1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình lí luận dạy học ngữ văn phần 2 nxb đh thái nguyên

68 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình Thức và Phương Tiện Dạy Học Ngữ Văn
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Lý luận dạy học Ngữ Văn
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 7,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, các em sẽ ý thức được yêu cầu, nội dung của vấn đề, các nguồn tài liệu chính, phương pháp tiên hành, kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ cùa tập thể cũng như cùa từng- cá nhân Học sin

Trang 1

(^httơníỊ 3

HÌNH THỨC PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC NGỮ VĂN

MỤC TIÊU

Sau khi học xong chuơng này, sinh viên:

- Giái thích được thế nào là hình thức, phương tiện dạy học Ngữ văn và biết cách phân loại các hỉnh thức và các phương tiện dạy học Ngữ văn

- Phân tích được ưu điềm và hạn chế cùa các hinh thức và các phương tiện dạy học Ngữ văn

- Hiểu về đặc điểm cùa các hình thức và các phương tiện dạy học Ngữ văn, từ đó có những lưu ý cần thiết trong việc sừ dụng các hình thức và các phương tiện dạy học cụ thể

- Lý giải được nguyên tắc sừ dụng phương tiện trong dạy học Ngữ vãn

- Nhận ra những điểm giống và khác nhau giữa các hình thức và phương tiện dạy học Ngữ văn

Trang 2

Theo các dấu hiệu trẽn ta có nhiều hình thức tổ chức dạy học Ngữ văn khác nhau:

Xét theo số lượng học sinh, có các hình thức tồ chức: học cá nhân, học theo nlióni, học chung cà lơp

Xét theo thời gian học tập, có các hình thức: học chính khóa, học ngoại khóa Xét theo không gian, có các hình thức: dạy học trên lớp, dạy học ngoài lớp Xét theo đặc điêm hoạt động của thầy giáo và học sinh, có: bài lên lớp, giờ thảo luận, bài luyện tập, bài ôn tập, bài tồng hợp, dự án

Xét theo mục tiêu cần đạt cùa bài dạy ta có: bài hpc kiến thức mới, bài òn tập, bài luyện tập, bài kiềm tra

Như vậy, các hình thức tô chức dạy học Ngữ văn rất đa dạng Mỗi hình thức có những đặc điếm riêng, chúng có điếm mạnh, điểm yếu và có thề bồ sung cho nhau, khắc phục lẫn nhau Việc lựa chọn hỉnh thức này hay hinh thức kia phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố chù quan và khách quan, trong đó quan trọng nhât là trinh độ sư phạm cúa người giáo viên Chọn đúng hình thức tồ chức dạy học phủ hợp với mục đích và nội dung bài học sẽ góp phần nâng cao chât lượng dạy học Trong phạm vi aiáo trinh, tài liệu sẽ trình bày rõ hơn các hình thưc dạy học phân loại theo tiêu chí không gian Trong đó, dạy học trên lớp bao gồm các hình thức: học bài mới, tháo luận, luyện tập, ôn tập, kiểm tra, dạy học ngoài lớp có các hình thức: tự học, hoạt động ngoại khóa, tham quan, phụ đạo, xêmina, dự án học tập

197

Trang 3

văn trong thời gian ngắn nhất Học sinh bằng sự tập trung chú ý, tham gia vào việc học tập để thông hiểu, nắm vững vấn đề học tập.

3.1.2.2 Hình thức thao luận

Là hình thức cho học sinh trao đồi, tranh luận về các vấn đề học tập, để

tự họ rút ra được các kết luận cần thiết Tháo luận trong dạy học Ngữ văn có thể được tiến hành theo nhóm cặp đôi, nhóm lớn hay cả lớp Mỗi cá nhân bằng trí tuệ, bằng kiến thức đã có, bằng kinh nghiệm và sự sáng tạo của mình, đóng góp vào việc học tập chung Thảo luận tạo ra những tranh luận bổ ích, mỗi người một ý kiến riêng nhưng cùng nhau tìm hiểu một vấn đề, cho nên vấn đề nam bắt được trờ nên sâu sắc, toan diện, mỗi thành viên hinh thành một niềm tin, thói quen và sự mạnh dạn

Đe tiến hành tốt hình thức thảo luận, giáo viên phải chuẩn bị tốt vấn đề

và chiến thuật thảo luận Học sinh phải đọc kĩ các tài liệu có liên quan và chuẩn

bị các ý kiến đóng góp chung cho tập thể Giáo viên phải khéo léo dẫn dẳt học sinh thảo luận tốt các vấn đề học tập và tồng kết, khắc sâu bản chất của các vấn

đề đã nêu ra thảo luận

3.1.2.4 Hình thức xêniina

Đây là hinh thức dạy học đòi hòi học sinh phải chuẩn bị ý kiến về những vấn đề nhất định có liên quan tới nội dung tài liệu học tập rồi tiến hành báo cáo Hình thức xêmina có thể áp dụng cho cấp trung học phổ thông So với hình thảo thảo luận, xêmina là hình thức có phạm vi và mức độ vấn đề nêu ra

Trang 4

rộng hơn và sâu hơn, khi tiến hành buộc phái có giáo viên trực tiếp điều khiên Hình thức dạy học này giúp học sinh mờ rộnií, đào sâu thêm những vấn đề học tập trên cơ sờ nhìn nhận chúng một cách có suy nghĩ, phàn tích chúng có lý lẽ

và có dẫn chứng minh họa, phát triẽn được óc tư duy khoa học, ngôn ngữ và hứng thú học tập, bồi dưỡng các phươnií pháp nghiên cứu một cách vừa sức

Đê số đôn» học sinh tham gia xêmina, giáo viên cần xây dựng đề tài và

kẻ hoạch rồi phô biến cho học sinh tham gia ý kiến và bồ sung Qua đó, các em

sẽ ý thức được yêu cầu, nội dung của vấn đề, các nguồn tài liệu chính, phương pháp tiên hành, kế hoạch thực hiện và nhiệm vụ cùa tập thể cũng như cùa từng-

cá nhân Học sinh chuân bị theo thời gian quy định của thầy Ờ đây, người học cân nghiên cứu sách báo và tài liệu liên quan, nếu cần thiết phải thu thập số liệu thì cần phai đàm thoại với những người có thể cung cấp những thông tin hữu ích Bắt đẩu vào xẻmina, giáo viên nêu lại vấn đề với mục đích yêu cầu phái đạt được và động viên mọi người [ham gia tích cực Sau đó, học sinh trình bày ý kiến cúa mình, các học sinh khác lăng nghe, tháo luận và tranh luận Trong quá trình tranh luận, người huớng dẫn phái theo dõi một cách rất nhạy bén đẽ phát hiện những mâu thuẫn thê hiện trong các ý kiến phát biếu đe kịp thòi nêu vấn đề cho mọi người tập taing giải quyết, phù hợp với mục đích, yêu cầu đề ra, tránh tinh trạng tháo luận, tranh luận lan man ngoài vấn đề

Khi hướng dẫn, người hướng dẫn có thế động viên cho mọi người phát biêu ý kiến, song cũng có thể và có khi cần thiết thì phái chi định Cuối cùng, nííirời hướng dẫn tổng kết những ý kiến phát biểu, nêu lẻn một cách súc tích và

c ò h ệ th ù n g những ý kicn thông n liâ t v à n h ữ n g ý kiẻn c h ư a th ô n g n liâ t, t h a m gia ý kiến về những ý kiến chưa thống nhất và bổ sung thêm những ý kiến cần thiết; đánh giá các ý kiến phát biểu; nhận xét tinh thần thái độ làm việc chung của tập thề và của riêng cá nhân, cho điểm

3.1.2.5 Hình thức ôn lập

Hình thức này được sử dụng với mục đích ôn lại, củng cố, hệ thống hóa những kiến thức đã học Phương pháp được sử dụng trong giờ ôn tập là vấn đáp, thuyết trình, nêu và giải quyết vấn đề kết hợp cùng các kĩ thuật dạy học tích cực nhu khăn phù bàn, sơ đồ tu duy, KWL, trình bày một phút Đế thực

199

Trang 5

hiện tốt bài ôn tập, giáo viên phái chuẩn bị tâm thế, kiến thức, kĩ năng cho cả thầy và trò, phải chuẩn bị đủ tài liệu tham khảo, phương tiện dạy học đồng thời giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thế cho học sinh từ giở học tarớc để các em chuẩn bị.

