1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận kết thúc học phần văn hóa chăm tên đề tài văn hóa dân tộc chăm

47 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Dân Tộc Chăm
Tác giả Nhóm sinh viên thực hiện: 22DDL
Trường học Trường đại học Văn Hóa Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Hóa Dân Tộc
Thể loại Tiểu luận kết thúc học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 8,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là quá trình đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũng như quá trình giao lưu, tiếpxúc văn hóa giữa các dân tộ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ



TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

VĂN HÓA CHĂM

TÊN ĐỀ TÀI VĂN HÓA DÂN TỘC CHĂM

Nhóm sinh viên thực hiện: 22DDL

Mã số sinh viên: D19DT004 Lớp: ĐH VH DTTS 12 Năm học: 2022 – 2023

Trang 2

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 12 năm 2022

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do và mục đích chọn đề tài 4

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

2.1 Ý nghĩa khoa học 5

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu vấn đề 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 8

5.1 Câu hỏi nghiên cứu 8

5.2 Giả thiết nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Bố cục của đề tài 9

CHƯƠNG 1 11

TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ NGƯỜI BA-NA Ở KON TUM 11

1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 11

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 11

1.1.2 Dân số và dân tộc 11

1.1.3 Kết cấu hạ tầng và tiềm năng du lịch 12

1.2 Tổng quan về người Ba-na 12

1.2.1 Tộc danh 13

1.2.2 Lịch sử tộc người 13

1.2.3 Đặc điểm và phân bố cư trú của các nhóm địa phương 14

1.2.4 Đặc điểm văn hóa sinh hoạt truyền thống 15

CHƯƠNG 2 17

NGHỀ DỆT THỔ CẨM CỦA NGƯỜI BA-NA Ở KON TUM 17

2.1 Quá trình hình thành và phát triển 17

2.1.1 Lịch sử hình thành theo truyền thống 17

2.1.1 Theo phong tục tập quán 17

Trang 4

2.2 Nguyên liệu dệt 17

2.2.1 Nguyên liệu 17

2.2.2 Công cụ 19

2.2.3 Khung dệt 19

2.3 Kỹ thuật dệt 20

2.3.1 Kỹ thuật 20

2.3.2 Quy trình dệt 21

2.3.3 Kỹ thuật tạo hoa văn 24

2.3 Về màu sắc hoa văn trên thổ cẩm 25

2.3.1 Màu sắc 25

2.3.2 Hoa văn 26

CHƯƠNG 3 28

NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG NGHỀ DỆT THỔ CẨM, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY 28

3.1 Nguyên nhân 28

3.1.1 Sự phát triển của xã hội 28

3.1.2 Tác động của con người đến điều kiện tự nhiên 28

3.1.3 Điều kiện kinh tế gia đình 28

3.2.4 Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa 29

3.2 Những biến đổi 29

3.2.1 Biến đổi về nguyên liệu 29

3.2.2 Biến đổi về hoa văn 29

3.2.3 Biến đổi về cách thiết kế trang phục 30

3.3 Ý nghĩa về sự biến đổi 30

3.3.1 Ý nghĩa 30

3.4 Giải pháp bảo tồn và phát huy 30

3.4.1 Nhận định 30

3.4.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy 31

KẾT LUẬN 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

PHỤ LỤC 36

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do và mục đích chọn đề tài

Kon Tum là tỉnh có nền văn hóa đa dạng và phong phú với các dân tộc bảnđịa gồm Xơ-đăng, Ba-na, Gia Rai, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm, mỗi dân tộc gắnvới những giá trị văn hóa đặc sắc riêng tạo nên sự đa dạng và nhiều màu sắc trongvăn hóa Văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú, độc đáo mang bản sắc rõnét Đấy chính là sự sáng tạo đặc sắc của các thế hệ nghệ nhân dân gian các dân tộc

ít người làm nên bản sắc văn hóa phục vụ đời sống vật chất, tinh thần rất phongphú của mình, được trao truyền từ đời này sang đời khác và trưởng tồn cùng vớithời gian

Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế, đặc biệt

là quá trình đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Kon Tum cũng như quá trình giao lưu, tiếpxúc văn hóa giữa các dân tộc, văn hóa truyền thống của các dân tộc cũng như vănhóa dân tộc Ba Na đã bị mai một và biến đổi nhiều Việc tìm hiểu văn hóa truyềnthống và sự biến đổi của nó trong quá trình phát triển kinh tế và sự tiếp biến vănhóa sẽ cung cấp dữ liệu cho các nhà hoạch định chính sách, hướng tới xây dựng kếhoạch bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu sốcũng như dân tộc Ba-na ngày nay

Với tính cần cù, với bàn tay khéo léo, với trí thông minh, sáng tạo và xuấtphát từ nhu đảm bảo nhu cầu đời sống vật chất, người Ba-na ở Kon Tum đã pháttriển các nghề thủ công và hình thành nên các làng nghề nổi tiếng cho đến ngàynay Trong đó, trang phục là một trong những vật phẩm quan trọng nhất nói riêng,người dân nói chung vì nó gắn liền với đời sống hàng ngày của con người Vì vậy,nghề dệt thổ cẩm truyền thống rất được coi trọng và phát triển Hơn nữa, trước đây,người Ba-na thường sống theo phương thức tự cung tự cấp nên ai cũng biết dệt vải.Đặc biệt, người mẹ thường truyền lại cách dệt vải cho con gái, vì qua trang phục,người con gái thể hiện được năng khiếu và vẻ đẹp của mình

