1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang

84 823 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Tác giả Phạm Thanh Diễm
Người hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Minh Châu
Trường học Đại Học An Giang
Chuyên ngành Phát Triển Nông Thôn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2005
Thành phố Long Xuyên
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang

Trang 1

PHẠM THANH DIỄM

MSSV: DPN010609

CÁC MÔ HÌNH TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI TRONG MÙA

LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, AN GIANG

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Ths Nguyễn Thị Minh Châu

Tháng 6.2005

ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

CÁC MÔ HÌNH TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI TRONG MÙA

LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, AN GIANG

Do sinh viên: PHẠM THANH DIỄM thực hiện và đệ nạp

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xét duyệt

Long Xuyên, ngày……tháng…… năm 2005 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Ths Nguyễn Thị Minh Châu

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn đính kèm

với tên đề tài: CÁC MÔ HÌNH TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI TRONG MÙA LŨ NĂM 2004 TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, AN GIANG.

Do sinh viên: PHẠM THANH DIỄM

Thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày

Luận văn đã được Hội đồng đánh giá ở mức

Ý kiến của Hội đồng

Long xuyên, ngày……tháng…… năm 2005 DUYỆT Chủ Tịch Hội Đồng BAN CHỦ NHIỆM KHOA-TNTN

Trang 4

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và Tên: PHẠM THANH DIỄM

Ngày tháng năm sinh: 26/05/1982

Nơi sinh: Mỹ Phước - Long Xuyên - An Giang

Con Ông: PHẠM THÀNH HƯNG

và Bà: ĐỖ THỊ ANH

Địa chỉ: 115/2A Đông thịnh 2 phường Mỹ Phước - Long Xuyên - An Giang

Đã tốt nghiệp phổ thông năm 2000, tại trường PTTH Long Xuyên

Nông Thôn, khóa II thuộc Khoa Nông Nghiệp & Tài Nguyên Thiên Nhiên và tốt nghiệp kỹ sư ngành Phát Triển Nông Thôn năm 2005

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Nông Nghiệp - Tài Nguyên Thiên Nhiên trường Đại Học An Giang, thầy Dương Ngọc Thành trường Đại Học Cần Thơ đã tạo cơ hội cho tôi có thể thực hiện đề tài này

Xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Minh Châu đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Thanh Triều, thầy Nguyễn Bá Trung đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Xin chân thành cảm ơn các bạn cùng khóa học đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn:

Ủy ban nhân dân huyện Chợ Mới và Ủy ban nhân dân các xã nơi tôi tiến hành điều tra

Cán bộ trạm Khuyến Nông huyện Chợ Mới đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này

Tất cả các giáo viên đã giảng dạy và giúp đỡ tôi, tạo nền tảng kiến thức cho tôi trong suốt khóa học (2001 - 2005)

Cha mẹ, những người thân, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn

Tác giảPhạm Thanh Diễm

Trang 6

TÓM LƯỢC

Nhằm tổng kết hiện trạng canh tác của nông hộ trong mùa lũ năm

2004 và đánh giá hiệu quả của các mô hình, đề tài “Các mô hình trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004 tại huyện Chợ Mới, An Giang” được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nông hộ

Từ 4 mô hình canh tác như lúa, màu, chăn nuôi bò, bò - bắp, các số liệu nguồn lực nông hộ như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số lao động, diện tích, hiệu quả kinh tế của các mô hình đã được phân tích

Diện tích được phân bố bình quân từ 0,31 - 1,41 ha/hộ, những hộ trồng lúa có diện tích trung bình lớn nhất, các hộ chăn nuôi bò có diện tích trung bình thấp nhất Diện tích của nông hộ được sử dụng hợp lý, phần lớn đất đai được sử dụng sản xuất nông nghiệp, cho thu nhập từ 50,85 - 87,61% trong tổng thu nhập một năm của nông hộ Những nguồn thu nhập khác như lao động trong nông nghiệp, phi nông nghiệp cũng góp một phần lớn trong thu nhập của nông hộ

Về kỹ thuật canh tác, ở mô hình lúa nông dân đã từng bước thực hiện

cơ giới hóa vào trong sản xuất, không còn sản xuất bằng phương pháp thủ công như trước đây Ở mô hình rau màu, kỹ thuật của nông dân còn thấp Ở

cả 2 mô hình lúa và màu nông dân sử dụng thuốc chưa đúng cách, họ chỉ quan tâm đến lợi ít trước mắt là làm sau diệt được sâu càng nhanh càng tốt

mà không quan tâm đến sự độc hại đối với con người Chăn nuôi và trồng rau chủ yếu lấy công làm lời

Lợi nhuận từ trồng lúa là 7,3 triệu đồng/ha/vụ, từ trồng rau là 16,0 triệu đồng/ha/vụ, lợi nhuận từ nuôi bò là 4,2 triệu đồng/vụ nuôi, lợi nhuận từ chăn nuôi bò kết hợp với trồng bắp là 26,6 triệu đồng/vụ nuôi cao hơn từ chăn nuôi bò không có trồng bắp Đối với những nông hộ có bỏ công gia đình vào việc sản xuất thì họ sẽ thu thêm được lợi nhuận là 0,5 triệu đồng ở mô hình trồng lúa, 2,9 triệu đồng ở mô hình trồng màu, 2,8 triệu đồng ở mô hình chăn nuôi bò và 3,8 triệu đồng ở mô hình kết hợp bò - bắp

Trang 7

Được bao đê, sản xuất trong mùa lũ đã làm tăng thu nhập của nông dân, thay vì trong mùa lũ không sản xuất được có hộ ở không, có hộ làm thuê, đánh bắt thì nguồn thu nhập từ sản xuất trong mùa lũ này là có hiệu quả.

Nhiều nông dân thiếu vốn sản xuất, họ không có thế chấp nên không được vay ngân hàng, đôi khi họ phải vay của tư nhân với lãi suất cao Điều này cản trở quá trình sản xuất của nông hộ

Các trở ngại chính để phát triển mô hình là vốn, giá cả nông sản Cần khuyến khích nông dân tham gia câu lạc bộ, các chương trình khuyến nông, hội nông dân, các hợp tác xã để có thể vay vốn hoặc tiếp cận với kỹ thuật, dịch vụ, thông tin giá cả giúp nông dân sử dụng tài nguyên một cách có hiệu quả hơn

Trang 9

4.5.1 Hiệu quả kinh tế trong một vụ nuôi trồng theo từng mô hình

canh tác

32

4.6 Yếu tố quyết định thành công của mô hình và khả năng vay

vốn của nông hộ

39

Giang

7

huyện Chợ Mới, An Giang

8

4 mô hình canh tác tại huyện Chợ Mới, An Giang

22

nhau của 4 mô hình tại Chợ Mới, An Giang

23

Mới, An Giang

24

canh tác tại Chợ Mới, An Giang

25

nông nghiệp theo 4 mô hình canh tác tại Chợ Mới, An

Giang

26

lúa (vụ 3) tại Chợ Mới, An Giang

27

Trang 10

Mới, An Giang

hình lúa (vụ 3) tại Chợ Mới, An Giang

29

Giang

30

canh tác tại Chợ Mới, An Giang

33

Lúa vụ 3 tại Chợ Mới, An Giang

36

Màu tại Chợ Mới, An Giang

37

Bò tại Chợ Mới, An Giang

38

Bò - Bắp tại Chợ Mới, An Giang

39

huyện Chợ Mới, An Giang

canh tác tại Chợ Mới, tỉnh An Giang

pc-1

canh tác tại Chợ Mới, An Giang

pc-1

canh tác tại Chợ Mới, An Giang

pc-2

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

canh tác tại Chợ Mới, An Giang

19

canh tác tại Chợ Mới, An Giang

20

tác tại Chợ Mới, An Giang

21

Trang 12

Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

An Giang là một tỉnh đầu nguồn lưu vực sông Cửu Long, là một trong những tỉnh có diện tích đất canh tác lớn trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, với nguồn nước ngọt phong phú, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ được phù sa bồi đắp hàng năm, tạo điều kiện cho tỉnh phát triển sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi Tổng diện tích đất nông nghiệp

là 246.821 ha, trong đó vùng trồng lúa chiếm hơn 82% (233.018 ha), điều này

đã tạo cho An Giang thế mạnh về sản xuất lúa nói riêng và tạo thế mạnh về nông nghiệp nói chung (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003)

