“Chế độ dân chủ” dùng để chỉ thiết chế xã hội nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân; còn khái niệm “nền dân chủ” dùng để chỉ hệ thống các thiết chế được xác lập và thực thi trong hiện th
Trang 1MỤC LỤC
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
4 BỐ CỤC CỦA TIỂU LUẬN 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA .3
1 Dân chủ 3
1.1 Lịch sử ra đời và khái niệm của dân chủ 3
1.2 Khái niệm về dân chủ theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin 3
1.3 Sự ra đời và phát triển của dân chủ 6
2 Dân chủ xã hội chủ nghĩa 8
2.1 Quá trình ra đời và phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 8
2.2 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 10
2.2.1 Bản chất chính trị 10
2.2.2 Bản chất kinh tế 11
2.2.3 Bản chất tư tưởng văn hoá 11
CHƯƠNG 2: NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 12
1 Nhà nước xã hội chủ nghĩa 12
Trang 21.1 Sự ra đời và khái niệm của nhà nước xã hội chủ nghĩa 12 1.2 Bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa 14 1.3 Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa 15
2 Mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa
16
3 Dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 17
3.1 Sự ra đời và phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 17 3.2 Bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 18
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN, SINH VIÊN TRONG VIỆC GÓP PHẦN XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY 19
1 Thực tiễn dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 19
2 Phương hướng phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 22
3 Trách nhiệm của thanh niên, sinh viên Việt Nam trong việc góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 26 PHẦN KẾT LUẬN 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dân chủ là giải pháp hữu hiệu để tạo nên sự nhất trí căn bản về lợi ích của các thành phần kinh tế, các giai tầng và các cộng đồng dân tộc trong xã hội nước ta
Sự nhất trí đó tổng hợp thành sức mạnh của dân tộc, tạo nên nội lực mạnh mẽ đưa đất nước vượt qua tất cả khó khăn, thử thách “Dân chủ” không phải là khái niệm bất biến mà là một phạm trù chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội và luôn gắn với sự tồn tại của các kiểu nhà nước trong những điều cụ thể nhất định Bởi vậy, khái niệm
“dân chủ” có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm “chế độ dân chủ” và “nền dân chủ” “Chế độ dân chủ” dùng để chỉ thiết chế xã hội nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân; còn khái niệm “nền dân chủ” dùng để chỉ hệ thống các thiết chế được xác lập và thực thi trong hiện thực xã hội theo mục tiêu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội đó
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, dân chủ là một phạm trù có quá trình phát sinh, phát triển rất phức tạp Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội, mỗi thời đại, mỗi quốc gia, dân tộc, dân chủ luôn có những nét đặc trưng trên cơ sở kế thừa biện chứng những điểm chung được nêu ở trên Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, xét về bản chất chính là dân chủ của giai cấp chủ nô Trong chế độ phong kiến, các
tư tưởng và mô hình dân chủ bị hạn chế, cấm đoán bởi chế độ tập quyền chuyên chế khi quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một đấng quân vương Nền dân chủ tư sản được xác lập do cuộc cách mạng tư sản dựa trên cơ sở liên minh giữa giai cấp tư sản với các giai cấp khác lật đổ chế độ phong kiến Vì vậy, những thành tựu giành được của nền dân chủ tư sản không chỉ do riêng giai cấp tư sản tạo ra, mà là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động, kết quả của quá trình nhận thức và tất yếu của tiến bộ
xã hội Những tuyên bố về tự do, bình đẳng, bác ái, tư tưởng về nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những nội dung đầu tiên của dân chủ tư sản Tuy nhiên, với bản chất của xã hội tư sản, nền dân chủ tư sản không tránh khỏi những hạn chế khách quan Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của nhân dân lao động (dân chủ nhân dân) được thể hiện trong mọi lĩnh vực chính trị - kinh tế, văn hóa - xã hội Nó được hình thành và phát triển bằng toàn bộ những giá trị văn hóa chân thực của nhân loại Xã hội càng phát triển, điều kiện vật chất, trí tuệ, tinh thần của con người
Trang 4ngày càng phong phú thì xu hướng dân chủ càng mở rộng và được khẳng định mạnh mẽ