Trang 6

Với vải thổ cẩm, màu sắc và những hoa văn trên vải thể hiện được nét đặcsắc, nét văn hoá, mỹ thuật của mỗi dân tộc Do vậy, nghệ thuật dệt hoa văn trên vải

là nghệ thuật tạo ra những biểu tượng và tín hiệu văn hoá riêng của mỗi dân tộc.Thổ cầm của người Ba-na cũng mang những đặc trưng riêng, thể hiện nét hài hòacủa núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ với văn hóa đă ]c trưng của vùng đất này

Vì vậy, qua việc tìm hiểu nghề dệt thổ cẩm, tôi muốn tìm hiểu những nét vănhoá đặc sắc của người Ba-na; muốn biết họ gìn giữ và duy trì nghề truyền thốngnày như thế nào Bên cạnh đó, tôi cũng muốn biết nghề dệt thổ cẩm của người Ba-

na ở Kon Tum đang được gìn giữ và bảo tồn như thế nào và những người sốngbằng nghề này sẽ khắc phục ra sao Đó là lý do và mục đích tôi chọn đề tài này

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài cũng làm nổi bật văn hóa đặc trưng về nghề dệt thổ cẩm của ngườiBa-na ở Kon Tum,Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài tiểu luận này sẽ là mộtnguồn tài liệu nhỏ góp phần cho các công trình nghiên cứu về văn hóa người Ba-nacũng như các công trình nghiên cứu về nghề thủ công khác

Làm nguồn tài liệu tham khảo

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài nghiên cứu của tôi không chỉ dừng lại ở việc làm nổi bật đặc trưngtrong nghề dệt thổ cẩm, tìm hiểu sự biến đổi trong nghề dệt mà tôi còn đưa ra nhậnđịnh để góp phần vào công tác đưa ra giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trịvăn hóa sinh hoạt được thể hiện trong nghề thủ công truyền thống của người Ba-natrong thời điểm hiện nay

Giúp mọi người hiểu được giá trị của nghề thủ công truyền thống, cụ thể lànghề dệt bddeer ý thức và giữ gìn, phát huy Đồng thời làm cho văn hóa của cộngđồng càng được nhiều người biết đến, đón nhận, học hỏi, tìm hiểu

Trang 7

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dân tộc nào cũng có nền văn hoá đặc trưng riêng của mình Hiện nay, dùkinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin phát triển, nhiều người cũng muốntìm về với những đặc trưng văn hoá truyền thống của từng dân tộc Nhờ đó mà cácquốc gia có thể thu hút nhiều du khách nước ngoài đến tham quan và tìm hiểu cuộcsống người dân bản địa Hơn nữa, sự phát triển của ngành du lịch cũng đóng gópvào sự phát triển kinh tế của một nước Vì vậy, các nước trên thế giới hiện nayđang đầu tư nhiều vào việc bảo tồn và phát triển những nét đặc trưng văn hoátruyền thống, giáo dục và đào tạo thế hệ sau kế thừa, giữ gìn và phát huy những giátrị ấy

Dệt thổ cẩm là một trong những nghề truyền thống rất độc đáo của ViệtNam Nghề dệt thổ cẩm và vải thổ cẩm đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhànghiên cứu Trong đó, sự quan tâm thường hướng đến sự đặc sắc về màu sắc, cáchọa tiết hoa văn thổ cẩm của người dân tộc thiểu số Đáng chú ý là các bài viết:

“Thổ cẩm Chăm- mỹ nghiệp: Đứng vững trên thị trường nhờ nét hoa văn truyềnthống” của Ngọc Lan (Báo Dân tộc và Phát triển), “Ngôn ngữ thổ cẩm Việt Nam”của Nguyễn Thu Thủy (Báo Hà Nội mới), “Thổ cẩm Tây Nguyên nhìn từ nhiềugóc độ bảo tồn văn hóa” của Linh Nga Niê Kdam (Tạp chi Dân tộc) Một số bàiviết băn khoăn về sự phát triển của nghề dệt thổ cẩm: “Duy trì và phát triển nghềdệt thổ cẩm ở Nghệ An” (Hội doanh nghiệp Nghệ Tỉnh ở TPHCM), “Dệt thổ cẩmChăm Ninh Thuận, hiện trạng và giải pháp” (Irasara), “Hãy cứu nghề dệt thổ cẩmtruyền thống” (P.T, Báo Công an Nhân dân) v.v

Vương Liêm (2009) có bài: “Làng dệt thổ cẩm Hà Ri” viết về nghề dệt thổcầm của người Ba-na Hoài Thu (2009), ca ngợi những “Bóng mát ở làng nghề”,trong đó có những bóng mát của nghề dệt thổ cẩm Đó là những nghệ nhân caoniên nặng lòng với nghề (ông Tám Vũ và bà Năm Thìn)

Trang 8

Trong bài “Dệt hồn núi giữa đồng bằng”, Hoài Thu khẳng định: “Thời cựcthịnh, thổ cẩm Phương Danh rất được đồng bào thiểu số khu vực miền Trung vàTây Nguyên ưa chuộng ” Tác giả cho rằng, dệt thổ cẩm ở Nam Phương Danh là

“dệt hồn núi giữa đồng bằng” Trong bài “Nghệ nhân cao tuổi với nghề dệt thổ cầm

ở Bình Định”, Vương Liêm đã giới thiệu nghề dệt thổ cầm ở Nam Phương Danh vàkhẳng định: “Thổ cẩm nơi đây mang tính đặc thù, đó là sự kết hợp hài hòa của nềnvăn hóa Chăm với văn hóa Việt, giao thoa của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ vàvăn hóa cồng chiêng, trong các điệu múa, trong sử thi”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu vấn đề

