Như vậy do sản phẩm của Công ty đa dạng cho nên đòi hỏi phải xâydựng hệ thống định mức sử dụng vật liệu nói chung và chủ yếu là vật liệuchính một cách hợp lý, tiết kiệm, cũng như trong v
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây khi mà sự thay đổi về tình hình kinh tế xãhội cũng như sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật đã làm chotình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt Với sự mởcửa của nền kinh tế, các doanh nghiệp đứng trước rất nhiều thuận lợi nhưngkèm theo đó cũng có không ít khó khăn, do đó yêu cầu các doanh nghiệp phảinăng động, mềm dẻo trong việc điều chỉnh hướng kinh doanh của mình Bêncạnh đó đòi hỏi phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện có trong đó cóvật liệu là một nguồn lực rất quan trọng cần được chú ý
Đối với Công ty May 19/5 ngoài một số vật liệu được ngành công ancấp phát thì phần còn lại là do Công ty tự mua sắm Vật liệu của Công ty chủyếu được mua trong nước và có phần bị khan hiếm, hơn nữa lại chỉ diễn ra khi
có đơn đặt hàng cụ thể Do vật liệu trên thị trường trong nước tương đối khanhiếm nên trong quá trình sản xuất cần phải sử dụng sao cho hợp lý và tiếtkiệm vật liệu để sản xuất có hiệu quả, tránh tình trạng lãng phí Nhận thấy
tầm quan trọng của vấn đề cho nên em đã lựa chọn đề tài “ Sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật liệu chính ở Công ty May 19/5 - Bộ Công An” để làm chuyên
đề tốt nghiệp
Nội dung bài viết gồm ba phần:
- Phần I: Tổng quan về Công ty May 19/5 - Bộ Công An
- Phần II: Phân tích thực trạng sử dụng vật liệu chính của Công ty May 19/5
- Bộ Công An
- Phần III: Giải pháp sử dụng hợp lý tiết kiệm vật liệu chính của Công ty
May 19/5 - Bộ Công An
Trang 2Bài viết được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn tận tình của PGS.TSĐinh Ngọc Quyên, các cô chú và anh chị trong Phòng Kế hoạch - -vật tư củaCông ty May 19/5 - Bộ Công An Do trình độ lý luận cũng như kiến thứcthực tiễn còn hạn chế nên bài viết còn nhiều chỗ sơ sài em mong đựoc sựđóng góp của thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Ngọc Quyên cùng các côchú và anh chị trong Phòng Kế hoạch - vật tư Công ty May 19/5 đã tận tìnhgiúp đỡ em hoàn thành bài viết này
Trang 3PHẦN I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY MAY 19/5 –BỘ CÔNG AN
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty May 19/5 –Bộ Công An
1.1 Quá trình hình thành
Vào cuối những năm 80 đầu những năm 90, khi nền kinh tế của đấtnước từng bước chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thịtrường có sự điều tiết của Nhà nước, lực lượng Công an vốn được nhà nướcbao cấp hoàn toàn bằng hiện vật cũng đã bắt đầu chịu sự tác động của chính
cơ chế thị trường ấy Do yêu cầu tự trang trải kinh phí thay cho việc nhận hiệnvật trực tiếp và do yêu cầu về tổ chức, giảm biên chế tạo sức ép giải quyếtviệc làm cho cán bộ chiến sĩ dư thừa, cho con em cán bộ chiến sĩ có hoàncảnh khó khăn, vì vậy lực lượng công an đã đề xuất và được chấp nhậncho ra đời một số đơn vị sản xuất kinh doanh vừa có thể sản xuất cungcấp cho ngành vừa có thể tham gia thị trường nếu năng lực dư thừa Do đóCông ty May 19/5- Bộ Công An được ra đời
Công ty May 19/5 được thành lập năm 1988 theo quyết định số727/QĐ-BNV(H14) của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, trên cơ sở hợp nhất Xí nghiệpMay 19/5 và Xí nghiệp trang phục Công ty có hai xí nghiệp thành viên, cómột xí nghịêp tại miền Nam và có một xí nghiệp đang xây dựng dự tính cuốinăm nay đưa vào sản xuất
*Tên doanh nghiệp : Công ty May 19/5 – Bộ Công An
*Tên tiếng Anh : Garment Company No 19/5
*Trụ sở chính : Phường Thanh Xuân – Quận Thanh Xuân
- Hà Nội
*Loại hình doanh nghiệp : Doanh nghiệp Nhà nước
Trang 4*Cơ quan cấp trên : Tổng cục hậu cần – Bộ công an.
