia, Myanmar, Lào, Việt Nam,Nepal; Những nước châu Á chủ yếu nhập cư lao động nước ngoài là Hàn Quốc, NhậtBản, Đài Loan, Hồng Kong, Singapore và Brunei Chỉ có hai nước có luồng di cư và

Ngày đăng: 03/06/2014, 15:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quốc Anh (2008), Những điều cần biết và người lao động di trú, NXB Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết và người lao động di trú
Tác giả: Phạm Quốc Anh
Nhà XB: NXBHồng Đức
Năm: 2008
2. Lại Lâm Anh, Nguyễn Minh Phương (2010), Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài của Trung Quốc, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị Thế giơi, Số7(171), Tháng 7-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thu hút lao độngchuyên môn cao nước ngoài của Trung Quốc
Tác giả: Lại Lâm Anh, Nguyễn Minh Phương
Năm: 2010
3. Lan Anh (2010), Singapore: đánh cược vào khoa học công nghệ, Tạp chí tia sáng, 16/6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Singapore: đánh cược vào khoa học công nghệ
Tác giả: Lan Anh
Năm: 2010
4. Bùi Quảng Bạ (1996), Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với người nước ngoài ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhànước đối với người nước ngoài ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Quảng Bạ
Năm: 1996
5. Nguyễn Thị Hồng Bích (chủ biên, 2007), Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á: kinh nghiệm và bài học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động của một sốnước Đông Nam Á: kinh nghiệm và bài học
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
6. Ôn Gia Bảo (2012), Khai mạc phiên họp Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc Trung Quốc, Theo http://gafin.vn/20130306114525180p32c66/nhung-thanh-tuu-cua-kinh-te-trung-quoc-5-nam-qua.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai mạc phiên họp Đại hội Đại biểu Nhân dân toànquốc Trung Quốc
Tác giả: Ôn Gia Bảo
Năm: 2012
7. Chính phủ (2003), Nghị định của chính phủ số 105/2003/NĐ-CP ngày 17/9/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định của chính phủ số 105/2003/NĐ-CP ngày17/9/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luậtlao động về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại ViệtNam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
9. Chính phủ (2008), Nghị định số 34/2008/NĐ-CP của chính phủ ngày 25/3/2008 quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 34/2008/NĐ-CP của chính phủ ngày25/3/2008 quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tạiViệt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
10. Văn Đan (2009) Chính sách chiêu mộ nhân tài là Hoa Kiều của Trung Quốc ,Báo công an nhân dân ngày 28/9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách chiêu mộ nhân tài là Hoa Kiều của Trung Quốc
11. Lê Thị Hồng Điệp (2009), Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia châu Á và những gợi ý cho Việt Nam, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, kinh tế và kinh doanh 25, p54-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thànhnền kinh tế tri thức của một số quốc gia châu Á và những gợi ý cho Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Hồng Điệp
Năm: 2009
12. Nguyễn Đại Đồng (2010), Thực trạng cung cầu lao động và giải pháp, Tạp chí lao động và xã hội, số 381, tr 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng cung cầu lao động và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Đại Đồng
Năm: 2010
13. Trần Hữu Dũng (2005), Vài nhận xét mới về chảy máu chất xám, Tạp chí Tia sáng, 5/12/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét mới về chảy máu chất xám
Tác giả: Trần Hữu Dũng
Năm: 2005
14. Văn Đình (2013), Dân số lão hóa, quả bom nổ chậm ở Trung Quốc, Báo kiến thức, 7/2, http://kienthuc.net.vn/nong-sau/201302/dan-so-lao-hoa-qua-bom-no-cham-o-Trung-Quoc-895257/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số lão hóa, quả bom nổ chậm ở Trung Quốc
Tác giả: Văn Đình
Năm: 2013
16. Trần Kim Dung, Phó thị Kim Chi (2009), Dự báo cung cầu thị trường lao động Việt Nam, Tạp chí kinh tế và dự báo, số 6, tr9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo cung cầu thị trường laođộng Việt Nam
Tác giả: Trần Kim Dung, Phó thị Kim Chi
Năm: 2009
17. Khimija i Zhizn (2002), Đánh giá trình độ khoa học công nghệ của các nước , http://www.vysajp.org/news/tin-ngoai/khoa-hoc-giao-duc/danh-gia-trinh-d%E1%BB%99-phat-tri%E1%BB%83n-khoa-h%E1%BB%8Dc-c%E1%BB%A7a-cac-n%C6%B0%E1%BB%9Bc/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ khoa học công nghệ của các nước
Tác giả: Khimija i Zhizn
Năm: 2002
18. Nguyễn Bình Giang (2011), Di chuyển lao động quốc tế, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di chuyển lao động quốc tế
Tác giả: Nguyễn Bình Giang
Nhà XB: NXB Khoa học xãhội
Năm: 2011