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là văn hóa người Ba-na ở Kon Tum quakhía cạnh nghề dệt thổ cẩm, đây là một nét đặc trưng riêng của tộc người Ba-na cụ thể là các nhóm địa phương ở Kon Tum

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi nghiên cứu về thời gian

Đề tài nghiên cứu này tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi thời gian từnăm 1997 đến nay Trong khoảng thời gian đó, nghề dệt thổ cẩm có sự biến đổi rấtnhiều so với trước đây Ngoài ra, tôi còn nghiên cứu dựa trên các tư liệu của cáccông trình trước đó, dựa vào lịch sử tộc người Ba-na như được học

4.2.2 Phạm vi nghiên cứu về không gian

Hiện nay, ở Bình Định, nói đến nghề dệt thổ cẩm truyền thống, người tathường nhắc đến các làng dệt của người Bana Đó là làng Bok Tới, làng Đak Mang

ở huyện Hoài Ân và làng Hà Ri ở huyện Vĩnh Thạnh, Vân Canh Trong điều kiện

và thời gian cho phép, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu nghề dệt thổ cảm củangười Ba-na ở Kon Tum chung chung Vì chưa có nhiều thời gian để đi trực tiếpnghiên cứu nên tôi chỉ nghiên cứu tổng hợp dựa trên các tài liệu mà các nhà nghiên

Trang 9

cứu, tác giả trước đã có và một chút hiểu biết của mình Ngoài ra đề tài này còn mởrộng nghiên cứu để so sánh với dệt thổ cẩm của các tộc người khác ở Tây Nguyênhoặc vùng khác trong đất nước Việt Nam Tôi hy vọng sẽ có những đề tài lớn,nghiên cứu sâu hơn và có giá trị thực tiễn hơn cho đề tài này.

4.2.3 Phạm vi nghiên cứu về nội dung

Trong sự giới hạn về khả năng hiểu biết của bản thân và đây là một bướctrong việc nghiên cứu nhỏ về nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Ba-na nêntrong đề tài này, tôi chỉ giới hạn đến các nội dung như sau: Tổng quan về điều kiện

tự nhiên và người Ba-na ở Kon Tum, đặc trưng của nghề dệt thổ cẩm truyền thống,

sự biến đổi và giải pháp để bảo tồn và phát huy

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Người Ba-na có những nghề thủ công truyền thống nào?

- Những nét tương đồng hay khác nhau giữa nghề dệt truyền thồng của người

Ba-na với các dân tộc Tây Nguyên và các vùng khác của Việt nam như thếnào?

- Nghề dệt của người Ba-na có những biến đổi gì trong giai đoạn ngày nay?

- Trang phục sinh hoạt thường ngày, trang phục lễ hội, trang phục lễ cưới,

trang phục khi tham dự các lễ tôn giáo của họ hiện nay như thế nào?

- Cần đưa ra nhận định, giải pháp gì để giúp bảo tồn và phát huy nghề dệt thổ

cẩm truyền thống của người Ba-na ở Kon Tum?

5.2 Giả thiết nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài này, tôi đặt ra ba giả thuyết:

Thứ nhất, người Ba-na ở Ton Tum canh tác nương rẫy nhưng ít người còngiữ trồng bông dệt vải

Trang 10

Thứ hai, nghề dệt truyền thống của họ ngày nay có nhiều biến đổi đặc biệttrong nguyên liệu, hoa văn, màu sắc

Thứ ba, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa làm cho giới trẻ cũng như người lớn

có sự thay đổi trong phong cách ăn mặc, cách thiết kế trang phục truyền thống cónhiều kiểu mới, đa dạng

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:

- Phương pháp so sánh: Tôi dùng phương pháp này để tìm ra những đặc điểmgiống cũng như khác nhau giữa nghề dệt thổ cẩm của người Ba-na với dân tộckhác

- Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn: Dựa vào các công trình nghiên cứutrước, các lý luận có trong các sách về văn hóa, văn hóa học, các công trình về vănhóa tộc người, vùng văn hóa, về trang phục, về nghề thủ công truyền thống và biếnđổi là trọng tâm để tham khảo, so sánh, đối chiếu Tôi thực hiện đề tài này với sựtiếp thu có chọn lọc của các công trình nghiên cứu trước về văn hóa người Ba-na

và đặc trưng nghề dệt thổ cẩm truyền thống

7 Bố cục của đề tài

Bố cục của đề tài, ngoài phần dẫn luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thìtrong đề tài này, tôi trình bày 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và người Ba-na ở Kon Tum

Ở chương đầu, tôi trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu qua các nộidung như vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, dân số, dân tộc, kết cấu hạ tầng và tiềmnăng du lịch là cơ sở để tôi hoàn thành chương 2 và chương 3 Ngoài ra, để dễdàng tiếp cận với đề tài, tôi cũng trình bày sơ lược về người Ba-na ở Kon Tum: Tôi

Trang 11

bắt đầu trình bày về lịch sử các tộc người, tộc danh, đặc điểm và phân bố cư trú cácnhóm địa phương ở Kon tum và cuối cùng là đặc điểm văn hóa truyền thống.Chương 2 Nghề đệt thổ cẩm của người Ba-na ở Kon Tum

Trong chương này, tôi tìm hiểu và nghiên cứu nghề dệt thổ cẩm truyền thốngcủa người Ba-na qua các nội dung sau: Trình bày vài nét về quá trình hình thành vàphát triển, nguyên liệu dệt, kỹ thuật dệt, màu sắc hoa văn trên thổ cẩm