Nắm rõ được sứ mệnh của dân chủ, hiểu rõ được mục tiêu của nhà nước ta: Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự nghiệp xây dựng đất nước, là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, em xin chọn đề tài “Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Viê ht Nam và trách nhiê hm của thanh niên, sinh viên trong viê hc góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Viê ht Nam hiê hn nay” để thực hiện nghiên cứu một cách tổng quan và toàn diện về dân chủ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bao gồm sự ra đời, khái niệm và bản chất của nó Từ
đó, có thể đúc kết được trách nhiệm của thế hệ thanh niên, sinh viên trong viê hc góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Viê ht Nam
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Viê ht Nam, trong đó bao gồm: dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa Qua đó đưa ra phương hướng, đường lối cho thế hệ thanh thiếu niên được phụng sự Tổ quốc, thể hiện trách nhiệm của mình trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Viê ht Nam
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp thu thập và xử lí tài liệu: trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực như văn hóa, lịch sử…; nhiều nguồn tư liệu khác nhau
có liên quan đến đề tài như sách, báo, các trang web… Kết hợp cùng phương pháp lịch sử và phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này giúp định hướng, thống kê, phân tích để có cách nhìn tương quan
4 BỐ CỤC CỦA TIỂU LUẬN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài kiệu tham khảo thì phần nội dung bao gồm: Chương 1: Lý luận về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa
Chương 2: Nhà nước xã hội chủ nghĩa Dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trách của thanh niên, sinh viên trong viê hc góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Viê ht Nam hiê hn nay
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1 Dân chủ
1.1 Lịch sử ra đời và khái niệm của dân chủ
Lịch sử loài người hàng nghìn năm về trước, con người đã biết hình thành những bộ tộc, thị tộc để cùng nhau sinh sống và tiến hành hoạt động sản xuất, chống lại thiên tai hoặc tổ chức các hoạt động chung mang tính tập thể Trong các thị tộc
đó, họ bầu ra người đứng đầu nắm giữ quyền lực là các lãnh đạo thị tộc Tuy nhiên, nếu người tộc trưởng không làm tốt sẽ bị phế bỏ quyền lực theo ý nguyện và lợi ích chung của cộng đồng Có thể xem đó là hình thức đầu tiên của dân chủ khi quyền lực nằm trong tay những thành viên trong thị tộc, họ chính là chủ thể của quyền lực
và đưa ra các quyết định vì cộng đồng chung
Từ thời Hy Lạp cổ, việc bầu cử và truất quyền những người đứng đầu thuộc vào quyền lực và sức mạnh của nhân dân Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ VII – VI trước Công nguyên Những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ sư dụng cụm từ
“demoskratos” với dụng ý về dân chủ “Demos” mang ý nghĩa là nhân dân, “kratos”
có nghĩa là cai trị Vậy nên “demonskratos” được hiểu là nhân dân cai trị và sở hữu quyền lực, đó cũng là khái niệm của dân chủ Sau này, dân chủ được các nhà chính trị gọi là quyền lực của nhân dân hoặc quyền lực thuộc về nhân dân Điểm khác biệt
cơ bản giữa dân chủ thời cổ đại và hiện nay là ở tính chất trực tiếp của mối quan hệ
sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về nội hàm của khái niệm nhân dân
1.2 Khái niệm về dân chủ theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Dân chủ thuộc về phạm trù lịch sử, là sản phẩm của quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp Chỉ khi có giai cấp, có nhà nước thì mới xuất hiện phạm trù dân chủ Khi giai cấp mất đi hoặc nhà nước bị tiêu vong, dân chủ cũng không tồn tại (hình thức của xã hội chủ nghĩa cộng sản) Khi xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, có sự phân hoá giàu nghèo, phân biệt giữa địa chủ và nô lệ, người bóc lột và người bị bóc lột Từ đó hình thành nên dân chủ trong xã hội khi có
sự xuất hiện của các giai cấp Vì vậy mà trong suốt tiến trình lịch sử luôn diễn ra
Trang 6các cuộc đấu tranh đòi độc lập, đòi quyền tự do, dân chủ trong cuộc xung đột của các giai cấp
Qua nghiên cứu về các chế độ dân chủ trong dòng chảy lịch sử và thực tiễn lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nhà kinh điển sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng dân chủ là thành quả của quá trình đấu tranh giai cấp cho những giá trị tiến