19. Lê Thanh Hà (2008), Quan hệ lao động trong hội nhập kinh tế quốc tế, NXB lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ lao động trong hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Lê Thanh Hà
Nhà XB: NXBlao động xã hội
Năm: 2008
20. Lê Hồng Huyên (2009) ,Tác động của di chuyển lao động quốc tế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế, Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của di chuyển lao động quốc tế đối với sựphát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
21. HSBC (2012), Các chuyên gia nước ngoài giàu có đổ về khu vực Đông Nam Á, News Release, 11/10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HSBC (2012)
Tác giả: HSBC
Năm: 2012
22. Hoàng Kim (2012), Singapore – con hổ châu Á duy trì tốc độ tăng trưởng, http://e-info.vn/vn/index.php/tieu-diem/78371-singapore-con-h%E1%BB%95-ch%C3%A2u-%C3%A1-duy-tr%C3%AC-t%E1%BB%91c- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Singapore – con hổ châu Á duy trì tốc độ tăng trưởng
Tác giả: Hoàng Kim
Năm: 2012

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Nhân tố tác động đến di chuyển lao động chuyên môn cao theo nhóm ngành nghề - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 1.2. Nhân tố tác động đến di chuyển lao động chuyên môn cao theo nhóm ngành nghề (Trang 15)
Hình 1.1. Các nhân tố thuộc về môi trường chính sách quyết định việc lựa chọn điểm đến của lao động chuyên môn cao nước ngoài - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 1.1. Các nhân tố thuộc về môi trường chính sách quyết định việc lựa chọn điểm đến của lao động chuyên môn cao nước ngoài (Trang 18)
Bảng 1.5. Các ưu tiên chính sách và chiến lược của một số nước để thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 1.5. Các ưu tiên chính sách và chiến lược của một số nước để thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài (Trang 30)
Bảng 1.6. Tỷ lệ % lao động nước ngoài có trình độ đại học trở lên tính theo quốc tịch và địa điểm tiếp nhận lao động, 1990 và 2000 - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 1.6. Tỷ lệ % lao động nước ngoài có trình độ đại học trở lên tính theo quốc tịch và địa điểm tiếp nhận lao động, 1990 và 2000 (Trang 32)
Hình 1.2. Tỷ lệ % lao động nước ngoài có trình độ giáo dục đại học trở lên, năm 2000/01 và 2009/10 - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 1.2. Tỷ lệ % lao động nước ngoài có trình độ giáo dục đại học trở lên, năm 2000/01 và 2009/10 (Trang 33)
Hình 2.1. Dòng lao động di chuyển trong khu vực Đông Nam Á - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 2.1. Dòng lao động di chuyển trong khu vực Đông Nam Á (Trang 41)
Bảng 2.1. Lao động nước ngoài ở các nước châu Á năm 2010-2011 (nghìn người) - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 2.1. Lao động nước ngoài ở các nước châu Á năm 2010-2011 (nghìn người) (Trang 42)
Bảng 2.2. Lao động nước ngoài trên thị trường lao động châu Á năm 2010 tính theo quốc tịch (%) - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 2.2. Lao động nước ngoài trên thị trường lao động châu Á năm 2010 tính theo quốc tịch (%) (Trang 43)
Hình 2.2. Tỷ lệ sinh ở Singapore giai đoạn 1957-2001 - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 2.2. Tỷ lệ sinh ở Singapore giai đoạn 1957-2001 (Trang 53)
Bảng 2.5. Các cơ chế thẻ lao động áp dụng cho lao động chuyên môn cao nước ngoài ở Singapore (áp dụng đến tháng 6/2010) - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 2.5. Các cơ chế thẻ lao động áp dụng cho lao động chuyên môn cao nước ngoài ở Singapore (áp dụng đến tháng 6/2010) (Trang 59)
Bảng 2.6. Những thay đổi về mức thuế áp dụng cho lao động nước ngoài kể từ tháng 7 năm 2010 - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 2.6. Những thay đổi về mức thuế áp dụng cho lao động nước ngoài kể từ tháng 7 năm 2010 (Trang 61)
Bảng 2.7. Những thay đổi đối với các loại thẻ lao động bắt đầu từ tháng 8/2011 - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 2.7. Những thay đổi đối với các loại thẻ lao động bắt đầu từ tháng 8/2011 (Trang 63)
Hình 2.3. Tăng trưởng dân số Singapore trong giai đoạn 1970-2010 (nghìn người) - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 2.3. Tăng trưởng dân số Singapore trong giai đoạn 1970-2010 (nghìn người) (Trang 66)
Hình 2.4. Cơ cấu dân số Singapore giai đoạn 1970-2010  (%, nghìn người) - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 2.4. Cơ cấu dân số Singapore giai đoạn 1970-2010 (%, nghìn người) (Trang 67)
Bảng 2.8. Người nước ngoài ở Singapore phân theo quốc tịch (các năm khác nhau) - Chính sách thu hút lao động chuyên môn cao nước ngoài vào phát triển kinh tế của một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 2.8. Người nước ngoài ở Singapore phân theo quốc tịch (các năm khác nhau) (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w