Chương 3 Những biến đổi trong nghề dệt thổ cẩm, giải pháp bảo tồn và pháthuy

Tiếp nối chương 2, trong chương 3 tôi tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu nguyênnhân của sự biến đổi về nghề dệt thổ cẩm, ý nghĩa của sự biến đổi, sau đó nhậnđịnh để đưa ra giải pháp bảo tồn và phát huy

Cuối cùng là phần kết luận

Đây là phần tổng kết lại những nội dung, vai trò của nghề dệt đối với đời sống của người dân tộc Ba-na ở Kon Tum

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ NGƯỜI BA-NA Ở KON

TUM 1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyêntrong toạ độ địa lý từ 13°5510” đến 15°27’15” vĩ độ bắc; 107°20’15” đến108°32′30” kinh độ đông Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam có chiều dài 152 km;phía nam giáp tỉnh Gia Lai có chiều dài ranh giới 158 km; phía đông giáp tỉnhQuảng Ngãi với chiều dài ranh giới 78 km; phía tây có biên giới dài 150 km giápnước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và 127 km với Vương quốc Campuchia.Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2005, diện tích đất tự nhiên toàn tinh là967.655 ha, chiếm 2,94% diện tích toàn quốc, chiếm 17,72% tổng diện tích toànvùng Tây Nguyên Đất nông nghiệp có diện tích 791.651 ha chiếm 81.81% tổngdiện tích tự nhiên toàn tỉnh và 16,97% diện tích đất nông nghiệp vùng TâyNguyên, diện tích đất phi nông nghiệp có 267.600 ha chiếm 2,85% diện tích tựnhiên; diện tích đất chưa sử dụng còn 148.403 ha chiếm 15,34% diện tích tự nhiên

Về địa hình, phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía tây dãy Trường Sơn, địahình thấp dần từ bắc xuống nam và từ đông sang tây Địa hình của tỉnh Kon Tumkhá đa dạng bao gồm đổi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau Trong đó: Địa hình đồi, núi: chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn tinh, bao gồm những đồinúi liền dài có độ đốc 150 trở lên Các núi ở Kon Tum do cấu tạo bởi đá biến chất

cổ nên có dạng khối như khởi Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m) - nơibắt nguồn của nhiều con sông chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng như sông Thu Bồn vàsông Vụ Gia chảy về Quảng Ngãi như sông Trà Khúc

Trang 13

Địa hình núi cao liền đài phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sangphía đông tỉnh Kon Tum Ngoài ra Kon Tum còn có một số ngọn núi như: ngọnBon San (1.939 m): ngọn Ngọc Kring (2.066 m) Mặt địa hình bị phân cắt hiểmtrở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe suối Địa hình đối tập trung chủ yếu ở huyện

Sa Thầy có dạng nghiêng về phía tây và thấp dần về phía tây nam, xen giữa vùngđồi là dãy núi Chư Mon Rày

Địa hình thung lũng: Nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam của tỉnh códạng lòng mang thấp dần về phía nam, theo thung lũng có những đồi lượn sóngnhư Đắk Uy, Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như vùng thị xã KonTum Thung lũng Sa Thấy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài về phía đôngchạy dọc biên giới Việt Nam – Campuchia

Địa hình cao nguyên tỉnh Kon T'nr dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cácnguyên Kon Plông nằm giữa 00 đến 1.300 m, đây là cao nguyên nhỏ, chạy theohướng tây Đắc - Đông

Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên Nhiệt độ trungbình trong năm dao động trong khoảng 22 - 23 C, biên độ nhiệt độ đao động trongngày 8-9°C

Kon Tum có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa chủ yêu bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11,mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Hàng năm lượng mưa trung bìnhkhoảng 2.121 mm lượng mưa năm cao nhất là 2.260 mm, lượng mưa năm thấpnhất là 1.234 mm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 Vào mùa khô, gió chủyếu thổi theo hướng đông bắc; vào mùa mưa, gió chủ yếu theo hướng tây nam

Độ ẩm trung bình hàng năm dao động trong khoảng 78 - 87% Độ ẩm khôngkhí tháng cao nhất là tháng 8 - 9 (khoảng 90%), tháng thấp nhất là tháng 3 (khoảng66%)

Trang 14

Kon Tum nằm trên khối nâng Kon Tum, vì vậy rất đa dạng về cấu trúc địachất và khoáng sản Trên địa bàn có 21 phân vị địa tầng và 19 phức hệ mắc ma đãđược các nhà địa chất nghiên cứu xác lập, hàng loạt các loại hình khoáng sản như:sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quý, bán quý, kim loại phóng xạ đấthiếm, nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng đã được phát hiện Nhiềuvùng có triển vọng khoáng sản đang được điều tra thành lập bản đồ địa chất, cùngvới những công trình nghiên cứu chuyên đề khác sẽ là cơ sở quan trọng trong côngtác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Qua khảo sát của các cơquan chuyên môn, hiện nay, Kon Tum đang chú trọng đến một số loại khoáng sảnsau:

- Nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng: nhóm này rất đadạng, bao gồm: sét (gạch ngói), cát xây dựng, cuội sỏi, đá hoa, đá vôi, đá granít,puzơlan

- Nhóm khoáng sản vật liệu cách âm, cách nhiệt và xử lý môi trường, baogồm: diatomit, bentonit, chủ yếu tập trung ở thị xã Kon Tum

- Nhóm khoáng sản vật liệu chịu lửa có silimanit, dolomit, quazit tập trungchủ yếu ở các huyện Đắk Glei, Đắk Hà, Ngọc Hồi

-Nhóm khoáng sản cháy có than bùn, tập trung chủ yếu ở thị xã Kon Tum,huyện Đắk Hà, huyện Đắk Tô

- Nhóm khoáng sản kim loại đen, kim loại màu, kim loại hiêm, gồm cómăngan ở Đăk Hà; thiếc, molipden, vonfram, uran, thori, tập trung chủ yếu ở Đắk

Tô, Đắk Glei, Ngọc Hồi, Kon Plông; bauxit tập trung chủ yếu ở Kon Plông

- Nhóm khoảng sản đá quý có rubi, saphia, opalcalcedon tập trung ở Đăk Tô,Kon Plông

Tài nguyên đất của tỉnh Kon Tum được chia thành 5 nhóm với 17 loại đấtchính:

Trang 15

- Nhóm đất phủ sa: gồm ba loại đất chính là đất phù sa được bồi, đất phù saloang lổ, đất phù sa ngoài suối.