Bên cạnh những mặt thuận lợi đó, hàng năm tỉnh An Giang phải đối mặt với lũ lụt, gây ra nhiều thiệt hại về người và của, người dân không thể canh tác được làm dư thừa lao động nông nhàn trong mùa lũ, không có thu nhập làm đời sống nông dân khó khăn

Chợ Mới là một huyện thuộc tỉnh An Giang, với diện tích đất nông nghiệp là 25.357 ha, đây là một huyện cù lao được bao quanh bởi sông Tiền, Sông Hậu và sông Vàm Nao, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, được phù sa bồi đắp và cung cấp một lượng thủy sản tự nhiên Để đảm bảo tính mạng, tài sản và gia tăng sản xuất, trong những năm gần đây, huyện đã tiến hành bao

đê triệt để để sản xuất được nhiều vụ, gia tăng kinh tế Chợ Mới là huyện có bao đê sớm nhất, với đê bao tháng 8 để bảo vệ lúa Hè Thu, năm 1998 đê bao tháng tám được thay thế dần bởi đê bao triệt để, và đến năm 2002 đê bao triệt

để được xây dựng trên toàn huyện Đây là một lợi thế cho Chợ Mới trong sản xuất nông nghiệp, diện tích gieo trồng các loại cây tăng từ 63.101 ha năm

1999 lên 73.628 ha năm 2003, sản lượng cây trồng tăng lên đáng kể, sản lượng lúa tăng từ 272.121 tấn ở năm 1999 lên 306.988 tấn năm 2003, sản lượng bắp tăng từ 8.465 tấn năm 1999 lên 12.143 tấn năm 2003 (Phòng thống

Từ khi có đê bao, người dân an tâm sản xuất, để tận dụng ưu thế này, người dân nên có chiến lược chọn lựa mô hình canh tác thích hợp, chọn lựa cây trồng, vật nuôi theo nhu cầu của thị trường Vì nhiều nơi bị ảnh hưởng

Trang 13

của lũ không sản xuất được nên giá cả một số hàng hóa như các loại rau màu thường cao Nắm bắt được tình hình trên để chọn lựa mô hình canh tác thích hợp, góp phần phát triển kinh tế nông hộ nói riêng, phát triển kinh tế tỉnh nhà nói chung, chúng tôi thực hiện đề tài “Các mô hình trồng trọt và chăn nuôi trong mùa lũ năm 2004 tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” để khảo sát các

mô hình mà nông dân đang canh tác trong mùa lũ 2004, mong muốn tìm ra

mô hình canh tác thích hợp, góp phần cải thiện đời sống nông dân

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tổng kết các mô hình canh tác trong mùa lũ năm 2004

- Đánh giá hiệu quả của các mô hình

- Đề xuất những mô hình canh tác thích hợp, đem lại lợi nhuận cao cho nông dân

Trang 14

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Năm 1978, An Giang bị lũ lớn, huyện Chợ Mới đã thực hiện thành công hệ thống đê bao ngăn lũ ở ấp Hòa Thượng, xã Kiến An, bảo vệ được một diện tích lúa khá lớn để giải quyết vấn đề giống cho vụ sau (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003) Năm 1998, huyện Chợ Mới tiến hành đê bao triệt để, bảo vệ tài sản, tính mạng con người đồng thời gia tăng sản xuất.2.1.2 Đặc điểm sông ngòi

Theo Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang (2003), Chợ Mới là huyện cù lao được bao quanh bởi sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao và nhiều kênh rạch phục vụ cho tưới tiêu như rạch Ông Chưởng, kinh Cà Mau, kinh Long An, kinh Mới,… Sông Tiền chảy theo hướng tây bắc - đông nam Sông Tiền là trục giao thông thủy lợi quan trọng nhất, là nguồn cung cấp nước và phù sa lớn nhất, đồng thời cũng là con sông có chế độ dòng chảy và diễn biến lòng sông phức tạp nhất

Sông Hậu có hướng chảy song song với sông Tiền Đối với An Giang, sông Hậu là trục giao thông thủy đi xuyên suốt trung tâm của tỉnh từ

Trang 15

thượng lưu về hạ lưu, là nguồn cung cấp nước và phù sa chủ yếu cho vùng trũng Tứ Giác Long Xuyên.

Sông Vàm Nao chảy ven xã Phú Mỹ huyện Phú Tân và xã Kiến An huyện Chợ Mới, nối liền sông Tiền với sông Hậu

Rạch trở thành tuyến giao thông thủy quan trọng, trục tưới tiêu chính của huyện Chợ Mới là rạch Ông Chưởng, Cái Tàu Thượng Rạch Ông Chưởng có dạng uốn khúc như một con rồng, lấy nước sông Tiền ngay đầu thị trấn Chợ Mới, chảy theo hướng đông bắc - tây nam

2.1.3 Đặc điểm khí hậu

tức là nằm gần với xích đạo nên các quá trình diễn biến của nhiệt độ cũng như lượng mưa đều giống với khí hậu xích đạo, thời gian mặt trời chiếu sáng dài Trong mùa khô, bình quân mỗi ngày có tới gần 10 giờ nắng, còn trong mùa mưa là 7 giờ có nắng (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003)

Hàng năm, An Giang chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và tây nam Khí hậu An Giang mang đầy đủ những đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình mà đặc trưng cơ bản của nó là một nền nhiệt độ cao và ít

theo hai mùa gió, cụ thể là gió mùa mùa đông tương ứng với mùa khô, gió mùa mùa hè tương ứng với mùa mưa (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003)

Lượng mưa trung bình ở Chợ Mới khoảng 114 mm, lượng mưa thấp nhất là 4,4 mm vào tháng 2, lượng mưa cao nhất xuất hiện vào tháng 10 khoảng 305 mm Ẩm độ phụ thuộc vào lượng mưa Ở An Giang, trong mùa khô ẩm độ ở thời kỳ đầu mùa là 82%, giữa mùa khoảng 78% và cuối mùa còn 72% Khác với mùa khô, mùa mưa ở An Giang là một mùa ẩm ướt thật sự, độ

ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa trên 84%, có những tháng xấp xỉ 90% (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003)

2.1.4 Đặc điểm đất đai

Trang 16

Do vị trí của huyện Chợ Mới là cù lao được bao quanh bởi sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao, chính điều này đã tạo nên đặc điểm đất đai của huyện, đất nơi đây được bồi đắp bởi phù sa hàng năm Đặc tính chung của đất phù sa ở An Giang là chứa nhiều hữu cơ, pH thấp, ít bị bào mòn Đây là nhóm đất được dùng để trồng lúa chủ yếu trong tỉnh với tính chất ít hoặc không bị phèn và có dinh dưỡng cao, khả năng tăng vụ có thể bắt đầu từ nhóm đất này.

Nhóm đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ chiếm một diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao như Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Tân Châu Vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bột, lẫn chất hữu cơ, bề dày lớp phù sa từ 1 - 2 m Đất có phản ứng hơi chua, pH biến động trong khoảng 4,0 Đạm tổng số từ trung bình đến thấp (0,06 - 0,18%), đất nghèo lân và kali Thành phần cơ giới gồm sét chiếm 45%, bột 49%, cát 1,4%

Một phần nhỏ của huyện Chợ Mới mang đặc tính đất phù sa xám nâu

ít được bồi đắp, pH khoảng 4,5 Tầng mặt có bề dày trung bình 30 - 50 cm, đất có độ dinh dưỡng khá cao Đất có sa cấu nặng, hàm lượng sét chiếm 41,3%, bột 36,6%, cát rất ít hoặc không có (Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh An Giang, 2003)

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Hiện trạng phân bố và sử dụng đất nông nghiệp

có diện tích đất tự nhiên là 35.571 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm 25.357

ha, trong đó diện tích đất trồng cây hàng năm là 22.670 ha, đất chuyên dùng

là 3.618 ha, đất ở là 1.860 ha và đất chưa sử dụng là 4.736 ha

Với diện tích đất nông nghiệp chiếm 71,29% tổng diện tích đất toàn huyện, nguồn lực lao động dồi dào, điều kiện tự nhiên thuận lợi là thế mạnh cho huyện phát triển nông nghiệp