bộ của loài người Nó được xem là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, là một trong những nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội Một số nội dung về dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin:
1 Về phương diện quyền lực: dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là
chủ thể sở hữu của quyền lực nhà nước, là chủ nhân của nhà nước Nói cách khác, dân chủ là quyền lợi cơ bản của nhân dân Quyền lợi ấy chính là quyền lực nhà nước nằm trong tay của nhân dân, của xã hội Hoạt động của bộ máy nhà nước phải
vì nhân dân, vì phục vụ cho cộng đồng và các mục đích xã hội Vì vậy, chỉ khi mọi quyền lực nhà nước thuộc về quyền sở hữu của nhân dân thì mới có thể đảm bảo về việc nhân dân được hưởng quyền làm chủ với tư cách là một quyền lợi
2 Về phương diện chế độ xã hội và trong lĩnh vực chính trị: dân chủ là hình thức
hoặc hình thái nhà nước, là chính thể dân chủ hay chế độ dân chủ Điều này gắn liền với xã hội có giai cấp, có nhà nước
3 Về phương diện tổ chức và quản lý xã hội: dân chủ được xem là một nguyên tắc
quản lý xã hội Nguyên tắc dân chủ này kết hợp với nguyên tắc tập trung để hình thành nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và quản lý xã hội Tồn tại nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc tập trung, khi hai nguyên tắc này kết hợp hình thành nên nguyên tắc tập trung dân chủ thể hiện cho mối quan hệ biện chứng
Chủ nghĩa Mác – Lênin nhấn mạnh: dân chủ phải được coi là mục tiêu, là tiền
đề, là phương tiện để hướng đến sự tự do bao gồm giải phóng con người, giải phóng giai cấp và giải phóng xã hội Dân chủ với tư cách một hình thức tổ chức thiết chế chính trị, một hình thức hay hình thái nhà nước, ra đời và phát triển gắn liền với nhà nước và mất đi khi nhà nước tiêu vong Mỗi chế độ dân chủ sẽ gắn với nhà nước mang bản chất giai cấp thống trị xã hội Khi ở tư cách là một giá trị xã hội, dân chủ
là một phạm trù mang tính chất vĩnh viễn, tồn tại Nó phát triển cùng với sự tồn tại
và phát triển của loài người và xã hội loài người Nếu con người và xã hội loài
Trang 7người còn tồn tại, nếu các nền văn minh vẫn còn tiếp tục ra đời và chưa bị diệt vong thì dân chủ vẫn tồn tại với tư cách một giá trị nhân loại chung
Chủ nghĩa Mác - Lênin thừa nhận những nhân tố hợp lý và nhận thức của khái niệm về dân chủ Dân chủ suy cho cùng là quyền lực của dân, là sức mạnh nằm trong tay dân Dân phải thực sự là chủ thể của xã hội, được nhân dân làm chủ một cách toàn diện bao gồm: làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội, làm chủ chính bản thân, làm chủ và sở hữu mọi năng lực sáng tạo của bản thân với tư cách chủ thể đích thực của xã hội Bên cạnh đó, dân chủ phải bao hàm được tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội như: dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị, dân chủ trong xã hội, dân chủ trong đời sống văn hóa - tinh thần, tư tưởng Trong số đó, hai lĩnh vực về dân chủ có tầm quan trọng hàng đầu công cuộc xây dựng và phát triển đất nước là dân chủ trong kinh tế và dân chủ trong chính trị Nó quy định và quyết định đến hai lĩnh vực còn lại: dân chủ trong xã hội và dân chủ trong đời sống văn hóa – tinh thần, tư tưởng Hơn hết, dân chủ trong kinh tế và dân chủ trong chính trị còn thể hiện trực tiếp nhân quyền và dân quyền của người dân, khi nhân dân là chủ thể xã hội và làm chủ xã hội Vì vậy, dân chủ mang giá trị xã hội mà loài người muốn hướng tới
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng nó vào trong quá trình qua độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh không sử dụng những khái niệm trừu tượng mà tập trung diễn giải các vấn đề vô cùng cụ thể
và gần gũi với đại đa số nhân dân, khẳng định “Dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ”1 Khi xem dân chủ với tư cách là một thể chế chính trị hay một chế độ xã hội thì Hồ Chí Minh khẳng định rằng “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhân dân.” Luận điểm2 của Hồ Chí Minh: “Chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ Và một khi nước ta đã trở thành một nước dân chủ, “chúng ta là dân chủ” thì dân chủ là “dân làm chủ” thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không phải là quan cách mạng.” Chủ tịch Hồ Chí Minh3
đã hiểu về vấn đề dân chủ rất sâu sắc, đúng theo nghĩa khởi thuỷ của nó là “quyền
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, tập.6 tr.515.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H.1996, tập.7, tr.499.