- Nhóm đất xám: gồm hai loại đất chính là đất xám trên mácma axít và đấtxám trên phù sa cổ

- Nhóm đất vàng: gồm 6 loại chính là đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏvàng trên mácma axít, đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất, đất nâu đỏ trên đábazan phong hoá, đất vàng nhạt trên đá cát và đất nâu tím trên đá bazan

- Nhóm đất mùn vàng trên núi: gồm 5 loại đất chính là đất mùn vàng nhạt cónơi Potzon hoá, đất mùn vàng nhạt trên đá sét và biến chất, đất mùn nâu đỏ trênmácma bazơ và trung tính, đất mùn vàng đỏ trên mácma axít

- Nhóm đất thung lũng: chỉ có một loại đất chính là đất thung lũng có cảnphẩm dốc tụ

Về tài nguyên nước: gồm nguồn nước mă ]t và nguồn nước ngầm

- Nguồn nước mặt: chủ yếu là sông, suối bắt nguồn từ phía bắc và đông bắccủa tỉnh Kon Tum, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết, bao gồm:Sông Sê San: do 2 nhánh chính là Pô Kô và Đắk Bla hợp thành Nhánh Pô

Kô dài 121 km, bắt nguồn từ phía nam của khối núi Ngọc Linh, chảy theo hướngbắc - nam Nhánh này được cung cấp từ suối Đắk Pxi dài 73 km, bắt nguồn phíanam núi Ngọc Linh từ các xã Ngọc Lây, Măng Rí, huyện Đắk Tô Nhánh Đắk Bladài 144 km bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Krinh

Các sông, suối khác: phía đông bắc tỉnh là đầu nguồn của sông Trà Khúc đổ

về Quảng Ngãi và phía bắc của tỉnh là đầu nguồn của 2 con sông Thu Bồn và VuGia chảy về Quảng Nam, Đà Nẵng Ngoài ra còn có sông Sa Thầy bắt nguồn từđỉnh núi Ngọc Rinh Rua, chảy theo hướng Bắc - Nam, gần như song song với biên

Trang 16

giới Campuchia, đổ vào dòng Sê San Nhìn chung, chất lượng nước, thế năng củanguồn nước mặt thuận lợi cho - việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi.

- Nguồn nước ngầm: có tiềm năng và trữ lượng công nghiệp cấp C2: 100nghìn m/ngày, đặc biệt ở độ sâu 60 - 300 m có trữ lượng tương đối lớn Ngoài ra,huyện Đắk Tô, Kon Plông còn có 9 điểm có nước khoáng nóng, có khả năng khaithác, sử dụng làm nước giải khát và chữa bệnh

- Rừng lá âm nhiệt đới: có hầu hết trong tỉnh và thưởng phân bố ở ven sông

- Rừng kín á nhiệt đới: phân bố ở vùng núi cao - Rừng thưa khô cây họ dầu(rừng khộp): phân bố chủ yếu ở huyện Ngọc Hồi, huyện Đắk Glei (dọc theo biêngiới Việt Nam, Lào, ampuchia)

Tài nguyên rừng:

- Thực vật: theo kết quả điều tra bước đầu, tỉnh Kon Tum có khoảng hơn 300loài, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa Cây hạt trần có 12 loài, 5 chi, 4họ; cây hạt kín có 305 loài, 175 chi, 71 họ; cây một lá mầm có 20 loài, 19 chi 6họ; cây 2 lá có mầm 285 loài, 156 chi, 65 họ Trong đó, các họ nhiêu nhất là họđậu, họ dầu, họ long não, họ thẩu dầu, họ trinh nữ, họ đào lộn hột họ xoan và họtrám Nhìn chung, thảm thực vật ở Kon Tum đa dạng, thể hiện nhiều loại rừng khácnhau trong nền cảnh chung của đới rừng nhiệt đới gió mùa, có 3 đai cao, thấp khácnhau: 600m trở xuống, 600 - 1.600m và trên 1.600m Hiện nay, nổi trội nhất vẫn là

Trang 17

rừng rậm, trong rừng rậm có quần hợp chủ đạo là thông hai lá, dẻ, re, pomu, đỗquyên, chua ở độ cao 1.500 - 1.800m chủ yếu là thông ba lã, chua, dẻ, re, kháo,chẹc Nhắc đến nguồn lợi rừng ở Kon Tum phải kể đến vùng núi Ngọc Linh vớinhững cây dược liệu quý như sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, hà thủ ô và quế Trongnhững năm gần đây, diện tích rừng của Kon Tum bị thu hẹp do chiến tranh, khaithác gỗ lậu và các sản phẩm khác của rừng Nhìn chung, Kon Tum vẫn là tỉnh cónhiều rừng gỗ quý và có giá trị kinh tế cao.