2.2.2 Hiện trạng dân số và lao động

là 359.576 người, số nam giới chiếm 178.382 người Dân số trong độ tuổi lao

Trang 17

động chiếm 220.427, dân số trong độ tuổi lao động phục vụ trong các ngành nông lâm nghiệp - thủy sản chiếm tới 114.764 người, mật độ dân số 1.010

+ Dân số trong độ tuổi lao động

(phục vụ trong nông nghiệp)

- Số hộ toàn huyện

+ Hộ nghèo theo tiêu chuẩn

355.657176.770178.887121.701

1.00074.6612.902

358.296177.806180.490118.781

1.00775.0862.263

359.576178.382181.194114.764

1.01075.3151.514

(Nguồn: Phòng thống kê huyện Chợ Mới, 2004 a )

2.2.3 Sản xuất nông nghiệp 2004

Ngành nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của huyện vì huyện Chợ Mới chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Tổng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (theo giá thực tế) tăng từ 430.300 triệu đồng năm 1999 lên 656.645 triệu đồng năm 2002 và 777.019 triệu đồng năm 2003 Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá thực tế) tăng từ 931.507 triệu đồng năm 1999 lên 1.331.982 triệu đồng năm 2002 và 1.558.659 triệu đồng vào năm 2003, trong đó, ngành trồng trọt chiếm 740.958 triệu đồng năm 1999, 1.279.769 triệu đồng năm 2003; ngành chăn nuôi chiếm 42.586 triệu đồng năm 1999, 84.763 triệu đồng năm 2003 tăng gần như gấp đôi trong vòng 4 năm Qua đây ta thấy kinh tế của huyện tăng đáng kể từ khi huyện tiến hành bao đê triệt để từ năm 1998 (Phòng thống kê Chợ Mới,

2004a)

Trang 18

2.2.3.1 Trồng trọt

Tổng diện tích gieo trồng là 74.166 ha, tăng 538 ha so năm 2003 Trong đó, diện tích lúa 54.730 ha, giảm 1.609 ha so năm 2003 Diện tích lúa giảm do chuyển sang trồng màu, do vậy diện tích màu là 19.436 ha, tăng 2.147 ha so năm 2003 (Bảng 2) Cơ cấu cây trồng có chuyển dịch khá hơn Nông dân trồng các loại giống cây trồng có năng suất và chất lượng tốt hơn nên sản phẩm tiêu thụ thuận lợi

Bảng 2: Diện tích sản xuất (ha) qua 3 vụ tại huyện Chợ Mới, An Giang

(Nguồn: Ủy Ban Nhân Dân huyện Chợ Mới, 2004)

Vụ 1 năm 2004, toàn huyện đã xuống giống được 25.162 ha, tăng

454 ha so với cùng kỳ năm 2003, trong đó diện tích cây lúa 18.964 ha, giảm

564 ha so với năm 2003, diện tích màu là 6.198 ha, tăng 1.018 ha so với năm

2003 (Bảng 2) Vụ 2 năm 2004, toàn huyện đã xuống giống được 25.401 ha, giảm 129 ha so với cùng kỳ năm 2003, trong đó diện tích cây lúa 17.576 ha, giảm 661 ha so với năm 2003, diện tích màu là 7.825 ha, tăng 532 ha so với năm 2003 Vụ 3 năm 2004, toàn huyện đã xuống giống được 23.603 ha, tăng

213 ha so với cùng kỳ năm 2003, trong đó diện tích cây lúa 18.190 ha, giảm

384 ha so với năm 2003, diện tích màu là 5.413 ha, tăng 597 ha so với năm

2003 Diện tích lúa giảm qua các vụ so với năm 2003 như trên là do chuyển sang trồng màu Mặt khác, vụ 2 xã Mỹ An do thu hoạch vụ 1 trễ nên có

Trang 19

khoảng 120 ha diện tích lúa chuyển sang vụ 3 làm cho diện tích cây lúa vụ 2

có giảm so kế hoạch cũng như cùng kỳ (Phòng thống kê huyện Chợ Mới,

trũng, khoảng 170 ha chuyển sang sản xuất vụ đông xuân sớm, làm cho diện

Đối với cây màu ở vụ 3 năm 2004, nông dân đã xuống giống được 5.413 ha Gồm một số cây chủ yếu như: bắp trắng 564 ha, khoai lang 15 ha, rau dưa 3.448 ha Diện tích đất trồng cỏ tăng lên 82 ha để cung cấp thức ăn cho đàn bò (Bảng 3)

Năm 2004, năng suất lúa 3 vụ đạt 17,35 tấn/ha, tăng 1,08 tấn/ha so năm trước Sản lượng lúa đạt 317.156 tấn, tăng 10.168 tấn so năm 2003 Sản lượng lúa tăng so năm trước do yếu tố năng suất tăng cao, nhất là vụ 2 năng suất 5,56 tấn/ha là năm có năng suất cao nhất từ trước đến nay, góp phần cho

năng suất lúa vụ 3 năm 2004 là 5,29 tấn/ha, sản lượng 96.189 tấn, năng suất của cây màu cũng tăng so với năm trước (Phòng thống kê huyện Chợ Mới,

2004d)

Diện tích gieo trồng ngày càng tăng lên nên hệ số sử dụng đất đạt 3,35 vòng/năm, tăng 0,02 vòng so năm trước, do diện tích đất trồng cây hằng năm tăng lên

Bảng 3: Cơ cấu cây màu thực hiện được năm 2004 qua 3 vụ tại huyện Chợ

Trang 20

2.2.3.2 Chăn nuôi

Trong điều kiện đê bao triệt để, số lượng heo và bò tăng hơn so với

đê bao tháng 8 trung bình tương ứng là 2,59 con heo/hộ và 4,09 con bò/hộ Điều này có thể lý giải với điều kiện thuận lợi cho việc chăn nuôi như bao đê triệt để, không bị ngập, có thể nuôi được quanh năm và chuồng có thể xây dựng kiên cố đã có tác dụng kích thích cho chăn nuôi heo và bò Nhờ có đê bao canh tác được 3 vụ nên có nhiều tấm cám và dư thừa nông sản, có thể dễ dàng cho dịch vụ chăn nuôi thú y, thức ăn, con giống… Kết quả hạch toán hiệu quả kinh tế cho thấy tác động của đê bao tăng lợi nhuận trong chăn nuôi khoảng 10,457 triệu đồng từ nuôi bò và 0,889 triệu đồng/hộ/năm từ nuôi heo (Dương Văn Nhã, 2004)

a Đàn heo

Tính đến thời điểm 01/07/2004, toàn huyện hiện có 30.986 con tương đương tổng đàn của năm 1983 Trong đó, heo thịt 28.431 con, heo nái 2.494 con, heo đực giống 61 con Đây là thời điểm đàn heo có tốc độ phát triển cao nhất trong những năm qua Do ảnh hưởng đợt dịch cúm gia cầm (phải tiêu hủy gần toàn bộ đàn gia cầm) nên lượng thịt heo là nguồn cung cấp chủ yếu,

để thay thế sản phẩm thịt gà Giá thịt heo hơi trên thị trường luôn giữ ở mức giá cao (giá heo hơi từ 14.000 - 15.000 đồng/kg vào thời điểm tháng 03/2004), tuy giá thức ăn có biến động nhưng so giá bán heo hơi lợi nhuận ở mức 22% đã kích thích nhiều hộ nuôi Do vậy, nhiều hộ chăn nuôi đã mở rộng qui mô để phát triển đàn Qua kết quả điều tra cho thấy, cơ cấu hộ nuôi nhỏ từ 3 con trở lại hiện nay chỉ chiếm gần 40% (trong khi tỷ lệ này năm