3.1.2.6 Hình thicc kiêm tra

Kiểm tra được sử dụng với mục đích cơ bản là xem xét, đánh giá kết quả học tập của học sinh, tạo ra thông tin ngược để điều chình cách dạy và cách học môn Ngữ văn Kiểm tra bao gồm: kiếm tra viết, kiềm tra vấn đáp, kiềm tra thực hành Tuy nhiên, kiểm tra viết là hình thức được sừ dụng chù yếu trong dạy học Ngữ văn

Kiểm tra được thực hiện như một giờ học riêng Trong các tiết kiểm tra, mọi học sinh đều phải tham gia nghiêm túc, tập trung

Kiềm tra luôn có kế hoạch, có nội dung, có phương pháp và chiến thuật đối với từng cá nhân, với từng nội dung, từng loại công việc, cái cốt lõi là làm sao để qua kiểm tra kiến thức cũ được ôn luyện, kiến thức mới được bổ sung,

Hinh thức tự học ở nhà có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể là nó giúp học sinh:

Mở rộng, đào sâu, hệ thống hóa và khái quát hóa những điều đã học ở trên lớp làm cho vốn hiểu biết được hoàn thiện

Rèn luyện kĩ năng, kỹ xào vận dụng những tri thức cùa mình vào các tinh huống, kể cà tinh huống nảy sinh từ cuộc sống, sản xuất

Trang 6

Chuấn bị lĩnh hội tri thức mới băng cách đọc trước và chuẩn bị bài trong sách giáo khoa theo hướng dẫn của giáo viên

Tư bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm, tính tự giác độc lập, tính kỷ luật, tính tồ chức, tính kế hoạch trong học tập Vi vậy, với hình thức học tập ở nhà, học sinh có thề làm được rất nhiều công việc: học bài, làm bài, đọc sách tham khảo, cliuân bị bài m ới

Đế hình thức học ở nhà đạt kết quả cao, cần phải có một số điều kiện sau: Làm cho học sinh thấy tầm quan trọng cùa việc học ớ nhà, từ đó có ý thức và dằn dần có hứng thú và nhu cầu đối với công việc đó

Đám bảo cho học sinh đú thời gian tối thiều đề học ờ nhà Cụ thề là các bài ra cho học sinh cần được tính toán sao cho có thể hoàn thành trong thời gian quy đinh

Cá biệt hóa những bài tập về nhà trên cơ sờ những bài tập cho cả lớp.Đám báo cho các bài tập có tính đa dạng, nghĩa là có những bài tập đòi hòi phái vận dụng tri thức vào những tinh huống mới, nhất là những tinh huống gắn vói đời sống, với sán xuất đòi hỏi phải có cách giải quyết sáng tạo

Bồi dưỡng cho học sinh phương pháp học tập: phương pháp đọc sách, phương pháp giải bài tập, phương pháp ôn tập, phương pháp làm đề cương báo cáo

Tạo cơ sở vật chất cho việc học ở nhà như giúp liọc sinh xây dựng góc học tập, có đủ điều kiện vệ sinh, có đủ các phương tiện tối thiểu (bàn ghế, sách giao khoa, sách tham kháo )

Kiểm tra thường xuyên và nghiêm tức bài làm ở nhà dưới nhiều hình thức như: kiểm tra miệng, chấm vờ soạn văn, cho điểm với những câu hỏi liên quan đến bài m ới

3.1.3.2 Hình thức hoạt động ngoại khóa

M ột trong những đặc điềm cơ bản của quá trinh dạy học Ngữ văn hiện đại là nhu cầu học tập của học sinh có xu hướng vượt ra khòi phạm vi tri thức

do chương trinh quy định Do đó, những tri thức mà các em lĩnh hội được qua hoạt động nội khóa không thỏa mãn được nhu cầu nhận thức của họ Vì thế,

Trang 7

trong các trường học, nhà sư phạm tổ chức các hoạt động ngoại khóa nhằm tạo điều kiện cho học sinh mờ rộng, đào sâu tri thức, phát triển hứng thú và năng lực riêng của mình, đồng thời dần dần có thể hướng học sinh vào những nghề nghiệp nhất định trong tương lai Hoạt động ngoại khóa có tính chất tự nguyện: mỗi học sinh có thề căn cứ vào năng lực, hứng thú và nhu cầu cúa mình mà có thể tham gia hoạt động ngoại khóa này hay khác Hoạt động ngoại khóa thường

tồ chức dưới nhiều hình thức như: tổ chức câu lạc bộ, hội thi, hội thảo, giao lưu, về những nội dung liên quan đến các bài học Chẳng hạn, tồ chức câu lạc bộ văn học dân gian, hội thi hùng biện về những chù đề xã hội hoặc văn học đang được quan tâm, giao lưu giữa học sinh và nghệ sĩ, thư viện đọc sách, Cũng có thể tồ chức các cuộc thi sáng tác văn chương cho học sinh (viết truyện, thơ, kịch bản văn học ), để khuyến khích các tài năng sáng tác văn học của học sinh, đồng thời qua đó học sinh được trải nghiêm mình ờ vị trí người sáng tác để cảm hiểu rõ hơn quy luật sáng tạo văn chương chính là quy luật của tinh cám, cảm xúc

Để tổ chức hoạt động ngoại khóa đạt hiệu quả cao, một mặt bản thân học sinh tích cực tham gia, mặt khác cần có sự chì đạo và hỗ trợ cùa giáo viên cũng như sụ hỗ trợ của các cơ quan vãn hóa xã hội, các cơ sở sản xuất và các cá nhân, các nhà khoa học, các chiến sĩ, các sĩ quan, các chiến sĩ thi đua, các nhà thơ, nhà văn, nghệ s ĩ

3.1.3.3 Hình thức tham quan

Tham quan là hỉnh thức tổ chức dạy học tạo điều kiện cho học sinh trực tiếp quan sát và nghiên cứu các sự vật và hiện tượng như nhà bảo tàng, phòng triển lãm, đền chùa, cảnh vật thiên nhiên, lễ hội Qua đó, các em có thể mở rộng, đào sâu hiểu biết về những vấn đề do chương trình quy định hoặc về vấn đề ngoài chương trình; nâng cao hứng thú học tập, phát triển óc quan sát, bồi dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước; bồi dưỡng phuơng pháp quan sát và phương pháp phân tích, tổng hợp những tài liệu thu được trong quá trinh tham quan

Trong thục tiễn dạy học, tham quan có thể được tồ chức trước, trong và sau khi học một bài, nhóm bài nào đó Với môn Ngữ văn, tham quan thường

Trang 8

được tồ chức sau khi học một bài, nhóm bài, chủ đề nào đó nhằm mục đích củng cố và đào sâu những điều đã học.

Hình thức tham quan được tổ chức theo các bước sau đây:

Chuẩn bị Trong bước này, giáo viên cần xác định sơ bộ mục đích, yêu

cầu, nội dung tham quan, đến địa điểm tham quan khảo sát cụ thể, vạch kê hoạch tham quan (chinh xác hóa mục đích, yêu cầu, nội dung tham quan, nêu

rõ các đối tượng quan sát, các dụng cụ cần dùng, những tài liệu cân thu thập, cách tổ chức học sinh, sự phân phối thời gian ) phổ biến kế hoạch tham quan cho học sinh để các em ý thức được đầy đủ mục đích, yêu cầu, nội dung, cách tiến hành và nội quy

Tiến hành tham quan: Dưới sự hướng dẫn của giáo viên và cán bộ phụ

trách cơ sở tham quan, học sinh tiến hành tham quan theo kế hoạch định trước Trong khi tham quan, học sinh chăm chú quan sát những sự vật, hiện tượng đã được quy định, ghi chép cẩn thận những nội dung cần thiết Trong quá trình làm việc, học sinh cần thực hiện nghiêm túc nội quy, duy tri kỉ luật

Tổng kết Sau khi tham quan, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh

kiểm tra và chinh lý các tài liệu đã thu được Trên cơ sờ đó, có thể viết thu hoạch rồi trao đối ý kiến hay thảo luận trong tập thể, hoặc làm những bài tập độc lập như: viết báo cáo, làm mô hình, xây dựng bộ sưu tậ p

3.1.3.4 Hình thức p h ụ đạo

Phụ đạo là hinh thức tổ chức học tập bằng sự giúp đỡ trực tiếp cùa giáo viên đối với từng học sinh Phương pháp dạy phụ đạo dựa trên những điểm mạnh, điểm yếu cùa mỗi người để tổ chức cho họ học tốt nhất

Trong quá trinh dạy học, tất yếu sẽ có sự phân hóa về trinh độ nhận thức

và sẽ xuất hiện hai loại hai học sinh đáng chú ý nhất: loại yêu - kém, loại khá - giòi Vì vậy, việc dạy học được tiến hành trên cơ sở trình độ chung không thỏa mãn hai loại học sinh này

Đối với loại yếu - kém, do năng lực hạn chế thì cần bồi dưỡng về phương pháp học tập, bổ sung thêm những tri thức cần thiết để lấp những chỗ trống trong vốn hiểu biết, ra hệ thống những bài tập vừa sức từ dễ đến khó, đề ra những nhiệm vụ hệ thống hóa và khái quát hóa tri thức, yêu cầu học sinh phải ôn tập

203

Trang 9

thường xuyên và có hệ thống, có trọng tâm, trọng điểm, giáo dục lòng tự tin và ý chí vươn lên, không nên có một lối nói hay hành động nào xúc phạm nhân cách của các em Tuy nhiên, sự giúp đỡ của giáo viên hay các học sinh khá giỏi, tuyệt đối không phải là sự làm thay, trái lại phải trẽn cơ sờ giúp đỡ đó, phát huy cho bang được tính tự giác, tích cực, đối lập của học sinh yếu - kém.