- Động vật: rất phong phú, đa dạng, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim

có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, đủ hầu hết các loài chim; thủ có 88 loài, 26 họ, 10 bộ,chiếm 88% loài thú ở Tây Nguyên Đáng chú ý nhất là động vật ăn cỏ như: voi, bòrừng, bò tót, trâu rừng, nai, hoẵng Trong đó, voi có nhiều ở vùng tây nam KonTum (huyện Sa Thầy) Bò rừng có: bò tót (hay con min) tên khoa học Bosgaurusthường xuất hiện ở các khu rừng thuộc huyện Sa Thầy và Đắk Tô: bò Đen Teng tênkhoa học Bosjavanicus Trong những năm gần đây, ở Sa Thầy Đắk Tô, Kon Plông

đã xuất hiện hỗ đây là dấu hiệu đáng mừng về sự tồn tại của loài thú quý này.Ngoài ra, rừng Kon Tum còn có gấu chó, gấu ngựa, chó sói

Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệnhư công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn Trong điều kiện rừng bị xâm hại,việc săn bắt trái phép ngày một gia tăng, môi sinh luôn biến động đã ảnh hưởngđến sự sinh tồn của các loài động vật, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm TỉnhKon Tum đã quy hoạch xây dựng các khu rừng nguyên sinh và đưa vào xếp hạngquốc gia để có kế hoạch khai thác, nghiên cứu và bảo vệ đồng thời đẩy mạnh côngtác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ động, thực vật nói riêng, môitrường sinh thái nói chung

1.1.2 Dân số và dân tộc

Theo báo cáo của Cục Thống kê tỉnh- cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạoTổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 tỉnh Kon Tum, kết quả sơ bộ cho thấy, so

Trang 18

với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên, Kon Tum là một tỉnh có qui mô dân sốnhỏ 540.438 người, mật độ dân số còn thấp (khoảng 56 người/km2) Dân số tỉnhKon Tum sau 10 năm kể từ cuộc Tổng điều tra trước đã tăng hơn 110.000 người,bình quân mỗi năm tăng 11.000 người, tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,28%, đây làtốc độ tăng dân số ở mức hợp lý, góp phần duy trì sự ổn định quy mô dân số, đápứng các yêu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, xã hội.

Sự phát triển dân số hợp lý còn góp phần thúc đẩy quá trình cải thiện, từngbước nâng cao mức sống dân cư trên địa bàn tỉnh: Thu nhập bình quân đầu ngườinăm 2018 đạt 37,35 triệu đồng/năm (tăng 7,4% so với năm 2017), diện tích nhà ởbình quân đầu người đạt 18,61m2, trong đó thành phố Kon Tum đạt 24,23m2 caonhất trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, tỷ lệ hộ có nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ là10,01% cao hơn tỷ lệ bình quân của cả nước 6,86%

Kon Tum có 22 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên53%, có 6 dân tộc ít người sinh sống lâu đời bao gồm: Xơ Đăng, Ba-na, GiẻTriêng, Gia Rai, B’râu và Rơ Măm Tộc người Xơ Đăng cư trú phần lớn ở phía bắc

và phía đông thuộc các huyện Tu Mơ Rông, Đắk Tô, Kon Plông Tộc người Ba-na

cư trú ở phía nam thuộc thị xã Kon Tum, huyện Kon Rẫy, huyện Kon Plông huyệnĐắk Hà Tộc người Giẻ Triêng cư trú ở huyện Glei và Ngọc Hồi Tộc người GiaRai cư trú ở huyện Sa Thầy và thị xã Kon Tum Hai tộc người có dân số ít nhất làBrâu cư trú trong một làng (làng Đắk Mế, xã Bờ Y) huyện Ngọc Hồi và tộc người

Rơ Măm cư trú tại một làng (làng Le, xã Mô Rai) ở huyện Sa Thầy Sau ngàythống nhất đất nước (năm 1975) một số dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác đến sinhsống, làm cho thành phần dân tộc trong tỉnh ngày càng đa dạng

1.1.3 Kết cấu hạ tầng và tiềm năng du lịch

Tỉnh Kon Tum nằm ở cực bắc vùng Tây Nguyên, giáp vùng kinh tế trọngđiểm miền Trung Tỉnh nằm ở ngã ba Đông Dương có cửa khẩu quốc tế Bờ Y -Ngọc Hồi Tỉnh Kon Tum có đường Hồ Chí Minh chạy từ Quảng Nam qua Kon

Trang 19

Tum đi qua Gia Lai - Dak Lăk - TP Hồ Chí Minh (quốc lộ 14); đường Trường SơnĐông, Quốc lộ 40 qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y đi nước Lào và Campuchia; quốc lộ

24 đi Quảng Ngãi; tỉnh lộ 672 đi tỉnh Quảng Nam và các tỉnh duyên hải NamTrung bộ; là vùng đầu nguồn sông Sê San, Trà Khúc, Thu Bồn và Vu Gia Mạnglưới giao thông liên huyện, liên xã và các tuyến và nội thị, thị trấn, giao thông nôngthôn cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân,đến năm 2008 còn 3 xã chưa có đường giao thông vào xã

Kon Tum chưa phát triển mạnh về du lịch, nhưng du khách một lần đến vớiđịa danh này vẫn tìm thấy những điểm tham quan du lịch nổi tiếng về lịch sử vàđậm bản sắc văn hóa dân tộc bản địa như: vườn quốc gia Chư Mon Rây thuộchuyện Sa Thầy và Ngọc Hồi; cầu treo Kon Klor - làng du lịch văn hóa Kon Ktu(Đắk Rợ Va - Kon Tum); di chỉ khảo cổ học Lung Leng nằm ở thôn Lung Leng (xã