2003 là 53%) Như vậy, các hộ nuôi có xu hướng chuyển sang loại hình chăn nuôi bán công nghiệp và qui mô số lượng nhiều hơn, nhất là các hộ chăn nuôi truyền thống thường có điều kiện đầu tư chuồng trại ngày càng tốt hơn, tích lũy kinh nghiệm và kỹ thuật chăn nuôi cao hơn (Phòng thống kê huyện

b Đàn trâu, bò

Trang 21

Theo báo cáo của Phòng thống kê huyện Chợ Mới (2004e), tính đến 01/07/2004 toàn huyện hiện có 10.513 con, tăng 3.614 con so với năm 2003 Đàn bò tăng mạnh do nuôi bò hiệu quả cao, ít ảnh hưởng dịch bệnh như heo Việc phát triển khá nhanh đàn bò với tốc độ khá cao không những giải quyết công ăn việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần xóa đói giảm nghèo Về con giống, hiện bò lai Sind chỉ chiếm 5% tổng đàn Do đó, chương trình khuyến nông tập trung tuyên truyền và đầu tư vốn để người nuôi bò phát triển bò lai Sind nhiều hơn và hiệu quả sẽ cao hơn Đến cuối năm 2004 toàn huyện có 10.623 con bò Đối với đàn trâu của huyện chỉ có 110 con chủ yếu nuôi cày kéo, chăn nuôi trâu khó phát triển (Phòng thống kê huyện Chợ Mới,

2004b)

c Đàn gia cầm

Ngay từ đầu năm 2004, do ảnh hưởng dịch cúm gia cầm nên huyện

đã tiến hành thiêu hủy 653.078 con gia cầm, 53.718 con cút và 377.242 quả trứng, tổng thiệt hại 20,13 tỉ đồng, nhà nước hỗ trợ người chăn nuôi 4,14 tỉ đồng, tuy thiệt hại nhưng không ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế Toàn huyện hiện có 311.177 con gia cầm, trong đó đàn gà 66.289 con (gà công nghiệp 2.510 con), vịt 244.888 con (vịt đàn 227.294 con) Như vậy, sau thời điểm xảy ra dịch bệnh đến nay lượng gia cầm trong huyện đã tăng được

d Chăn nuôi khác

Chăn nuôi các loại con khác phát triển khá mạnh, đáng chú ý là chăn nuôi dê, hiện giá rất cao nên có 830 con, cá sấu phát triển lên đến 1.388 con, rùa, ba ba 10.164 con, thỏ 6.317 con (Phòng thống kê huyện Chợ Mới,

2004e)

2.2.3.3 Thủy sản

Toàn huyện hiện có 2.041 hộ nuôi trồng thủy sản với các loại hình nuôi: ao hầm, chân ruộng, đăng quầng, bè,

Tổng diện tích nuôi ao hầm, chân ruộng, đăng quầng là 114 ha, trong

đó nuôi ao hầm 103 ha, nuôi chân ruộng 5 ha, nuôi đăng quầng 6 ha Diện tích nuôi ao hầm tập trung nhiều nhất ở các xã: Kiến An, Mỹ Hội Đông, An

Trang 22

Thạnh Trung, Hòa Bình, Hòa An Riêng diện tích nuôi đăng quầng tập trung

ở các xã có bãi bồi như: Kiến An, Mỹ Hiệp, Hòa Bình, Hòa An Tổng số cá hiện có 13,10 triệu con, nhưng lượng cá của các trại cá giống trong huyện cung cấp 1,15 triệu con, chỉ chiếm 8,7% số cá nuôi và số còn lại rất lớn phải mua các nơi khác, do đó cần phải tổ chức sản xuất cá giống để cung cấp cho người nuôi đủ số lượng và đảm bảo chất lượng con giống (Phòng thống kê

Năm 2004, đối với nghề nuôi thủy sản, toàn huyện có 103 ha nuôi cá

ao hầm, 5 ha nuôi trên chân ruộng, 6 ha nuôi đăng quầng, 156 bè, 27 lồng nuôi cá, với tổng sản lượng cá nuôi 6.925 tấn tăng 24,7% so với năm trước, là huyện có điều kiện phát triển thủy sản ở khu vực bãi bồi, cần có qui hoạch để phát triển ổn định và không ảnh hưởng đến môi trường, ngoài ra cần quan tâm phát triển cơ sở ươm con giống, vì hiện nay chỉ cung cấp được 8,7% con

2.2.3.4 Kinh tế hợp tác

Toàn huyện có 24 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, 2 hợp tác xã thủy sản, 1 hợp tác xã vận tải, 1 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và 4 quỹ tín dụng Các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả, riêng hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoạt động không hiệu quả được thể hiện qua nợ phải thu là 1,48 tỉ đồng, trong khi đó nợ phải trả là 2,84 tỉ đồng, mất cân đối 1,36 tỉ đồng (Phòng thống kê

Sản xuất nông nghiệp năm 2004 tiếp tục phát triển, cơ cấu cây trồng

đã chuyển dịch khá hơn, chất lượng sản phẩm từng bước được nâng lên, đã tạo ra giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 1.815,47 tỉ đồng tăng 16,4% so năm trước, trong đó giá trị cây lúa đạt 681,96 tỉ đồng tăng 20,8% và chiếm 44,5%, giá trị cây màu 817,12 tỉ đồng chiếm 53,4% trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt, nhưng diện tích màu chiếm 26,2% và diện tích lúa chiếm 73,8%

Như vậy năm 2004 giá trị sản xuất cây hàng năm là 1.499,52 tỉ đồng, bình quân 1 ha đất cây hàng năm đạt 65,22 triệu đồng tăng 10,2 triệu đồng so

Trang 23

năm trước (giá trị sản xuất bình quân 1 ha không tính ngành chăn nuôi, thủy sản nuôi bè và giá trị dịch vụ nông nghiệp) (Phòng thống kê huyện Chợ Mới,

a Đất trồng rau

Bộ rễ các loại rau nói chung là nông từ 25 - 30 cm, vì vậy tính chịu hạn, chịu úng rất kém và dễ bị nhiễm sâu bệnh, cho nên yêu cầu về đất của các loại rau phải được làm cẩn thận, tốt nhất là được để ải 5 - 7 ngày và rắc vôi bột để tiệt trùng, trừ các nguồn bệnh trong đất và phải được lên liếp trước khi trồng Chiều dài của luống tùy vào địa hình và diện tích đất để thích hợp cho việc tưới tiêu, rộng 100 - 120 cm là vừa

Đất trồng rau không được làm quá nhỏ, vì làm đất quá nhỏ sẽ lấp hết các khoảng trống chứa các khí cần thiết trong lòng luống rau, có thể làm đất nhỏ 1 - 3 cm hay 5 cm là được Vụ hè, mưa nhiều thì làm luống khum mai rùa, mặt luống hẹp và cao, vụ đông xuân khô hanh, làm luống phẳng và rộng hoặc hơi trũng lòng khay để giữ nước, giữ phân (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 2000)

b Bón phân

Rau là cây có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn nhưng lại cho sản lượng rất cao, từ 20 - 60 tấn/ha, do vậy cây rau đòi hỏi phải được bón nhiều phân và đất trồng rau phải là đất tương đối tốt Theo Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi (2000), để thu được 1 tấn cải bắp, cây cải bắp đã lấy đi từ đất

40 tấn thì đất đã mất đi 140 kg N nguyên chất tương đương 304 kg urê, 52 kg

Trang 24

P2O5 tương đương 325 kg Supe lân và 172 kg kali nguyên chất tương đương

358 kg phân kali thương phẩm Đó là chưa kể đến phần lá già phải bỏ đi Từ đây cho thấy nhu cầu dinh dưỡng của cây rau rất lớn, nếu đất trồng không cung cấp thêm phân bón thì không đủ cho nhu cầu về phân cho rau

Tùy vào nhu cầu phân của từng loại rau cùng các điều kiện thổ nhưỡng đất đai, cũng như vào từng giai đoạn phát triển của cây mà các loại phân khác nhau và liều lượng phân cũng khác nhau Đạm được dùng cho các loại cây rau ăn lá như cải bắp, rau cải, mồng tơi…với lượng bón cao hơn ở những loại rau khác, nhưng nếu bón quá nhiều và lại bón chậm vào lúc sắp thu hoạch sẽ làm cây rau sinh trưởng quá mạnh, vống lốp, dễ bị sâu bệnh xâm nhập, làm xấu phẩm chất của rau

Lân có tác dụng làm cho quả, hạt chắc, sáng mã, làm cho cây có bộ rễ phát triển đầy đủ, làm cho cây cứng cáp, mô cây dày dặn tăng tính chống đổ, chống lốp, tính chống chịu với sâu bệnh hại, lân sẽ giúp phát huy được hết hiệu lực của phân đạm, tăng hiệu quả sử dụng phân bón