Đối với học sinh khá - giỏi, điều chủ yếu là tăng cường các hoạt động độc lập có trinh độ ngày càng cao, trẽn cơ sờ tính đến năng lực nhận thức, năng khiếu và hứng thú học tập của từng cá nhân Đồng thời, cần ngăn chặti tỉnh trạng học tủ, học lệch, chi chú ý tới một môn nào đó

3.1.3.5 Hình thức dự án học lập

Dạy hpc theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu, báo cáo Nhiệm vụ này được học sinh thực hiện với tính tụ lực cao trong toàn bộ quá trinh học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việc nhóm là hình thức cơ bán của dạy học theo dự án

Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra Các nhà sư phạm khi xác lập cơ sở lý thuyết cho dạy học dự án này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của dạy học dự án: định hướng học sinh, định hướng thực tiễn

và định hướng sản phẩm Có thể cụ thề hoá các đặc điểm của dạy học dự án như sau:

Định hướng ihực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống

của thực tiễn xã hội và đời sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đụng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng cùa học sinh

Có ỷ nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập

trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tường, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

Định hướng himg thú học sinh: Học sinh được tham gia chọn đề tài, nội

dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của học sinh cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án

Trang 10

Tính p h ứ c hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực

hoặc môn học khác nhau nham giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

Định hướng hành động: Trong quá trinh thực hiện dự án có sự kết hợp

giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó kiểm tra, cùng cố, mờ rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động kinh nghiệm thực tiễn của học sinh

Tính lự lực cao cùa học sinh: Trong dạy học dự án, học sinh cần tham

gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trinh dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của học sinh Giáo viên chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả nãng của học sinh và mức độ khó khăn cùa

nhiệm vụ

Cộng lác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,,

trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa học sinh và giáo viên cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội

Đ ịnh h ư ớ ng sán phẩm : Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm

được tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất cùa hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, còng bổ, giới thiệu

Dạy học theo dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại dạy học theo dự án:

Phân loại theo chuyên môn

- Dự án trong một môn học: trọng tàm nội dung nằm trong một môn học

- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau

- Dự án ngoài môn học: các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường

205

Trang 11

Phân ¡oại theo sự tham gia cùa học sinh: Dự án cho nhóm học sinh, dự

án cá nhân Dự án dành cho nhóm học sinh là hình thức dự án dạy học chù yếu

Phân loại theo sự tham gia cùa giáo viên: dự án dưới sự hướng dẫn cùa

một giáo viên, dự án với sự cộng tác hướng dẫn cùa nhiều giáo viên

Phân loại theo quỹ thcri gian: Có thể phân chia như sau:

- Dự án nhò: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ hpc

- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày, nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

- Dự án lớn: dụ án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần

Phán loại theo nhiệm vu

Dựa theo nhiệm vụ trpng tâm cùa dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:

- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng

- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trinh

- Dụ án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sàn phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sàn phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ nhu trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thề phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng

Dựa trên cấu trúc cùa tiến trình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc cùa dạy học theo dự án làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy học theo dự án theo 5 giai đoạn

Chọn đề tài và xác định mục đích cùa dự án: Giáo viên và học sinh cùng

nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích cùa dự án cần tạo ra một tinh huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giãi quyết, trong

đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống, cần chú ý đến hứng thú của học sinh cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài Giáo viên có thể

Trang 12

giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía học sinh Giai đoạn này được mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và tháo luận sáng kiến.

Xây cỉựiig kế hoạch thực hiện: Trong giai đoạn này học sinh với sự hướng

dẫn của giáo viên xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự

án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm thời gian dụ kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm

Thực hiện d ự án: Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề

la cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này học sinh thực hiện 'các hoạt động tri tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra

Thu thập két quà và công bố sàn phàm: Ket quả thực hiện dự án có the

được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thề là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm cùa dự án có thể được trinh bày giữa các nhóm học sinh, có thể được giới thiệu trong nhà trường hay ngoài xã hội

Đành gia d ự án: Giáo viên vá học sinh dành già quá trinh thực hiện và

kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ bên ngoài: Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án Việc phân chia các giai đoạn trên đây chi mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc

tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cà các giai đoạn của dự án Với những dạng dụ án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dụ án Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án)

207

Trang 13

Như vậy, dạy học dụ án là một hình thức dạy học Ngữ văn quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp Dạy học dự án góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc phát triển năng lực làm việc tự lực năng lực sáng tạo, năng lục giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của học sinh Nhũng đặc trưng và ưu điểm của dạy học dự án rất phù hợp với đặc trung cùa mô hình trường học mới.

3.2 Phu-oug tiện dạy học Ngữ văn

3.2.1 K hái niệm

Phương tiện nói chung và phương tiện dạy học Ngữ văn nói riêng cho phép giáo viên truyền đạt các nội dung cho học sinh, chúng là bộ phận trung gian của quá trình dạy học

G iáo viên

Tam giác dạy học

Hai tác giả Berad Meier, Nguyễn Văn Cường trong cuốn L i luận dạy học hiệu đại cho rằng “Phương tiện dạy học là tất cả các phương tiện vật chất mà

người dạy và người học sử dụng, để thông hiểu về các mục đích, chù đề và phương pháp cùa dạy hpc Chúng có chức năng trung gian cùa các thông tin trong việc truyền thụ và lĩnh hội tri thức” 1

Theo Phạm Thị Thu Hương "Phương tiện dạy học là những phương tiện vật chất cần thiết được sử dụng trong quá trình dạy học, bao gồm các đồ dùng

1 BemdMeier, Nguyễn Văn Cường (2014), u luận dạy học hiện đại, Nxb Đai hoc Sư phạm, tr 189

Trang 14

dạy học, các trang thiết bị kĩ thuật dùng trong dạy học và các thiết bị hỗ trợ khác giúp giáo viên và học sinh tổ chức và tiến hành hợp lí, có hiệu quà quátrình dạy học nhằm đạt mục đích dạy học1.

Cũng có quan niệm coi phương tiện phi vật chất như ngôn ngữ cũng là phương tiện dạy học Phương tiện được hiểu như là bộ phận trung gian, thông qua nó những kí hiệu trong các quan hệ giao tiếp được chuyền tải, lưu trù, phản ánh lại hay xử lí với sự hỗ trợ kĩ thuật và được giới thiệu theo hình thức đại diện hay biểu trưng

N hu vậy, sách, báo, tạp chí; máy chiếu ảnh, phim kính, phim, vô tuyến truyền hình và các phương tiện âm thanh khác, video, các phương tiện hình ảnh khác cũng như máy tính là những phương tiện dạy học

Khái quát những cách hiểu trên, có thể đưa ra khái niệm về phương tiệndạy học N gữ văn như sau: phương tiện dạy học Ngữ văn là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học Ngữ văn, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo viên và học sinh sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học Phương tiện dạy học Ngữ văn có chức năng khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy và người học đến đối tượng dạy học

từ theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng Các phương tiện này có thể là: máy chiếu, radio, tivi, máy tính điện tử Phần cứng là kết quả cùa sự phát triển khoa học kĩ thuật trong nhiều thế kỉ Khi sử dụng phần cứng, người giáo viên đã cơ giới hóa và điện từ hóa quá trình dạy học Ngữ văn, mờ rộng không gian lớp học và phạm vi kiến thức truyền đạt Phần mềm là những phương tiện trong đó sừ dụng các nguyên lí sư phạm, tâm lí, khoa học kĩ thuật để xây dựng

1 Phạm Thị Thu Hương (chủ biên - 2017), Giáo trình "Thực hành dạy học Ngữ văn ớ trưởng pho thông", Nxb Đại học Sư phạm, H à Nội, tr 52.