Sa Bình, huyện Sa Thầy), Lung Leng đã cung cấp một hệ thống di tích và hiện vật

vô cùng phong phú tái hiện một xã hội Tây Nguyên thời tiền sử; thắng cảnh MăngĐen; nhà rộng Tây Nguyên chỉ có ở những buôn làng bắc Tây Nguyên, đặc biệt ởKon Tum; nhà mồ Tây Nguyên có ở hầu hết các tỉnh ở Tây Nguyên; làng Ba Nathuộc khu vực thị xã Kon Tum; ngục Kon Tum nằm ở phía tây thị xã Kon Tum;chiến trường Đắk Tô - Tân Cảnh thuộc huyện Đắk Tô, cách thị xã Kon Tum 42 km

Trang 20

danh ở Việt Nam thường phản ánh xuất xứ và phản ánh cái nhìn của các cộng đồngngười đối với nhau.

Tộc người (Ethnic) là một cộng đồng người hình thành và phát triển tronglịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có đặc trưng chung ổn định về ngôn ngữ, đặcđiểm sinh hoạt văn hoá văn hóa, có mối quan hệ nguồn gốc, có chung ý thức tựgiác tộc người và tên tự gọi Ví dụ: tộc người Thái, Tày, Ê-đê, Ba-na

Tên tự gọi là Ba-na

Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông

Các nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á)

1.2.2 Lịch sử tộc người

Tộc người là một phạm trù lịch sử Nó ra đời là kết quả lâu dài của quá trìnhlịch sử, xã hội và tự nhiên Khi quá trình hình thành loài người kết thúc, con ngườibước vào xã hội loài người, cộng đồng người đầu tiên đã là những cộng đồng tộcngười (thị tộc) xuất hiện vào thời đại cộng sản nguyên thủy cách đây khoảng 4-5vạn năm

Trong tiến trình lịch sử loài người, các tộc người đã hình thành và phát triểntrên những vùng lãnh thổ khác nhau ở khắp năm châu Thông thường, mỗi tộcngười bao giờ cũng cư trú trên một khu vực địa lý nhất định gọi là lãnh thổ tộcngười Tộc người sử dụng một ngôn ngữ riêng, khác so với ngôn ngữ của các tộcngười khác Trong quá trình tộc người, các thế hệ đã tạo dựng nên các đặc trưngvăn hóa chung mang tính ổn định tạo thành bản sắc văn hóa tộc người

Trong đó, dân tộc Ba-na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở TrườngSơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây Họ là tộc người có

Trang 21

dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ởcác cao nguyên miền Trung nước ta.

1.2.3 Đặc điểm và phân bố cư trú của các nhóm địa phương

Dân số: 286.910 người (Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số01/4/2019)

Dân tộc Ba-na là cư dân miền núi

Hiện nay đồng bào sinh sống tập trung ở các tỉnh Kon Tum, Gia Lai và miềnnúi của các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà Trong đó, ở tỉnhKon Tum, dân tộc Ba-na gồm 2 nhánh là Ba Na Rơ Ngao và Ba-na Jơ Lâng, đứngthứ hai về dân số trong 6 dân tộc thiểu số bản địa, có nhiều đóng góp trong quátrình hình thành, phát triển và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương KonTum ngày càng giàu đẹp

Đặc điểm cư trú:

+ Nhóm Rơ Ngao (dân tộc Ba-na nay ở Việt Nam có khoảng hơn 7.500người, cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, trong đó, xã Pô Cô thuộc huyện Đắc Tô có1.100 người, 9 xã thuộc thị xã Kon Tum có khoảng hơn 6.400 người Xã Ngọc Baycách thị xã Kon Tum khoảng 6 km, trên đường đi huyện Sa Thầy, bao gồm 5 thônvới các dân tộc: Ba-na (nhóm Rơ ngao), Xơ Đăng (nhóm Hà Lăng) và Kinh, trong

đó, Kon Hngo Klah là một làng thuần của người Rơ Ngao với 182 hộ và 1081 nhânkhẩu

+ Nhóm Rơ Lơng: Là một nhánh của người Ba-na sống tập trung chủ yếu ở

xã Tân Lập và xã Đăk T’Re, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum

1.2.4 Đặc điểm văn hóa sinh hoạt truyền thống

Người Ba-na có nước da ngăm đen, ngày xưa đàn ông để tóc dài tới cổ, ngàynay thì tóc ngắn hơn Người Ba-na có bản tính mộc mạc, chất phác, hiền lành và

Trang 22

hiếu khác, họ coi người Kinh là anh em nên đối đãi rất thân thiết Tuy nhiên, ngườiBa-na không muốn khách lạ đụng chạm đến phong tục, tập quán kiêng cữ của họ.Muốn vào thăm một nhà nào thì phải được chủ nhân ưng thuận; kỵ nhất là xôngthẳng vào bếp núc (một số người Ba-na thờ thần ở bếp).