Kali là loại phân có tác dụng đẩy mạnh các quá trình tích lũy vật chất

- sản phẩm của sự quang hợp vào các bộ phận dự trữ của cây rau Ngoài đạm, lân, kali rau cũng cần phân vi lượng với một liều lượng rất ít, nhưng chúng lại cực kỳ cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cây rau như

Bo, Mn, Cu, Zn…

Yêu cầu của kỹ thuật bón phân cho rau:

- Bón cân đối giữa các phân đạm, lân, kali

- Bón đủ lượng phân cần thiết

- Bón đúng lúc và đúng cách

Đạm, lân, kali là ba chất cơ bản để tạo ra chất hữu cơ và năng suất, phẩm chất của cây rau; nhưng nếu bón mất cân đối giữa chúng sẽ dẫn đến hậu quả ngược lại: năng suất thấp, chất lượng rau kém, dễ hư hỏng khi vận chuyển hoặc bảo quản (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 2000)

2.3.2 Lúa

a Xử lý hạt giống

Trang 25

Giống phải được lựa bỏ những hạt lép, lửng bằng nước muối, sau khi đãi sạch nước muối đổ nước sạch ngâm đủ 72 giờ, cứ 24 giờ thay nước 1 lần, lần sau cùng đãi thật sạch, ủ cho hạt nứt nanh (gai dứa), mang gieo ngay (Nguyễn Văn Hoan, 1999).

b Gieo sạ

Ruộng lúa đã bón phân lót, chia luống, rút hết nước đem thóc giống

đã ủ đem gieo ngay Với giống hạt nhỏ (trọng lượng 1000 hạt dưới 22 gam) cần gieo 55 kg mầm cho 1 ha Với giống hạt to (trọng lượng 1000 hạt trên 25 gam) cần gieo 69 kg mầm cho 1 ha Kiểm tra số cây mọc khi có 2 lá thật cần

cho hạt lặn sâu vào đất và gieo thật đều (Nguyễn Văn Hoan, 1999)

c Chăm sóc

Không để nước đọng Sau khi gieo 1 - 2 ngày cần phun thuốc trừ cỏ Sofit với lượng 1 lít pha với 300 lít nước phun đều cho 1 ha Chú ý phun đều

cả phần rãnh luống không bỏ sót

Khi cây bắt đầu phát triển ta tiến hành bón thúc cho cây:

- Lúa có 2 lá: bón thúc 80 kg đạm urê và 80 kg kali clorua cho 1 ha

- Lúa có 6 lá: bón thúc lần 2 bằng 80 kg đạm urê và 80 kg kali clorua cho 1 ha

- Lúa phân hóa đòng: bón thúc tiếp 55 kg đạm urê và 55 kg kali clorua cho 1 ha

- Lúa trổ báo: bón nuôi hạt lần cuối bằng 55 kg đạm urê và 110 kg kali clorua cho 1 ha (Nguyễn Văn Hoan, 1999)

Tùy theo từng loại lúa, chất lượng đất khác nhau, từng giai đoạn phát triển khác nhau mà nhu cầu về phân bón cũng khác nhau Cần chú ý, theo dõi tình hình lúa, sớm phát hiện sâu bệnh mà có biện pháp phòng trị thích hợp hạn chế ảnh hưởng đến năng suất lúa

Trên những ruộng trồng lúa, người nông dân có thể kết hợp nhiều mô hình khác nhau tùy theo từng điều kiện cụ thể để không làm thoái hóa đất do canh tác độc canh Mô hình 2 lúa - 1 màu, trong đó vụ màu có thể trồng cây

Trang 26

họ đậu như đậu nành, vụ đậu nành thường cho năng suất cao cùng với giá đầu

ra của đậu nành tương đối ổn định nên thu nhập vụ màu không thua kém so với canh tác lúa Hè Thu Ngoài ra, trồng đậu còn có tác dụng cải tạo đất, phá thế độc canh cây lúa và tăng hệ số sử dụng đất nông nghiệp Vụ Đông Xuân của 2 lúa - 1 màu được áp dụng sớm hơn so với canh tác lúa 2 vụ bình thường (Đại Học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh, 2001)

2.4 Kỹ thuật chăn nuôi bò

Thức ăn chủ yếu của bò là cỏ, nuôi bò ta có thể tận dụng nguồn thức

ăn là các phụ phẩm trong nông nghiệp như thân bắp, cám gạo, rơm, khoai mì…

Hiện nay, huyện Chợ Mới đang phát triển mô hình chăn nuôi bò vỗ béo, đặc biệt phát triển rất mạnh ở xã Mỹ An, tận dụng những nguồn phụ phẩm trong trồng trọt như thân bắp, rơm lúa khô cũng như những nguồn cỏ tự nhiên của vùng Do nhu cầu phát triển số lượng bò tăng nhanh trong những năm qua làm lượng cỏ tự nhiên không đáp ứng được, người nông dân đã tận dụng thân bắp để cung cấp thêm nguồn thức ăn cho bò

Nuôi bò vỗ béo là một phương thức chăn nuôi thâm canh được áp dụng trong một thời gian ngắn trước khi giết thịt nhằm đạt mức tăng trọng cao Vỗ béo bò ở lứa tuổi còn non cho hiệu quả, vì bò non có tốc độ lớn nhanh, với bộ răng chắc khỏe nên khả năng tiêu hóa và đồng hóa thức ăn tốt hơn, khả năng tích lũy cũng cao hơn Hơn nữa, vỗ béo ở lứa tuổi còn non cho

tỉ lệ thịt xẻ cao, chất lượng và độ mềm của thịt tốt hơn Có thể bắt đầu vỗ béo

từ 22 tháng tuổi Bò đưa vào vỗ béo là những con bò chuyên thịt để cho kết quả vỗ béo tốt nhất (Phùng Quốc Quảng, 2001)

Bảng 4: Khẩu phần thức ăn của bò vỗ béo

Đơn vị tính: kgKhối lượng

Muối ăn 260

290

320

35 35 40

1 -

-3,0 4,0 5,0

3,0 3,0

-1,0 1,0 1,5

0,030 0,035 0,040 (Nguồn: Phùng Quốc Quảng, 2001)

Trang 27

Thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất thịt bò Khối lượng và chất lượng thức ăn đóng vai trò quan trọng trong việc vỗ béo, thường thức ăn của chúng bao gồm cỏ tươi, cỏ khô, rơm lúa khô, thức ăn tinh

và thức ăn củ quả Cần cho ăn loại thức tinh giàu năng lượng để giúp cho cơ thể tích lũy mỡ nhanh và bò chóng béo Tùy theo điều kiện cụ thể của từng gia đình, mỗi ngày có thể cung cấp cho mỗi con bò vỗ béo 1- 2 kg thức ăn tinh Tùy theo khối lượng cơ thể và giai đoạn của bò mà cung cấp nguồn thức

ăn hợp lý, bảo đảm đủ lượng nước cho bò vì nó ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất bên trong cơ thể của bò Ngoài ra, vấn đề vệ sinh, chăm sóc, tiêm ngừa cho bò cũng là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến năng suất của bò

Trồng trọt kết hợp với chăn nuôi, thủy sản là mô hình tận dụng những phụ phẩm sẵn có để giảm bớt chi phí Những nguồn thức ăn từ phụ phẩm của lúa, bắp và nhiều loại cây trồng khác được người nông dân tận dụng làm thức

ăn cho bò, có thể ủ chua, chế biến thức ăn để dự trữ khi thiếu nguồn thức ăn

Trang 28

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Vật liệu

- Địa bàn nghiên cứu huyện Chợ Mới - tỉnh An Giang

- Xe máy đi lại

- Các dụng cụ như: bút chì, bút mực, giấy, bảng hỏi…

- Máy vi tính

3.2 Phương pháp

3.2.1 Phương pháp điều tra

- Thu thập số liệu thứ cấp về: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế -

xã hội, bản đồ các loại của huyện Chợ Mới

- Phỏng vấn người am hiểu để xác định những mô hình có triển vọng trong mùa lũ ở huyện Chợ Mới để điều tra

- Tiến hành điều tra thử để đảm bảo lấy đầy đủ thông tin của nông dân

- Cụ thể gồm 04 mô hình như sau:

trong vụ 3

thức ăn tự kiếm hay mua

bò, trồng bắp có sử dụng phụ phẩm cho bò ăn

- Dựa trên 4 mô hình đã chọn theo tình hình sản xuất của huyện Chợ Mới, điều tra được tiến hành, với mô hình lúa gồm 18 mẫu ở 4 xã (xã Long Điền B 9 mẫu, xã Long Kiến 4 mẫu, xã Bình Phước Xuân 2 mẫu, xã Kiến Thành 3 mẫu) Mô hình rau màu 16 mẫu phân bố trên xã Kiến An Mô hình

bò vỗ béo gồm 15 mẫu phân bố trên địa bàn xã Mỹ An Mô hình Bò - Bắp gồm 30 mẫu phân bố ở xã Mỹ An

- Điều tra bằng phương pháp phỏng vấn nông hộ theo bảng hỏi đã được chuẩn bị trước

Trang 29

- Sau khi thu thập đầy đủ số liệu, tiến hành xử lý số liệu Tổng hợp những số liệu đã thu thập được Phân tích các chỉ tiêu số liệu.

