Tiểu luận: Chính sách Abenomics tại Nhật Bản và ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới
Trang 1Tiểu luận
Chính sách Abenomics tại Nhật Bản
và ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Đã bốn năm trôi qua kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát, song kinh tế thế giới vẫn đang phục hồi chật vật Giới phân tích nhận định trong tình cảnh còn nhiều bất ổn, nguy cơ thách thức rình rập và triển vọng bị chi phối bởi không ít rủi ro, mà trước mắt là việc đưa ra kịp thời các quyết sách liên quan đến cuộc khủng hoảng nợ tại Eurozone và "vách đá tài chính" ở Mỹ, bức tranh kinh tế thế giới sẽ khó tiến triển trong vòng hai năm tới
Năm 2012, trong khi kinh tế Châu Âu vẫn loay hoay với việc tìm cách thoát khỏi cuộc khủng hoảng nợ công, kinh tế Mỹ có phục hồi nhưng khá chậm chạp thì suy thoái kinh tế vẫn đang hiện hữu đối với nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là cuối nửa năm Xuất khẩu của Nhật Bản phải đối mặt với những cơn sóng ngược mạnh mẽ từ sự sụt giảm trong nhu cầu toàn cầu và đồng Yên tăng giá, thâm hụt thương mại đi đôi với thâm hụt ngân sách, tình hình giảm phát vẫn bao trùm nền kinh tế, áp lực chi ngân sách và nợ công đang gia tăng đi đôi với lãi s uất trái phiếu chính phủ khá cao Mặc dù Nhật bản đã đưa ra các gói
kích thích kinh tế và nới lỏng chính sách tiền tệ nhiều lần trong năm nhưng cũng không đủ
để tạo ra một tác động lớn đến nền kinh tế
Trong gần 2 thập kỷ qua, Nhật Bản gần như đã trở thành một quốc gia ít ảnh hưởng đối với nền kinh tế toàn cầu Sự trì trệ không có lối thoát đã khiến nền kinh tế một thời lớn thứ 2 thế giới không còn tào được nhiều lực tác động đối với thế giới bên ngoài Tuy nhiên, theo nhận định của tờ Wall Street Journal, thời kỳ đó nước Nhật đang đi vào hồi kết với những ảnh hưởng có thể là tốt mà cũng cố thể là xấu Báo cáo cho rằng, thủ tướng Shinzo Abe đang đưa ra một chính sách lớn để đưa đất nước thoát khỏi quỹ đạo của tăng trưởng èo uột và giảm phát
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KINH TẾ NHẬT BẢN
THỜI GIAN GẦN ĐÂY……… 3
1.1 Tổng quan về kinh tế thế giới………3
1.1.1 Kinh tế thế giới năm 2012……… 3
1.1.2 Những xu hướng k inh tế thế giới năm 2013……….7
1.2 Tổng quan về kinh tế Nhật Bản……… 12
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng k inh tế………12
1.2.2 Triển vọng k inh tế Nhật bản……… 14
CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHÍNH SÁCH KINH TẾ ABENOMICS TẠI NHẬT BẢN………16
2.1 Giới thiệu về chính sách Abenomics và nhận định của IMF về nền kinh tế Nhật Bản………16
2.1.1 Giới thiệu về chính sách Abenomics và so sánh với Reaganomics……….16
2.1.2 Nhận định của IMF về nền kinh tế Nhật bản………18
2.2 Hiệu quả của chính sách Abenomics đối với nền kinh tế Nhật Bản……… 19
2.3 Hạn chế của chính sách Abenomics và dự báo nền kinh tế của Nhật Bản nếu Abenomics không thành công……… 21
2.3.1 Hạn chế của chính sách Abenomics……… 22
2.3.2 Dự báo nền k inh tế Nhật Bản nếu Abenomics k hông thành công………23
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA ABENOMICS ĐẾN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI……….25
3.1 Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, Abenomics và chính sách xoay trục qua Châu Á của Mỹ……… 25
3.2 Thúc đẩy làn sóng đầu tư mới sang thị trường Châu Á, đặc biệt là Asean………… 27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………30
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ KINH TẾ NHẬT
BẢN THỜI GIAN GẦN ĐÂY
1.1 Tổng quan về kinh tế thế giới
1.1.1 Kinh tế thế giới năm 2012
Sau 5 năm vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái trầm trọng nhất từ trước đến nay, nền kinh tế thế giới bắt đầu le lói phục hồi, mặc dù chưa thật vững chắc do
Mỹ và các nước khu vực euro tiếp tục phải đối mặt với khó khăn tài chính
Theo đánh giá đưa ra vào tháng 11/2012 và thông tin cập nhật trong những ngày cuối năm của IMF và các tổ chức tài chính khu vực cùng các báo cáo quốc gia, kinh tế toàn cầu năm 2012 tiếp tục suy giảm và chỉ tăng 3,3%; các nền kinh tế mới nổi BRICS tăng 5-5,3%, thấp hơn kết quả đạt được 6,2% vào năm 2011; kinh tế châu Phi tăng 4,5%; kinh tế khu vực Mỹ La tinh và Caribê tăng 3,7%; riêng châu Á – Thái Bình Dương vẫn là khu vực có tốc độ tăng trưởng cao nhất 5,6% nhờ kinh tế Trung Quốc vẫn giữ được động lượng Kinh
tế các nước ASEAN cũng đạt tốc độ khá cao 5,2% nhờ nhu cầu nội địa tăng mạnh đã góp phần giảm nhẹ nhiều tác động tiêu cực do suy giảm xuất khẩu bắt nguồn từ suy thoái toàn cầu và tăng trưởng kinh tế chậm lại tại Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2012 VÀ DỰ BÁO NĂM 2013 (% )
Trang 5Châu Á – Thái Bình Dương 5,6 -
Cộng đồng các quốc gia độc lập CIS 4,2 4,1
(Nguồn: IMF, các tổ chức tài chính k hu vực, báo cáo quốc gia)
Mặc dù có tín hiệu phục hồi, nhưng kinh tế toàn cầu năm 2012 vẫn tăng thấp hơn so với những năm trước, nguyên nhân là do tăng trưởng thấp tại Mỹ và châu Âu và hai khu vực kinh tế này vẫn gặp khó khăn trong việc tái cân bằng thu chi tài chính Nhìn chung, tình hình tại các nước công nghiệp phát triển không mấy sáng sủa, nên kinh tế tiếp tục suy giảm
và chỉ tăng 1,4% trong năm nay, s au khi trượt dốc xuống 3,0% vào năm 2010 và xuống 1,6% trong năm 2011, mặc dù có thể nhích lên và tăng 1,6% vào năm 2013
Tăng trưởng thấp và bất ổn tại các nước phát triển đang tác động đến các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển thông qua các hoạt động thương mại và đầu tư Đáng chú ý, do nhu cầu nhập khẩu yếu ớt tại các nước phát triển, thương mại toàn cầu năm 2012 chỉ tăng 3,2%, trong khi năm 2011 tăng 5,8% và năm 2010 tăng 12,6% Tại các nền kinh tế mới nổi BRICS, tăng trưởng cũng giảm từ 6,2% năm 2011 xuống 5,3% trong năm nay Dẫn đầu nhóm BRICS là Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng năm 2012 là 8,0% và có thể vẫn tăng
Trang 67,5% vào năm 2013 Triển vọng kinh tế Ấn Độ không rõ ràng và chỉ tăng dưới 6%, mức thấp nhất trong 9 năm qua, kỳ vọng năm 2013 sẽ phục hồi và tăng trên 6%
Tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi, các nước nhập khẩu dầu mỏ tiếp tục đối mặt với bất ổn kinh tế và chính trị, dự kiến chỉ tăng 1,25% trong năm 2012 trước khi phục hồi vào năm sau Riêng các nước xuất khẩu dầu mỏ vẫn tăng khá và đạt 6,25% trong năm 2012 nhờ giá dầu tăng cao và sự phục hồi sản lượng dầu khai thác tại Arập Xêút và Libya, nhưng sau đó sẽ giảm tốc và chỉ tăng 3,75% trong năm 2013
Tại khu vực Mỹ latinh và Caribê, GDP tăng 3,7% vào nửa cuối năm 2012 và 4,7% trong nửa cuối năm 2013 Các nước trung Âu sẽ tăng 4% vào cuối năm 2013, cộng đồng các quốc gia độc lập tăng 4% vào cuối năm 2013, trong đó CHLB Nga tăng 3,7% Các nước cận Sahara tăng trung bình 5%, riêng Nam Phi vẫn trì trệ do có mối liên hệ chặt chẽ với châu Âu
Nhiều nhà đầu tư và phân tích tài chính cho rằng, kinh tế thế giới năm 2012 đã chạm đáy và sẽ phục hồi mạnh từ nửa cuối năm 2013, chủ yếu bắt nguồn từ các chỉ số kinh tế vĩ
mô tươi sáng tại Mỹ, nổi bật là tỉ lệ thất nghiệp trong tháng 11 đã giảm xuống 7,7%, mặc
dù còn cao hơn con số 6,5% vào thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính năm
2008 Đáng chú ý, mục tiêu giảm tỉ lệ thất nghiệp xuống 6,0-6,5% vào cuối năm 2015 do NHTW Mỹ đưa ra cũng tạo tâm lý phấn khích cho các nhà đầu tư
Đây là tín hiệu tích cực, góp phần giảm nhẹ tâm trạng lo âu của các nhà đầu tư Theo báo cáo do Fed đưa ra tại cuộc họp trong 2 ngày 10-11/12, kinh tế Mỹ dự báo sẽ tăng 1,5% trong năm nay, trước khi tăng 2,3-3% vào năm 2013 Theo đánh giá của cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) đưa ra ngày 06/12/2012, kinh tế khu vực euro năm 2012 suy giảm 0,4%, nhưng sẽ tăng 0,1% trong năm 2013; số liệu tương ứng tại 27 nước thành viên EU là -0,3% và 0,4%
Những ngày cuối năm 2012, các nước EU và khu vực euro đã thông qua nhiều giải
Trang 7đó, lãi suất trái phiếu của chính phủ Hy Lạp đã giảm đáng kể, đây là điều kiện thuận lợi để quốc gia này giảm chi phí vay vốn và có thể giảm tỉ lệ nợ công theo lộ trình đề ra Tại cuộc họp ngày 13/12 mới đây, các bộ trưởng tài chính EU đã nhất trí thành lập một cơ quan giám sát ngân hàng duy nhất trên toàn khu vực euro, một tổ chức cần thiết để đảm bảo ổn định tài chính tại khu vực euro và toàn EU, tiến tới thành lập liên minh ngân hàng và các bước tiếp theo trong quá trình nhất thể hóa châu Âu Tuy nhiên, khu vực euro còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến nguồn lực tài chính, năng lực cạnh tranh và thị trường lao động Theo nhận định của nhiều chuyên gia và nhà đầu tư, việc thắt chặt chi tiêu quá mức là nguyên nhân cơ bản đẩy khu vực euro lún sâu vào suy thoái, tỉ lệ thất nghiệp tăng từ 11,1% trong năm nay lên 12% vào năm 2012 và sẽ tiếp tục tăng cao trong thời gian tới
Bên cạnh triển vọng khả quan, kinh tế thế giới vẫn chứa đựng nhiều rủi ro, đòi hỏi các nước phải đẩy mạnh cải cách, nếu không kinh tế toàn cầu có thể sẽ rơi vào suy thoái và năm 2013 chỉ tăng 2% Giới quan sát tiếp tục tập trung sự chú ý vào các động thái của Trung Quốc, đặc biệt là khả năng thay thế mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu hiện nay bằng các động lực tăng trưởng trong nước theo hướng tăng cường cải cách thể chế, cải thiện cấu trúc công nghiệp và áp dụng tiến bộ công nghệ Đây là tiền đề cần thiết để thay đổi đặc tính tiết kiệm và tiêu dùng toàn cầu, vốn bị mất cân bằng trầm trọng trong những năm gần đây, tỉ lệ tiết kiệm cao ở Trung Quốc cùng với mức tiêu thụ tương tự ở Mỹ đã nhanh chóng biến Trung Quốc thành chủ nợ của Mỹ Tuy nhiên, nguồn tài sản tài chính khổng lồ với dự trữ ngoại tệ khoảng 3.200 tỉ USD và tài sản ngân hàng trị giá trên 15.000 tỉ USD tại Trung Quốc lại tương phản với chất lượng khá thấp, nên quốc gia này sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình chuyển đổi từ một cường quốc thương mại sang một cường quốc tài chính
Tương tự, nhiều nền kinh tế khác tại châu Á – Thái Bình Dương cũng đang đối mặt với yêu cầu phải thoát khỏi sự lệ thuộc vào xuất khẩu, góp phần giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu cực từ những biến động kinh tế toàn cầu trong tương lai Vì thế, tăng trưởng kinh tế năm
Trang 82013 tại khu vực này vẫn nằm dưới mức tiềm năng, không còn đạt tốc độ tăng trưởng cao như đã đạt được trong thập kỷ qua Châu Á – Thái Bình Dương cũng là khu vực tập trung phần lớn dân số thế giới, nên tăng trưởng cao là đòi hỏi cần thiết, nhưng việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững theo hướng cân bằng cung cầu đòi hỏi phải có thời gian, trong khi đói nghèo đang hoành hành nhiều nước Nam Á và Tây Nam Á với trên 500 tiệu người sống dưới mức nghèo theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc, chiếm khoảng 44% số người nghèo trên toàn thế giới
Nhìn chung, tình hình kinh tế thế giới năm 2012 và những năm tiếp theo phụ thuộc vào nỗ lực cải cách tại Mỹ, khu vực euro và Trung Quốc, đây là những khu vực trọng điểm trong nền kinh tế thế giới
1.1.2 Những xu hướng kinh tế thế giới năm 2013
Năm 2012 là thời điểm mà nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng "u ám nhất" kể từ năm 2009 đến nay; tuy nhiên, năm 2013, nhất là từ nửa cuối năm, sẽ đậm dần xu hướng có
sự cải thiện nhẹ và sẽ được tiếp nối bởi với những điểm nhấn nổi bật
Thứ nhất, xu hướng cải thiện nhẹ về tăng trưởng kinh tế sẽ đậm dần ở hầu hết các
khu vực, khối và quốc gia trước khi đạt mức bình thường trong giai đoạn 2014-2015 và tiếp theo
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo, năm 2013 kinh tế toàn cầu tăng trưởng 3,6% so với mức dưới 3,5% của năm 2012; trong đó, các nền kinh tế phát triển tăng 1,5%; các nền kinh tế mới nổi tăng 5.6%; Eurozone tăng 0.5%; châu Phi tăng 5.31-%; Trung Đông tăng 3.7% Còn Ngân hàng châu Á (ADB) thì cho rằng kinh tế Nhật Bản sẽ chỉ còn tăng trưởng 1,3%; kinh tế Ấn Độ sẽ tăng trưởng 6,7%; Đông Á tăng trưởng 7,1% và nhìn chung châu Á vẫn còn không gian cho việc mở rộng chính sách tài chính-tiền tệ nhằm kích thích tăng trưởng năm 2013
Trang 9Về tổng thể, khủng hoảng kinh tế toàn cầu sẽ lên tới đỉnh điểm vào nửa đầu năm
2013 và sẽ sáng s ủa dần từ nửa cuối 2013 do tác động tích cực lan toả của các chính sách nới lỏng, kích thích kinh tế của các nước, nhưng với một số nước lại dường như xấu đi rõ rệt nếu không kịp thời tiến hành những giải pháp và phuơng án chủ động ứng phó hữu hiệu với nguy cơ này
Trọng tâm ưu tiên kinh tế của thế giới năm 2013 vẫn là giải quyết cuộc khủng hoảng tại Eurozone, duy trì niềm tin vào đồng euro, củng cố và khai thác tiềm năng đổi mới, phối hợp vượt qua khủng hoảng của mỗi nước và trên toàn cầu Đặc biệt, gói QE3 của FED sẽ kích thích sự phục hồi kinh tế Mỹ, từ đó có tác động tích cực tới kinh tế toàn cầu; nước Mỹ
có nhiều kỳ vọng trở lại vị trí tạo nguồn động lực phát triển cho thế giới thay và bổ s ung cho sự suy giảm ít nhiều vai trò này của các nước BRICs Đồng thời, với mức tăng trưởng 4,5% trong năm 2013 so với mức 4,2% trong năm 2012 (trong đó Đông - Nam Á tăng trưởng tới 5,6% thay vì 5,2% như năm 2012), APEC đã, đang và sẽ vẫn là khu vực kinh tế động lực ổn định của thế giới
Thứ hai, xu hướng thất nghiệp và nợ công cao sẽ còn tiếp diễn
Do mức tăng trưởng kinh tế chưa đủ mạnh, nên tốc độ tăng trưởng việc làm ở các quốc gia hàng đầu thế giới hiện nay là không đủ Mức tăng của nhóm G20 chỉ khoảng 1% mỗi năm, trong khi nhu cầu tối thiểu là 1,3% trong 4 năm tới; Vì vậy, nhìn chung năm
2013 s ẽ tiếp tục xu hướng thất nghiệp cao và nợ công cao, với mức thất nghiệp ở Mỹ và châu Âu sẽ ở mức 8-10% trong cả năm 2013
Nợ công sẽ tiếp tục đè nặng lên hầu hết các nước trên thế giới trong năm 2013, thậm chí nợ ngày càng trở thành căn bệnh mãn tính, phổ biến và đặc trưng có tính chất thời đại, hầu như không loại trừ bất kỳ doanh nghiệp và quốc gia nào Thực tế đang cho thấy ngày càng đậm hơn xu hướng tương tác lợi ích giữa các chủ nợ và con nợ, cũng như sự chuyển hóa và chế định lẫn nhau giữa nợ công và nợ tư Một mặt, nợ công được tài trợ bởi nguồn vốn tư nhân đã trở thành phổ biến qua việc phát hành các công cụ nợ công, như trái phiếu
Trang 10chính phủ, trái phiếu kho bạc nhà nước và các chứng khoán nợ khác Mặt khác, khi có sự
cố lớn trên thị trường nợ tư nhân, gây nguy cơ đổ vỡ kinh tế và sự giảm mạnh các nguồn thu NSNN trong nước, thì dù muốn hay không, sớm hay muộn, chính phủ đều buộc phải viện đến các gói hỗ trợ và tăng chi tiêu công trị giá nhiều tỷ USD nhằm phong tỏa các nguy
cơ và hệ quả tiêu cực, bảo đảm an sinh xã hội, kích cầu, giải cứu nợ và giữ ổn định nền kinh tế Điều này trực tiếp và gián tiếp dẫn đến áp lực tăng nợ công, cũng như nợ nước ngoài ở hàng loạt nước
Thị trường nợ và các hoạt động mua-bán nợ dường như ngày càng là thị trường sôi động nhất, đồng thời, đang và sẽ không ngừng gia tăng cả về yêu cầu, quy mô và sự đa dạng hoá các sản phẩm, cùng các dịch vụ hỗ trợ cần thiết Nợ và các điều kiện về nợ ngày càng trở thành tác nhân và công cụ mạnh mẽ chi phối đời sống chính trị và chính sách quốc gia
Quan điểm và quá trình xử lý nợ không chỉ phản ánh quan điểm chính trị, lợi ích và tương quan lực lượng xã hội trong nước và quốc tế, mà còn phản ánh vị thế của con nợ và chủ nợ Trong quá trình xử lý nợ, nhiều nuớc cần đến các gói giải cứu của các nước, tổ chức tài chính khu vực và quốc tế, s ong không phải lúc nào cũng “xuôi chèo mát mái” Những điều kiện tín dụng ngày càng ngặt nghèo, nhất là tạo áp lực thắt chặt chi tiêu, sẽ kéo theo những hệ quả khôn lường nhiều mặt, từ sự suy giảm kinh tế, những cuộc biểu tình đòi tăng chi hỗ trợ an sinh xã hội, giúp doanh nghiệp vượt khó, đến những cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm và kiến nghị đòi từ chức, thay đổi nhân sự chính quyền cấp cao… Đặc biệt, từ vấn đề kinh tế thuần tuý, nợ đang có khuynh hướng nâng cấp và “đổi màu” trở thành vấn
đề kinh tế-xã hội, thậm chí, tạo áp lực làm sụp đổ cả ê-kíp chính phủ hoặc liên minh chính trị
Thứ ba, xu hướng nới lỏng tài chính-tiền tệ và áp lực lạm phát sẽ tiếp tục
Năm 2013, song s ong với việc thực thi những biện pháp thắt lưng buộc bụng để cắt giảm nợ và thâm hụt ngân sách, sẽ có sự tiếp tục duy trì xu hướng nới lỏng chính sách tài
Trang 11chính-tiền tệ chung trên phạm vi toàn cầu mà đã được tăng cường đáng kể từ nửa cuối năm
2012, đặc biệt từ 3 s ự kiện: (1) Ngày 6/9/2012, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã quyết định mua không hạn chế trái phiếu chính phủ của các nước thành viên trên thị trường thứ cấp với thời gian đáo hạn 1-3 năm và giữ nguyên lãi suất chủ chốt ở mức thấp kỷ lục 0,75%; (2) Ngày 12-9-2012, Tòa án Hiến pháp Đức tuyên bố mở đường cho Đức tiếp vốn cho khu vực đồng Euro châu Âu vượt qua khủng hoảng thông qua cơ chế ESM - quỹ cứu trợ vĩnh viễn quy mô 500 tỷ EUR của Eurozone và thay thế quỹ cứu trợ tạm thời mang tên
Cơ chế Bình ổn Tài chính châu Âu (EFSF) hết hiệu lực từ tháng 7/2012; (3) Ngày 13/9/2012, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ quyết định sẽ áp dụng Chương trình nới lỏng định lượng mở (QE3) bằng việc mua vào các chứng khoán thế chấp với quy mô 40 tỷ USD mỗi tháng cho tới khi thị trường việc làm cải thiện; Đồng thời, FED giữ nguyên lãi suất cơ bản gần bằng 0% được FED thực hiện từ tháng 12/2008 cho tới giữa năm 2015, thay vì cuối năm 2014 như những cam kết trước đây để hỗ trợ nền kinh tế Mỹ
Ngoài ra, cùng thời gian này các ngân hàng trung ương ở Anh, Brazil, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng liên tiếp tuyên bố duy trì lãi suất ở mức thấp và triển khai các gói hỗ trợ quy mô lớn để kích thích kinh tế mỗi nước trước sức ép suy giảm đang đè nặng lên mỗi nước… Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) trong tháng 9/2012 cũng tuyên bố duy trì lãi s uất ở mức thấp lịch sử 0.5% từng được BoE áp dụng trong 3 năm qua Đồng thời, BoE còn quyết định giữ nguyên quy mô của chương trình nới lỏng định lượng (QE) ở mức 375 tỷ bảng Anh (596 tỷ USD)
Giữa tháng 9/2012, Ủy ban Cải cách và Đổi mới quốc gia Trung Quốc (NDRC) đã chấp thuận gói kích thích kinh tế mới khoảng 1.000 tỷ NDT (158 tỷ USD), tương đương 2% GDP để xây dựng 25 dự án đường sắt đô thị, 13 dự án đường cao tốc, 7 đường thủy giao thông và 9 nhà máy xử lý nước thải trong vài bai năm tới Hàn Quốc đầu tháng 09/2012 đã công bố một kế hoạch trị giá 5,23 tỷ USD để kích thích tăng trưởng kinh dưới dạng giảm thuế thu nhập cho cá nhân và thuế đánh vào các giao dịch mua nhà hoặc xe, đồng thời mở rộng các chương trình phúc lợi xã hội
Trang 12Mới đây nhất, ngày 11/1/2013, Chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe - Nhật bản đã chính thức thông qua gói kích thích kinh tế kết hợp của tăng chi tiêu công và nới lỏng tiền
tệ trị giá hơn 20.200 tỷ Yên (226,5 tỷ USD) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững bằng cách khuyến khích đầu tư tư nhân, tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu của doanh nghiệp Nhật Bản, cũng như tiến hành các dự án công quy mô lớn tái thiết đất nước sau thảm họa động đất-sóng thần hồi tháng 3/2011 Cùng với xu hướng nới lỏng chính sách tài chính-tín dụng nêu trên là những quan ngại ngày càng gia tăng về mức lạm phát trên thế giới
Thứ tư, xu hướng đàm phán FTA và hoạt động M&A và sẽ được tăng cường hơn Đặc biệt, trong bối cảnh khó khăn phát triển khiến thị trường các quốc gia đều thu hẹp do người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, cũng như do sự gia tăng hàng rào bảo hộ kỹ thuật, thì năm 2013 sẽ tiếp tục ghi nhận nhiều nỗ lực thành lập các FTA ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương nhằm tăng cường quan hệ đối tác của một loạt nước, như thành lập Khu vực tự do thương mại xuyên Thái Bình Dương-TPP, sự mời gọi tham gia FTA 3 nước Nga-Belarut-kazacxtan; cũng như ý tưởng vận động thành lập FTA bao quát 16 nước khu vực châu Á-TBD; khởi động đàm phán FTA Việt Nam-Hàn Quốc, Việt Nam-EU triển khai các hoạt động và cam kết giữa các nước về duy trì các thị trường tự do và thị trường mở, thực hiện cam kết bãi bỏ các biện pháp hạn chế hiện hành, chống các biện pháp bảo hộ mậu dịch mới nhằm hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế khu vực cũng như toàn cầu
Những năm tới sẽ chứng kiến sự gia tăng khá mạnh mẽ các hoạt động dịch chuyển các dòng vốn quốc tế cả trực tiếp và gián tiếp, các hoạt động M&A quốc tế Các quỹ đầu tư nước ngoài đang tích cực điều chỉnh định hướng đầu tư của mình theo hướng gia tăng nguồn vốn đổ vào các thị trường Đông - Nam Á Đầu tư vào các nước đang phát triển thông qua hình thức M&A giữa các tập đoàn kinh tế sẽ tăng thêm và ngay trong từng quốc gia hình thức M&A cũng gia tăng, các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia (TNC) s ẽ tăng thêm không chỉ về số lượng mà cả về quy mô
Trang 13Các liên kết kinh tế song phương, khu vực và đa phương tiếp tục mở rộng, trở thành một trong những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế và khu vực Các vấn đề phát triển được giải quyết trên phạm vi toàn cầu, song lợi ích quốc gia đều được các nước coi trọng và đặt lên hàng đầu…
1.2 Tổng quan về kinh tế Nhật Bản
1.2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản năm 2012 có 2 chiều hướng khá rõ rệt Nửa đầu năm là sự tăng trưởng GDP khá ngoạn mục chủ yếu nhờ công cuộc tái thiết và phục hồi từ thảm họa động đất và sóng thần năm 2011 GDP quý 1 của nước này tăng 1% so với quý 4/2011, tăng 4,7% s o với cùng kỳ năm 2011; và quý 2 đạt 1,3% so với quý 1 Sự phục hồi ổn định của các ngành nghề sau thảm họa động đất – sóng thần là nguyên nhân chính khiến kinh tế Nhật Bản đạt mức tăng trưởng cao trong nửa đầu năm Tuy nhiên, tăng trưởng chậm lại ở Trung Quốc, cuộc khủng hoảng nợ Châu Âu và đồng yên liên tục tăng giá mạnh so với đô la Mỹ làm xói mòn những nguồn thu từ nước ngoài khiến GDP quý 3
và quý 4 liên tiếp suy giảm Tăng trưởng GDP quý 2 của Nhật Bản đạt mức 1,4% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ chưa đầy 1/3 con số 5,5% của quý 1 Trong quý 3 vừa qua, GDP đã giảm 0,9% s o với quý trước và giảm 3,5% so với cùng kỳ năm ngoái Đây là quý thứ 2 liên tiếp nền kinh tế nước này suy giảm Nền kinh tế của Nhật Bản có thế đã rơi vào giai đoạn suy thoái do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu và kinh tế toàn cầu suy yếu
- Sản xuất công nghiệp sụt giảm mạnh:
Giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu năm 2012 của Nhật tăng mạnh trong tháng
3 và tháng 4 chủ yếu do nhu cầu bên ngoài và tái thiết đất nước sau thảm họa sóng thần
đã thúc đẩy sản lượng của các nhà máy, nhưng liên tiếp sụt giảm trong các tháng tiếp theo Sản lượng công nghiệp tháng 9 của nước này giảm 4,1% s o với tháng trước đó Trong tháng 8, tốc độ này chỉ là 1,6%, nhưng trong tháng 10 lại tăng 1,8% so với tháng 9
Trang 14- Thặng dư tài k hoản vãng lai của Nhật Bản ở mức thấp nhất trong lịch sử
Tính đến hết tháng 10/2012, mức thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật đạt 5273 tỷ Yên Năm 2011, do ảnh hưởng của khủng hoảng kép động đất, sóng thần, thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật là 9628,9 tỷ Yên, giảm 44% so với năm 2010 và là mức giảm mạnh nhất trong 15 năm Xuất khẩu của Nhật đã giảm xuống đến mức thấp kỷ lục do hậu quả của động đất, sóng thần năm 2011, cũng như do suy thoái kinh tế thế giới, đồng Yên mạnh và cuộc trang chấp lãnh thổ kéo dài với Trung Quốc, do đó, thâm hụt thương mại của Nhật Bản tăng vọt
- Tình trạng giảm phát vẫn bao trùm
Khi nói về tỷ lệ lạm phát ở Nhật Bản, điều này thường đề cập đến tỷ lệ lạm phát trên
cơ sở chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số CPI của Nhật cho thấy sự thay đổi trong giá của một gói tiêu chuẩn hàng hóa và dịch vụ mà các hộ gia đình Nhật mua để tiêu thụ
an toàn do: trái phiếu chính phủ ổn định và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế; phần lớn nợ công Nhật nằm trong tay các nhà đầu tư nội địa; hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật hiệu quả và nguồn dự trữ ngoại tệ mạnh
Trang 151.2.2 Triển vọng kinh tế Nhật Bản
Đánh giá về triển vọng kinh tế Nhật Bản, tất cả các tổ chức như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Liên Hiệp Quốc, chính phủ Nhật Bản, tạp chí kinh tế :L’Expansion” của Pháp … đều cắt giảm dự báo tăng trưởng của nước này trong năm tới
Trong báo cáo triển vọng kinh tế thế giới năm 2013, Liên hiệp quốc đánh giá nền kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng chậm do việc loại bỏ dần các biện pháp khuyến khích tiêu dùng cá nhân cùng với biện pháp tăng thuế tiêu dùng mới, cắt giảm lợi ích hưu trí, và cắt giảm chi tiêu của chính phủ GDP được dự báo tăng trưởng ở mức 0.6% vào năm 2013 và 0.8% vào năm 2014, giảm từ 1.5% trong năm 2012
Tạp chí “L’Expansion” của Pháp dự báo nền kinh tế Nhật sẽ gặp khó khăn trong năm
2013 vì sẽ không còn tận dụng được ưu thế của việc tái xây dựng thời kỳ hậu thảm họa sóng thần, đồng yên sẽ tiếp tục tăng giá làm ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu của nước này Thêm vào đó, khủng hoảng ngoại giao giữa Nhật Bản và Trung Quốc còn nhiều dư chấn Hãng sản xuất ô tô Toyota của Nhật đã từ bỏ chi tiêu 10 triệu sản phẩm trong năm 2012 do phong trào bài Nhật nổi lên ở Trung Quốc khiến doanh s ố bán ra của Toyota ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bị sụt giảm Số du khách Trung Quốc đến Nhật bản đã và sẽ tiếp tục giảm
Quỹ tiền tế Quốc tế (IMF) đã cắt giảm dự báo tăng trưởng của Nhật trong năm 2012
và năm 2013, do lại ngại sự suy giảm trong chi tiêu tái thiết sau thảm họa sẽ đè nặng lên nền kinh tế lớn thứ ba thế giới Theo dự báo mới nhất về triển vọng kinh tế thế giới, IMF
dự báo nền kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng tương ứng 2,2% và 1,2% năm 2012 và 2013; giảm so với dự bảo tháng bẩy 2,4% và 1,5% Tăng trưởng kinh tế Nhật Bản đã giảm 0,7% vào năm 2011 do trận động đất sóng thần vào tháng 3 dẫn đến cuộc khủng hoảng hạt nhân Phần lớn sự tăng trưởng gần đâu là do hoạt động tái thiết và phục hồi một số hoạt động sản xuất trong nửa đầu của năm sau các cú sốc năm 2011 Các chi tiêu liên quan đến tái thiết sau trận động đất đã hỗ trợ cho sự tăng trưởng trong năm 2012 nhưng sẽ giảm mạnh trong