209

Trang 15

nên cho học sinh một khối lượng kiến thức hay cải thiện hành vi ứng xử cho học sinh Phần mềm bao gồm chương trinh môn học, sách giáo khoa, báo chí, tài liệu tham khảo

Dựa vào mục đích sử dụng có thể phân loại các phương tiện dạy học Ngữ văn thành hai loại: phương tiện dùng trực tiếp để dạy học và phương tiện để hỗ trợ, điều khiển quá trình dạy học Ngữ văn Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học Ngữ văn bao gồm các loại máy móc thiết bị và dụng cụ được giáo viên sử dụng trong giờ dạy để trình bày kiến thức, rèn luyện kĩ nâng, kĩ xảo cho học sinh như các loại máy chiếu, máy tính điện tử, các phương tiện mang tin, các mẫu vật mô hình Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học Ngữ vãn là những phương tiện được sừ đụng để tạo ra môi trường học tập thuận lợi,

có hiệu quả như các loại bảng viết, các giá di động hoặc cố định, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng

Dựa vào cấu tạo cùa phương tiện, người ta phân ra phương tiện dạy học Ngữ văn truyền thống và phương tiện dạy học Ngữ văn hiện đại Phương tiện dạy học Ngữ văn truyền thống là những phương tiện được dùng từ xưa đến nay

và được cấu tạo đơn giản, thô sơ như các vật thật, tranh ảnh, đồ dùng dạy học

tự làm Phương tiện dạy học Ngữ văn hiện đại là những phương tiện mới được đưa vào nhà trường là sản phẩm cùa công nghệ hiện đại như: video clip, máy tính, máy chiếu đa phương tiện, camera số

Trong phần này, tài liệu sẽ đi sâu trình bày cách phân loại phương tiện dạy học dựa vào cấu tạo của phương tiện dạy học Ngữ vãn

3.2.2.1 Phương tiện dạy học truyền thống

* Các vật thật

Trong dạy học Ngữ văn, có những sự vật chi tiết được đề cập đến trong ngữ liệu, văn bản văn học hoặc văn bản nhật dụng là yếu tố vẫn tồn tại trong đời thường nhưng do không được quan tâm nên trờ thành xa lạ với học sinh, cũng có thể là yếu tố học sinh đã từng thấy qua phim ảnh nhưng không biết chính xác sự vật, chi tiết đó được gọi là gì hoặc không tin rằng những sự vật như thế có tồn tại trong cuộc sống Do vậy, ngoài nhũng giờ học mang tính trải nghiệm sáng tạo gắn với hoạt động thực tiễn mà ở đó học sinh có thể tiếp cận

với các vật thật như hpc trong bảo tàng, làng nghề (để biết những đồ vật rổ,

Trang 16

rá, nong, sàng, nan, giang, cói, cuốc, cần câu ), giáo viên có thể mang các vật

thật đen lớp học hoặc giao nhiệm vụ sưu tầm cho học sinh nhằm giúp cho học sinh có những hiểu biết chân thực, gần gũi về cuộc sống đồng thời củng cố vốn sống, tri thức nền cho các em 1

* T hé kĩ năng

Thé kĩ năng là một phương tiện dạy học truyền thống có nhiều tác dụng:

dễ kiếm, rẻ, dễ làm; có thể người học cùng tham gia làm; dễ trình bày, không cần điện; màu sắc hấp dẫn, áp dụng hợp lý cho các hình thức, mục đích dạy học khác nhau

Đe làm thẻ kĩ năng cần chuẩn bị: thẻ màu, ghim, bút viết; cần có tiêu đề trên bàng; mỗi thẻ chì viết một ý; không viết toàn chữ hoa; viết bằng nét to cùa bút dạ không quá dày, có thể chuẩn bị giấy khổ rộng đề làm nền và dùng hồ dán lại những gì đã trình bày; dùng thẻ màu và tạo ra các hình dạng khác nhau, cùng loại thi cùng màu, cùng dạng thẻ

Q.

T rin h bay th ò n i

H i n h t h ứ c G tól h»n cho tin tữ r g bưoc 8 u ó c c h ả m

Trang 17

dỗ hiểu

Kỹ thuật sử dụng thẻ trong dạy học; dự kiến khoảng trống hợp lý trên bảng (đối với bảng viết) để gắn thẻ; cho xuất hiện từng thẻ một (thuyết trình hoặc đàm thoại); kết quả ý tường trên thẻ là ý tưởng cùa nhóm thì có thể so sánh hai nhóm thẻ để rút ra ý tưởng tối ưu; có thể thay thế thẻ (thay đổi ý tường)

Trong dạy học Ngữ văn, có thể sử dụng thẻ kĩ năng trong hoạt động khởi động, hoạt động ôn lại kiến thức cũ ví dụ: giáo viên có thể gắn trên bảng hai tò khóa ấn dụ và hoán dụ với các nội dung về khái niệm, tác dụng, cách kiểu ần dụ/hoán dụ, ví dụ; nhiệm vụ của các em học sinh là trong một thời gian quy định phải tỉm đúng các thẻ màu có nội dung tương ứng với từng biện pháp tu từ trong số những thẻ màu giáo viên đã chuẩn bị Với hoạt động hỉnh thành kiến thức mới: giáo viên có thề sừ dụng thẻ kĩ năng khi dạy những nét chính về tác giả, tác phẩm (thi xem nhóm nào đã chuẩn bị bài tốt nhất), học sinh có thể sử đụng thẻ kĩ năng khi thuyết trình về một vấn đề liên quan đến nội dung bài học

ở hoạt động luyện tập, vận dung, giáo viên có thể sử dụng phương tiện dạy học trên để hướng dẫn học sinh giài quyết các bài tập, các tỉnh huống

Trang 18

* T ài liệu ấn họa

Tài liệu ấn họa thuộc loại phương tiện trực quan truyền thống, có khá năng thu hút sự chú ý và truyền đạt những thông tin kiến thức một cách rõ ràng do kết hợp những từ, chữ số, ký hiệu, hình vẽ và ảnh chụp để bổ sung cho bài giảng, giúp nguòi học lĩnh hội được kiến thúc kĩ nâng một cách thuận lợi có hệ thống, củng cố và mở rộng kiến thức mà người học đã tiếp thu Các tài liệu vẽ dù lớn hay nhỏ đều có thể nhân thành nhiều bản giống bản chính, hoặc có thể sửa đổi, thêm bớt, đồng cỡ, thu nhỏ hoặc phóng to bằng nhiều cách như: in, chụp

Các tài liệu ấn họa bao gồm:

+ Tranh ảnh1: trong quá trình dạy học Ngữ văn, tranh ảnh được xác định

là những tài liệu chụp, sao chép, phán ánh ơ nhiều mức độ khác nhau bàn chât các hiện tuợng ngôn ngữ, các đơn vị ngôn ngữ, là chân dung (vẽ, chụp) của nhà văn, nhà thơ, những bức ảnh về bìa các tác phẩm văn học, những phác thảo sáng tạo về nhân vật văn học, những bức ảnh chụp về thiên nhiên, con người, hiện tượng cuộc sống xã hội có liên quan đến bài giảng Tranh ảnh sử dụng trong dạy học Ngữ văn có thể có sẵn ờ sách giáo khoa, trong danh mục thiết bị dạy học tối thiếu do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định hoặc do giáo viên tự sưu tầm từ sách, báo, internet Tùy vào mục tiêu của mỗi hoạt động dạy học, mục đich sứ dụng cùa mỗi giáo viên, trong giờ học, tranh ảnh có thế được sừ dụng rời rạc, đơn lẻ từng chiếc cũng có thề được kết chuỗi thành album ảnh Đặc biệt khi dạy học văn bản văn học, giáo viên cần cân nhắc kĩ lưỡng khi sử dụng tranh ảnh, chi nên xem đây là công cụ hỗ trợ, giúp các hoạt động dạy học đọc hiếu thêm sinh động, linh hoạt

+ Tài liệu vẽ: Các tài liệu vẽ bao gồm bản đồ, lược đồ, sơ đồ, bàng biểu Trong dạy học Ngữ văn, việc sử dụng bản đồ, lược đồ không nhiều, tuy nhiên vứi một số đon vị kiến thức người giáo viên vãn có Iliẻ sừ dụng pliưung tiện

dạy học này Ví dụ: dạy bài Tây Tiến (Quang Dũng) có thể sử dụng bản đồ

miền Bẳc để mô tả còn đường hành quân cùa đoàn binh Tây Tiến, dòng chảy

sông Hương khi dạy bài Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc

Tường), bản đồ đất nước Trung Hoa thời Tam quốc Sơ đồ là một trong những tài liệu vẽ cần thiết và quen thuộc trong dạy học Ngữ văn, được sử dụng

ờ cả ba phân môn: Tiếng Việt, Đọc hiểu, Làm văn Sơ đồ gồm nhiều loại như:

sơ đồ tư duy, sơ đồ grap, sơ đồ chuỗi Có thể khái quát các giai đoạn phát triển của tiếng Việt bằng sơ đồ graph, tóm tắt nội dung về tác giả, về bài học bằng sơ

1 Phạm Thị Thu Hương (Chù biên - 2007), sđd, tr 76 - 77

213

Trang 19

đồ tư duy, khái quát bố cục và cách lập luận trong bài Tinh thần yêu nước cùa nhân dân ta (Hồ Chí Minh) bằng sơ đồ chuỗi Bàng biểu tồn tại dưới nhiều

dạng khác nhau: bảng số liệu, bảng so sáng, bàng tổng kết Các loại bảng rất thích hợp trong những giờ ôn tập, giờ rèn luyện kĩ năng giúp học sinh khái quát

và khắc sâu về kiến thức Tùy vào mục đích và thời điểm sử dụng mà người dạy có thế chọn các tài liệu vẽ thích hợp