- Tổng hợp và viết báo cáo

- Thời gian thực hiện: từ 1/1/2005 đến 30/4/2005

3.2.3 Chỉ tiêu theo dõi

- Điều tra nguồn lực của nông hộ bao gồm những thông tin như tên, tuổi, trình độ văn hóa, giới tính của chủ hộ và các thành viên trong gia đình, ghi nhận nghề nghiệp, kinh nghiệm sản xuất, số nhân khẩu trong gia đình, diện tích, tài sản, phương tiện sản xuất, phương tiện trong gia đình,…

- Ghi nhận các hoạt động sản xuất trong nông hộ như sản xuất loại cây trồng, vật nuôi từ khâu chuẩn bị đến khi thu hoạch, các chi phí đầu tư phân, giống, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí thuê lao động, chi phí thức ăn cho từng vụ Chi tiêu trong gia đình của nông hộ Các nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất trong nông nghiệp, từ làm thuê, hay từ các nguồn khác Các khả năng về tài chính như khả năng về vốn và cách giải quyết vấn đề này ra sao? Vay từ đâu?

- Ghi nhận nguồn thông tin mà nông dân tiếp cận trong hoạt động sản xuất, ai là người thu nhận thông tin Các yếu tố mà nông dân cho là tác động tích cực quyết định thành công của mô hình

Trang 30

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm nông hộ

Nhìn chung tuổi của chủ hộ đều từ 26 tuổi trở lên Theo số liệu ở Hình 1, ở mô hình lúa tuổi của chủ hộ cao nhất từ 55 tuổi trở lên chiếm 38,9% Mức tuổi thấp nhất của chủ hộ từ 26 - 35 tuổi chiếm 11,1% Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 51,7 tuổi Ở mô hình màu độ tuổi trung bình của chủ

hộ là 45,8 tuổi, có 43,8% chủ hộ có độ tuổi từ 36 - 45 tuổi, thấp nhất là 18,7%

ở 2 nhóm tuổi 26 - 35 tuổi và 46 - 55 tuổi Tuổi trung bình của chủ hộ ở mô hình bò vỗ béo là 42,8 tuổi, số người ở độ tuổi từ 36 - 45 tuổi và 46 - 55 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 33,3%, thấp nhất là 6,7% ở nhóm người có độ tuổi trên

55 tuổi Tuổi trung bình của chủ hộ ở mô hình bò - bắp là 46,5 tuổi, chiếm tỉ

lệ cao nhất 36,7% là nhóm người ở độ tuổi từ 36 - 45 tuổi, số người ở độ tuổi

từ 26 - 35 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất 13,3% (Bảng 22)

11,1

27,822,238,9

18,7

43,8

18,718,826,733,3 33,3

6,713,3

36,733,3

>55 tuổi

Hình 1: Tỉ lệ (%) chủ hộ ở các độ tuổi khác nhau của các mô hình canh tác

tại Chợ Mới, An Giang

Mô hình

Trang 31

Theo số liệu điều tra ở Hình 2, trình độ học vấn của các thành viên trong nông hộ là tương đối thấp, ở cả 4 mô hình đều có người mù chữ, cao nhất là ở mô hình lúa tỉ lệ mù chữ chiếm tới 11,1%, mô hình màu là 3,4%, 3,3% ở mô hình bò vỗ béo và 9,8% ở mô hình bò - bắp Tỉ lệ người có trình

độ học vấn là cấp 1 chiếm đa số, 34,6% ở mô hình lúa, 61,0% ở mô hình màu, 45,0% ở mô hình chăn nuôi bò và 39,2% ở mô hình bò - bắp Tuy nhiên, trong số họ vẫn có người có trình độ trung cấp và đại học Trình độ học vấn trung bình ở vào khoảng lớp 6 Đây là mức trình độ tương đối thấp, ở mức trình độ này khó có thể mà tiếp cận những khoa học kỹ thuật hiện đại để

áp dụng vào sản xuất (Bảng 23)

11,1

34,6 25,9 21

7,4 3,4

61

20,3 15,3

0 3,3

45 36,7

13,3

1,7 9,8

39,2 35,3

14,4

1,3 0

Hình 2: Tỉ lệ (%) hộ có trình độ học vấn khác nhau của các mô hình canh tác

tại Chợ Mới, An Giang

Chợ Mới là một huyện sản xuất nông nghiệp với nghề trồng lúa và rau màu lâu đời, theo Hình 3, ở mô hình lúa có 33,4% số hộ có kinh nghiệm sản xuất dưới 10 năm, 27,8% số hộ có kinh nghiệm sản xuất từ 11 - 20 năm, 33,5% số hộ có kinh nghiệm sản xuất 21 - 30 năm, có 5,6% số hộ có kinh

Mô hình

Trang 32

nghiệm sản xuất trên 30 năm, đây là vốn kinh nghiệm rất quý báu của nông dân Ở mô hình màu có 62,5% số hộ có kinh nghiệm sản xuất dưới 10 năm, 31,3% số hộ có kinh nghiệm sản xuất từ 11 - 20 năm, 6,3% số hộ có kinh nghiệm sản xuất 21 - 30 năm, không có hộ nào có kinh nghiệm sản xuất trên

30 năm Riêng ở 2 mô hình chăn nuôi bò và bò - bắp, kinh nghiệm sản xuất nhỏ hơn hoặc bằng 10 năm chiếm chủ yếu (93,4% số hộ ở mô hình chăn nuôi

bò, 90,0% số hộ ở mô hình bò - bắp), vì mô hình chăn nuôi bò chỉ mới phát triển trong mấy năm gần đây Nhìn chung, phần lớn những hộ nông dân chăn nuôi bò vỗ béo là những hộ nuôi tự phát khi thấy những nông dân ở nơi khác nuôi bò có lãi cao, qua phỏng vấn thấy phần lớn họ không biết nhiều về kỹ thuật nuôi bò (Bảng 24)

Như vậy, hầu hết chủ hộ đều có kinh nghiệm sản xuất, chính họ là người hiểu rõ điều kiện tự nhiên của vùng họ sinh sống, đúc kết nhiều kinh nghiệm trong sản xuất của chính đồng ruộng của họ Tuy nhiên, trình độ học vấn của nông hộ còn rất thấp Vì vậy, nhiều nông dân sẽ rất bảo thủ, khó chấp nhận kỹ thuật mới và sợ rủi ro

Hình 3: Tỉ lệ (%) hộ có kinh nghiệm sản xuất của các mô hình canh tác tại

Chợ Mới, An Giang

33,4 27,8 33,5

5,6

62,5

31,3

6,3 0

93,4

90

3,36,7 00

>30 năm

Mô hình

Trang 33

Bảng 5 cho thấy số nhân khẩu trung bình trên một nông hộ là 4,89 người ở mô hình lúa, 4,13 người ở mô hình màu, 4,20 người ở mô hình chăn nuôi bò, 5,34 người ở mô hình bò - bắp Qua 4 mô hình trên ta thấy, số người trên nông hộ ở mức trung bình, điều này sẽ không tạo áp lực về nhân khẩu

Số nam giới chiếm 55,2%, nữ giới chiếm 44,8% ở mô hình lúa; ở mô hình màu số nữ giới bằng với số nam giới; ở mô hình chăn nuôi bò, số nam giới chiếm 52,4%, số nữ giới chiếm 47,6%; ở mô hình bò - bắp, số nữ giới chiếm 53,1%, số nam giới chiếm 46,9% Tỉ lệ nam nữ trên nông hộ chênh lệch nhau không nhiều