Về văn hóa ẩm thực, người Ba-na cũng như các tộc người khác thích ăn bốc,không dùng đũa Thường một ngày họ ăn hai bữa cơm: buổi sáng, trước lúc đi rẫyhoặc xuống phố chợ; bữa tối ăn vào lúc tối mịt trước khi đi ngủ Họ thường nấucơm buổi sáng, để dành ăn cả ngày Cơm hay thức ăn nấu trong những cái nồi đấtmiệng loe ra, không có nắp đậy, không có quai; thường đậy nồi bằng lá chuối.Rượu là thức uống rất được ưa thích, phổ biến nhất là rượu cần, rượu cần được ủbằng cơm gạo nếp hay tẻ, bằng bắp, củ mì, bo bo Nam nữ Ba-na đều hút thuốc lá.Thuốc được trồng tại chỗ Sau khi thu hoạch có thể thái thành sợi nhỏ và dùng tẩu

để hút hoặc để nguyên lá khô cuốn thành điếu để hút Tẩu thuốc được làm từ thântre, nứa hoặc bằng gỗ và được tạo dáng đẹp

Về trang phục, người Ba-na ăn mặc rất giản dị, đàn ông thường ở trần haymặc áo cánh tay cụt, cổ xẻ để hở ngực, đóng khố Đàn bà mặc áo cộc tay, ngực kín,váy dài Ngoài ra họ còn có một tấm vải quấn quanh lưng dùng để địu con nhỏ lúclên rẫy hoặc về phố chợ Ở những vùng sâu, vùng xa, đàn ông chỉ mang khố, đàn

bà quấn yêng (xiêm), còn mình thì để trần Vải do người Ba-na dệt bằng vải bông,màu đen chàm và trắng, kẻ viền màu đỏ gạch, hoa văn mộc mạc đơn sơ Đàn bà,đàn ông đều thích đeo những vòng bằng bạc, bằng đồng hoặc những chuỗi hạtcườm

Về nhà ở, người Ba-na thích ở kiểu nhà sàn hình chữ nhật hay hình vuông.Nhiều tiểu gia đình cùng họ tộc sống chung trong một ngôi nhà dài Tuy sốngchung, nhưng họ làm ăn và có của cải riêng Vào những nhà này, sàn có nhiều bếplửa, mỗi bếp là một gia đình

Trang 23

Mặt trước cửa nhà người Ba-na thường hướng về phía nào thuận tiện, cónhiều người qua lại Đối với những nhà nhỏ, cửa trổ về phía hai mặt nhỏ của nhà.Với những ngôi nhà dài, cửa trổ về phía hông lớn của nhà Trước cửa ra vào, sànnhà nhô ra thành một hành lang, gọi là “Pra” để tránh mưa nắng trong lúc giã gạo,đan gùi…

Sàn nhà người Ba-na thường lát bằng ván gỗ hoặc lát bằng tre đan Phênvách bằng nứa hoặc tre đan, cột với lạt mây Khi ngủ thì nằm ngay giữa sàn bêncạnh bếp lửa; tiếp khách cũng bên bếp lửa, ngồi trên những chiếc ghế tròn, thấpđan bằng mây hay căng bằng da thú Trong nhà có rất nhiều ghè rượu, sắp thànhhàng dài ở phía giữa nhà Bên cạnh đó là những chiếc gùi đủ cỡ Trên vách phênhay phía mái nhà treo những dụng cụ săn bắn, những chiếc lờ đánh cá

Muốn lên nhà người Ba-na phải leo lên cầu thang làm bằng thân cây đẽothành từng bậc theo hình dáng cổ truyền Ngày xưa, do làng sống cạnh rừng, cónhiều thú dữ, ban đêm họ rút cầu thang lên để tránh thú dữ leo vào nhà, ban ngàylại thả xuống

Về phương tiện vận chuyển, một vật dụng quen thuộc gắn bó với người

Ba-na là chiếc gùi Họ đeo gùi khi đi rẫy, thăm bà con hay ra phố thị Gùi là một thứ

đồ đựng và là phương tiện vận tải phổ biến

Ngày đăng: 25/07/2023, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Minh Đạo, Trần Hồng Thu, Bùi Bích Lan, Dân tộc Ba Na ở Việt nam, Viện khoa học Xã hội Việt Nam, Viện dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Ba Na ở Việt nam
Tác giả: Bùi Minh Đạo, Trần Hồng Thu, Bùi Bích Lan
Nhà XB: Viện khoa học Xã hội Việt Nam
2. Phạm Văn Lợi, Đặc trưng cơ bản của thổ cẩm các tộc người tại chỗ trường sơn - tây nguyên thực trạng và một số vấn đề đặt ra, Văn hóa truyền thống và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cơ bản của thổ cẩm các tộc người tại chỗ trường sơn - tây nguyên thực trạng và một số vấn đề đặt ra
Tác giả: Phạm Văn Lợi
3. Phạm Văn Lợi (2017), Nghề dệt và sản phẩm dệt của người Bana ở làng Kon Rờ Bàng, thành phố Kon Tum, Bảo tàng và Nhân học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề dệt và sản phẩm dệt của người Bana ở làng Kon Rờ Bàng, thành phố Kon Tum
Tác giả: Phạm Văn Lợi
Nhà XB: Bảo tàng và Nhân học
Năm: 2017
4. Trần Từ (1986), Hoa văn các dân tộc Giarai - Bana , Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Gia Lai, Kon Tum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn các dân tộc Giarai - Bana
Tác giả: Trần Từ
Nhà XB: Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Gia Lai, Kon Tum
Năm: 1986
5. Nguyễn Thị Thanh Nga (2003), Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc trong cuộc sống hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 2003
6. Võ Chí Hà, Dệt thổ cẩm – nghề truyền thống đặc sắc của người Ba Na, Di sản văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dệt thổ cẩm – nghề truyền thống đặc sắc của người Ba Na
Tác giả: Võ Chí Hà
Nhà XB: Di sản văn hóa dân tộc
1. Văn%20hóa%20bana/20180620100346_công%20tác%20tuyên%20truyền%20cd%20o%20co%20so.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: công tác tuyên truyền cơ sở
Tác giả: Văn hóa bana
Năm: 2018
2. Văn%20hóa%20ba-na/cvv447s202020066%20bana.pdf3. Văn%20hóa%20ba-na/bana.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá ba-na

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w