* Tài liệu phát tay

Tài liệu phát tay là những tài liệu giảng dạy được phát cho người học trong quá trình dạy học để tham khảo và thực hiện những nhiệm vụ học tập.Vai trò của tài liệu phát tay trong giảng dạy: giúp giáo viên sử dụng có hiệu quả thời gian giảng dạy ở trên lớp; giảm bớt thời gian ghi chép cùa người học; cồ vũ và khơi dậy niềm hứng thú; giúp người học nhớ lâu; làm cho quá trình học tập thêm phong phú; đảm bảo đề cập tới tất cả những điểm quan trọng cùa bài

Tình huống để chuẩn bị tài liệu phát tay: cần cập nhật thông tin mới không có trong sách giáo khoa; những thông tin trình bày phức tạp hoặc quá chi tiết; hệ thống tóm tắt thông tin theo các chù đề; không có sách giáo khoa hoặc nguồn tài liệu thích hợp; người học gặp khó khăn trong việc học hoặc thực hiện kĩ nâng

Tài liệu phát tay có các loại chính sau đây: Thông tin tờ rơi (tờ rơi giới thiệu về các tác giả văn học, tác phẩm), phiếu học tập; phiếu mô tả công việc; bản huớng dẫn thực hành

Ví dụ: Có thể sử dụng phiếu học tập khi dạy một đơn vị kiến thức trong

bài Nhàn - Nguyễn Binh Khiêm (Ngữ văn 11).

T rường: PHIÊU HỌC TẬP

Họ tên: Thời gian: 5 phút

Nhàn - Bức chân dung cuộc sống cùa nhà Ihơ Nguyễn Binh Khiêm

nghệ thuật

Cảm nhận về chân dung tác giả

- Một mai, một cuốc, một cần

câu/Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

- Thu ăn măng trúc, đông ăn

giá/Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Vậy, Nhàn theo Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhir thế nào?

Trang 20

Phiếu phân công công việc trong một dự án học tập tìm hiểu: Truyền thuyết Dương tự Minh và lễ hội đền Đuốm ơ Phú Lương - Thái Nguyên

Tên

Thời hạn hoàn thành

Sản phấm dụ- kiến

sồ ghi chép

1 tuần Tài liệu phô tô,

chụpTranh, anh

* Sách giáo khoa

Sách giáo khoa vừa là phương tiện làm việc của học sinh, đồng thời là phương tiện hỗ trợ đề giáo viên thực hiện chương trình môn học theo quy định Sách giáo khoa thề hiện hai phương diện là nội dung đơn vị kiến thức cần dạy học và cách trình bày các đơn vị kiến thức đó Ngoài ra, sách giáo khoa còn đáp ứng được những yêu cầu mang tính đặc thù cùa phương pháp dạy học bộ môn, luôn có hệ thống câu hòi, hệ thống bài tập đảm bảo hình thành ờ học sinh những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết gắn với bộ môn đó

Đ e là m tố t v iệ c d ạy h ọ c N g ữ v ă n , n g ư ờ i g iá o v iê n cân h iên đ irạ c d u n g ý của sách giáo khoa Cụ thể là: nẳm được yêu cầu, mục đích của từng bài; hiêu được các ý để triển khai triệt để bài giảng; nắm chắc được từng nội dung cụ thể trong từng ý Để sử dụng hiệu quả sách giáo khoa, người giáo viên cần: trau dồi kiến thức; đọc kỹ sách giáo khoa, có kĩ năng xây dựng các câu hỏi hướng dẫn học sinh khám phá tri thức của từng tiết và cùa cả bài học Theo tác giả Trịnh Thị Lan, sách giáo khoa nói chung và sách giáo khoa Ngữ văn nói riêng

là phương tiện dạy học thích hợp để giáo viên và học sinh sử dụng ờ tất cả các giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học:

215

Trang 21

Có thể sử dụng sách giáo khoa ở khâu tạo tâm thế, tạo động cơ học tập cho học sinh, đặt ra vấn đề nghiên cứu tài liệu hoặc xác định đầu mối kiến thức cho một tình huống có vấn đề cần được học sinh giải quyết.

Trong giai đoạn học sinh hình thành kiến thức, kĩ năng, có thể sứ dụng sách giáo khoa theo các trường hợp: học sinh được giáo viên hướng dln làm việc với sách giáo khoa trong một khoảng thời gian ngắn cùa quá triai hỉnh thành kiến thức mới Học sinh tự lực làm việc với sách giáo khoa trong khoảng thời gian tương đối dài đề lĩnh hội kiến thức mới Khi đó, học sinh có thể nghiên cứu hoặc thảo luận nhằm tồng hợp, chế biến, thu nhận các thcng tin trong sách giáo khoa

Trong giai đoạn cùng cố các kiến thức, kĩ năng thu được, sách giáo khoa tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn các kiều bài tập khác nhau từ đơn gián đến phức tạp, từ chi sử dựng những kiến thức vừa học đến phải vận dụng phức hợp nhiều kiến thức đã học từ trước

Sách giáo khoa cũng có thể được sử dụng ở giai đoạn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua việc giáo viên giao cho học sinh các bài tập ôn luyện cuối môn chương phần có sẵn trong sách giáo khoa1

3.2.2.2 Phương tiện dạy học hiện đại

* Video clip

Hiện nay, nguồn tư liệu để xây dựng và biên tập các đoạn video clip phục

vụ giảng dạy Ngữ văn rất phong phú Nguồn tranh ảnh dồi dào, nguồn phim truyện chuyẻn thể văn học, phim khoa học, phim tu liệu xa hội, phim về danh nhân, phim về các hoạt động văn hóa văn nghệ rất đa dạng Trong dạy học Ngữ văn, băng đĩa, video clip có tác dụng hỗ trợ giáo viên truyền thụ kiến thúc cho học sinh

Với các giờ học đọc hiểu văn bản, thông tin trong phần Tiểu dẫn của Sách giáo khoa có thể dẫn dắt ý tưởng và nội dung để hpc sinh tạo ra san phẩm video clip giới thiệu về tác giả, tác phẩm Hoặc giáo viên có thể cắt và ghép những thông tin về tác giả từ một phim tư liệu có đầy đủ các nội dung cần

1 Phạm Thị Thu Hương (Chủ biên - 2007), sđd, tr 60 - 61

Trang 22

truyền tải đế chiếu cho học sinh quan sát góp phần tạo được sự hứng thú cho người học Ví dụ: dạy phần I Tiểu sử và con người tác gia Nam Cao, giáo viên

có thể tham kháo phim tư liệu Những mạch nguồn Nam Cao, với nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, giáo viên có thể khai thác phim tư liệu Nguyễn Huy Tương m ột nhân cách lớn Đối với quá trinh dạy học tiếp nhận những văn bàn đòi hỏi môi trường diễn xướng như: sừ thi, tuồng, chèo, hát nói, kịch nói việc

sừ dụng băng đĩa, video clip rất cần thiết trong dạy học Bời nếu chỉ dạy kịch bàn không thì rất khó để học sinh có tiếp nhận hết cái hay, cái đẹp của các thề loại này

Khi sử dụng video clip, giáo viên cần chuẩn bị trước ý tuờng sử dụng; sử dụng lúc nào? Nhằm đạt được mục đích gỉ? Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi

để học sinh có định hướng trong quá trình quan sát video cỉip

* B ăn g ghi âm

So với truyền thanh, phạm vi truyền thụ kiến thức của băng ghi âm trong dạy học ít đa dạng hơn và do đó có hạn chế về khả năng áp dụng Tuy nhiên người giáo viên có thể nghiên cứu sừ dụng băng ghi âm một cách tùy ý theo yêu cầu sư phạm cụ thể Nhờ có bâng ghi âm, giáo viên có thể tác động đến người học một cách đa dạng hơn trong quá trình dạy học

Băng ghi âm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc theo dõi và nhận thông tin ngược từ người học Giáo viên có thể sử dụng băng ghi âm trong các cuộc phỏng vấn, trong các buổi luyện tập sau đó phân tích nội dung băng ghi

âm để rút ra những kết luận sư phạm cần thiết

Ví dụ: ghi âm giọng đọc thơ diễn cảm của học sinh, giọng đối thoại cùa nhiều người ờ các địa phương làm ngữ liệu giảng dạy phần tiếng Việt