Số lao động trung bình của nông hộ là 2,67 người ở mô hình lúa, 2,19 người ở mô hình màu, 2,73 người ở mô hình bò, 4,70 người ở mô hình bò - bắp Số lao động trung bình ở mô hình bò - bắp cao nhất, so với số nhân khẩu trung bình của nông hộ thì nguồn lực lao động của nông hộ ở mô hình bò - bắp dồi dào Còn số lao động ở các mô hình còn lại thì ở mức trung bình

Bảng 5: Số nhân khẩu và số lao động trung bình trong nông hộ của các mô

hình canh tác tại huyện Chợ Mới, An Giang

Độ tuổi trung bình của các thành viên trong gia đình là 26,29 tuổi ở

mô hình lúa, 23,54 tuổi ở mô hình màu, 24,08 tuổi ở mô hình chăn nuôi bò, 25,57 tuổi ở mô hình bò bắp Số người có độ tuổi từ 16 - 55 tuổi chiếm 68,1%

ở mô hình lúa, 62% ở mô hình màu, 64,6% ở mô hình chăn nuôi bò, 67,5% ở

mô hình bò - bắp, từ đây cho thấy lao động trong nông hộ tương đối dồi dào, đây là độ tuổi có sức mạnh và rất năng động là nguồn lực lớn cho sản xuất nông nghiệp của nông hộ (Bảng 6)

Trang 34

Bảng 6: Tỉ lệ (%) thành viên trong nông hộ ở các độ tuổi khác nhau của các

mô hình tại Chợ Mới, An Giang

4.2 Diện tích đất đai và tài sản nông hộ

Hầu hết những hộ có đất nhiều là những hộ trồng lúa, rau, một số nông dân có đất vườn trồng cây ăn trái, tuy nhiên số lượng này ít

Mô hình lúa: Diện tích trung bình của nông hộ là 1,41 ha Trong những hộ điều tra không có hộ nào có diện tích dưới 0,5 ha, diện tích từ 1,1

ha đến 1,5 ha chiếm tỉ lệ lớn nhất 38,9% số hộ, chiếm tỉ lệ nhỏ nhất là 11,1%

số hộ có diện tích đất 1,5 - 2 ha Số hộ có diện tích trên 2,0 ha chiếm 22,2%

số hộ Trong đó, diện tích phần lớn là để trồng lúa, còn phần nhỏ khác là diện tích nhà ở hay có những hộ có đất vườn nhưng diện tích này không lớn, hộ có

Mô hình chăn nuôi bò: Theo Bảng 7 thì diện tích trung bình của nông

hộ là 0,31 ha, vì là những hộ chăn nuôi nên diện tích của nông hộ không nhiều, diện tích để xây chuồng trại chỉ là phần nhỏ, có thể xây sát nhà tiện chăm sóc, quản lý

Mô hình bò - bắp: Diện tích trung bình của nông hộ là 0,75 ha, phần lớn diện tích của nông hộ là trồng bắp Nuôi bò là để tận dụng nguồn phụ phẩm và tăng thu nhập của nông hộ Diện tích nông hộ dưới 0,5 ha chiếm

Trang 35

30% số hộ, diện tích từ 0,5 - 1 ha chiếm 50% số hộ, 13,4% số hộ có diện tích

từ 1 - 1,5 ha, có 3,3% số hộ có diện tích từ 1,5 - 2,0 ha, chỉ có 3,3% số hộ có diện tích trên 2 ha (Bảng 7)

Bảng 7: Tỉ lệ hộ (%) có tổng diện tích đất theo các mô hình tại Chợ Mới, An

ra, còn có các phương tiện phục vụ cho đời sống nông hộ như: trên 50% số

hộ có xe honda, xe đạp, ti vi, và một số nông hộ có các phương tiện khác như video, radio Như vậy, đời sống của nông dân đã khá hơn góp phần giúp họ

có khả năng tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng, học hỏi kỹ thuật, các thông tin giá cả, thị trường để phục vụ cho sản xuất

Bảng 8: Tỉ lệ (%) số hộ có phương tiện sản xuất theo các mô hình canh tác

tại Chợ Mới, An Giang

Đơn vị tính: %

Trang 36

4.3 Nguồn thông tin cho sản xuất nông nghiệp

Có 100% số hộ có thu nhận thông tin cho sản xuất nông nghiệp ở mô hình lúa, màu, chăn nuôi bò và 93,3% ở mô hình bò - bắp Điều này cho thấy người dân đã chú ý rất nhiều đến các thông tin có liên quan đến sản xuất của mình Những người thu nhận thông tin thường là chủ hộ và việc tiếp nhận thông tin cũng chưa được thực hiện thường xuyên Người nông dân thu nhận thông tin chủ yếu từ những người nông dân khác như 61,1% ở mô hình lúa, 62,5% ở mô hình màu, 66,7% ở mô hình bò, 46,7% ở mô hình bò - bắp Hầu hết những người nông dân chỉ thu nhận thông tin từ những nông dân khác hay người thân, khả năng thu nhận thông tin của họ còn hạn hẹp Bên cạnh đó, người nông dân còn thu nhận thông tin từ bà con, ti vi, radio, các dịch vụ buôn bán vật tư nông nghiệp, nhưng tỉ lệ số hộ thu nhận thông tin từ kỹ thuật viên không nhiều, 27,8% ở mô hình lúa, chiếm tỉ lệ rất ít 3,8% ở mô hình màu, 26,7% ở mô hình bò, 20% ở mô hình bò - bắp, chủ yếu người dân dựa vào kinh nghiệm bản thân, do đó cần đẩy mạnh công tác khuyến nông, áp dụng những kỹ thuật mới vào trong sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả canh tác Ở những nông hộ chăn nuôi bò, do phần lớn mang tính tự phát nên họ không là thành viên của hợp tác xã, không được hưởng những quyền lợi từ hợp tác xã Những hợp tác xã ở đây sẽ cung cấp các thông tin về kỹ thuật nuôi, các thông tin giá cả, thậm chí hợp tác xã có cả nhân viên thú y chăm sóc sức khỏe bò cho những xã viên (Bảng 9)

Bảng 9: Tỉ lệ (%) nông hộ nhận các nguồn thông tin cho sản xuất nông

nghiệp theo các mô hình canh tác tại Chợ Mới, An Giang

Đơn vị tính: %

Trang 37

Không có thu nhận nguồn thông tin 0 0 0 6,7

đó có hộ sử dụng 2 giống lúa khác nhau trong 1 vụ Giống 1490 được nông dân sử dụng nhiều nhất chiếm 38,89% số hộ, kế đó là giống Jasmine chiếm 27,28%, còn các giống CS2000, 2519, 2514, 2517, Tài nguyên, 50404 chỉ chiếm tỉ lệ ít

Bảng 10: Tỉ lệ (%) hộ sử dụng các giống lúa khác nhau ở mô hình lúa

(vụ 3) tại Chợ Mới, An Giang

Trang 38

Theo Bảng 11, có 61,11% số hộ sạ giống bằng phương pháp sạ hàng

đất như cày, xới, trục, trang bằng đất đều được làm bằng cơ giới, chỉ có tu sửa bờ ruộng được làm bằng tay Thời gian cấy dặm thường trung bình là 18,42 ngày sau khi gieo sạ Công tác tưới tiêu, nông dân đều mướn và được tính trên mỗi công sau cuối vụ

Bảng 11: Các hoạt động trong canh tác ở mô hình lúa (vụ 3) tại Chợ Mới, An

Giang

(%)

Phương pháp áp dụng

Ghi chú: NTKS: Ngày trước khi sạ

NSKS: Ngày sau khi sạ

DL: Dương lịch

Các nông hộ sử dụng phân bón rất đa dạng, lượng phân và loại phân cũng khác nhau tùy vào kinh nghiệm của nông hộ và loại đất nơi nông hộ canh tác Trung bình nông dân bón phân 4 lần/vụ, có hộ chỉ bón 3 lần/vụ Về loại phân, nông dân sử dụng phổ biến nhất là urê (100% số hộ sử dụng), trung bình nông dân sử dụng 134,23 kg/ha/vụ Có 83,33% số hộ sử dụng phân