3 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb.CTQG, H 1996, tập.6, tr.365; tập.8, tr.375.
Trang 8lực thuộc về nhân dân” Quyền lực ấy được nhân dân giao phó cho người đại diện
để thực thi quyền lực của họ
Đảng khẳng định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” Trên cơ sở kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa tư tưởng
Hồ Chí Minh, kế thừa giá trị chung của lịch sử nhân loại trong vấn đề dân chủ và đặc biệt trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam quan niệm “Dân chủ gắn liền với công bằng” Dân chủ và công bằng là hai phạm trù khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu dân chủ không gắn liền với công bằng, bình đẳng thì dân chủ này sẽ trở thành dân chủ hình thức Dân chủ gắn với công bằng xã hội trên tất cả các lĩnh vực mà trước hết là lợi ích Lợi ích đầu tiên là lợi ích về kinh tế, về chính trị, văn hoá, xã hội thông qua hoạt động nhà nước do nhân dân bầu cử và các hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương Quan điểm cuối của Đảng về dân chủ “Dân chủ phải được thể chế hoá bằng pháp luật, bằng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm và được pháp luật bảo đảm.”
Kết luận lại, có thể hiểu “Dân chủ là một giá trị xã hội phản ánh những quyền
cơ bản của con người; là phạm trù chính trị gắn với hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền; là phạm trù lịch sử gắn với quá trình ra đời, phát triển cùng với lịch sử xã hội nhân loại.”
1.3 Sự ra đời và phát triển của dân chủ
Loài người hình thành và xuất hiện từ khoảng hai trăm thiên niên kỷ về trước Trong quá trình phát triển, họ hình thành những bộ lạc, thị tộc Trong xã hội sớm nhất là xã hội công xã nguyên thuỷ, xuất hiện hình thức manh nha của dân chủ Nhu cầu dân chủ xuất hiện trong xã hội tự quản của cộng đồng các thị tộc, bộ lạc của người nguyên thuỷ Hình thức dân chủ đầu tiên được gọi là “dân chủ nguyên thủy” hay còn được gọi bằng một cái tên khác là “dân chủ quân sự” Đặc trưng cơ bản của hình thức dân chủ này là nhân dân bầu ra thủ lĩnh quân sự thông qua “Đại hội nhân dân” Trong “Đại hội nhân dân”, mọi người đều có quyền phát biểu và tham gia quyết định bằng cách giơ tay hoặc hoan hô Ở “Đại hội nhân dân”, nhân dân có
Trang 9quyền lực thật sự (nghĩa là có dân chủ), mặc dù trình độ sản xuất còn kém phát triển
Lịch sử xã hội loài người tới nay đã và đang trải qua 5 hình thái xã hội và 3 nền dân chủ bao gồm nền dân chủ chủ nô, nền dân chủ tư sản và nền dân chủ sai nghĩa
“Dân chủ nguyên thuỷ” chưa phải là nền dân chủ, không phải là một chế độ dân chủ
vì xã hội này chưa hình thành nhà nước và giai cấp Nhưng trong xã hội này tồn tại những biểu hiện dân chủ “quyền lực thuộc về nhân dân” Khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu và giai cấp đã làm cho hình thức “dân chủ nguyên thủy” tan rã thì giai cấp chủ nô xuất hiện, dẫn đến nền dân chủ chủ nô ra đời Nền dân chủ chủ nô được tổ chức thành nhà nước với đặc trưng
là dân tham gia bầu ra Nhà nước “Dân” ở nền dân chủ chủ nô theo quy định của giai cấp cầm quyền, trong xã hội chiếm hữu nô lệ chỉ gồm giai cấp chủ nô và phần nào thuộc về các công dân tự do (tăng lữ, thương gia, trí thức) Đa số số lượng còn lại không phải là “dân” mà là “nô lệ” Trong xã hội chiếm hữu nô lệ ấy, nô lệ không được xem là người, không được tham gia vào công việc nhà nước mà chỉ được xem
là món hàng hoá, là vật thuộc sở hữu của chủ nô Vì vậy về thực chất, dân chủ chủ