* M áy chiếu qua đầu

Cách sừ dụng: Đặt máy trước người học,

ống kính hướng vào màn ảnh; cắm điện, bật

máy; vặn nút điều chinh độ cao của ảnh; đặt

phim lên mặt bàn máy, phía đọc xuôi lên trên,

lấy nét hình; khi viết trên Folie, cẩn thận tránh

che lấp

217

Trang 23

Kỹ thuật trình chiếu: dùng que chỉ trên Folie để hướng người coi chú ý

về một chi tiết; dùng bút chuyên đùng để viết và bổ sung; che Folie bằng tờ giấy đen và mờ lộ từng phần, để phân tích từng ý khi giảng tới phần đó, ghép chồng nhiều tờ Folie lên nhau, màu khác nhau, chiếu lần lượt hoặc cùng lúc để trình bày phân tích; chiếu vật ba chiều để có bóng đen trên màn ảnh

* Máy chiếu Dia

Cấu tạo máy chiếu Dia

Sừ dụng máy chiếu phim Dias: Đặt máy lên bàn, tiến hành xem xét tình trạng kỹ thuật cùa máy; lựa và xem xét loại phim, đoạn phim sẽ chiếu; lắp vào máy chiếu; lấy nét hỉnh; xác định cách chiếu

Chú ý: không nhất thiết là hình chiếu bao giờ cũng cần bao khắp màn ánh, cò khi nhó, sáng rọi dễ xem hơn; chiếu phim đoạn có thé kết hợp với băng, đĩa ghi âm để phát lời bình

* Máy chiếu Projector

»

Máy chiếu projector

Trang 24

Dùng để phóng to và chiếu các nội dung từ các nguồn tín hiệu điện khác nhau như tín hiệu video, tín hiệu audio, từ các thiết bị điện tử như máy tính, đầu video, phục vụ cho việc trình bày.

Ví dụ: Chiếu video giới thiệu về nhà văn Nam Cao; Tố Hữu, video trích

đoạn phim chuyển thể từ tác phẩm Chi Phèo, đoạn trích Hạnh phúc cùa một tang gia, Vĩnh biệt Cừu Trùng đài

Kỹ thuật sử dụng: khi sử dụng máy vi tính cá nhân, sau khi kết nối, bật nguồn mà không xuất hiện phông màn hình vi tính thì phải chọn máy vi tính của bạn phù hợp với máy chiếu

* C am era

Camera thường dùng quay các thao tác mẫu khi thị phạm, các thao tác kĩ năng nghề

Kỹ thuật quay camera: ■

Quay toàn cành đối tieợiìg Hình ảnh thu được có liên quan sau khi quay

chứa đựng toàn bộ đối tượng chính và một số đối tượng có liên quan phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho đối tượng chính

Quay m ột phần đối tượng: Hình ảnh thu được sau khi quay chỉ chứa một

phần nào đó đối tượng nhằm giúp cho người quan sát rõ hơn đối tượng

Ví dụ: Quay các đoạn kịch chuyển thể từ tác phấm văn học cùa học sinh, quay quá trình thào luận nhóm, các bài thực hành thuyết minh cùa học sin h

* Bản trong

D â n t r o n g đ ư ợ c h ic u là c á c tờ g iâ y c h iế u tr o n g 3 u ố t c ó g h i h a y in c h ữ dùng cho máy chiếu bản trong Để sử dụng bản trong cần có máy chiếu bản trong Đó là một phương tiện mà với sự trợ giúp của nó người ta có thể chiếu sáng từ phía dưới các bàn trong để ánh sáng đi qua, được đặt trên bê mặt máy trong suốt sao cho qua gương và thấu kính tờ mẫu được chiếu qua màn ảnh

Sử dụng bản trong trong dạy học Ngữ văn có tác dụng:

Làm tăng sự chú ý vì diện tích ảnh lớn

Gia tăng sự tập trung: giáo viên bao quát người học trong tầm nhìn

Sử dụng màu tạo điều kiện cho phân biệt, nhấn mạnh, sắp xếp

219

Trang 25

Máy tính gồm các bộ phận chinh sau:

- Bộ x ứ lý trung tâm (CPU - Central Procesing Unit).

- Bộ nhớ trong (Main Memory).

- Bộ nhớ ngoài (Sencondary Memory).

- Thiết bị vào (Input Device)

- Thiết bị ra (Output Device)

Trong đó, C P U là thành phần quan trọng nhai cùa máy tinh, đó là thiết

bị chính thực hiện và điều khiến việc thực hiện chương trình Gồm hai bộ

Bộ nhớ trong (Main memory) là nơi chương trình được đưa vào để thực

hiện và là nơi lưu trữ dữ liệu đang được xử lý gồm có 2 phần: rom và ram

Bộ nhớ ngoài {Secondary Memory)-, dùng để luu trữ lâu dài dữ liệu và hỗ

trợ cho bộ nhớ trong Bộ nhớ ngoài thuờng là đĩa cứng, đĩa mềm, đĩa CD, thiết

bị nhớ flash

Trang 26

Thiết bị vào (ỉnput device) dùng để đua thông tin vào máy tính Có nhiều

loại như: bàn phím, chuột, máy quét, micro, webcam (là một camera kĩ thuật số)

Thiết bị ra (Output device) dùng để đưa dữ liệu ra từ máy tính Có nhiều

loại như: màn hình, máy in, máy chiếu, loa và tai nghe, modem

M áy tính được sử dụng với các mục đích:

Khai thác thông tin: học sinh, giáo viên có thể kết nối m ạng trong giờ dạy, trực tiếp tìm kiếm các tài liệu phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập

Phương tiện trình bày: máy tính và Internet cung cấp nhiều khả năng đánh giá, thuyết minh, trinh bày một cách chuyên nghiệp các kết quà làm việc

Ví dụ: phần mềm trình bày M icrosoft PowerPoint hay M atchw are M ediator

3.2.3 N guyên tac s ử dụng

Phương tiện dạy học có tác dụng làm tăng hiệu quả cùa quá trình nhận thức của học sinh, giúp học sinh thu nhận được kiến thức về đối tượng thực tiễn khách quan Tuy vậy, nếu không sử dụng phương tiện một cách hợp lý thì hiệu quả của phương tiện dạy học không những không tãng lên mà còn phản tác dụng, làm cho học sinh mất tập trung, khó hiểu, rối loạn, căng thẳng trong quá trình nhận thức Do đó, người giáo viên cần đám bảo các nguyên tắc sau trong quá trình sử dụng phương tiện dạy học trong giờ N gữ văn

3.2.3.1 S ừ dụng phư ơ ng tiện dạy học đúng lúc

Sứ dụng phương tiện dạy học có ý nghĩa là đưa phương tiện vào lúc cần thiết, lúc học sinh mong muốn nhất (mà trước đó thầy giáo đã dẫn dắt, nêu vấn

đ ề, g ợ i ý ) v à đ ư ợ c q u a n s á t, g ợ i n h ớ t r o n g tr ạ n g th á i tâ m s in h lí t h n ậ n lợ i n h â tHiệu quả của phương tiện dạy học được nâng cao rất nhiều nếu nó xuất hiện đúng vào lúc mà nội dung, phương pháp của bài giảng cằn đến nó c ầ n đưa phương tiện vào theo trình tự bài giảng, tránh việc trưng ra hàng loạt phương tiện trong một tiết học Phương tiện dạy học phải được đưa ra sử đụng

và cất giấu đúng lúc

Nếu các phương tiện dạy học được sử dụng m ột cách tỉnh cờ, chưa có sự chuẩn bị truớc cho việc tiếp thu của học sinh thỉ sẽ không m ang lại kết quà mong muốn, thậm chí còn làm tàn mạn sự theo dõi của học sinh

221

Trang 27

cần cân đối và bố trí lịch sử dụng phương tiện dạy học hợp lí, thuận lợi trong một ngày, một tuần nhằm nâng cao hiệu quả của từng loại phương tiện

Ví dụ nên bố trí chiếu phim vào cuối buổi học trong ngày, không chiếu phim liên tiếp một lúc nhiều nội dung

3.2.3.2 S ứ dụng phương tiện dạy học đúng chỗ

Sử dụng phương tiện dạy học đúng chỗ tức là phải tim vị tri để giới thiệu, trinh bày phương tiện trên lớp hợp lí nhất, giúp học sinh có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan đề tiếp thu bài giảng một cách đồng đều ở mọi vị trí trên lớp.Một yêu cầu hết sức quan trọng trong việc giới thiệu phương tiện dạy học trên lớp là phải tìm vị trí lắp đặt sao cho toàn lớp có thể quan sát rõ ràng, đặc biệt là hai hàng học sinh ngồi sát hai bên tường và hàng ghế cuối lớp