1.2 Các giai đoạn phát triển của Công ty May 19/5 - Bộ công an
- Giai đoạn 1: Từ năm 1988- 1993
Xí nghiệp May 19/5 và Xí nghiệp sản xuất trang phục, tiền thân củaCông ty May 19/5, được thành lập năm 1988 theo quyết định của bộ trưởng
Bộ nội vụ ( nay là Bộ Công An ) do tổng cục hậu cần trực tiếp quản lý
và có trụ sở chính tại Phường Thanh Xuân Bắc – Quận Thanh Xuân – Hà Nội.Thời gian đầu do quy mô nhỏ, năng lực hạn chế, xí nghiệp May 19/5 và xínghịêp trang phục hoàn toàn phục vụ công tác may quần áo cho cán bộ chiến
sĩ, phạm nhân và sản xuất giày, mũ, dây lưng, quân hàm, Trong nội bộngành cũng chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu ngành Được sự quantâm chỉ đạo, tạo điều kiện khuyến khích từ lãnh đạo cấp cao nhất của bộ Xínghiệp May 19/5 cũng như Xí nghịêp trang phục đã từng bước phát triển, quy
mô được mở rộng, vốn được bổ sung, máy móc thiết bị từng bước được hiệnđại, đội ngũ cán bộ quản lý và công nhân ngày càng được cũng cố và nângcao trình độ chuuyên môn, tay nghề, chất lượng sản phẩm ngày càng đượcnâng cao Tỷ trọng sản phẩm may trang phục cho ngành tăng lên khôngngừng và đã có uy tín trong ngành
- Giai đoạn 2: Từ năm 1993- 1996
Do yêu cầu của công tác sắp xếp lại tổ chức, hợp lý hóa sản xuất trongcác doanh nghiệp của nhà nước nói chung và của ngành Công An nói riêng,thực hiện Nghị định 338/ HĐBT của hội đồng bộ trưởng( nay là Chính phủ),
Xí nghiệp May 19/5 và Xí nghiệp sản xuất trang phục đã được thành lập theocác quyết định số 302/ QĐ - BNV (H11), 310/ QĐ - BNV (H11) ngày 07- 09– 1993 của bộ trưởng Bộ nội vụ ( nay là Bộ Công An )
- Giai đoạn 3: Từ năm 1996- 1999
Trang 5Ngày 25 - 10 – 1996, Bộ trưởng Bộ nội vụ (nay là Bộ Công An) đã kýquyết định số 727/ QĐ - BNV (H11) thành lập doanh nghịêp nhà nước Công
ty May 19/5 và Xí nghịêp sản xuất trang phục Từ đây ngành may mặc vàđảm bảo quân trang của lực lượng công an nhân dân đã có một đơn vị doanhnghiệp thống nhất và quy mô đảm nhận, đảm bảo cơ bản nhu cầu của ngành
và có một vị trí tương đối vững chắc trên thị trường
Khi mới hợp nhất, Công ty May 19/5 gặp phải rất nhiều khó khăn màkhó khăn lớn nhất là vấn đề thiếu vốn kinh doanh Tại quyết định thành lậpghi rõ: Vốn của Công ty May 19/5 (Tính theo thời giá ngày 31-12-1995) là1.991.883.359 VNĐ, trong đó vốn cố định là 1.085.916.919 VNĐ chiếm54,52% trong tổng số vốn của Công ty, vốn lưu động là 905.966.440 VNĐchiếm 45,48% trong tổng số vốn của Công ty Với số vốn ít như vậy đặc biệt
là vốn cố định, không đảm bảo cho sản xuất kinh doanh Để giải quyết khókhăn này doanh nghiệp đã phải tìm hiểu nhiều giải pháp tháo gỡ, tạo thêmnguồn vốn từng bước đưa sản xuất vào thế ổn định Một mặt Công ty sắp xếplại tổ chức, bố trí lao động cho phù hợp với nhiệm vụ mới, tích cực tìm kiếmviệc làm mới cho người lao động Mặt khác, Công ty cũng cố gắng sản xuất,tìm ra khách hàng, bạn hàng làm ăn lâu dài
Trong quá trình hoạt động thực hiện phương châm kinh doanh có hiệuquả vừa tích luỹ mở rộng sản xuất vừa đảm bảo không ngừng nâng cao đờisống người lao động Công ty đã có nhiều cố gắng dám nghĩ, dám làm và họchỏi kinh nghiệm từ các doanh nghiệp khác Với cách làm này Công ty đã tạo
ra được thị trường tương đối ổn định, đảm bảo việc làm và thu nhập chongười lao động Công ty đã có một đội ngũ cán bộ công nhân viên có chuyênmôn khá, sản xuất được những sản phẩm chất lượng tốt trên dây chuyền sảnxuất tiên tiến hiện đại Tổng số vốn kinh doanh của Công ty cuối năm 2001 đã
Trang 6được nâng lên là 150.268 triệu đồng trong đó vốn cố định là 6.085 triệu đồng,vốn lưu động là 9.183 triệu đồng.
- Giai đoạn 4: Từ năm 1999- đến nay
Để khẳng định tính đặc thù của doanh nghiệp công ích phục vụ nội bộngành, ngày 23-11-1999 Bộ trưởng Bộ Công An đã ký quyết định số736/1999/QĐ- BCA (X13) về việc chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước sangdoanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích của Công ty May 19/5 trên cơ sởgiữ nguyên pháp nhân doanh nghiệp Nhà nước, Công ty May 19/5 thuộc BộCông An chuyển sang hoạt động công ích làm nhiệm vụ sản xuất, cung cấptrang phục và các nhu yếu phẩm trực tiếp phục vụ ngành Công An Khi nănglực dư thừa Công ty có thể sản xuất các sản phẩm theo đơn đặt hàng và báncác sản phẩm của mình ra thị trường trong nước và nước ngoài
2 Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật ảnh hưởng đến sử dụng vật liệu chính ở Công ty May 19/5 - Bộ Công An.
2.1 Đặc điểm về sản phẩm.
Công ty May 19/5- Bộ Công An là đơn vị sản xuất quần áo, quân trang,quân nhu cho ngành Công an và cho xuất khẩu Ngay khi mới thành lập việcsản xuất sản phẩm của Công ty là do Bộ Công An giao nhiệm vụ, được cấpphát vật liệu để thực hiện sản xuất Nhưng từ năm 1999 đến nay thì kế hoạchsản xuất sản phẩm là do Công ty quyết định một phần, số lượng sản xuất hàngnăm được căn cứ vào thực trạng máy móc thiết bị của Công ty, nguồn nhânlực hiện có, dây chuyền công nghệ sản xuất và nhu cầu trên thị trường từ đóCông ty xây dựng kế hoạch cụ thể cho từng năm Một số loại vẫn do Bộ Công
an quyết định như quần áo sĩ quan, quần áo hạ sĩ quan, quần áo lễ phục, BộCông An sẽ cấp vật liệu và mẫu thiết kế để Công ty tiến hành sản xuất đểphục vụ cho ngành
Trang 7Hiện nay Công ty đang sản xuất theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, với rấtnhiều loại sản phẩm mẫu mã khác nhau để phục vụ cho các chiến sĩ công anthuộc các lĩnh vực khác nhau của ngành Công an Bên cạnh đó Công ty cũngluôn tìm kiếm hợp đồng gia công xuất khẩu trong khu vực như thị trường củaLào, Campuchia Công ty May 19/5 sản xuất những sản phẩm chủ yếu sauđây.
Bảng 1: Cơ cấu sản phẩm chủ yếu
3 QA xuân hè sĩ quan may đo 17 Vỏ chăn các loại
4 QA thu đông sĩ quan may đo các loại 18 Áo bông gác
5 QA xuân hè hạ sĩ quan cỡ số 19 Áo jile may đo
6 QA thu đông hạ sĩ quan cỡ số 20 Áo sơ mi trắng
10 QA thu đông tiêu binh 24 Tăng võng
13 Áo trấn thủ các loại 27 QA phạm cọc
14 Mũ cứng an ninh + cảnh sát 28 Calavat các loại
( Nguồn: Phòng kế hoạch vật tư - Công ty May 19/5- Bộ Công An)
Sản phẩm của Công ty May 19/5 chủ yếu là quần áo phục vụ ngànhCông an nó mang tính đặc thù riêng, sản phẩm sản xuất ra được ngành Công
an bao tiêu do vậy chất lượng sản phẩm sẽ phải được đảm bảo hoàn toàn Để
Trang 8đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt thì trên tất cả các nơi làm việc, tất cả mọichi tiết sản phẩm đều phải đảm bảo chất lượng từ khâu cắt - may cho đếnhoàn thiện sản phẩm Cũng có những sản phẩm có kết cấu đơn giản như áo sơ
mi , nhưng cũng có những sản phẩm có kết cấu phúc tạp như áo jacket rất khókhăn trong việc sản xuất do đó tất cả các chi tiết đều phải đảm bảo yêu cầuchất lượng Bên cạnh đó do đặc trưng riêng của sản phẩm là phục vụ ngànhCông an, mang tính nghiêm trang cho nên từ kiểu dáng, chất liệu cho đến màusắc đều phải phù hợp với quy định của ngành công an, chỉ được thay đổi khiQuốc hội thông qua