Trang 39

DAP, trung bình nông dân bón 61,63 kg/ha/vụ Ngoài ra, nông dân cũng sử dụng phân hỗn hợp NPK (16 - 16 - 8) với lượng trung bình 108,98 kg/ha/vụ Ngày nay, nông dân cũng rất quan tâm đến kali, tất cả các hộ đều sử dụng phân KCl, trung bình nông dân bón 51,27 kg/ha/vụ (Bảng 12) Qua điều tra cho thấy, nông dân chỉ sử dụng phân bón hóa học, không có hộ nào sử dụng phân hữu cơ Do đó, cần khuyến cáo nông dân sử dụng loại phân hữu cơ, đây

là loại phân có tác dụng lâu dài, hơn nữa Chợ Mới là vùng đê bao khép kín nông dân canh tác 3 vụ trong năm, cần sử dụng phân hữu cơ để cải tạo đất

Bảng 12: Tỉ lệ (%) hộ sử dụng các loại phân bón khác nhau ở mô hình lúa

(vụ 3) tại Chợ Mới, An Giang

Đối với công tác bảo vệ thực vật, tùy vào điều kiện tự nhiên của từng

vụ, chế độ canh tác mà tình hình sâu, bệnh khác nhau Thường ruộng lúa nông dân bị rầy, sâu đục thân, bệnh đạo ôn, lem lép hạt Biện pháp phòng trị của nông dân bằng hóa học là chủ yếu, thường nông dân sử dụng các loại thuốc như Actara, Regent, Fuan, Vali, Tilt Tuy nhiên, trong công tác bảo vệ thực vật, nông dân vẫn còn sử dụng những loại thuốc cấm như Thiodan, viên

Mỹ Tùy tình hình sâu bệnh mà số lần xịt thuốc nhiều hay ít Tất cả các hộ điều tra đều sử dụng thuốc hóa học để diệt cỏ, họ cho rằng thuốc hóa học vừa cho hiệu quả cao lại ít tốn công so với nhổ cỏ bằng tay

Tùy vào điều kiện từng vụ và nguồn nhân lực nông hộ mà công tác chăm sóc đồng ruộng khác nhau Các công tác cắt, suốt, nông dân đều mướn, nếu có công lao động nhà thì nông dân tự cắt nhưng hầu hết nông hộ do phải tập trung thời vụ nên không đủ nhân lực, vì vậy họ phải mướn thêm nhân công Lúa sau khi hoạch được nông dân phơi khô từ 3 - 4 ngày tùy vào điều kiện thời tiết, không có hộ nào sử dụng phương pháp sấy Năng suất trung bình của nông hộ tương đối cao 6,13 tấn/ha, có hộ đạt 7,6 tấn/ha

Trang 40

4.4.2 Màu

Về mô hình rau, chúng tôi chỉ chọn điều tra một loại rau là cải bẹ dúng Đây là loại rau được canh tác phổ biến trong vụ 3 Nguồn giống nông dân chủ yếu mua tại địa phương, trung bình nông dân sử dụng lượng giống là 0,18 kg/ha Loại giống cải bẹ dúng này có thời gian sinh trưởng là 35 ngày (Bảng 13)

Về kỹ thuật trồng, kích thước liếp trung bình rộng 1,02 m, cao trung bình 0,33 m, chiều dài của liếp tùy vào diện tích của nông hộ Hầu hết các nông hộ đều dùng nước tưới từ sông, hộ nào có phương tiện thì dùng máy bơm tưới nước, hộ không có phương tiện thì dùng thùng tưới Mỗi ngày nông dân đều phải tưới nước, có hộ tưới mỗi ngày một lần, cũng có hộ tưới 2 lần/ ngày, có hộ 2 ngày mới tưới 1 lần Nông dân thường sử dụng vôi hoặc tro để

xử lý đất trước khi gieo trồng Có hộ sử dụng thuốc để xử lý đất (Bảng 13)

Bảng 13: Kỹ thuật canh tác của mô hình màu tại Chợ Mới, An Giang

Kích thước liếp trồng (m)

Thời gian cách ly lần bón phân sau

cùng đến thu hoạch (ngày)

4 - 13

Về phân bón, nông dân sử dụng phân hóa học, loại phân sử dụng chủ yếu là urê, kế đến phân hỗn hợp là DAP hay NPK (16 - 16 - 8 hay 20 - 20 - 15), rất ít hộ sử dụng phân Kali, không có hộ nào sử dụng super lân Thời gian cách ly lần bón phân sau cùng từ 4 đến 13 ngày Nông dân bón phân cho rau vào giai đoạn 10, 15 và 20 ngày sau khi trồng

Về công tác bảo vệ thực vật, nông dân chủ yếu sử dụng thuốc hóa học Các loại sâu hại thường gặp như sâu xanh da láng, bọ nhảy, sâu keo

Ngày đăng: 28/01/2013, 09:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Tựa hình Trang - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
nh Tựa hình Trang (Trang 11)
Bảng 1: Dân số - lao động huyện Chợ Mới, An Giang - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 1 Dân số - lao động huyện Chợ Mới, An Giang (Trang 17)
Bảng 2: Diện tích sản xuất (ha) qua 3 vụ tại huyện Chợ Mới, An Giang - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 2 Diện tích sản xuất (ha) qua 3 vụ tại huyện Chợ Mới, An Giang (Trang 18)
Bảng 4: Khẩu phần thức ăn của bò vỗ béo - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 4 Khẩu phần thức ăn của bò vỗ béo (Trang 26)
Hình 1: Tỉ lệ (%) chủ hộ ở các độ tuổi khác nhau của các mô hình canh tác - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Hình 1 Tỉ lệ (%) chủ hộ ở các độ tuổi khác nhau của các mô hình canh tác (Trang 30)
Hình 2: Tỉ lệ (%) hộ có trình độ học vấn khác nhau của các mô hình canh tác - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Hình 2 Tỉ lệ (%) hộ có trình độ học vấn khác nhau của các mô hình canh tác (Trang 31)
Hình 3: Tỉ lệ (%) hộ có kinh nghiệm sản xuất của các mô hình canh tác tại - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Hình 3 Tỉ lệ (%) hộ có kinh nghiệm sản xuất của các mô hình canh tác tại (Trang 32)
Bảng 8 cho thấy hầu hết nông hộ đều có phương tiện sản xuất cần  thiết như bình xịt. Trong sản xuất lúa và màu 100% nông hộ đều có bình xịt - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 8 cho thấy hầu hết nông hộ đều có phương tiện sản xuất cần thiết như bình xịt. Trong sản xuất lúa và màu 100% nông hộ đều có bình xịt (Trang 35)
Bảng 10: Tỉ lệ (%) hộ sử dụng các giống lúa khác nhau ở mô hình lúa - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 10 Tỉ lệ (%) hộ sử dụng các giống lúa khác nhau ở mô hình lúa (Trang 37)
Bảng 15: Hiệu quả kinh tế của nông hộ trong một năm của mô hình Lúa vụ 3 - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 15 Hiệu quả kinh tế của nông hộ trong một năm của mô hình Lúa vụ 3 (Trang 46)
Bảng 20: Tình hình vay vốn của nông hộ của các mô hình canh tác tại Chợ - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 20 Tình hình vay vốn của nông hộ của các mô hình canh tác tại Chợ (Trang 50)
Bảng 23 Tỉ lệ hộ (%) có trình độ học vấn khác nhau của 4 mô hình canh  tác tại Chợ Mới, An Giang - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 23 Tỉ lệ hộ (%) có trình độ học vấn khác nhau của 4 mô hình canh tác tại Chợ Mới, An Giang (Trang 57)
Bảng 24 Tỉ lệ hộ (%) có kinh nghiệm sản xuất của với 4 mô hình canh tác  tại Chợ Mới, An Giang - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 24 Tỉ lệ hộ (%) có kinh nghiệm sản xuất của với 4 mô hình canh tác tại Chợ Mới, An Giang (Trang 57)
Bảng 25 Phiếu phỏng vấn nông hộ - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Bảng 25 Phiếu phỏng vấn nông hộ (Trang 58)
Hình 4: Bản đồ hành chánh huyện Chợ Mới, An Giang - Các Mô Hình Trồng Trọt Và Chăn Nuôi Trong Mùa Lũ Năm 2004 Tại Huyện Chợ Mới, An Giang
Hình 4 Bản đồ hành chánh huyện Chợ Mới, An Giang (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w