Vị trí trinh bày các phương tiện phải bảo đảm các yêu cầu chung và riêng cùa nó về điều kiện chiếu sáng, thông gió và các yêu cầu kĩ thuật riêng biệt khác.Các phương tiện phải được giới thiệu ờ những vị trí an toàn cho giáo viên

và học sinh trong và ngoài giờ giảng, đồng thời phải bố trí sao cho không ảnh hường *đến quá trình làm việc, học tập cùa các lớp khác Đối với các phương tiện được cất tại các nơi bảo quản, phải sắp xếp sao cho khi cần đưa đến lớp giáo viên ít gặp khó khăn và mất thời gian Phải bố tri chỗ cất giấu phương tiện ngay tại lớp sau khi sử dụng để không làm mất tập trung tư tường của học sinh khi nghe giảng

3.2.3.3 Sừ dụng phương tiện dạy học đúng cường độ

Mỗi loại phương tiện dạy học có mức độ sử dụng tại lớp học khác nhau Nếu kéo dài việc trình diễn phương tiện dạy học hoặc dùng đi dùng lại một loại phương tiện quá nhiều lần trong một buổi giảng, hiệu quả cùa nó sẽ giảm sút Theo nghiên cứu cùa những nhà sinh lí học, nếu như một dạng hoạt động kéo dài quá 15 phút thi khả năng làm việc sẽ bị giám sút rất nhanh

Việc áp dụng thường xuyên các phương tiện nghe nhìn ờ trên lóp sẽ dẫn đến sự quá tài về thông tin do học sinh không kịp tiêu thụ hết khối lượng kiến thức được cung cấp Sự quá tải lớn về thị giác sẽ ảnh hưởng đến chức năng cùa mắt, giảm thị lực và ảnh hưởng xấu đến việc dạy và học Để đảm bảo yêu cầu

Trang 28

về chế độ làm việc của mắt chỉ nên sử dụng phương tiện nghe nhìn không quá 2-3 lần trong tuần và mỗi lần không quá 20-30 phút.

Những vấn đề xét ờ trên chi mới vạch ra con đường giải quyết những khó khăn gặp phải khi sử dụng phương tiện Việc áp dụng có hiệu quả phương tiện dạy học còn tùy thuộc vào khá năng sáng tạo, kinh nghiệm nghề nghiệp cùa giáo viên

C Â U H Ỏ I H Ư Ớ N G DẢ N Ô N T Ậ P

1 Chỉ ra ưu điếm và hạn chế của các hình thức, phương tiện dạy học khi vận dụng vào dạy học Ngữ văn

2 Phân biệt tài liệu ấn họa và tài liệu phát tay Cho ví dụ minh họa

3 Phân tích hiệu quả của các hinh thức, phương tiện dạy học trong những giáo án (kế hoạch dạy học) cụ thế

4 Anh/chị sẽ sử dụng các hình thức, phương tiện dạy học nào khi dạy các đơn vị kiến thức cụ thể cho một bài học (tự chọn) trong chương trình Ngữ văn phố thông Lý giải rõ vi sao lại lựa chọn như vậy?

TÀ I L IỆ U TH A M KHẢ O

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), chuyên đề bồi dưỡng Giáo viên trung học phô thông về nghiệp vụ s u phạm và năng lực sử dụng thiết bị, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), sách giáo khoa N g ừ văn 10, Nxb

Giáo dục Việt Nam , H

3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), sách giáo khoa N gữ văn 11, Nxb

Giáo dục Việt Nam , H

4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), sách giáo khoa N gữ văn 12, Nxb

Giáo dục Việt Nam, H

223

Trang 29

5 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu tập huấn Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quà học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh,

Hà Nội

6 Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường (2014), Lý luận dạy học hiện dại,

Nxb Đại học Sư phạm

7 Nguyễn Văn Hộ (2002), Li luận dạy học, Nxb Giáo dục Việt Nam.

8 Phạm Thị Thu Hương (2012), Đọc hiếu và chiến thuật đọc hiểu văn ban trong nhà Iriròvgphổ thông, Nxb Đại hpc Sư phạm Hà Nội

9 Phạm Thị Thu Hương (chủ biên - 2017), Giáo trinh Thực hành dạy học Ngữ văn ở trườìigphổ thông, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội

10 Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trần Thị Minh Huế, Lê

Công Thành (2013), Giáo trinh Giáo dục học, Nxb Giáo dục Việt Nam

11 Viện Nghiên cứu giáo dục - Trung tâm Đánh giá và kiểm định chất

lượng giáo dục (2007), Ký yếu hội ihủo “Hiệu quà của hoạt động ngoại khóa đối VỚI việc nâng cao chai lượng dạy học trong nhà trường phô thông ", thành

phố Hồ Chí Minh

12 Phạm Viết Vượng (2004), Giáo dục học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,

Trang 30

(-¿ /'titơ iti/ 4

ĐÁNH GIÁ NÀNG Lực HỌC SINH

TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN

M Ụ C T IÊ U

Sau khi học xong chương này, sinh viên:

- Giải thích được khái niệm đánh giá, đánh giá năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn

- Phản tích các nguyên tac đánh giá năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn

- Hiếu về các phương pháp đánh giá năng lực học sinh trong dạy họcNgữ văn

- Lý giai được quy trinh đánh giá năng lực học sinh trong dạy học Ngữ văn

- Nhận ra điểm khác nhau giữa đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và đảnh giá năng lực người học

NỘI D Ư N G

- Khái niệm đánh giá, đánh giá năng lực

- Nguyên tắc đánh giá

- Các phương pháp đánh giá

- Quy trinh đánh giá

4.1 Đ ánh giá n ăng lực học sinh

Chương trinh giáo dục phổ thông môn Ngữ văn đã tuân thú và vận dụng linh

hoạt các định hướng đồi mới đánh giá nêu trong Clntưìig trình giáo dục phô thông lóng thê, từ mục tiêu, cãn cứ đến các hình thức và phương thức đánh giá.

Đánh giá theo yêu cầu phát triển phẩm chất troniì môn Ngữ vãn chú yếu bằng định tính, thông qua quan sát, ghi chép, nhận xét về hành vi, cách ứng xử,

225

Trang 31

các biểu hiện về thái độ, tình cảm của học sinh khi đọc, viết, nói và nghe văn bản cũng như sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày

Đánh giá theo yêu cầu phát triển năng lực trong môn Ngữ văn có sự kết hợp cà định tinh và định lượng, thông qua các bài kiểm tra (đọc, viết, nói, trinh bày) với nhiều hình thức và mức độ khác nhau, dựa trên yêu cầu cần đạt về nãng lực đối với mỗi cấp lớp

Đánh giá theo định huớng này cần xây dựng tiêu chí đánh giá các năng lực đọc, viết, nói và nghe Đánh giá năng lực đọc, cần chú ý đến khả năng hiểu nội dung, chủ đề của văn bản, quan điểm và ý định của người viết, quan hệ liên nhân; khả năng nam được các đặc điểm thuộc về phương thức thể hiện, nhất là

về mặt kiểu loại văn bản và ngôn ngữ sử dụng; khả năng liên hệ, so sánh ngoài vãn bản và giữa các văn bản, khả nãng trả lời các câu hòi được thiết kế theo những cấp độ tư duy khác nhau; khả năng lập luận cho cách hiểu cùa mình, khả năng nhận xét, đánh giá văn bản và khả năng thể hiện cảm xúc đối với những vấn đề được thề hiện trong văn bản Đánh giá năng lực viết cẩn kết hợp với đánh giá n ă n g lực đọc thông qua một hay một số văn bán cụ thế Đánh giá nâng lực tạo lập cùa học sinh qua nhiều kiểu loại văn bản thông dụng khác nhau (văn bàn tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản nghị luận, văn bản thuyết minh, văn bản nhật dụng) Việc đánh giá năng lực viết phải dựa vào nhiều tiêu chí, tùy vào kiểu bài viết mà tiêu chí đánh giá có nhũng khác biệt nhất định Tuy nhiên có thể dựa vào các tiêu chí chù yếu như: nội dung; kết cấu; diễn đạt và lập luận, ngôn ngữ và trình bày Đối với năng lực nói và nghe càn chứ ý đến khá năng tặp trung vầo chủ dề và mục tiẽu, sự tự tin, nâng động cùa người nói; khả năng tranh luận và thuyết phục; khả năng chú ý đến người nghe; kỹ thuật nói thích hợp; khả năng sử đụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và phương tiện công nghệ hỗ trợ Đối với năng lực nghe, cần chú ý đến khả năng nắm bắt nội dung do người khác nói; khả năng nam bắt và đánh giá quan điểm, ý định cùa người nói; khả năng đặt câu hỏi, nêu vấn đề, trao đổi

để kiểm tra những thông tin chưa rõ; thái độ nghe tích cực và tôn trọng người nói; khả năng biết lắng nghe và tôn trọng những ý kiến khác biệt

Như vậy, định hướng về đánh giá kết quả học tập cùa học sinh trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn đã tiếp cận được với xu hướng