nô cũng chỉ thực hiện quyền dân chủ cho thiểu số, quyền lực của dân chỉ bó hẹp trong một đối tượng xã hội nhất định
Trong sự phát triển của xã hội loài người cùng với sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ, lịch sử xã hội loài người bước vào thời kỳ phong kiến với sự thống trị của nhà nước chuyên chế phong kiến Trong xã hội phong kiến không tồn tại nền dân chủ mà thay vào đó là sự ra đời của chế độ độc tài chuyên chế phong kiến với chế độ quân chủ để thống trị xã hội Khác với nền dân chủ chủ nô, thời kỳ phong kiến do vua đứng đầu và nắm mọi quyền hành thay vì dân Dân xem việc tuân theo
ý chí của giai cấp thống trị là bổn phận của mình trước sức mạnh của đấng tối cao
Vì vậy, ý thức về dân chủ và đấu tranh để thực hiện quyền làm chủ của người dân
đã không có bước tiến đáng kể nào
Vào cuối thế kỷ XIV - đầu XV, giai cấp tư sản với những tư tưởng tiến bộ về tự
do, công bằng, dân chủ đã mở đường cho sự ra đời của nền dân chủ tư sản Dân chủ
tư sản ra đời được đánh dấu là một bước tiến lớn của nhân loại với những giá trị về quyền tự do, bình đẳng, dân chủ Tuy nhiên, do được xây dựng trên nền tảng kinh tế
là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nên nền dân chủ tư sản vẫn là nền dân chủ của
Trang 10thiểu số người nắm giữ tư liệu sản xuất đối với đại đa số nhân dân lao động Khi các cuộc cách mạng tư sản nổ ra, thành công mà dân đạt được là họ giải phóng con người khỏi ách nô lệ, đem lại quyền tự do về thân thể cho con người Nền dân chủ
tư sản hướng đến giá trị nổi bật của nhân loại, đó là quyền bình đẳng và quyền dân chủ Trong bản tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp đã khẳng định: Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể phủ nhận được, đó là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc Đây là những giá trị mà nền dân chủ tư sản đã mang lại cho lịch sử dân tộc
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi (1917) cũng là lúc mở
ra một thời đại mới mở – thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Nhân dân lao động giành được quyền làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội, thiết lập Nhà nước công – nông, thiết lập nền dân chủ vô sản để thực hiện quyền lực của nhân dân Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực của nhân dân, bảo vệ quyền lợi cho đại đa số nhân dân
Mỗi chế độ dân chủ đều mang bản chất giai cấp thống trị xã hội Với tư cách là một hình thái nhà nước, trong lịch sử nhân loại đã chứng minh sự tồn tại của ba chế
độ dân chủ: chế độ dân chủ chủ nô, gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ; chế độ dân chủ
tư sản, gắn với chế độ tư bản chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn với chế
độ xã hội chủ nghĩa
2.1 Quá trình ra đời và phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Các nhà kinh điển sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng việc đấu tranh cho dân chủ là một quá trình dài và phức tạp Giá trị của nền dân chủ tư sản chưa phải là hoàn thiện nhất Vì vậy mà đã xuất hiện một nền dân chủ mới, cao hơn nền dân chủ
tư sản, đó là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (dân chủ vô sản)
Sự thành công của Cách Mạng Tháng 10 Nga năm 1917 đã làm xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chính thức được xác lập Khi xuất hiện nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa này, nhân dân lao động đã giành lại được quyền lực thực sự của mình