1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam

165 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Người hướng dẫn TS. Đặng Anh Tuấn
Trường học Trường Đại học Thủ Dầu Một
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Bình Dương
Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 6,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (14)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (19)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (19)
    • 2.2. Câu hỏi nghiên cứu (19)
  • 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, khảo sát (20)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (20)
    • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (20)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (20)
  • 5. Đóng góp của nghiên cứu dự kiến (20)
  • 6. Kết cấu của luận văn (21)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ CÁC THỦ TỤC KIỂM TOÁN NHẰM PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT (22)
    • 1.1. Khái quát chung quản trị lợi nhuận (QTLN) (22)
      • 1.1.1. Khái niệm về quản trị lợi nhuận (22)
      • 1.1.2. Phân loại hành vi quản trị lợi nhuận (23)
      • 1.1.3. Động cơ dẫn đến hành vi Quản trị lợi nhuận (24)
      • 1.1.4. Các kỹ thuật thực hiện quản trị lợi nhuận thông qua việc vận dụng các phương pháp kế toán (27)
        • 1.1.4.1. Quản trị lợi nhuận thông qua việc lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán (27)
        • 1.1.4.2. Quản trị lợi nhuận thông qua lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và thực hiện các ước tính kế toán (29)
    • 1.2. Khái quát chung về gian lận tài chính (30)
      • 1.2.1. Khái niệm về gian lận tài chính (30)
      • 1.2.2. Động cơ thực hiện gian lận trên báo cáo tài chính (31)
      • 1.2.3. Dấu hiệu gian lận thông tin trên báo cáo tài chính (33)
      • 1.2.4. Những thủ thuật gian lận báo cáo tài chính chủ yếu (36)
        • 1.2.4.1. Tăng vốn ảo thông qua sử dụng Các công ty con còn gọi tắt là SPE (Special Purpose Entity) (36)
        • 1.2.4.2. Điều chỉnh doanh thu, lợi nhuận (36)
        • 1.2.4.3. Thực hiện các giao dịch khống để rút tiền vay ngân hàng thông qua các SPE (38)
        • 1.2.4.4. Một số hình thức gian lận báo cáo tài chính khác (39)
    • 1.3. Ảnh hưởng của gian lận báo cáo tài chính tới các đối tượng sử dụng thông (41)
    • 1.4. Kiểm toán gian lận trong báo cáo tài chính (43)
      • 1.4.1. Vai trò của kiểm toán gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính (43)
      • 1.4.2. Khái quát chung về kiểm toán gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính (44)
      • 1.4.3. Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính (45)
      • 1.4.4. Yêu cầu đối với kiểm toán viên khi kiểm toán gian lận báo cáo tài chính (48)
        • 1.4.4.1. Yêu cầu về đảm bảo thái độ hoài nghi nghề nghiệp (48)
        • 1.4.4.2. Thảo luận trong nhóm kiểm toán (49)
      • 1.4.5. Thủ tục kiểm toán gian lận báo cáo tài chính trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán (50)
        • 1.4.5.1. Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan (50)
        • 1.4.5.2. Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận (52)
      • 1.4.6. Thủ tục kiểm toán đối phó gian lận trong giai đoạn thực hiện và kết thúc kiểm toán (53)
    • 1.5. Các lý thuyết nền tảng được vận dụng để nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận doanh nghiệp (57)
      • 1.5.1. Lý thuyết ủy nhiệm (57)
      • 1.5.2. Lý thuyết tín hiệu (59)
    • 1.6. Kết luận Chương 1 (60)
  • CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUA ÁP DỤNG CÁC THỦ TỤC KIỂM TOÁN (62)
    • 2.1. Giới thiệu (62)
    • 2.2. Thiết kế nghiên cứu (62)
      • 2.2.1. Xây dựng thang đo sơ bộ (63)
      • 2.2.2. Nghiên cứu định tính bước nghiên cứu sơ bộ (65)
      • 2.2.3. Mô hình các thủ tục kiểm toán phát hiện gian lận báo cáo tài chính và giả thuyết nghiên cứu (68)
      • 2.2.4. Thiết kế mẫu (71)
      • 2.2.5. Thu thập dữ liệu (71)
      • 2.2.6. Quy trình phân tích dữ liệu (72)
    • 2.3. Khảo sát thực trạng áp dụng mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận báo cáo tài chính thông qua kiểm toán (73)
      • 2.3.1. Thống kê mô tả mẫu (73)
      • 2.3.2. Kết quả mô hình đo lường kết quả (78)
        • 2.3.2.1. Kiểm định độ tin cậy tổng hợp và giá trị hội tụ (78)
        • 2.3.2.2. Kiểm định giá trị phân biệt (81)
      • 2.3.3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc (85)
        • 2.3.3.1. Đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến (85)
        • 2.3.3.2. Đánh giá sự phù hợp các mối quan hệ (86)
        • 2.3.3.3. Đánh giá hệ số xác định R 2 (89)
        • 2.3.3.4. Đánh giá hệ số tác động f 2 (89)
    • 2.4. Thực trạng áp dụng mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận báo cáo tài chính thông qua kiểm toán (90)
      • 2.4.1. Thủ tục kiểm toán Ghi nhận sớm doanh thu khi hợp đồng bán hàng có điều khoản đặc biệt kèm theo (91)
      • 2.4.2. Thủ tục kiểm toán các điều khoản liên quan tới chuyển tiền lòng vòng 79 2.4.3. Thủ tục kiểm toán các điều khoản liên quan tới ghi nhận sớm (92)
      • 2.4.4. Thủ tục kiểm toán các điều khoản liên quan tới ghi nhận sớm trước giao hàng (93)
      • 2.4.5. Thủ tục kiểm toán các điều khoản liên quan tới thủ tục giảm giá vốn hàng bán (94)
    • 2.5. Kết luận chương 2 (95)
  • CHƯƠNG 3. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (96)
    • 3.1. Kết luận (96)
    • 3.2. Hàm ý chính sách (98)
      • 3.2.1. Cần ban hành hướng dẫn các thủ tục kiểm toán phát hiện gian lận BCTC (100)
      • 3.2.2. Cần tập trung hơn nữa về đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực (100)
      • 3.2.3. Tăng cường giám sát chất lượng kiểm toán (100)
    • 3.3. Một số hạn chế và gợi ý nghiên cứu trong tương lai của đề tài (101)
      • 3.3.1. Hạn chế nghiên cứu (102)
      • 3.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (102)
  • KẾT LUẬN (103)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (104)
  • PHỤ LỤC (115)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là phát triển mô hình quản trị lợi nhuận nhằm đề xuất các thủ tục kiểm toán hiệu quả để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam.

- Tổng quan các mô hình phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận và các hành vi gian lận BCTC;

Xác định các thủ tục kiểm toán thích hợp là rất quan trọng để phát hiện gian lận báo cáo tài chính (BCTC) dựa trên các dấu hiệu và hình thức gian lận của các công ty niêm yết tại Việt Nam Việc áp dụng các phương pháp kiểm toán hiệu quả sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin tài chính, từ đó bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và duy trì sự ổn định của thị trường.

- Đề xuất và đánh giá sự phù hợp của mô hình các thủ tục kiểm toán nhằm nâng cao khả năng phát hiện gian lận BCTC.

Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi số 1: Mô hình thống kê nào phù hợp phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính?

Câu hỏi số 2: Các nhân tố nào ảnh hưởng tới hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính?

Câu hỏi số 3: Mô hình vận dụng các thủ tục kiểm toán phù hợp nhằm nâng cao khả năng phát hiện gian lận BCTC?

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua 2 bước: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định tính chủ yếu sử dụng kỹ thuật thảo luận tay đôi nhằm xác định các yếu tố và dấu hiệu gian lận trên báo cáo tài chính (BCTC) Qua đó, các thủ tục kiểm toán phù hợp được đề xuất để phát hiện gian lận, dựa trên kinh nghiệm của các chuyên gia và người hành nghề kiểm toán.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện dựa trên mô hình nghiên cứu xác định từ tổng kết các nghiên cứu trước và thảo luận tay đôi (nghiên cứu định tính) trong bước nghiên cứu sơ bộ Trong bước nghiên cứu chính thức, tác giả sử dụng phần mềm SmartPLS 4.0.8.5 để kiểm định mô hình đo lường kết quả và mô hình cấu trúc tuyến tính – SEM.

- Thực hiện khảo sát: Trong thời gian từ tháng 09 đến tháng 11/2022.

Đóng góp của nghiên cứu dự kiến

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ một phần nguyên nhân khiến nghề nghiệp kiểm toán thường gặp khó khăn trong việc phát hiện gian lận.

BCTC hiện nay chưa nhận thức đầy đủ về các hành vi gian lận, dẫn đến các thủ tục kiểm toán không hiệu quả trong việc phát hiện gian lận phức tạp Nghiên cứu đề xuất mô hình kiểm toán với 5 nhóm thủ tục nhằm phát hiện sai sót trong ghi nhận doanh thu và giá vốn hàng bán Trong đó, thủ tục kiểm toán phát hiện gian lận giá vốn được các kiểm toán viên chuyên nghiệp áp dụng hiệu quả, trong khi các thủ tục khác như kiểm tra dấu hiệu bất thường từ thỏa thuận đặc biệt và giao dịch ảo cần được xem xét kết hợp Kết quả cho thấy việc phân công kiểm toán viên thực hiện các thủ tục độc lập cho từng khoản mục không phù hợp để phát hiện gian lận trong BCTC.

- Đề xuất mô hình vận dụng các thủ tục kiểm toán để phát hiện gian lận BCTC

Đánh giá vai trò của từng nhóm thủ tục kiểm toán là rất quan trọng để nhận diện các dấu hiệu gian lận Điều này sẽ giúp các kiểm toán viên định hướng tốt hơn trong việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp.

Kết cấu của luận văn

Luận văn được cấu trúc thành ba chương, bao gồm phần mở đầu và kết luận Chương 1 tập trung vào cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận và các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết.

Chương 2 – Khảo sát hành vi quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng tới gian lận báo cáo tài chính qua áp dụng các thủ tục kiểm toán

Chương 3 – Kết luận và hàm ý chính sách

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ CÁC THỦ TỤC KIỂM TOÁN NHẰM PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT

Khái quát chung quản trị lợi nhuận (QTLN)

Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định là sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tài chính Theo chế độ kế toán hiện hành, doanh nghiệp phải áp dụng phương pháp kế toán dồn tích, ghi nhận doanh thu và chi phí tại thời điểm phát sinh, bất kể việc thu chi bằng tiền đã diễn ra hay chưa Tuy nhiên, chế độ kế toán cũng cho phép doanh nghiệp lựa chọn một số phương pháp và ước tính kế toán khi ghi nhận doanh thu và chi phí, tạo điều kiện cho nhà quản lý có thể điều chỉnh thông tin lợi nhuận trên báo cáo tài chính.

1.1.1 Khái niệm về quản trị lợi nhuận Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm về QTLN, trong đó Schipper

QTLN được định nghĩa là sự điều chỉnh lợi nhuận để đạt mục tiêu của nhà quản trị, theo quan điểm của tác giả (1989) Đây là một can thiệp có tính toán trong cung cấp thông tin tài chính nhằm phục vụ mục đích cá nhân Levitt (1998) cho rằng QTLN là hiện tượng kế toán bị sai lệch do nhà quản trị "cắt gọt" các khía cạnh của nó, dẫn đến báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh mong muốn của nhà quản trị hơn là tình hình tài chính thực tế Tuy nhiên, quan điểm này đã được Healy và Wahlen (1999) mở rộng, cho rằng QTLN xảy ra khi nhà quản trị sử dụng ước tính kế toán hoặc giao dịch nội bộ để tác động đến báo cáo tài chính, làm cho người sử dụng thông tin hiểu sai về tình hình hoạt động của công ty hoặc ảnh hưởng đến các hợp đồng dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán.

Hành vi QTLN là thuật ngữ tài chính liên quan đến các hành động của nhà quản trị ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện qua BCTC, nhằm tạo ra hình ảnh tài chính mong muốn Tuy nhiên, QTLN có thể khiến nhà đầu tư hiểu sai về tình hình tài chính thực tế của công ty Các nhà quản trị thực hiện QTLN với nhiều mục đích, như thu lợi nhuận từ giao dịch trên thị trường vốn hoặc giảm thiểu chi phí trong phát hành cổ phiếu và mua bán sáp nhập Mặc dù hành vi này không vi phạm pháp luật và được chấp nhận trong kế toán, nhưng nó có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của phần lớn nhà đầu tư, đặc biệt khi công ty gặp vấn đề về khả năng thanh toán, dẫn đến thâm hụt lớn.

1.1.2 Phân loại hành vi quản trị lợi nhuận

Theo nghiên cứu của Miloud (2014) thì hành vi QTLN có thể được phân thành 2 nhóm dựa vào cách thức thực hiện, bao gồm:

QTLN, theo định nghĩa của Gordon (1964), là hành vi quản lý thu nhập dựa trên cơ sở dồn tích (AEM), thông qua việc linh hoạt lựa chọn các chính sách và ước tính kế toán phù hợp với quy định Ví dụ, nhà quản lý có thể điều chỉnh các chính sách như dự phòng, khấu hao và phương pháp xuất kho để thực hiện QTLN.

QTLN, hay Quản trị lợi nhuận dựa trên các hoạt động kinh doanh thực tế (Real Earnings Management - REM), là hành động mà nhà quản lý can thiệp vào các nghiệp vụ kinh tế để điều chỉnh mức độ hoạt động của doanh nghiệp Mục tiêu của việc này là nhằm thay đổi lợi nhuận theo ý muốn, từ đó tạo ra sự hiểu lầm cho các bên liên quan về các mục tiêu báo cáo tài chính mà doanh nghiệp đã đạt được trong quá trình hoạt động.

Để đạt được mục tiêu lợi nhuận, nhà quản lý thường điều chỉnh các hoạt động tối ưu như áp dụng chính sách chiết khấu hoặc kéo dài thời hạn thanh toán nhằm tăng doanh thu Họ cũng có thể giảm chi phí nghiên cứu và phát triển hoặc thực hiện sản xuất thái quá vào cuối năm, dẫn đến việc tăng hàng tồn kho, giảm giá vốn và từ đó tăng lợi nhuận cho năm hiện tại.

Trong một doanh nghiệp, nhà quản trị hiểu rõ hoạt động và cơ hội kinh doanh hơn so với bên ngoài, do đó, việc lựa chọn chính sách và ước tính kế toán phù hợp là cần thiết để duy trì sự ổn định Tuy nhiên, nhà quản trị cũng có thể sử dụng ghi nhận kế toán theo cơ sở dồn tích để điều chỉnh mức lợi nhuận nhằm đạt được các mục tiêu mong muốn.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra động cơ thúc đẩy hành vi QTLN của nhà quản trị Healy (1985) phát hiện rằng các khoản dồn tích được sử dụng để tối đa hóa thưởng Watts và Zimmerman (1990) cho rằng nhà quản lý điều chỉnh lợi nhuận từ tương lai về kỳ kế toán hiện tại để nhận thưởng dựa trên kết quả lợi nhuận Healy và Wahlen (1999) xác định ba động lực chính dẫn đến hành vi QTLN: kỳ vọng thị trường vốn, hợp đồng bằng văn bản liên quan đến số liệu kế toán, và phản ứng với quy định chính phủ Burgstahler và Eames (2006) nghiên cứu vai trò của thị trường vốn và nhận thấy hành vi QTLN gia tăng khi cần đáp ứng kỳ vọng của các nhà phân tích và dự báo quản lý.

Có nhiều nguyên nhân thúc đẩy nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) Tác giả đã khái quát một số động cơ điều chỉnh lợi nhuận phổ biến.

Hợp đồng quản lý thường quy định thù lao cho nhà quản lý dựa trên tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận Các doanh nghiệp niêm yết thường có thỏa thuận rõ ràng về việc trả lương hoặc thưởng cho các nhà quản lý, nhằm khuyến khích họ đạt được hiệu quả cao trong công việc.

Theo lý thuyết ủy nhiệm, nhà quản lý thường hành động để tối đa hóa lợi ích cá nhân thay vì vì lợi ích của bên ủy nhiệm Khi hợp đồng thù lao dựa trên các chỉ tiêu như doanh thu hoặc lợi nhuận, điều này sẽ khuyến khích nhà quản lý thực hiện hành vi quản lý tài chính hiệu quả.

Nhà quản lý có động cơ QTLN khi kết quả kinh doanh không đạt mục tiêu đề ra, với lợi nhuận thực có thể cao hoặc thấp hơn kỳ vọng của cổ đông và yêu cầu hợp đồng quản lý Khi lợi nhuận thực thấp hơn mục tiêu, nhà quản lý có thể điều chỉnh lợi nhuận bằng cách chuyển lợi nhuận từ tương lai về kỳ kế toán hiện tại hoặc sử dụng xét đoán trong kế toán để tăng lợi nhuận nhằm đạt thưởng Nếu hợp đồng thù lao quy định giới hạn mức thưởng tối đa khi đạt mục tiêu, nhà quản lý có xu hướng chuyển bớt lợi nhuận năm nay sang năm sau.

Mục tiêu thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài phụ thuộc vào lợi nhuận, một chỉ tiêu quan trọng giúp nhà đầu tư đánh giá khả năng sinh lợi trong tương lai của công ty Lợi nhuận không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu mà còn tác động gián tiếp đến thị trường vốn, vì nó được sử dụng để xác định dòng tiền trong tương lai.

Khi phát hành cổ phiếu ra công chúng, nhà quản lý công ty thường điều chỉnh lợi nhuận để tạo ấn tượng về kết quả kinh doanh tốt trong năm qua, nhằm thu hút nhà đầu tư và bán cổ phiếu với giá cao Hành vi này, được gọi là QTLN, thường xảy ra khi công ty lần đầu chào bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, khi thông tin mà nhà đầu tư nhận được còn hạn chế, dẫn đến hiện tượng thông tin không đầy đủ.

13 bất cân xứng giữa công ty và các nhà đầu tư tiềm năng, gây tác động tiêu cực đến thị trường

Trong thời gian niêm yết trên sàn chứng khoán, sự biến động lớn trong lợi nhuận giữa các kỳ kế toán cho thấy tình hình kinh doanh không ổn định, khiến nhà đầu tư phải đối mặt với rủi ro cao Giá cổ phiếu của công ty sẽ giảm so với những công ty có lợi nhuận ổn định Do đó, các nhà quản lý thường cố gắng làm phẳng lợi nhuận qua các kỳ kế toán để duy trì sự ổn định giá cổ phiếu hoặc tăng giá trị thị trường của cổ phiếu.

Khái quát chung về gian lận tài chính

1.2.1 Khái niệm về gian lận tài chính

Gian lận là một khái niệm pháp lý rất rộng, theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam - Vietnamese Standard on Auditing - VSA 240, gian lận được hiểu là

Hành vi gian lận là hành động cố ý của một hoặc nhiều cá nhân trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, nhân viên hoặc bên thứ ba, nhằm thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp thông qua các hành vi gian dối Những hành vi này thường rất khó phát hiện do được thực hiện và che giấu một cách tinh vi.

Kết quả nghiên cứu về gian lận theo công trình nghiên cứu của ACFE chỉ ra có ba loại gian lận tài chính như sau:

- Biển thủ tài sản: Xảy ra khi nhân viên biển thủ tài sản của tổ chức (ví dụ như biển thủ tiền, hàng tồn kho, gian lận tiền lương)

Tham ô là hành vi mà người quản lý lợi dụng quyền hạn và trách nhiệm của mình để chiếm đoạt tài sản của công ty hoặc thực hiện các hành động trái ngược với nghĩa vụ đã cam kết với tổ chức, nhằm thu lợi cho bản thân hoặc một bên thứ ba.

Gian lận báo cáo tài chính là hành vi cố tình làm sai lệch số liệu và thông tin trên báo cáo tài chính của tổ chức Hành vi này liên quan đến việc bỏ sót thông tin hoặc số liệu để lừa dối người sử dụng Sai sót có thể xuất phát từ chủ ý của Ban Giám đốc nhằm điều chỉnh kết quả kinh doanh, dẫn đến việc người sử dụng hiểu sai về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị Mục đích của gian lận báo cáo tài chính thường là để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp.

Việc tăng vốn ảo trên thị trường chứng khoán và đồng nhất báo cáo với dự báo của các nhà phân tích có thể dẫn đến những quyết định sai lầm từ các nhà đầu tư và đơn vị cung cấp tín dụng, làm giảm chất lượng báo cáo tài chính của công ty Nghiên cứu của ACFE cho thấy, gian lận liên quan đến biển thủ tài sản chiếm đến 90% trong các trường hợp khảo sát, nhưng thiệt hại cho nền kinh tế lại thấp nhất Ngược lại, gian lận trên báo cáo tài chính, dù chiếm tỷ lệ thấp, lại gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất cho nền kinh tế.

1.2.2 Động cơ thực hiện gian lận trên báo cáo tài chính

Mục đích chính của gian lận báo cáo tài chính (BCTC) là để che giấu tình hình tài chính thực sự, có thể là thổi phồng doanh thu hoặc giấu lợi nhuận nhằm giảm thuế Các hoạt động này ảnh hưởng đến những người sử dụng báo cáo tài chính, bao gồm các giao dịch nội bộ và giao dịch ngầm với đối tác Áp lực và lợi ích là những yếu tố chính dẫn đến hành vi gian lận, với nhiều động cơ phổ biến thúc đẩy các cá nhân và doanh nghiệp thực hiện hành vi này.

Các khoản đãi ngộ ngắn hạn như tiền thưởng và cổ tức là động cơ chính khiến nhà quản lý thao túng thông tin trên báo cáo tài chính Healy (1985) đã chỉ ra rằng các nhà quản lý cấp thấp thường gian lận để tối đa hóa tiền thưởng ngắn hạn, trong khi các nhà quản lý cấp cao điều chỉnh lợi nhuận để hưởng cổ tức hoặc quyền chọn cổ phiếu Nghiên cứu của Healy & cộng sự (1999) và các nghiên cứu của Haulthausen, Lacker, Sloan (1995) cùng Guidry, Leone, Rock (1999) cũng xác nhận kết quả tương tự.

Nghiên cứu năm 2005 chỉ ra rằng các nhà quản lý sở hữu nhiều cổ phiếu có xu hướng bán cổ phần trong tương lai, dẫn đến động cơ bóp méo báo cáo tài chính để tạo ra tín hiệu tích cực cho thị trường Kết quả này nhấn mạnh mối liên hệ giữa quyền sở hữu cổ phiếu và hành vi báo cáo tài chính của các nhà quản lý.

19 quản lý như vậy sẽ báo cáo lợi nhuận đạt hoặc vượt trội hơn so với dự đoán của nhà phân tích

Theo nghiên cứu của Graham, Harvey và Rajpogal (2005), 73.5% giám đốc tài chính cho rằng sự đồng thuận của giới phân tích về thu nhập trên mỗi cổ phần là tiêu chuẩn quan trọng trong báo cáo thu nhập hàng quý, dẫn đến việc họ điều chỉnh báo cáo tài chính theo các phân tích này Hầu hết các nhà quản lý tránh các dự án có NPV dương nếu chúng làm giảm thu nhập quý hiện tại, ưu tiên lợi nhuận ổn định để giảm thiểu rủi ro Các công ty thường tìm cách điều chỉnh báo cáo tài chính để tối đa hóa giá trị trong các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) hoặc phát hành bổ sung Ducharme, Malatesta và Sefcik (2001) chỉ ra rằng các khoản kế toán dồn tích bất thường trước IPO có thể làm tăng giá trị ban đầu của công ty, mặc dù điều này có thể khiến nhà đầu tư bị đánh lừa tạm thời và dẫn đến tỷ suất sinh lợi giảm trong những năm tiếp theo, như nghiên cứu của Teoh, Welch và Wong (1998) đã chỉ ra.

Thỏa thuận được các điều khoản hợp đồng tốt hơn và tránh vi phạm các điều khoản trong hợp đồng vay nợ Theo Bowen, Ducharme và Shores

Công ty có thể đạt được các điều kiện hợp đồng tốt hơn từ nhà cung cấp và các bên liên quan nếu báo cáo lợi nhuận ổn định Các hợp đồng vay nợ thường đi kèm với điều khoản về thu nhập, do đó, các nhà quản lý có thể chấp nhận chính sách tăng thu nhập báo cáo hoặc điều chỉnh các hạng mục tài chính khác để tránh vi phạm các điều khoản này Hơn nữa, việc làm đẹp báo cáo tài chính có thể tăng cường sự sẵn lòng của người cho vay và nhà cung cấp trong việc cấp tín dụng ngắn hạn.

1.2.3 Dấu hiệu gian lận thông tin trên báo cáo tài chính

Theo Schweser (CFA, 2015, 167), gian lận BCTC thường bao gồm những dấu hiệu sau:

- Tăng trưởng doanh thu cao bất thường so với các công ty cùng ngành nghề

Lượng hàng bán bị trả lại của công ty cao hơn so với các đối thủ trong ngành, chủ yếu do chất lượng hàng hóa kém Nhiều doanh nghiệp lợi dụng hàng bán bị trả lại để che giấu doanh thu không có thật từ các kỳ kế toán trước Đối với các doanh nghiệp bất động sản, khi khách hàng muốn thanh lý hợp đồng trước giai đoạn bàn giao nhà, họ thường không ghi nhận khoản tiền trả lại vào hàng bán bị trả lại, mà chuyển sang mục “phải trả khác”, giúp giảm bớt yêu cầu minh bạch trong báo cáo tài chính.

Giá trị doanh thu của một quý cao bất thường so với các quý khác trong năm và so với cùng kỳ năm trước có thể chỉ ra rằng doanh nghiệp không hoạt động theo mùa vụ Trong trường hợp này, cần xem xét mục đích của doanh nghiệp trong thời gian tới, chẳng hạn như niêm yết hoặc chuẩn bị hồ sơ đấu thầu Có khả năng doanh nghiệp đã thực hiện một số gian lận trong việc ghi nhận doanh thu không có thật để đạt được các mục tiêu này.

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh âm có thể chấp nhận đối với các doanh nghiệp mới thành lập hoặc đang trong giai đoạn mở rộng sản xuất - kinh doanh Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp đã niêm yết và hoạt động lâu năm, việc duy trì dòng tiền âm trong nhiều năm liên tiếp là một dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt khi lợi nhuận thuần dương không tương xứng.

21 nhuận dương có thể là dấu hiệu cảnh báo tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đang gặp vấn đề, chẳng hạn như hàng hóa bán ra nhưng không thu được tiền, hoặc ghi nhận doanh thu không thực tế.

Các công ty có thể kéo dài thời gian khấu hao tài sản và không ghi nhận đúng các khoản trích lập dự phòng hàng tồn kho (HTK) cũng như dự phòng phải thu khách hàng, dẫn đến việc ghi nhận phi thực tế các giả định kế toán.

Quy định về các khoản thưởng cho ban giám đốc liên quan đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty có thể tạo ra động cơ gian lận báo cáo tài chính Khi các khoản thưởng được liên kết với chỉ tiêu doanh số, kiểm toán viên cần lưu ý rằng ban giám đốc có thể thực hiện hành vi gian lận, chẳng hạn như ghi nhận doanh thu không đúng kỳ kế toán, nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Ảnh hưởng của gian lận báo cáo tài chính tới các đối tượng sử dụng thông

Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của hệ thống kế toán tài chính, cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền lưu chuyển của doanh nghiệp Nó hữu ích cho nhiều đối tượng, bao gồm nhà quản lý, cổ đông, nhà đầu tư, tổ chức tín dụng và cơ quan quản lý nhà nước Mỗi đối tượng sử dụng thông tin BCTC để đánh giá quá khứ và dự báo tương lai của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định kinh doanh liên quan đến lợi ích tài chính của họ.

Ban lãnh đạo doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành và đạt được các mục tiêu đa dạng, bao gồm lợi nhuận, chất lượng sản phẩm, tạo việc làm và cải thiện môi trường Để thực hiện các mục tiêu này, doanh nghiệp cần hoạt động có lãi, buộc ban lãnh đạo phải nỗ lực tối đa để tạo ra lợi nhuận và đảm bảo khả năng thanh toán công nợ Trong quá trình điều hành, các nhà quản lý thường xuyên phải đưa ra quyết định và trả lời các câu hỏi liên quan đến lợi nhuận, khả năng thanh toán và hiệu quả sản phẩm Những quyết định đúng đắn của họ thường dựa trên thông tin giá trị và kịp thời, phần lớn được cung cấp bởi hệ thống kế toán thông qua báo cáo tài chính và báo cáo quản trị.

Các cổ đông hiện tại và nhà đầu tư tiềm năng chủ yếu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) để đánh giá khả năng sinh lợi và triển vọng phát triển của doanh nghiệp.

Trong tương lai, việc phân tích thông tin từ báo cáo tài chính sẽ giúp các cổ đông hiện tại quyết định tiếp tục đầu tư hoặc rút vốn khỏi doanh nghiệp Đồng thời, các nhà đầu tư tiềm năng cũng có thể dựa vào thông tin này để lựa chọn danh mục đầu tư hợp lý.

Các tổ chức tín dụng, bao gồm ngân hàng và nhà cung cấp, sử dụng thông tin từ báo cáo tài chính (BCTC) để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp Qua việc phân tích BCTC, ngân hàng có thể quyết định cho vay với các điều khoản hợp lý, phù hợp với khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tương tự, các nhà cung cấp vật tư, hàng hóa và dịch vụ cũng dựa vào báo cáo tài chính để điều chỉnh các điều khoản trả chậm cho doanh nghiệp.

Báo cáo tài chính không chỉ thu hút sự quan tâm của các đối tượng cơ bản mà còn của nhiều bên khác như người lao động, khách hàng, cơ quan thuế và cơ quan thống kê Mỗi đối tượng sử dụng báo cáo tài chính với mục đích riêng, ví dụ, cơ quan thuế xem xét việc tuân thủ luật thuế của doanh nghiệp, trong khi khách hàng đánh giá triển vọng dài hạn và khả năng thực hiện cam kết hợp đồng Điều này khẳng định vai trò quan trọng của báo cáo tài chính đối với cả thông tin nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp Tuy nhiên, khi ban quản trị và kế toán gian lận báo cáo tài chính, các nhà đầu tư và đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài có thể đưa ra quyết định sai lầm.

Kiểm toán gian lận trong báo cáo tài chính

1.4.1 Vai trò của kiểm toán gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán gian lận giúp nâng cao niềm tin và sự tin tưởng của công chúng đối với nghề nghiệp kiểm toán nói chung, giảm bớt sự nghi ngờ về chất lượng

Dịch vụ kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC), đang đối mặt với sự nghi ngờ từ các nhà đầu tư do gia tăng các vụ gian lận BCTC Các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát chất lượng thông tin tài chính của các công ty niêm yết Tuy nhiên, nếu kiểm toán viên tập trung vào việc phát hiện sai sót hơn là gian lận, BCTC sẽ chứa đựng nhiều rủi ro thông tin Điều này dẫn đến việc các nhà đầu tư mất niềm tin vào dịch vụ kiểm toán BCTC, làm giảm vai trò của kiểm toán trong việc minh bạch hóa thông tin tài chính cho cộng đồng đầu tư.

Kiểm toán gian lận đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế và giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) liên quan đến kiện tụng và phá sản do gian lận báo cáo tài chính (BCTC) không được phát hiện Lịch sử các vụ bê bối tài chính đã chỉ ra sự thất bại của DNKT trong việc phát hiện gian lận, dẫn đến việc các kiểm toán viên (KTV) phải đối mặt với trách nhiệm pháp lý, thậm chí ngồi tù hoặc phá sản Do đó, việc phát hiện gian lận trong kiểm toán BCTC ngày càng trở nên cần thiết, giúp KTV và DNKT nâng cao tính hoài nghi nghề nghiệp, đánh giá rủi ro gian lận và thiết kế các thủ tục kiểm toán chuyên sâu nhằm phát hiện và loại bỏ gian lận hiệu quả.

1.4.2 Khái quát chung về kiểm toán gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán BCTC là quá trình xác minh và đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính dựa trên các chuẩn mực kế toán đã được thiết lập, thường là GAAP Kế toán viên thực hiện các thử nghiệm cần thiết để đảm bảo không có sai phạm trọng yếu trong báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán Đối tượng chính của kiểm toán BCTC là báo cáo tài chính, do đó, kế toán viên và doanh nghiệp kiểm toán có trách nhiệm xác nhận rằng báo cáo tài chính được lập và trình bày đúng cách.

Kiểm toán viên (KTV) và doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) có trách nhiệm phát hiện các sai phạm trọng yếu ảnh hưởng đến báo cáo tài chính (BCTC), bao gồm cả gian lận Do đó, kiểm toán gian lận cần được chú trọng như một phần thiết yếu trong quy trình kiểm toán BCTC Mặc dù là một khái niệm mới, nhưng các giáo trình chuyên ngành thường chỉ đề cập đến "Kiểm toán gian lận" mà không cung cấp định nghĩa cụ thể Nội dung chương này thường tập trung vào các hình thức gian lận trong BCTC, đánh giá rủi ro gian lận, biện pháp xử lý của KTV đối với rủi ro trọng yếu từ gian lận, và các thủ tục kiểm toán để phát hiện gian lận trong các khoản mục quan trọng của BCTC.

Kiểm toán gian lận là quá trình phản ứng với rủi ro gian lận trong bối cảnh kiểm toán, có thể là một phần của cuộc kiểm toán tài chính hoặc thực hiện toàn bộ cuộc kiểm toán nếu kiểm toán viên tập trung vào việc phát hiện gian lận Quá trình này bao gồm việc áp dụng các thủ tục kiểm toán cụ thể cho từng kế hoạch gian lận nhằm tăng cường khả năng phát hiện gian lận trong doanh nghiệp.

Kiểm toán gian lận là một phần quan trọng trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC), nhằm phát hiện các gian lận có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC của đơn vị Quá trình này bao gồm việc đánh giá rủi ro gian lận trong BCTC và xác định các biện pháp phản ứng phù hợp Đồng thời, cần thiết kế các thủ tục kiểm toán thích hợp, đặc biệt là các thủ tục cụ thể cho từng hình thức gian lận trong BCTC.

1.4.3 Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán viên có trách nhiệm đảm bảo rằng báo cáo tài chính không chứa sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn Tuy nhiên, cuộc kiểm toán vẫn có những hạn chế nhất định.

Có 33 rủi ro khó tránh khỏi liên quan đến các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính, những sai sót này có thể không được phát hiện ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế hoạch và thực hiện theo đúng chuẩn mực kế toán.

Rủi ro không phát hiện sai sót trọng yếu do gian lận cao hơn so với rủi ro do nhầm lẫn, vì gian lận thường liên quan đến các kế hoạch phức tạp nhằm che giấu hành vi sai trái Những nỗ lực này, đặc biệt khi có sự thông đồng, có thể khiến kiểm toán viên dễ bị lừa bởi bằng chứng không chính xác Khả năng phát hiện gian lận của kiểm toán viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm kỹ năng của thủ phạm, mức độ thao túng và quy mô của các khoản tiền liên quan Mặc dù kiểm toán viên có thể nhận diện các cơ hội dẫn đến gian lận, nhưng việc phân biệt giữa sai sót do gian lận và nhầm lẫn trong các ước tính kế toán là rất khó khăn.

Rủi ro kiểm toán viên không phát hiện ra sai sót trọng yếu do gian lận của ban quản trị cao hơn so với gian lận của nhân viên, vì ban quản trị thường có khả năng thao túng sổ sách kế toán, trình bày thông tin tài chính gian lận hoặc bỏ qua các thủ tục kiểm soát nhằm ngăn chặn hành vi gian lận.

Khi đạt được sự đảm bảo hợp lý, kiểm toán viên phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình kiểm toán Họ cần xem xét khả năng Ban Giám đốc có thể lạm dụng các biện pháp kiểm soát và đánh giá hiệu quả của các thủ tục kiểm toán trong việc phát hiện sai sót, đặc biệt là gian lận Do đó, cần thiết phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung được thiết kế nhằm nâng cao khả năng phát hiện gian lận.

Hỗ trợ kiểm toán viên trong việc xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận, đồng thời thiết lập các thủ tục cần thiết để phát hiện các hành vi gian lận này.

Bảng 2.1 Vị trí của kiểm toán gian lận trong kiểm toán BCTC

Tiêu chí Kiểm toán BCTC Kiểm toán gian lận

Mục tiêu là đảm bảo báo cáo tài chính (BCTC) không chứa đựng các sai sót trọng yếu do lỗi hoặc gian lận Việc này nhằm bảo vệ tính chính xác và độ tin cậy của BCTC, đảm bảo rằng các thông tin tài chính phản ánh đúng thực trạng của doanh nghiệp.

Lập kế hoạch kiểm toán

Chấp nhận kiểm toán Đánh giá rủi ro có gian lận ảnh hưởng khả năng chấp nhận kiểm toán

Khách hàng và kiểm soát nội bộ (KSNB) là những yếu tố quan trọng trong ngành nghề kinh doanh Việc hiểu rõ đặc điểm của đơn vị được kiểm toán, các chính sách kế toán, cũng như mục tiêu và chiến lược của đơn vị là cần thiết Đồng thời, việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động cũng như KSNB của đơn vị sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý và đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh.

Các lý thuyết nền tảng được vận dụng để nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận doanh nghiệp

Lý thuyết ủy nhiệm, được phát triển bởi Jensen và Meckling trong năm 1976, nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền Theo lý thuyết này, tồn tại hai mối quan hệ chính giữa các bên liên quan.

Quan hệ giữa nhà quản lý và cổ đông có thể được cải thiện thông qua việc thiết lập hợp đồng khuyến khích nhà quản lý tối đa hóa giá trị thị trường và lợi nhuận của công ty Để giảm chi phí ủy quyền, các kế hoạch khen thưởng thường dựa trên các chỉ tiêu kế toán, điều này dẫn đến việc nhà quản lý có thể tác động đến báo cáo tài chính bằng cách áp dụng các chính sách kế toán nhằm đạt được lợi ích cá nhân.

Để giảm chi phí ủy quyền, chủ nợ có thể đưa vào hợp đồng các điều khoản hạn chế như kiểm soát việc chia cổ tức và hoạt động đầu tư, cũng như yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động doanh nghiệp Việc áp dụng các điều khoản này cần dựa trên số liệu kế toán của doanh nghiệp, do đó, các nhà quản lý thường tìm cách vận dụng chính sách kế toán để lập báo cáo tài chính (BCTC) có lợi nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt khi gần đến tình trạng vi phạm hợp đồng vay.

Lý thuyết ủy nhiệm chỉ ra rằng xung đột nảy sinh từ sự bất cân xứng thông tin giữa chủ sở hữu và đại diện công ty Để giảm thiểu vấn đề này, cần áp dụng các cơ chế thích hợp nhằm hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý Điều này bao gồm việc thiết lập các cơ chế đãi ngộ hợp lý cho nhà quản trị và xây dựng hệ thống giám sát hiệu quả để ngăn chặn hành vi tư lợi của người quản lý.

Trong các công ty thuộc sở hữu tư nhân, quyền sở hữu và quyền quản lý

Các công ty có tài sản thường đi đôi với nhau ít chịu áp lực công bố thông tin, dẫn đến việc ít xuất hiện các thủ thuật kế toán Ngược lại, trong các công ty cổ phần, quan hệ đại diện tạo ra động lực cho nhà quản lý thực hiện hành vi QTLN và che giấu thông tin kế toán Nhiều nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết ủy nhiệm để giải thích hành vi của các nhà quản lý, cho thấy họ có thể hành động trái ngược với quyền lợi của cổ đông, dẫn đến can thiệp và tác động chủ quan trong việc ghi nhận lãi lỗ và công bố thông tin kế toán Do đó, lý thuyết ủy nhiệm giúp giải thích tình trạng thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và cổ đông, làm tăng rủi ro thông tin.

Trong luận văn này, tác giả áp dụng lý thuyết ủy nhiệm để giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi QTLN của nhà quản lý Cụ thể, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập cao sẽ giúp giảm thiểu hành vi QTLN HĐQT có vai trò giám sát người quản lý thay mặt cho cổ đông, và khi thị trường mở rộng, xung đột lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý gia tăng, thành viên độc lập trở nên cần thiết để bảo vệ nhà đầu tư Tỷ lệ thành viên HĐQT cao sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, từ đó giảm khả năng thực hiện hành vi QTLN của nhà quản lý Ngược lại, trong các công ty có cổ đông lớn, họ có thể cử đại diện vào HĐQT để gây áp lực lên nhà quản lý, điều này có thể đe dọa lợi ích của cổ đông thiểu số Do đó, lý thuyết ủy nhiệm cũng cho thấy rằng khi quyền sở hữu của cổ đông lớn gia tăng, hành vi QTLN của nhà quản lý cũng tăng theo.

Lý thuyết tín hiệu, được phát triển từ nghiên cứu của Akerlof (1970) và Spence (1973), giải quyết vấn đề bất cân xứng thông tin trên thị trường Khi có sự bất cân xứng, bên nắm giữ thông tin cần phát tín hiệu cho bên cần thông tin để đạt được mục tiêu Trong các công ty cổ phần, đặc biệt là những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, thông tin bất cân xứng tồn tại giữa nhà quản lý và cổ đông, cũng như giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Nhà quản lý, người điều hành công ty và nắm rõ thông tin nội bộ, có thể cố tình che giấu thông tin bằng cách lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán, dẫn đến thiệt hại cho cổ đông và chủ sở hữu.

Quan hệ giữa công ty và nhà đầu tư có thể gặp rắc rối khi công ty không phát tín hiệu rõ ràng hoặc gửi đi thông tin sai lệch, điều này có thể gây bất lợi cho cả nhà đầu tư và chủ nợ.

Nhà quản lý thường nắm rõ thông tin về tình hình hoạt động và triển vọng tương lai của công ty hơn so với các bên bên ngoài Do đó, họ có khả năng điều chỉnh các chính sách kế toán nhằm tăng lợi nhuận, đồng thời đảm bảo các thông tin tài chính đáp ứng yêu cầu trong hợp đồng với chủ nợ.

Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong công ty cổ phần dẫn đến bất cân xứng thông tin giữa hai bên Nhà quản lý, người điều hành hoạt động công ty, nắm rõ tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động thực tế Họ có thể sử dụng các chính sách kế toán để điều chỉnh báo cáo tài chính (BCTC), cung cấp thông tin có lợi cho bản thân hoặc che giấu những yếu kém của công ty Theo lý thuyết tín hiệu, nếu nhà quản lý không phát tín hiệu chính xác đến nhà đầu tư, điều này có thể gây bất lợi cho họ trong việc ra quyết định Do đó, việc đảm bảo BCTC được lập đúng cách là rất quan trọng.

Theo các quy định pháp luật, việc kiểm tra bởi bên thứ ba độc lập, cụ thể là các công ty kiểm toán, là cần thiết Lý thuyết tín hiệu được áp dụng để giải thích tác động của chất lượng kiểm toán độc lập trong nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị tài chính.

Các công ty lớn với tỷ lệ đòn bẩy cao có khả năng cao hơn trong việc thực hiện hành vi QTLN để che giấu tình trạng hoạt động thực tế Thời gian niêm yết cũng ảnh hưởng đến hành vi này, khi nhà quản lý thường áp dụng các chính sách kế toán để thu hút nhà đầu tư trong năm đầu niêm yết Trong giai đoạn đầu, nhà đầu tư dựa nhiều vào thông tin từ báo cáo tài chính, nhưng sau đó, khi có đủ thông tin, động cơ thực hiện QTLN giảm dần Các công ty có tỷ lệ sở hữu nước ngoài cao thường cung cấp thông tin tích cực và được đánh giá cao hơn bởi các nhà đầu tư nước ngoài Do đó, theo lý thuyết tín hiệu, các công ty lớn, có đòn bẩy tài chính cao và thời gian niêm yết lâu, cùng với sự tham gia của các công ty kiểm toán lớn, sẽ có mức độ thực hiện hành vi QTLN thấp hơn.

Kết luận Chương 1

Chương 1 đã trình bày các lý luận cơ bản về quản trị lợi nhuận, gian lận trong báo cáo tài chính và kiểm toán gian lận.

Kiểm toán gian lận báo cáo tài chính là một yếu tố quan trọng trong lĩnh vực tài chính, giúp đánh giá một cách trung thực và khách quan tình hình tài chính của doanh nghiệp.

KHẢO SÁT HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUA ÁP DỤNG CÁC THỦ TỤC KIỂM TOÁN

Ngày đăng: 24/07/2023, 22:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB. Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB. Thống kê
Năm: 2005
12. Hội kiểm toàn viên hành nghề Việt Nam (2013), “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán”. Hội kiểm toàn viên hành nghề Việt Nam website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán
Tác giả: Hội kiểm toàn viên hành nghề Việt Nam
Năm: 2013
13. Huỳnh Thị Vân, (2012). Nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Thị Vân
Nhà XB: Trường Đại học Đà Nẵng
Năm: 2012
14. Nguyễn Anh Hiền và Cộng sự, (2015). Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ảnh hưởng chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi điều chỉnh lợi nhuận ảnh hưởng chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Anh Hiền, Cộng sự
Năm: 2015
16. Nguyễn Công Phương, (2009). Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp. Tạp chí kế toán, số 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán theo cơ sở dồn tích và quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Công Phương
Nhà XB: Tạp chí kế toán
Năm: 2009
17. Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang (2009). Một số yếu tố tạo thành năng lực đông doanh nghiệp và giải pháp nuôi dưỡng, Hội thảo “Năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp” – TP Hồ Chí Minh, trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố tạo thành năng lực đông doanh nghiệp và giải pháp nuôi dưỡng
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
18. Nguyễn Thị Minh Trang, (2011). Kỹ thuật quản trị lợi nhuận của nhà quản trị. Đại học Đông Á, số 05, trang 46-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật quản trị lợi nhuận của nhà quản trị
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang
Nhà XB: Đại học Đông Á
Năm: 2011
19. Nguyễn Thị Minh Trang, (2012). Vận dụng mô hình của DeAngelo và Friedland để nhận dạng hành động quản trị lợi nhuận của nhà quản trị.Đại học Đông Á, số 06, trang 39-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng mô hình của DeAngelo và Friedland để nhận dạng hành động quản trị lợi nhuận của nhà quản trị
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang
Nhà XB: Đại học Đông Á
Năm: 2012
20. Nguyễn Thị Phương Hồng, (2016). Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán – Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam. Luận án Tiến Sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán – Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hồng
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
21. Nguyễn Thị Phương Uyên, (2014). Nghiên cứu việc quản trị lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc quản trị lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Uyên
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
23. Phan Thị Thanh Trang, (2015). Nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (Luận văn Thạc sĩ. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
Tác giả: Phan Thị Thanh Trang
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
24. Trần Thị Mỹ Tú, (2014). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính tại các công ty cổ phần niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn Thạc sĩ.Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính tại các công ty cổ phần niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Thị Mỹ Tú
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
27. Võ Văn Nhị & Trần Thị Thanh Hải, (2016). Một số thủ thuật kế toán để thực hiện hành vi chi phối thu nhập được áp dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí kế toán & kiểm toán, số 154, trang 8-10.<http://vaa.net.vn/Tin-tuc/Tin-chi- tiet/newsid/4059>.B. Tài liệu tham khảo ngoài nước Link
5. Ajekwe, C. (2022). Application of Professional Judgement in International Financial Reporting Standards. European Journal of Accounting, Auditing and Finance Research. 10. 10.37745/ejaafr.2013/vo10.n7pp1730 Link
10. Bagozzi, R. and Yi, Y. (1988) On the Evaluation of Structural Equation Models. Journal of the Academy of Marketing Sciences, 16, 74-94.http://dx.doi.org/10.1007/BF02723327 Link
27. Dechow, P., Sloan, R., and Sweeney, A. P. (1996). Causes and consequences of earnings manipulation: An analysis of firms subject to enforcement actions by the SEC. Contemporary Accounting Research, 13(1), 1–36.doi:10.1111/j.1911-3846.1996.tb00489.x Link
35. Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). ‘Evaluating structural equation models with unobservable variables and measurement error’. Journal of Marketing Research, 18(1), 39–50. https://doi.org/10.2307/315131236. Friedlan, J., (1994). Accounting choices by issuers of initial public offerings.Contemporary Accounting Research, 11: 1–31 Link
47. Henseler, J & Ringle, C & Sarstedt, M. (2015). ‘A New Criterion for Assessing Discriminant Validity in Variance-based Structural Equation Modeling’. Journal of the Academy of Marketing Science. 43. 115-135.10.1007/s11747-014-0403-8 Link
48. Hửck, M & Ringle, C. (2010). ‘Local strategic networks in the software industry: An empirical analysis of the value continuum’. International Journal of Knowledge Management Studies - Int J Knowl Manag Stud. 4.10.1504/IJKMS.2010.030789 Link
49. Hussain, M. & Kennedy, P. & Kierstead, V. (2012). Can Audit Prevent Fraudulent Financial Reporting Practices? Study of Some Motivational Factors in Two Atlantic Canadian Entities. Issues In Social And Environmental Accounting. 4. 10.22164/isea.v4i1.47 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1:  Mô hình quy trình tăng vốn ảo thông qua sử dụng SPE  Theo mô hình trên, khi một công ty cần tăng vốn điều lệ, các chủ sở hữu  của công ty cần tăng vốn sẽ nộp tiền góp vốn vào công ty - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Sơ đồ 2.1 Mô hình quy trình tăng vốn ảo thông qua sử dụng SPE Theo mô hình trên, khi một công ty cần tăng vốn điều lệ, các chủ sở hữu của công ty cần tăng vốn sẽ nộp tiền góp vốn vào công ty (Trang 36)
Sơ đồ 2.2: Mô hình điều chỉnh doanh thu, lợi nhuận thông qua các SPE  Theo  mô  hình  trên,  để  tăng  doanh  thu,  công  ty  A sẽ  thực  hiện  giao  dịch  bán hàng hóa hoặc TS cho SPE1, hàng hóa hoặc TS đó lại được SPE1 bán cho  một công ty có liên quan  - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Sơ đồ 2.2 Mô hình điều chỉnh doanh thu, lợi nhuận thông qua các SPE Theo mô hình trên, để tăng doanh thu, công ty A sẽ thực hiện giao dịch bán hàng hóa hoặc TS cho SPE1, hàng hóa hoặc TS đó lại được SPE1 bán cho một công ty có liên quan (Trang 38)
Sơ đồ 2.4: Đối tượng sử dụng thông tin kế toán  Trước hết ban lãnh đạo doanh nghiệp là những người có trách nhiệm điều  hành và thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Sơ đồ 2.4 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán Trước hết ban lãnh đạo doanh nghiệp là những người có trách nhiệm điều hành và thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp (Trang 42)
Bảng 2.1. Vị trí của kiểm toán gian lận trong kiểm toán BCTC - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Bảng 2.1. Vị trí của kiểm toán gian lận trong kiểm toán BCTC (Trang 47)
Sơ đồ 2.6: Quy trình nghiên cứu - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Sơ đồ 2.6 Quy trình nghiên cứu (Trang 63)
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất  Giả thuyết nghiên cứu - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất Giả thuyết nghiên cứu (Trang 69)
Bảng 2.5. Phương pháp thu thập dữ liệu - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Bảng 2.5. Phương pháp thu thập dữ liệu (Trang 71)
Bảng 2.9. Kết quả đo lường độ tin cậy thang đo   Tên biến quan sát  Độ tin cậy tổng - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Bảng 2.9. Kết quả đo lường độ tin cậy thang đo Tên biến quan sát Độ tin cậy tổng (Trang 79)
Hình 2.2. Kiểm định độ tin cậy tổng hợp và giá trị hội tụ - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Hình 2.2. Kiểm định độ tin cậy tổng hợp và giá trị hội tụ (Trang 80)
Bảng 2.11. Căn bậc hai của AVE và hệ số tương quan - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Bảng 2.11. Căn bậc hai của AVE và hệ số tương quan (Trang 83)
Bảng 2.12. Đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Bảng 2.12. Đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến (Trang 85)
Hình 2.4: Kết quả ước lượng mô hình đường dẫn  Kết  quả  kiểm  định  các  giả  thuyết  của  mô  hình  được  thể  hiện  dưới  bảng  sau đây - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Hình 2.4 Kết quả ước lượng mô hình đường dẫn Kết quả kiểm định các giả thuyết của mô hình được thể hiện dưới bảng sau đây (Trang 86)
Bảng 2.13. Kết quả kiểm định các giả thuyết  Giả - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Bảng 2.13. Kết quả kiểm định các giả thuyết Giả (Trang 87)
Bảng 2.14. Đánh giá hệ số tác động f2 - Nghiên cứu mô hình quản trị lợi nhuận để phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại việt nam
Bảng 2.14. Đánh giá hệ số tác động f2 (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w