Trang 32

của nhiều nước trên thế giới Đánh giá năng lực đọc hiểu, chương trình của Singapore hướng dẫn giáo viên đánh giá như sau: “ Giáo viên sẽ sắp xếp, đánh giá các mục tiêu và kết quả học tập trong chương trình bằng việc khuyến khích học sinh: đọc và quan sát một cách có phê phán, với độ chính xác, sự hiểu biết

và đánh giá cao một loạt các văn bán văn học và vãn bản cung cấp thông tin/chức năng từ các nguồn in và không in; hiếu và sử dụng thứ tiếng Anh được quốc tế chấp nhận (tiếng Anh chuẩn) về độ chính xác, phù hợp cùa ngữ pháp

và từ vựng, cũng như hiểu cách nhà văn sắp đặt từ ngữ, sử dụng ngôn ngữ đe giao tiếp và đạt được tác động như mong muốn Còn Chirơng trình của Hàn Quốc đánh giá kết quà đọc hiểu như sau: Lập kế hoạch kiềm tra đánh giá khả năng diễn đạt, khả năng hiểu, các nội dung nhận biết, thành phần cảm xúc; xem xét kỹ chủ thể, thời gian, tỉnh huống của việc kiềm tra đánh giá; Sừ dụng các biện pháp định tính và định lượng, chính thức và không chính thức, trực tiếp và gián tiếp, chọn lựa và thực hành, và các biện pháp khác; Đặt các mục tiêu cho

kĩ năng đọc, chú trọng vào khả năng suy luận, phê phán, và đọc sáng tạo; Đật các mục tiêu cho phần văn học, tập trung vào việc hiều văn bản, khả năng tiếp nhận và sáng các tác phẩm văn học, chọn các nội dung đánh giá trên cơ sở “các chuẩn cần đạt” và “nội dung theo bậc học” trong chương trình; Sứ dụng đa dạng các phương pháp đánh giá và các công cụ đánh giá phù hợp với mục tiêu, mục đích, và nội dung đánh giá; Sử dụng tích cực biện pháp học sinh tự đánh giá và học sinh đánh giá lẫn nhau bên cạnh đánh giá của giáo viên; khi đánh giá từng phần, sử dụng đa dạng các phương pháp đánh giá như kiểm tra trên giấy (trắc nghiệm và tự luận), tiều luận nghiên cứu, kiểm tra miệng, tranh luận, quan sá t ; K ết quả đánh giá được sử dụng để nhận xét m ức độ kiến thức và sự phát triển ngôn ngữ tiếng Hàn của học sinh, để cải thiện phương pháp, tư liệu dạy học và các công cụ đánh giá; cung cấp phân tích kết quả đánh giá cho học sinh, giáo viên, cha mẹ học sinh và làm đa dạng hệ thống thông báo kết quả đánh giá

Đánh giá năng lực viết văn, đối với bậc học THCS Ở Trung Quốc sẽ gồm

3 tiêu chí: nội dung, ngôn ngữ, kết cấu, mỗi m ục lại phân thành 3 cấp độ thượng, trung, hạ, việc đánh giá đối với quá trinh thi lên bậc TH PT cũng vậy,

có thề tham khảo biểu dưới đây:

227

Trang 33

Bàng đánh giá thi viết văn bậc THCS thông dụng

Trọng tâm bài làm cơ ban là

rõ ràng, tài liệu

cơ bàn the hiện được trọng tâm, có một bộ phận còn xa đề, lạc dề

Trọng tâm bái làm không rõ ràng, tài liệu không dủ dê thc hiện trọng tâm hoặc lạc đề

Lạc đề nghiêm trọng

Kết cấu

Kct cấu

chặt chẽ

Kềt cấu hoán chinh, trinh tự nội dang rõ ràng

Kết cấu tương dối hoàn chinh, nội dung tương dối rõ ràng

Kềt cấu không hoàn chinh hoặc rời rạc, trật

tự không rõ ràng, mạch lạc

Bài viết lộn xộn, bừa bãi

cơ ban là xác đáng

Ngôn ngữ đại khái trơn tru

liền mạch

Ngôn ngữ không dược trơn tru, liền mạch lăm

Mạchvănkhôngtrôichay

Chữ viét, dáu câu, cách thức trinh bày sai ít

Trang 34

Bang đánh g iá bài làm

T hứ bậc

Mạng m ụ c \

Bậc 1 (20-17 phút)

Bậc 2 (16-12 phút)

Bậc 3 (11-7 phút)

Bậc 4 (6-0 phút)

Vấn dẻ nêu ra tương dối phù hợp trọng tâm tương đối rõ ràng, nội dung đơn giản, tinh cảm tương đối chân thực

Vấn dề nêu ra không phù hợp trọng tâm không

rõ ràng, lập ý không xác đáng, nội dung không

có gi ùnh cain giá tạo

Cơ bán phù hợp với the văn, két cấu tương đối hoàn chinh, ngôn ngữ tương dối trôi cháy, chữ viết rõ ràng

Không phù hợp với yêu cầu thê văn, kết cấu hỗn loạn, ngôn ngữ không trôi chày, mắc nhiều lỗi, chữ viết xấu, khó dọc

ít sâu sắc, phong phú, it

có tài văn chương và ý sáng tạo

Có một số câu

cá biệt có sự sâu sẳc, một số

ví dụ và tình tiết tốt có một

số câu hay, ít

có cá tính.Như vậy, chương trinh cùa các nước rất chú trọng khâu đánh giá kết quả học tập cua học sinh Tuy cach thức va yeu càu khóng gióng nhau, nhưng trọng tâm vẫn là đánh giá năng lực đọc hiểu và viết văn cùa học sinh Những nỗ lực cua giáo dục phổ thông Việt Nam về kiểm tra đánh giá trong dạy học Ngữ văn những năm gần đây đã tiệm cận được với yêu cầu đánh giá cùa giáo dục phổ thông trên thế giới

Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 ban hành Chương trình hành động của Chính phù thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11

năm 2013 khẳng định: "Đối mới hình thức, phư ơng ph á p thi, kiếm tra và đánh giá kết qua giáo dục theo hưởng đánh giá năng lực cùa người học; kết hợp

Ngày đăng: 25/07/2023, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), D ạy học và kiểm tra, đánh g iá kết quà học tập theo định hướng p h á t triển năng lực học sinh, Tài liệu tập huấn Vụ Giáo dục trung học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Tài liệu tập huấn Vụ Giáo dục trung học
Năm: 2014
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu hội thảo Đ ổi m ới kiểm tra, đánh giá chẩí lượng học tập m ôn N g ữ văn ở trường p h ô thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
3. Hoàng Hòa Bình - chủ biên (2014), D ạy học N gữ văn ờ trường p h ổ Ihỏng, Nxb Đại học quốc gia H à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
4. Nguyễn Chí Hòa, Vũ Đức Nghiêu (2015), Bộ tiêu chuẩn đánh giá năng lực liếng Việt cùa học viên quốc tế, Nxb. Đại học Quốc gia H à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chuẩn đánh giá năng lực liếng Việt cùa học viên quốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa, Vũ Đức Nghiêu
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
5. Nguyễn Khải Hoàn, Nguyễn Bá Đức (2015), Đánh g iá học sinh tiểu học theo tiếp cận năng lực, Nxb. Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá học sinh tiểu học theo tiếp cận năng lực
Tác giả: Nguyễn Khải Hoàn, Nguyễn Bá Đức
Nhà XB: Nxb. Đại học Thái Nguyên
Năm: 2015
6. Nguyễn Thúy Hồng, (2007) Đổi mới đánh giá kết quà học tập môn N gữ văn cùa học sinh THCS, THPT, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh THCS, THPT
Tác giả: Nguyễn Thúy Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2007
7. Phạm Thị Thu Hương (2012), Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường pho thông, Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường pho thông
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
8. Phạm Thị Thu Hương (chù biên - 2017), Giáo trình Thực hành dạy học N gữ văn ớ trường phổ thông, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thực hành dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2017
9. Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh, Lê Mỹ Dung (2014), Kiếm tra đánh giá trong giáo dục, Nxb. Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiếm tra đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh, Lê Mỹ Dung
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2014
10. Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương (đồng chủ biên - 2016), Phương pháp, k ĩ thuật xây dụng chuẩn đánh giá năng lực đọc hiếu và năng lực giài quyết van đề, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp, kỹ thuật xây dựng chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực giải quyết vấn đề
Tác giả: Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016
14. Lâm Quang Thiệp (2012), Đo /trừng và đánh giá hoạt động học lập trong nhà trường, Nxb. Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo /trừng và đánh giá hoạt động học lập trong nhà trường
Tác giả: Lâm Quang Thiệp
Nhà XB: Nxb. Đại học Sư phạm
Năm: 2012
17. Giselelle o . Martin - Kniep (2013), Tám đồi mới để trờ thành người giáo viên, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tám đồi mới để trở thành người giáo viên
Tác giả: Giselelle O. Martin-Kniep
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2013

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm