Hiện nay ở ViệtNam chúng ta, khi mà kênh huy động vốn qua thị trường chứngkhoán còn non trẻ, thì hầu hết các doanh nghiệp muốn có vốn để sản xuất kinh doanh thường đi vay ở các trung gia
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhu cầu về vốn chonền kinh tế và cho từng doanh nghiệp đang là một vấn đề rấtbức xúc Hơn thế nữa trong nền kinh tế thị trường, sức cạnhtranh của nền kinh tế, cũng như của từng doanh nghiệp phụthuộc phần lớn vào hiệu quả hoath động kinh doanh Nhất làtrong điều kiện hiện nay, khi mà chúng ta đã chở thành mộtthành viên của ASIAN và trong tương lai không xa, ASIAN sẽ chởthành một khối mậu dịch tự do Do đo, làm thế nào để có thểhuy động được nguồn vốn có chi phí thấp nhất, cùng nhữngđiều kiện thanh toán thuận lợi nhất đã, đang và sẽ vẫn là vấn
đề rất nóng bỏng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp Hiện nay ở ViệtNam chúng ta, khi mà kênh huy động vốn qua thị trường chứngkhoán còn non trẻ, thì hầu hết các doanh nghiệp muốn có vốn
để sản xuất kinh doanh thường đi vay ở các trung gian tài chínhnhư ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảohiểm…Chính vì vậy, vấn đề xây dựng trong doanh nghiệp cơcấu vốn mục tiêu với chi phí bỏ ra thấp nhất vẫn là đề tài rộng
và phức tạp, do không đủ nguồn tư liệu, thông tin phục vụ choviệc tính toán
Trong suốt quá trình thực tập ở công ty TNHH CAVICO ViệtNam Thương mại, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chịtrong phòng Tài chính - Kế toán của công ty và sự hướng dẫnđầy nhiệt huyết của thầy giáo, Tiến Sĩ Đàm Văn Huệ Em chọn
đề tài “ Xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu cho công ty TNHH
Trang 2CAVICO Việt Nam Thương mại” để viết báo cáo chuyên đề thựctập tốt nghiệp Nội dung của chuyên đề gồm các phần như sau:
Chương một: Lý luận chung về chi phí vốn và
Chương hai: Thực trạng cơ cấu vốn tại công tyTNHH
CAVICO Việt Nam Thương mại
Chương ba: Xây dựng cơ cấu vốn mục tiêu chocông ty
CHƯƠNG MỘT
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ VỐN VÀ CƠ CẤU
VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 - VỐN VÀ NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1 - KHÁI NIỆM VỀ VỐN
Mọi quá trình sản xuất kinh doanh đều được khái quát lạithành đầu vào, kết hợp lại chúng trong sản xuất thành đầu ra làhàng hoá - dịch vụ Một doanh nghiệp bất kỳ để có các đầu vàophục vụ cho sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp dó phải cólượng tiền ứng trước, lượng tiền này là vốn của doanh nghiệp.Như vậy, vốn là biểu hiện bằng tiền của vật tư; tài sản được đầu
tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanhnghiệp thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinhdoanh Vì vậy, quản lý vốn của doanh nghiệp có ý nghĩa quantrọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp Các hoạt động nhưhoạt động sản xuất kinh doanh; hoạt động đầu tư và hoạt độngtài chính muốn thực hiện được thì doanh nghiệp đó phải cần tớivốn Trong mọi doanh nghiệp, vốn đều bao hàm hai bộ phận:
Trang 3sẽ không giống nhau, nó phụ thuộc vào một loạt các yếu tốnhư:
Ngành kinh doanh hay lĩnh vực hoạt động củadoanh nghiệp
Trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý
Thái độ của doanh nghiệp
Trạng thái của nền kinh tế
Quy mô và tổ chức cơ cấu của doanh nghiệp
………
1.1.2 - ĐẶC ĐIỂM
Vốn là phạm trù kinh tế mang tính trừu tượng, là trunggian giữa tài sản và nguồn vốn, bất cứ một doanh nghiệp nàokhi bắt đầu tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hànghoá và dịch vụ thì điều kiện tiên quyết đầu tiên là vốn Để cóvốn kinh doanh doanh nghiệp phải đi huy động từ bên ngoài cóthể ở thị trường chứng khoán hoặc ở các trung gian tài chính đểtạo thành nguồn vốn của doanh nghiệp và sau đó đầu tư vào tàisản Về mặt logic thì vốn tồn tại, nhưng thực tế thì nó không tồntại, vì vốn đã được đầu tư tài sản rồi Nên khi nói tới chi phí vốn
và cơ cấu vốn thì chúng ta đang xét về mặt nguồn vốn, còn khinói quản lý vốn là quản lý tài sản
Trang 4Vốn được phân dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau, nếucăn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn thì vốn được chiathành nguồn ngắn hạn và nguồn dài hạn Còn nếu dựa vào quan
hệ sở hữu đối vối khoản vốn huy động thì được chia thành nợ vàvốn chủ sở hữu
1.1.3 – CÁC NGUỒN VỐN VÀ PHƯƠNG THỨC HUY ĐỘNG VỐN
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể,mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức huy động vốnkhác nhau Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thứchuy động vốn của doanh nghiệp được đa dạng hoá nhằm khaithác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế Tuy nhiên, cần lưu ýrằng, trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, do thị trường chứngkhoán chưa phát triển hoàn chỉnh nên việc khai thác vốn cónhững đặc trưng nhất định
Tại hội nghị Thủ tướng họp mặt các doanh nghiệp hôm9/2/2006 Bộ trưởng tài chính Nguyễn Sinh Hùng nhận định, cácdoanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ dựa vào vốn vay củangân hàng Chứng khoán hoá nguồn vốn của mình, tiếp cận vớitrái phiếu là những cách mà doanh nghiệp nên làm để pháttriển lâu dài Vấn đề mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ thanphiền nhiều nhất tại hội nghị chính là việc vay vốn Hiện tiềmlực tài chính của khu vực này rất nhỏ bé, bình quân số vốn của
họ chỉ vào khoảng 1800 tr đồng Tuy nhiên, việc tiếp cận vớicác nguồn vốn từ những tổ chức tín dụng gặp rất nhiều khókhăn Tỷ lệ các doanh nghiệp vay được vốn ngân hàng chỉkhoảng 57%, nhưng lượng vốn cũng không nhiều và thời gian,thủ tục vay cũng lắm phức tạp Trước những thắc mắc trên,Thống đốc ngân hàng nhà nước Viêtn Nam Lê Đức Thuý chorằng, còn có những quan điểm sai lầm về vai trò của ngân hàngthương mại (NHTM) Nhiều doanh nghiệp vẫn giữ suy nghĩ,
Trang 5NHTM là cơ quan tài chính của nhà nước mà không biết rằngngân hàng cũng là một loại hình doanh nghiệp Họ cũng kinhdoanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng và cũng có những khókhăn, hay rủi ro không khác gì cá doanh nghiệp khác NHTMmuốn có vốn để kinh doanh cũng phải có vốn tự có của mình,
mà vốn ít thì huy động được tiền ít Tỷ lệ an toàn vốn dựa trênquy định quốc tế là 8%, trong khi đó hầu hết các ngân hàngquốc doanh Việt Nam tỷ lệ này chỉ đạt 5 - 6% “ lãi suất đầu vàokhông cao thì dân không gửi, lãi suất cho vay ra thấp thi không
có lãi để bù đắp được chi phí Thêm vào đó rủi ro cho vay lớn
100 khoản vay chỉ cần một khoản không đòi được cũng có thểkhiến ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn phải chịutrách nhiệm hình sự”, Thống đốc nhấn mạnh Theo mục tiêu màquốc hội đề ra, giai đoạn 2006 - 2010, tăng trưởng GDP của ViệtNam phải đạt bình quân trên 8% Vì thế, ước tính nhu cầu vốn
để phát triển kinh tế trong 5 năm tới lên đến 140 tỷ USD; tỷtrọng huy động vốn đầu tư xã hội trung bình cả giai đoạn phải là
38 - 40% GDP Nhu cầu lớn, thị trường chứng khoán còn kémphát triển, theo ông Thuý toàn bộ gánh nặng về vốn cho nềnkinh tế đổ lên vai các ngân hàng Trong khi đó vốn lại phải ưutiên cho các công trình trọng điểm quốc gia Do đó, các NHTMkhông đủ vốn để đáp ứng cho nền kinh tế Theo ông NguyễnSinh Hùng cam kết từ nay đến năm 2010 sẽ bảo đảm tăngtrưởng của thị trường chứng khoán đạt tối thiểu 150%/năm Bộtrưởng Hùng cho rằng, Các doanh nghiệp có thể tiếp cận vốnbằng con đường trái phiếu của công ty phát hành “ Vay ngânhàng không phải là con đường tốt Các doanh nghiệp tính thếnào để vốn đạt tỷ lệ 1/3 là của mình; 1/3 vay trái phiếu và 1/3chứng khoán thì làm ăn chắc chắn có hiệu quả Còn cứ như hiệnnay, vay ngân hàng tới 80 - 90%, cổ phiếu thì vài ba phần trăm
Trang 6thì không thể cạnh tranh nổi trong thời gian tới”.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và thị trường tàichính sẽ sớm tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng khảnăng thu hút vốn vào kinh doanh
Sau đây là các nguồn vốn và các phương thức huy độngvốn mà các doanh nghiệp có thể áp dụng
1.1.3.1 - VỐN CHỦ SỞ HỮU CỦA DOANH NGHIỆP
Đối với mọi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu củadoanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu:
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn ban đầu chính là vốnđầu tư của nhà nước Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước là nhànước Hiện nay cơ chế quản lý nói chung và quản lý vốn củadoanh nghiệp nhà nước nói riêng đang có những thay đổi đểphù hợp với thực tế
Đối với các doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp, chủdoanh nghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin dăng
ký thành lập doanh nghiệp Chặng hạn, đối với công ty cổ phần,vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định về hình thứccông ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịutrách nhiệm hữu hạn trên giá trị vốn cổ phần mà họ nắm giữ
Trang 7Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đốikhác nhau, do đó cách thức huy động vốn cổ phần cũng khácnhau Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty tráchnhiệm hữu hạn; công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cácnguồn vốn cũng tương tự như trên; tức là vốn có thể do chủ đầu
tư bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác góp…Tỷ lệ và quy môgóp của các bên tham gia công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác nhau như luật pháp; cơ cấu liên doanh; đặc điểm ngànhnghề
ưu đãi
1.1.3.1.2.1 - Cổ phiếu thường.
Cổ phiếu thường là một chứng khoán thể hiện quyền sởhữu chủ vĩnh viễn đối với công ty, bởi không có sự dự liệu thờigian đáo hạn của nó Nếu công ty còn tồn tại, thì trái quyền của
cổ phiếu thường đối với công ty vẫn nghiễm nhiên được duy trì.Mặc dù các cổ đông có thể bán số cổ phiếu thường mà họ đãđầu tư vào công ty cho người khác vào bát kỳ thời điểm nào tức
là họ đã chuyển giao quyền sở hữu của cá nhân đối với công ty,song tría quyền của cổ phiếu đối với công ty thì không thay đổi
Nghĩa vụ của cổ đông đối với công ty giới hạn trong phầnvốn mà họ đã đầu tư, tức là nếu một người mua số cổ phiếuthường của một công ty trị giá 10 tr đồng thì trong trường hợpcông ty bị phá sản, người ấy chỉ có thể bị thua lỗ 10 tr đồng đó
Trang 8Số lượng cổ phiếu mà công ty được phép phát hành phảighi rõ trong bản điều lệ của nó và chỉ có thể thay đổi sau khi đã
có sự nhất chí của cổ đông thông qua biểu quyết Những cổphần sẽ được đưa ra bán cho công chúng đầu tư được gọi là cổphần dự kiến phát hành và số lượng phát hành thường thấp hơn
số lượng ghi trong điều lệ Chẳng hạn, một doanh nghiệp đượcphát hành 1 triệu cổ phiếu thường, nhưng chỉ 900 ngàn đượcbán ra Đây là những nổ lực của ban lãnh đạo công ty, thể hiện
sự linh hoạt trong phát hành cổ phiếu Những cổ phần đã báncho công chúng đầu tư được gọi là cổ phiếu đã phát hành, vàmức chênh lệch giữa mức cổ phiếu được phép phát hành so với
cổ phiếu đã phát hành là cổ phiếu dự trữ Cổ phiếu dự trữ baogồm cả những cổ phiếu được công ty mua lại từ công chúng saukhi phát hành
Một doanh nghiệp thường có rất nhiều hình thức huy độngnguồn kinh phí bên ngoài như vay ngân hàng ngắn hạn và dàihạn; thuê mua các loại máy móc thiết bị hay mua nguyên vậtliệu trả chậm…Để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của nó.Bởi vậy, doanh nghiệp có những nghĩa vụ đối với chủ nợ Phầngiá trị của những tài sản được tài trợ bằng vốn cổ phần hay lợinhuận giữ lại được gọi là giá trị thuần hay vốn cổ phần của cổđông Do đó, vốn cổ phần của cổ đông được gọi là tiền đặt cọc
để đổi láy quyền sở hữu trong công ty
Vốn cổ phần = Giá trị tài sản - các khoản nợ
Cổ phiếu thường cũng như cổ phiếu ưu đãi đều có tráiquyền đối với doanh nghiệp và thuật ngữ vốn cổ phần của các
cổ đông bao gồm tất cả các loại cổ phiếu Còn thuật ngữ vốn cổphần thường được dùng để chỉ trái quyền của cổ đông thườngđối với doanh nghiệp
Trang 9Tổng trái quyền của cổ đông thường
Số lượng cổ phiếu thường đã phát hành
=
Thư giá của mỗi cổ phiếu thường
2300000 300000
=
Thư giá mỗi cổ phiếu thường của doanh nghiệp A
Cổ phiếu thường có thể có hoặc không có mệnh giá Mặc
dù trên phương diện tài chính, cổ phiếu thường có hay không cómệnh giá không phải là điều quan trọng Song trên phương diệntính toán về giá trị phát hành cổ phiếu thường mới thì chỉ có sựkhác biệt rất ít giữa cổ phiếu thường có mệnh giá và không cómệnh giá
Ở đây, chúng ta làm quen với thuật ngữ thư giá của cổphiếu thường hay giá trị theo sổ sách kế toán của mỗi cổ phiếuthường là là giá trị thuần của công ty theo tính toán trên sổsách trừ đi mệnh giá của cổ phiếu ưu đãi và chia cho số lượng
Tổng giá trị vốn cổ phần là 2500000 tr đồng và tổng giá trịcủa cổ phiếu thường là 2300000 tr đồng, bởi lẻ nó không baohàm cả vốn cổ phiếu ưu đãi Nếu lượng cổ phiếu thường pháthành là 300000 tr đồng thì thư giá mỗi cổ phiếu thường là:
Trang 10Thư giá của cổ phiếu được đo lường hoàn toàn dựa trênphương diện kế toán, nó không phản ánh thị giá cũng như tínhthanh khoản của vốn cổ phần Thị giá và tính thanh khoản của
cổ phiếu thường có thể cao hơn hay thấp hơn thư giá
Hầu hết các doanh nghiệp chỉ có một loại cổ phiếu thường,nhưng cũng có một số công ty chia cổ phiếu thường thành mộtvài loại, sự khác nhau giữa các loại này là quyền bầu cử và tráiquyền với thu nhập và tài sản mà nó nắm giữ Thường thì loại cổphiếu có nhiều quyền bầu cử hơn có quyền ưu tiên nhận trướcthấp hơn so với loại có ít quyền bầu cử Tuy nhiên, đa số cáccông ty này là công ty nhỏ, mới thành lập, do đó các nhà sánglập công ty muốn duy trì quyền kiểm soát đối với công ty nên
họ chủ trương nắm nhiều quyền bầu cử Những cổ phiếu nàythường được gọi là cổ phiếu sáng lập công ty
Các doanh nghiệp muốn tăng vốn cổ phần thì trước hếtphải được đại hội đồng cổ đông cho phép, sau đó phải hoàn tấtnhững thủ tục quy định khác Hầu hết các nước đều sử dụnggiới hạn phát hành như một công cụ quan trọng để kiểm soát vàhạn chế các rủi ro cho công chúng Thông thường một công ty
có thể phát hành một lần hoặc một số lần trong số cổ phiếu đãđược cấp phép phát hành Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý
và kiểm soát quá trình phát hành chứng khoán tuỳ thuộc vàochính sách cụ thể của nhà nước và của uỷ ban chứng khoán nhànước Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống văn bản pháp quy vềchứng khoán mới được xây dựng và đang trong quá trình hoànthiện để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động huy độngvốn của doanh nghiệp và lưu chuyển vốn trong nền kinh tế
Quyền hạn của công ty
Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là nhữnhngười sở hữu công ty, do đó họ có quyền trước hết đối với tài
Trang 11sản và sự phân chia tài sản và thu nhập của công ty Cổ đông
có quyền tham gia kiểm soát và điều khiển các công việc củacông ty Tuy nhiên, thông thường có một số lượng cổ đông củacông ty, nên mà cổ đông chỉ có một quyền lực giới hạn nhấtđịnh trong việc bỏ phiếu hoặc chỉ định thành viên của ban giámđốc Một số công việc hay những vấn đề đặc biệt cần có sự nhấttrí của đại đa số cổ đông
Tuỳ theo quy định trong điều lệ công ty, có thể hình thànhcác hình thức bỏ phiếu khác nhau Hai hình thức được sử dụngrộng rãi là bỏ phiếu theo đa số và bỏ phiếu gộp:
Bỏ phiếu theo đa số là việc cổ đông có thể dùng mỗi láphiếu để bầu một người quản lý, các chức danh sẽ được bầuriêng rẽ Điều này rõ ràng có lợi cho những người đang năm đa
số cổ phiếu của công ty
Bỏ phiếu gộp cho phép cùng bỏ phiếu cho một số ứng cửviên nào đó, tức là một cổ đông có thể dồn toàn bộ số phiếu cótrong tay cho một ứng cử viên được ưa chuộng Cơ chế nàyđược các cổ đông thiểu số tán thành
Vấn đề chống thôn tính, bảo vệ công ty trước sự xâm thựcbằng cổ phiếu của công ty khác là một khía cạnh đặc biệt Huyđộng vốn qua phát hành cổ phiếu phải xét đến nguy cơ bị thôntính Do đó, phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì đểgiữ vững quyền kiểm soát của công ty
1.1.3.1.2.2 - Cổ phiếu ưu đãi.
Cổ phiếu ưu đãi thường chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số cổphiếu được phát hành Tuy nhiên trong số trường hợp, việc dùng
cổ phiếu ưu đãi là thích hợp Trên phương diện doanh nghiệp,lợi ích căn bản của nguồn tài trợ này là tính linh hoạt mà nóđem lại cho công ty trong những thời điểm khó khăn về tàichính Không giống như tiền trả lãi trái phiếu, doanh nghiệp có
Trang 12thể trì hoãn việc chi trả cổ tức của cổ phiếu ưu đãi mà không đểlại hậu quả xấu nào trên phương diện pháp lý Tuy nhiên, sự trìhoãn này có thể có những tác động tiêu cực rất mạnh mẽ đếnkhả năng huy động nguồn tài trợ mới của công ty và làm thayđổi quyền bầu cử của cổ đông Bởi vậy, công ty cũng không nêntrì hoãn việc chi trả cổ tức của cổ phiếu ưu đãi trừ khi gặp phảinhững khó khăn nghiêm trọng về tài chính Nhưng dù sao đichăng nữa thì đặc điểm nổi bật này của cổ phiếu ưu đãi cũngrất đáng chú ý dù rằng công ty chỉ sử dụng nguồn tài trợ nàytrong những trường hợp rất hạn hữu.
Cổ phiếu ưu đãi cũng còn được huy động để sử dụng vàoviệc sát nhập hay mua lại công ty khác Nguồn tài trợ này cóthể đem lại cho doanh nghiệp những thuận lợi về thanh khoản.Một số doanh nghiệp đã sử dụng nguồn tài trợ từ cổ phiếu ưuđãi khi họ nhận thấy thị giá của cổ phiếu thường bị giảm do thunhập hàng năm thấp Trong trường hợp này công ty không tậndụng được khoản tiết kiệm thuế do lợi tức cổ phần không đượctính vào chi phí sản xuất như tiền trả lãi vay
Trên phương diện công chúng đầu tư, đầu tư vào cổ phiếu
ưu đãi có mức độ rủi ro cao hơn so với đầu tư vào các loại tráiphiếu của cùng một doanh nghiệp, bởi trái phiếu có thứ tự ưutiên với thu nhập và tài sản thanh lý cao hơn so với cổ phiếu ưuđãi Vì thế cổ phiếu ưu đãi có tỷ suất sinh lời thường cao hơn sovới tỷ suất sinh lời của trái phiếu
Trái lại trên phương diện doanh nghiệp, lợi tức mà công tytrả cho cổ phiếu ưu đãi không có tác dụng giảm thuế thu nhập
và lợi nhuận do cổ phiếu ưu đãi mang lại cho doanh nghiệp có
tỷ lệ thấp hơn so với trái phiếu
Phần lớn các công ty cổ phần quy định rõ: Công ty có tráchnhiệm trả hết số lợi tức chưa thanh toán của các kỳ trước cho
Trang 13các cổ đông ưu đãi, sau đó mới thanh toán cho các cổ đôngthường.
Các cổ đông ưu đãi có thể được chính công ty phát hànhthu hồi khi công ty thấy cần thiết Những trường hợp như vậycần quy định rõ những điểm sau:
+ Trường hợp nào công ty mua lại cổ phiếu
+ Giá cả do công ty mua lại cổ phiếu
+ Thời gian tối thiểu không được phép mua lại cổphiếu
Trong thực tế ở một số nước như Mỹ chẳng hạn, rất hiếmkhi cổ đông ưu đãi có quyền bỏ phiếu một cách đầy đủ Tuynhiên, nếu có ít nhất 2/3 cổ phiếu ưu đãi nhất trí về một vấn đềnào đó thì ban lãnh đạo công ty phải xem xét ý kiến của họ.Nếu các cổ đông ưu đãi không được trả cổ tức thì các cổ đôngcủa những cổ phiếu đó có thể được quyền bỏ phiếu
1.1.3.1.3 - Lợi nhuận không chia.
Quy mô số vốn ban đầu của doanh nghiệp là một yếu tốquan trọng, tuy nhiên, thông thường số vốn này cần được tănglên theo quy mô phát triển của doanh nghiệp Trong quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả thì doanh nghiệp có những điều kiện thuận lợi để tăngnguồn vốn Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là mộtphần lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
Tự tài trợ bằng lợi nhuận không chia _ Nguồn vốn nội bộ làphương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn củacác doanh nghiệp Vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm bớt
sự phụ thuộc vào bên ngoài Rất nhiều doanh nghiệp coi trọngchính sách tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại, họ đặt ra mục tiêuphải có một khối lượng lợi nhuận giữ lại đủ lớn để tự đáp ứng
Trang 14nhu cầu vốn ngày càng tăng Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuậngiữ lại chỉ có thể thực hiện được nếu như doanh nghiệp đã vàhoạt động có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư Đối vớidoanh nghiệp nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc khôngnhững ở khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà cònphụ thuộc vào chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước.
Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợinhuận liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm Khi công ty đẻlại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là khôngdùng số lợi nhuận để chia lãi cổ phần, các cổ đông không đượcnhận cổ tức, bù lại họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lêncủa công ty Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lêncùng với việc tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ Điều này khuyếnkhích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài nhưng mặt khác, dể làm mấttính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ ngắn hạn do cổ đôngchỉ được nhận một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu tỷ lệ chi trả cổ tứcthấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể
bị giảm sút
Khi giải quyết vấn đề cổ tức và tái đầu tư, chính sách phânphối cổ tức của công ty cổ phần phải lưu ý tới một số yếu tố cóliên quan như:
+ Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
+ Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước.+ Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn
công ty
+ Tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu.+ Hiệu quả của việc tái đầu tư
1.1.3.2 - NỢ1
Trang 15Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, doanhnghiệp có thể sử dụng nợ từ các nguồn: Tín dụng ngân hàng; tíndụng thương mại và vay thông qua phát hành trái phiếu.
1.1.3.2.1 - Tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại.
Có thể nói rằng vốn vay ngân hàng là một trong nhữngnguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển củabản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn nền kinh tếquốc dân Sự hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp đềugắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mạicung cấp, trong đó có việc cung cấp các nguồn vốn Không mộtdoanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sửdụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp muốn tồn tại vữngchắc trên thị trường Trong quá trình hoạt động, các doanhnghiệp thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính chohoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốncho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanhnghiệp
Về mặt thời gian, vốn vay ngân hàng có thể được chia theothời gian vay, bao gồm vay dài hạn ( từ 1 năm đến 3 năm ) vàvay ngắn hạn ( dưới 1 năm) Tiêu chuẩn và quan niệm về thờigian để phân loại trong thực tế không giống nhau giữa cácnước, và cũng có thể khác nhau giữa các ngân hàng thươngmại
Tuỳ theo tính chất và mục dích sử dụng, ngân hàng cũng
có thể phân loại cho vay thành: cho vay đầu tư vào tài sản cốđịnh; cho vay đầu tư tài sản lưu động; cho vay để thực hiện dự
án Cũng có những cách phân loại khác như: cho vay theongành kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ hoặc theo hình thức bảođảm tiền vay
Trang 16Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm, nhưngcũng có hạn chế nhất định Đó là hạn chế về điều kiện tín dụng;kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn.
Điều kiện tín dụng: Các doanh nghiệp muốn vay tại cácngân hàng thương mại cần đáp ứng những ưu cầu đảm bảo antoàn tín dụng của ngân hàng Doanh nghiệp phải xuất trình hồ
sơ vay vốn những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu.Trước tiên, ngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vay vốn, đánhgiá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạch sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn
Các điều kiện bảo đảm tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vayvốn, nói chung các ngân hàng thường yêu cầu các doanhnghiệp đi vay phải có các bảo tiền vay, phổ biến nhất là tài sảnthế chấp Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trongnhiều trường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng đượcđiều kiện vay, kể cả những thủ tục pháp lý về giấy tờ…Do đó,doanh nghiệp cần tính đến các yếu tố này khi tiếp cận nguồn tíndụng ngân hàng
Sự kiểm soát của ngân hàng: Một doanh nghiệp vay vốncủa ngân hàng thì doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soátcủa ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay Nóichung sự kiểm soát này không gây khó khăn cho doanh nghiệp,tuy nhiên trong một số trường hợp, điều đó cũng làm cho doanhnghiệp có cảm giác bị kiểm soát
Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sửdụng vốn Lãi suất vốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hìnhtín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ Nếu lãi suất vay quácao thì doanh nghiệp phải chịu chi phí sử dụng vốn lớn và làmgiảm thu nhập của doanh nghiệp Có những thời kỳ ở nước ta,lãi suất vay vốn khá cao và thiếu tính cạnh tranh do đó không
Trang 17tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuấtkinh doanh.
Các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tíndụng thương mại hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp.Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệmua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp Nguồn tín dụngthương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với cácdoanh nghiệp mà còn đối với toàn nền kinh tế Trong một sốdoanh nghiệp nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng cáckhoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí
có thể chiếm tới 40% tổng nguồn vốn
Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn vốn tín dụngthương mại là một phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạttrong kinh doanh, hơn nữa, nó còn tạo khả năng mở rộng mốiquan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Các đièu kiệnràng buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên ký kết hợpđồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung Tuy nhiên, cầnnhận thấy tính chất rủi ro của quan hệ tín dụng thương mại khiquy mô tài trợ quá lớn
Chi phí việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qualãi vay của khoản vay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giáthành sản phẩm hay dịch vụ Khi mua bán hàng hoá trả chậm,chi phí này có thể ẩn dưới hình thức thay đổi mức giá, tuỳ theoquan điểm và thoả thuận giữa các bên Trong xu hướng hiệnnay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hình thức tín dụngngày các được đa dạng hoá và linh hoạt hơn, với tính chất cạnhtranh hơn; do đó các doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội lựachọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
1.1.3.2.2 - Phát hành trái phiếu.
Trang 18Trái phiếu là một công cụ tài chính rất quan trọng, thườngđược các công ty sử dụng vay mượn dài hạn Trái phiếu là mộtcam kết bằng văn bản được trình bày như một hợp đồng giữadoanh nghiệp và các trái chủ Mà trong đó doanh nghiệp sẽ camkết sẽ hoàn trả cả vốn gốc và tiền lãi cho trái chủ vào nhữngthời hạn cụ thể.
Trong những năm gần đây do có những biến động trên thịtrường tài chính nên thời hạn của trái phiếu thường ngắn hơntrước đây ( 7 - 15 năm so với 15 - 30 năm) Đồng thời việc pháthành các loại trái phiếu có lãi suất thả nổi ngày càng chở nênthông dụng, mặc dù lãi suất cố định vẫn còn được áp dụng khárộng rãi Trên trái phiếu có các thông tin như mệnh giá là mộtkhoản tiền mà doanh nghiệp hứa sẽ trả cho trái chủ ở thời điểmđáo hạn Lãi suất danh nghĩa là một tỷ lệ phần trăm nhất địnhcủa mệnh giá, được ghi ro trên trái phiếu và thường nửa nămmột lần Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi pháthành là lựa chọn loại trái phiếu nào thích hợp nhất với điều kiện
cụ thể của doanh nghiệp và tình hình bên thị trường tài chính
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì liênquan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng thi hành, lưuhành và tính hấp dẫn của trái phiếu Trước khi quyết định pháthành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại tráiphiếu Trên thị trường tài chính ở nhiều nước, hiện nay thườnglưu hành những loại trái phiếu doanh nghiệp như sau:
1.1.3.2.2.1 - Trái phiếu có lãi suất cố định.
Loại trái phiếu này thường được sử dụng nhiều nhất, tức làphổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suấtđược ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốtthời hạn của nó Như vậy cả doanh nghiệp và người giữ tráiphiếu đều biết rõ mức lãi suất của khoản nợ trong thời hạn tồn
Trang 19tại của trái phiếu Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thườngđược quy định rõ ràng Để huy động vốn trên thị trường bằngtrái phiếu, phải tính đến mức độ hấp dẫn của trái phiếu Tínhhấp dẫn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Lãi suất của trái phiếu: Đương nhiên người đầu tư muốnhưởng lãi suất cao nhưng doanh nghiệp phát hành phải cânnhắc lãi suất có thể chấp nhận được đối với trái phiếu của họ,chứ không thể trả thật cao cho các nhà đầu tư Lãi suất tráiphiếu phải đặt trong tương quan so sánh với lãi suất trên thịtrường vốn, đặc biệt phải tính đến sự cạnh tranh của các tráiphiếu của các công ty khác và trái phiếu chính phủ Giả sử tráiphiếu kho bạc nhà nước kỳ hạn 5 năm có lãi suất 7%/năm, tráiphiếu trung bình của một số công ty khác cùng kỳ hạn là8%/năm; khi đó để phát hành thành công trái phiếu, cần quyđịnh lãi suất sao cho có thể cạnh tranh được với mức lãi suất đó.Tuy nhiên, một ràng buộc khác là chi phí lãi vay mà công typhải trả cho các trái chủ Nếu đưa thêm các yếu tố khuyếnkhích vào trái phiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất
Kỳ hạn của trái phiếu: Đây là yếu tố rất quan trọng khôngnhững đối với công ty phát hành mà cả đối với nhà đầu tư Khiphát hành doanh nghiệp cần căn cứ vào tình hình thị trường vốn
và tam lý dân cư mới có thể xác định kỳ hạn hợp lý Ví dụ trongtháng 9/2001, ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam pháthành các loại trái phiếu vô danh và ghi danh với kỳ hạn 5 năm
và 7 năm Loại trái phiếu 5 năm bán được với số lượng rất lớnnhưng loại trái phiếu 7 năm thì không hấp dẫn công chúng
Uy tín của doanh nghiệp: Không phải doanh nghiệp nàocũng thu hút được công chúng mua trái phiếu, vì nhà đầu tưphải đánh giá uy tín của doanh nghiệp thì mới quyết định muahay không mua Các doanh nghiệp có uy tín và vững mạnh thì
Trang 20dể dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra công chúng đểhuy động vốn.
1.1.3.2.2.2 - Trái phiếu có lãi suất thay đổi.
Tuy gọi là lãi suất thay đổi nhưng thực ra loại này có lãisuất phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất quan trọng khác.Chẳng hạn, lãi suất LIBOR hoặc lãi suất cơ bản Khi nào nênphát hành trái phiếu có lãi suất thay đổi? Trong điều kiện cómức lạm phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định,doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếunày Do các biến động của lạm phát kéo theo sự giao động củalãi suất thực, các nhà đầu tư mong muốn được hưởng mức lãisuất thoả đáng khi so sánh với tình hình thị trường Vì vậy, một
số người ưu thích trái phiếu thả nổi Tuy nhiên, loại trái phiếunày cũng có một số nhược điểm:
+ Doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí
gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính
+ Việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian
thông báo các lần điều chỉnh lãi suất
1.1.3.2.2.3 - Trái phiếu có thể thu hồi.
Một số doanh nghiệp lựa chọn cách phát hành trái phiếu cóthể thu hồi, tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thờiđiểm nào đó Trái phiếu như vậy phải được quy định ngay khiphát hành để người mua trái phiếu được biết Doanh nghiệpphải quy định rõ thời gian tối thiểu mà trái phiếu sẽ không bịthu hồi Ví dụ, trong thời gian 36 tháng
Loại trái phiếu có thể thu hồi có những ưu điểm sau:
+ Có thể đươc sử dụng một cách điều chỉnh lượng
Trang 21thiết, doanh nghiệp có thể mua lại các trái phiếu, tức làgiảm khối lượng vay.
+ Doanh nghiệp có thể thay nguồn tài chính do phát
bằng một nguồn tài chính khác thông qua mua lại các tráiphiếu đó
Tuy nhiên, nếu không có sự hấp dẫn nào đó thì trái phiếunày không được ưu thích
1.1.3.2.2.4 - Chứng khoán có thể chuyển đổi.
Các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty mỹ, thường pháthành những chứng khoán kèm theo những điều kiện có thểchuyển đổi được Nói chung, sự chuyển đổi và lựa chọn chophép các bên có thể lựa chọn cách thức đầu tư có lợi và thíchhợp
Có một số hình thức chuyển đổi, ở đây chỉ đề cập hai loại:
+ Giấy bảo đảm: Người sở hữu giấy bảo đảm có thể
thường, được quy định trước với giá cả và thời gian xácđịnh
+ Trái phiếu chuyển đổi: Là loại trái phiếu cho phép
số lượng nhất định các cổ phiếu thường Nếu thị giá của cổphiếu tăng lên thì người giữ trái phiéu có cơ may nhận đượclợi nhuận cao
1.1.3.3 – THUÊ TÀI SẢN
Thuê tài sản là hình thức tài trợ thông qua cho thuê cácloại tài sản Đây là phương thức giao dịch khá lâu đời, song nhờsáng tạo ra nhiều hình thức giao dịch mới nên nó đã phát triểnrất mạnh mẽ tại các nước có nền kinh tế phát triển Ngày nay,thuê tài sản chiếm khoản 25 - 30% tổng giá trị trao đổi hàng
Trang 22năm của thị trường mua bán máy móc thiết bị thế giới Ở nước
ta, phương thức tài trợ khá đặc biệt nay mới ở giai đoạn khởixướng Phương thức tài trợ này không chỉ riêng có lợi cho doanhnghiệp mà còn có ích cho toàn nền kinh tế:
Lợi ích đối với toàn nền kinh tế:
+ Thuê tài sản góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinhtế
+ Thuê tài sản góp phần thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết
kỹ thuật và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
+ Trong trường hợp một quốc gia thu hút vốn từ thị trường
tái sản không làm tăng nợ nước ngoài của quốc gia đó
Lợi ích đối với người cho thuê:
+ Thuê tài sản là hình thức tài trợ có mức độ an toàn cao
ngân hàng
+ Thuê tài sản tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính linh
+ Thuê tài sản có tác dụng gia tăng tiềm năng của thị
Lợi ích đối với người thuê:
+ Người thuê có thể gia tăng năng lực sản xuất trong
tư vào máy móc thiết bị
+ Thuê tài sản có thể giúp người thuê không bị ứ đọng vốntrong TSCĐ
+ Thuê tài sản là phương thức rút ngắn thời gian triển khai
cơ hội kinh doanh
Trang 23+ Cho phép người thuê hiện đại hoá sản xuất theo kịp tốc
mới
+ Đối với những quốc gia không quy định vốn hoá tài sản
gây ảnh hưởng bất lợi cho các tỷ số tài chính của doanh
nghiệp
+ Thuê tài sản đem lại cho doanh nghiệp những khoản tiết
thuê làm giảm thu nhập chịu thuế
Thoả thuận thuê là một hợp đồng giữa hai hay nhiều bên,liên quan đến một hay nhiều tài sản Người cho thuê chuyểngiao tài sản cho người thuê độc quyền sử dụng và hưởng nhữnglợi ích kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Đổi lạingười thuê có nghĩa vụ trả một số tiền cho chủ tài sản tươngxướng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng đó
Như vậy, đặc điểm nổi bật của thuê tài sản là việc táchquyền sở hữu ra khỏi tài sản và do người cho thuê nắm giữ Đặctrưng này khác hẳn với các giao dịch mua bán máy móc thiết bịkhác Có hai phương thức thuê tài sản chủ yếu: phương thứcthuê ngắn hạn và phương thức thuê dài hạn tài sản
Thuê ngắn hạn tài sản:
Thời gian thuê ngắn so với toàn bộ đời sống hữu ích của tàisản Đồng thời các bên có thể huỷ ngang hợp đồng mà chỉ cầnbáo trước một thời gian ngắn Người cho thuê phải chịu mọi chiphí vận hành của tài sản như chi phí bảo trì; bảo hiểm; thuế liênquan đến tài sản…Cùng mọi rủi ro và sự sụt giảm giá trị tài sản.Mặt khác, người cho thuê được hưởng tiền thuê và sự gia tănggiá trị của tài sản hay những quyền lợi do quyền sở hữu tài sảnmang lại như những ưu đãi giảm thuế cổ tức, những khoản khấu
Trang 24trừ do sự sụt giảm giá trị tài sản mang lại Do thuê ngắn hạn tàisản là hình thức cho thuê ngắn hạn nên tổng số tiền mà ngườithuê phải trả cho người cho thuê có giá trị thấp hơn nhiều so vớitoàn bộ giá trị của tài sản Khi hợp đồng đến hạn, người chủ sởhữu có thể bán tài sản đó, hoặc gia hạn thuê hoặc tìm kháchhàng khác Người thuê có quyền sử dụng tài sản trong suốt thờigian đã thoả thuận và có bổn phận trả tiền thuê.
Thuê dài hạn tài sản:
Thuê dài hạn tài sản là một phương thức tài trợ dài hạnkhông thể huỷ ngang Theo phương thức này, người cho thuêthường mua tài sản, thiết bị mà người thuê cần và dã thươnglượng từ trước các điều kiện mua tài sản đó với nhà cung cấphoặc người cho thuê cung cấp tài sản của họ cho người thuê.Nhìn chung, các giao dịch được coi là thuê dài hạn tài sản khithời hạn thuê chiếm phần lớn đời sống hữu ích của tài sản vàgiá trị hiện tại thuần của toàn bộ của các khoản tiền thuê phải
đủ để bù đắp những chi phí mua tài sản tại thời điểm bắt đầuhợp đồng
1.2 - CHI PHÍ VỐN
1.2.1 - KHÁI NIỆM
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tìnhtrạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhấtđịnh Đây là báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với mọiđối tượng có quan hệ quản lý với doanh nghiệp Chi tiết ở bênphải bảng cân đối kế toán chỉ ra các nguồn vốn của doanhnghiệp Theo cách phân chia phổ biến nhất, nguồn vốn bao gồmkhoản nợ và vốn chủ sở hữu Nợ bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dàihạn Vốn của chủ sở hữu có thể bao gồm: cổ phiếu thường; cổphiếu ưu đãi và lợi nhuận không chia Tỷ trọng của các nguồn
đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn Bất cứ sự tăng lên của
Trang 25tổng tài sản phải được tài trợ bằng sự tăng thêm một hay nhiềuyếu tố cấu thành vốn Vốn là nhân tố cần thiết cho sản xuất.Cũng như bất kỳ một nhân tố nào khác, để sử dụng vốn doanhnghiệp phải bỏ ra một chi phí nhất định Chi phí của mỗi mộtnhân tố cấu thành gọi là chi phí nhân tố cấu thành của loại vốn
Mục đích chính của việc đánh giá chi phí sử dụng vốn là
để đạt được một tỷ lệ hoàn vốn tối thiểu có thể chấp nhận đượcđối với những dự án đầu tư mới
Do đó, những chi phí của một nguồn ngân quỹ thànhphần phải không làm ảnh hưởng xấu tới chi phí chung, nhữngchi phí trong quá khứ phải đáp ứng được những đòi hỏi hiện tạicủa các nhà đầu tư nếu doanh nghiệp muốn huy động nhữngnguồn ngân quỹ mới Để thực hiện được điều này, nếu chúng tagiả định rằng, chi phí nợ được xác định là lãi suất trên phần nợmới của doanh nghiệp và nếu những khoản đầu tư mới có mứcrủi ro tương tự như những tài sản hiện có, thì tỷ lệ sinh lời cầnthiết có thể ước tính bằng tỷ lệ sinh lời tại thời điểm đáo hạntrên món nợ chưa trả của doanh nghiệp Khi doanh nghiệp cónhiều trái phiếu chưa đáo hạn, chi phí nợ có thể xác định làtrung bình trọng của tỷ suất sinh lời tại thời điểm đáo hạn( YTM) trên nhiều trái phiếu khác nhau, được dùng làm tỷ trọngthay thế tỷ trọng theo giá trị thị trường của các loại trái phiếu
1.2.2.1.1 - Chi phí nợ trước thuế (K d ).
Trang 26Chi phí nợ trước thuế được tính toán trên cơ sở lãi suất nợvay, lãi suất này thường được ấn định trong hợp đồng vay tiền.
1.2.2.1.2 - Chi phí nợ sau thuế [K d ( 1 – T) ].
Tỷ lệ sinh lời tại thời điểm đáo hạn ( YTM) trên những trái phiếuhiện hữu đo lường những gì mà các trái chủ nhận được từ nhữngkhoản đầu tư của họ Nhưng bởi chi phí trả lãi làm giảm thuế,nên lãi suất sau thuế mà doanh nghiệp phải trả thấp hơn YTM.Nên chi phí nợ sau thuế có công thức: Kd(1 – T), trong đó T làthuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
1.2.2.2 - CHI PHÍ VỐN CHỦ SỞ HỮU.
Khi ban lãnh đạo công ty muốn tăng vốn cổ phần thường,
họ có thể hành động theo hai cách Thứ nhất, họ có thể giữ lại
và tái đầu tư một phần hay toàn bộ lợi nhuận ròng của công ty.Cách thứ hai, công ty phát hành cổ phiếu mới Có thể khái quátrằng, không có sự khác biệt giữa hai cách hành động này về chiphí tăng vốn cổ phần, ngoại trừ việc phát hành cổ phiếu thườngbao gồm cả chi phí phát hành dẫn tới chi tiêu nhiều hơn so vớilợi nhuận giữ lại Tuy nhiên, ngoài chi phí phát hành những nộidung được xem xét dưới đây ngụ ý bao hàm lợi nhuận giữ lại và
cổ phiếu thường mới
1.2.2.2.1 - Chi phí cổ phiếu ưu đãi (K p ).
Cổ phiếu ưu đãi có những đặc tính của cả trái phiếu và cổphiếu thường
Nếu chúng ta ký hiệu chi phí của cổ phiếu ưu tiên (Kp)được xác định bằng cách lấy cổ tức ưu tiên (Dp) chia cho giáphát hành thuần của cổ phiếu (Pn) là giá mà doanh nghiệp nhậnđược sau khi trừ đi chi phí phát hành và chi phí khác liên quan
đến cổ phiếu ưu đãi, công thức tính Kp như sau: K p =
D p
P n
Trang 271.2.2.2.2 - Chi phí cổ phiếu thường (K e ).
Khi độ lớn của khoản đầu tư mới vượt quá tiềm năng củacác nguồn tài trợ nội bộ, doanh nghiệp có nhu cầu huy độngvốn từ các nguồn bên ngoài Việc bán các loại cổ phiếu mới sẽlàm phát sinh chi phí phát hành và chi phí này không được coi làmột bộ phận của chi phí ước tính của lợi nhuận để lại Chi phíphát hành cổ phiếu thường được trả cho dịch vụ bảo đảm pháthành chứng khoán Trong khi đó những chi phí phát hành củanghiệp vụ phát hành những giấy tờ nợ mới chỉ chiếm một tỷ lệphần trăm rất nhỏ của phần vốn đã huy động Bởi vậy, nhữngchi phí liên quan đến phát hành cổ phiếu mới có ý nghĩa rấtquan trọng
Nếu ký hiệu F là chi phí phát hành và P0 là giá bán của cổphiếu mới thì phần vốn thuần của công ty nhận được là P0(1 - F)
Khi áp dụng mô hình tăng trưởng không đổi và đưanhững chi phí thả nổi vào suy xét, đòi hỏi chúng ta phải sử dụngkhoản tiền thuần nhận được P0( 1 - F), chứ không phải sử dụnggiá bán của cổ phiếu mới (P0) Do đó, chi phí của vốn cổ phầnmới được tính theo công thức sau, trong đó d1 = d0(1 + g) là cổtức năm thứ nhất còn g là tỷ lệ tăng trưởng cổ tức ( thực ra đâychỉ là cách giả sử mang tính tương đối):
P0(1−F ) + g
Áp dụng mô hình tăng trưởng giảm dần
Nếu ta ký hiệu d0, d1, d2 và d3 là cổ tức mà cổ phiếu đemlại trong 4 năm liên tiếp với d0 làm gốc và được tính như sau:
+ d1 = d0(1 + g)
Trang 28Nó được tính như sau:
Trong đó, NPV là hiện giá thuần của các khoản thu nhập
1.2.2.2.3 – Chi phí lợi nhhuận không chia (K s ).
Mặc dù có thể coi lợi nhuận giữ lại là một nguồn ngân quỹmiễn phí, vì lẽ không phải huy động chúng từ bên ngoài doanhnghiệp, nhưng điều đó không hẳn là hoàn toàn đúng Chi phícủa lợi nhuận không chia được đo lường bằng chi phí cơ hội, tức
là nếu những lợi nhuận này được chia thì cổ đông có thể đầu tư
và thu lợi nhuận từ bên ngoài doanh nghiệp Bởi vậy có thể coinhững lợi nhuận này là chi phí cơ hội của doanh nghiệp Do đặcđiểm này nên chi phí của lợi nhuận không chia rất khó xác địnhtrong thực tế Do đó, chúng ta thường sử dụng phương pháphỗn hợp mặc dù mục đích đều nhắm tới cùng loại chi phí, màthường dẫn tới những đánh giá hơi khác nhau, sau khi so sánh
và đối chiếu chúng với nhau
Trang 29Trong thực tế có 4 phương pháp thường được dùng đểxác định chi phí lợi nhuận không chia:
+ Phương pháp CAPM
+ Phương pháp lấy lãi suất trái phiếu cộng phần bù rủi ro.+ Sử dụng mô hình tăng trưởng không đổi
+ Sử dụng mô hình tăng trưởng giảm dần
Phương pháp CAPM (mô hình định giá tài sản tài chính)
Phương pháp này được thực hiện như sau:
+ Bước 1: Xác định lợi tức của tài sản không có rủi ro KRF.Lợi tức này thường tương đương với lãi suất trái phiếu kho bạc
+ Bước 2: Dự báo hệ số bêta (bi) của cổ phiếu và sử dụng
nó như là hệ số rủi ro của cổ phiếu
Có hai cách để tính hệ số rủi ro (bi)
* Cách 1: Bêta được xác định bằng cách lấy hiệp phươngsai của lợi tức của một chứng khoán với lợi tức của danh mục thịtrường chia cho phương sai của danh mục thị trường, công thức:
b i = COV ( R i , R M)
VA R( R M)
* Cách 2: Bêta có thể tính bằng cách lấy độ lệch chuẩncủa lợi tức một chứng khoán chia cho độ lệch chuẩn của lợi tứcdanh mục đầu tư, công thức:
b i = δ (R i)
δ( R M)
Trong đó, việc tính độ lệch chuẩn có thể dựa vào sự phânphối xác suất hoặc dựa trên số liệu lịch sử:
Trang 30- Nếu tính dựa trên phân phối xác suất thì độ lệch chuẩnđược tính như sau:
+ Bước 3: Dự đoán lãi suất mong đợi trên thị trường hoặc
là lợi tức mong đợi đối với cổ phiếu có độ rủi ro trung bình (KRM)
+ Bước 4: Thay thế những giá trị trên vào phương trìnhCAPM để xác định tỷ lệ lợi tức mong đợi (Ks) đối với cổ phiếuđang xét:
K S = K RF + (K RM − K RF)∗b i
Phần lợi nhuận trả cho rủi ro, (KRM – KRF) có thể được tínhbằng giá trị trung bình của phần cao hơn tỷ lệ lợi tức trên rủi rotối thiểu của thị trường vốn, trong một khoảng thời gian dài
Trang 31Người ta thường lấy lãi suất trái phiếu kho bạc dài hạn để tínhtoán.
Phương pháp lãi suất trái phiếu cộng với mức bù rủi ro
Mặc dù có tính chủ quan trong việc tiếp cận, các nhàphân tích thường dự báo chi phí của cổ phiếu thường của mộtdoanh nghiệp bằng việc cộng một mức bù rủi ro khoảng từ 3 – 5
% vào lái suất nợ dài hạn của doanh nghiệp Như vậy, nhữngdoanh nghiệp có rủi ro cao, xếp hạng thấp và có nợ với lãi suấtcao cũng có vốn cổ phần với chi phí cao
Ks = lãi suất trái phiếu + phần bù rủi ro
Phương pháp sử dụng mô hình tăng trưởng không đổi
Giá của cổ phiếu thường phụ thuộc vào cổ tức mong đợivới cổ phiếu đó Ta có thể cho rằng, giá của một cổ phiếu Po
bằng giá trị hiện tại của các dòng cổ tức mong đợi nhận đượctrong tương lai:
+ P0 là giá trị hiện tại của cổ phiếu
+ Ks lãi suất chiết khấu (chi phí vốn lợi nhuânkhông chia)
Nếu cổ tức mong đợi của doanh nghiệp tăng đều với tỷ lệ
Trang 32 Phương pháp sử dụng mô hình tăng trưởng giảm dần.
Giả sử trong 3 năm đầu lợi tức của cổ phiếu thường tăngtrưởng với tỷ lệ g và các năm sau lại tăng trưởng với tỷ lệ t (t <
Trang 331.3 – CHI PHÍ VỐN BÌNH QUÂN (WACC)
Doanh nghiệp có nhiều nguồn huy động và do đó cũng cónhiều khoản chi phí sử dụng vốn Các nguồn này có thể đượcsắp xếp, phân loại thành một số nguồn chính Chẳng hạn,chúng ta có thể phân biệt hai thành phần chính trong nguồnvốn của doanh nghiệp là nợ và vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, trong
đó còn có nhiều yếu tố cấu thành, thí dụ: Các nguồn ngân quỹ
Trang 34của doanh nghiệp gồm nợ ngân hàng; nợ các trái chủ; nợ nhàcung cấp; cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường…Trong thực tế,
cơ cấu vốn mang tính mục tiêu dài hạn của các doanh nghiệpthậm chí còn khác hẳn với mục tiêu hoạt động ngắn hạn Chẳnghạn, họ có thể tài trợ cho một số dự án hoàn toàn bằng tiền vay
và để đảm bảo cơ cấu vốn mục tiêu, các doanh nghiệp có thểtài trợ cho các cuộc đầu tư tiếp theo với tỷ lệ vốn cổ phần lớnhơn
Nếu ta gọi Wi (i : 1 tới n) thể hiện tỷ lệ hay tỷ trọng củanguồn vốn thứ i và Ki là chi phí của nguồn vốn thứ i thì chi phívốn bình quân (WACC) của doanh nghiệp được tính:
án Chúng ta có thể tính được WACC như sau:
WACC = 0,6*20% + 0,05*14% + 0,35*6% = 14,8%
Trong trường hợp này, nếu tỷ lệ sinh lời của dự án mớithấp hơn chi phí vốn bình quân (14,8%) thì sẽ không đủ bù đắpcho những người cung cấp ngân quỹ Do đó, tỷ lệ sinh lời 14,8%
là chi phí sử dụng vốn hợp lý
1.4 – CƠ CẤU VỐN MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP
1.4.1 – CƠ CẤU VỐN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CƠ CẤU VỐN
1.4.1.1 – CƠ CẤU VỐN
Trang 35Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tìnhtrạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhấtđịnh Đây là báo cáo tài chính có ý nghĩa quan trọng và ngắngọn nhất về nguồn vốn và tài sản của doanh nghiệp, là tư liệu
có ích cho những người có liên quan với doanh nghiệp Bảngcân đối kế toán được chia thành hai cột, cột bên trái liệt kê cáckhoản mục tài sản có tính thanh khoản từ cao xuống thấp, còncột bên phải chỉ ra các nguồn vốn của doanh nghiệp Theo cáchphân chia phổ biến nhất nguồn vốn bao gồm các khoản nợ vàvốn chủ sở hữu Nợ bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn Vốn củachủ có thể gồm cổ phiếu thường; cổ phiếu ưu đãi và lợi nhuậnkhông chia Tỷ trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính
là cơ cấu vốn Bất cứ sự tăng thêm của tổng tài sản phải đượctài trợ bằng việc tăng thêm một hay nhiều yếu tố cấu thànhvốn
1.4.1.2 - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CƠ CẤU VỐN.
Có bốn nhân tố tác động đến những quyết định về cơ cấuvốn:
Thứ nhất, rủi ro kinh doanh Đây là loại rủi ro tiềm ẩntrong tài sản của doanh nghiệp Rủi ro kinh doanh càng lớn tỷ lệ
nợ tối ưu càng thấp
Thứ hai, chính sách thuế Thuế thu nhập doanh nghiệp
có ảnh hưởng đến chi phí của nợ vay thông qua điều tiết phầntiết kiệm nhờ thuế, thuế suất cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp
sử dụng nợ do phần tiết kiệm nhờ thuế tăng lên
Thứ ba, khả năng tài chính của doanh nghiệp Đặc biệt
là khả năng tăng vốn một cách hợp lý trong điều kiện có tác
Trang 36động xấu Các nhà quản lý tài chính biết rằng, tài trợ vốn vữngchắc là một trong những điều kiện cần thiết để doanh nghiệphoạt động ổn định và có hiệu quả Họ cũng biết rằng, khi thựchiện chính sách tiền tệ thắt chặt trong nền kinh tế hoặc khi mộtdoanh nghiệp đang trải qua những khó khăn trong hoạt động,những nhà cung ứng vốn muốn tăng cường tài trợ cho nhữngdoanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh Như vậy, nhucầu vốn tương lai và những hậu quả thiếu vốn có ảnh hưởngquan trọng đối việc xây dựng cơ cấu vốn.
Thứ tư, do quan điểm của nhà quản lý Một số nhà quản
lý tài chính sẳn sàng sử dụng nhiều nợ hơn, trong khi đó, một sốngười khác lại muốn sử dụng vốn chủ sở hữu
Bốn nhân tố trên tác động rất mạnh tới việc xác định cơ cấuvốn
1.4.2 – CƠ CẤU VỐN MỤC TIÊU
Như chúng ta đã biết ở trên, cơ cấu vốn là tỷ trọng củacác nguồn thành phần trong tổng nguồn Sau khi nghiên cứu cơcấu vốn và phân tích một số nhân tố, việc tiếp theo là thiết lập
cơ cấu vốn mục tiêu Mục tiêu này có thể thay đổi theo thời giankhi những điều kiện thay đổi, nhưng tại bất kỳ thời điểm nàocho trước, ban quản lý doanh nghiệp đều có một cơ cấu vốnnhất định và những quyết định tài trợ phải thích hợp với mụctiêu này Chính sách cơ cấu vốn liên quan tới mối quan hệ giữalợi nhuận và rủi ro, cơ cấu vốn tối ưu là cơ cấu vốn cần đạt đượccân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận Còn cơ cấu vốn mục tiêu là cơcấu mà các nhà quản lý tài chính cần đạt được, sao cho gần sátvới cơ cấu vốn tối ưu
Trang 37Để xác định cơ cấu vốn mục tiêu, chúng ta sẽ xem xétảnh hưởng của cơ cấu vốn tới thu nhập của mỗi cổ phần (EPS)
và chi phí vốn bình quân (WACC)
Ảnh hưởng của cơ cấu vốn tới EPS
Trong phần trình bày này, chúng ta xem xét ảnh hưởngcủa việc sử dụng nợ tới EPS thông qua giá trị tài sản, nợ, vốn cổphần và số lượng cổ phần của doanh nghiệp A như sau:
Trang 38bình 0,2
109,76
282,24
858,24
1,430
Trang 39275,04
851,04
Trang 40chịu thuế 8
nhập (28%)
(124,096)
99,904
323,904
256,896
832,896
1408,896
1984,896
10,4112
17,611
Ảnh hưởng của đòn bẩy nợ trên thu nhập của mỗi cổ phần
Qua việc phân tích tài chính trong bảng trên và xác suấtxảy ra các cấp độ tình trạng của nền kinh tế, chúng ta có thểtính được độ lệch chuẩn của EPS, khi doanh nghiệp A tăng dần
Độ lệch chuẩ n EPS
Suy thoái 0,1
dưới suy thoái 0,2
Trung bình 0,4
Trên trung bình 0,2
Bùng nổ 0,1
9
25%
0,4896
-0,4704
1,430
3,3504
1,4304
1,052