Ngoài ra Công ty còn xuất khẩu hàng may mặc trên cơ sở hợp đồng uỷthác gia công xuất khẩu được ký kết giữa Công ty với các bạn hàng Công tytiếp nhận vật liệu, mẫu và tài liệu từ bên đặt gia công để tiến hành sản xuấtsản phẩm Những sản phẩm mà Công ty đặt gia công chủ yếu là: áo jacket( một lớp, hai lớp, ba lớp), quần áo thể thao, áo nỉ, áo sơ mi, quần áo Côngan tất cả các sản phẩm này đều phải có kiểu dáng, chất liệu, màu sắc phùhợp với yêu cầu của khách hàng
Như vậy do sản phẩm của Công ty đa dạng cho nên đòi hỏi phải xâydựng hệ thống định mức sử dụng vật liệu nói chung và chủ yếu là vật liệuchính một cách hợp lý, tiết kiệm, cũng như trong việc dự trữ, cấp phát, vàquản lý nguồn vật liệu một cách tiết kiệm nhất
Mặt khác sản phẩm chủ yếu của Công ty là hàng may mặc cho nên chiphí vật liệu chính chiếm tỷ lệ rất lớn trong giá thành sản phẩm, do đó sử dụnghợp lý tiết kiệm vật liệu chính sẽ là phương hướng chủ yếu để hạ giá thànhsản phẩm
2.2 Đặc điểm về quy trình công nghệ may sản phẩm
Do sản phẩm của Công ty May 19/5 rất đa dạng nhưng các sản phẩm chủyếu đều là sản phẩm may mặc trong đó quần áo là sản phẩm chủ yếu Quá
Trang 9phân xưởng cắt (rải vải 70 cái một lần theo cỡ số xác định hoặc theo may đo)
Phân xưởng may(may theo cỡ số đã cắt
và hoàn thiện sản phẩm) KCS kiểm tra
Nhập thành phẩm từ các phân xưởng
để hoàn thiện
trình may sản phẩm được thực hiện theo dây chuyền nên cần phải có sự quan
hệ chặt với nhau giữa các khâu trong dây chuyền sản xuất thì dây chuyền mớithực hiện được, quá trình sản xuất sản phẩm của Công ty mới tiến hành được Quy trình may sản phẩm bao gồm các bước sau đây
Sơ đồ 1: Quy trình may sản phẩm
không đạt
Từ sơ đồ trên ta có thể khái quát gồm các bước sau đây:
1 Tiến hành đo nếu sản phẩm là may đo, hoặc xác định cỡ số
2 Cắt các chi tiết sản phẩm
Phân xưởng đo- xác định cỡ số
Kiểm tra xác xuất (5-10%)
Nhập kho thành phẩm
Trang 10Xếp vải Cắt các chi
tiết áo
May chi tiết
Ráp áo
Thùa khuyết Đơm khuy
Là áo
Xếp vải Cắt các chi tiết áo (áo
một lớp,hai lớp, ba lớp) May chi
tiết
Ráp áoThùa khuyết
5 Nhập thành phẩm từ các phân xưởng để hoàn thiện
6 Kiểm tra xác suất ( thường kiểm tra 5- 10%)
7 Nhập kho thành phẩm nếu đạt yêu cầu
8 Nếu không đạt thì đưa lại phân xưởng sữa lại
Tuy nhiên mỗi sản phẩm sẽ co quy trình sản xuất riêng, dưới đây là quy trình may áo sơ mi và áo jacket
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất áo sơ mi
Sơ đồ 3: Quy trình may áo Jacket
Trang 111 1
Mặc dù sơ đồ may áo sơ mi và áo Jacket tương đối giống nhau nhưngquy trình may áo Jacket phức tạp hơn nhiều, số lượng các chi tiết cũng nhiềuhơn Tuỳ theo áo đó là một lớp, hai lớp hay ba lớp mà mức độ phức tạp sẽnhiều hơn
Nhìn vào sơ đồ trên ta thấy vật liệu dễ bị lãng phí nhất ở khâu xếp vải,khâu cắt các chi tiết sản phẩm, may các chi tiết sản phẩm
- Ở khâu xếp vải thì có thể do cách xếp vải không khoa học, vải xếp quádày nên dễ bị sai lệch, do trình độ của công nhân chưa cao dễ gây lãng phívật liệu
- Ở khâu cắt vải cũng như khâu may các chi tiết sản phẩm thì do trình độtay nghề cũng như ý thức lao động của công nhân chưa cao và do máy mócthiết bi đã lạc hậu nên vật liệu dễ bị lãng phí nhiều
Do vậy để có thể giảm bớt lãng phí vật liệu thì cần chú ý trải vải khôngquá nhiều, đặt giác mẫu sao cho hợp lý để lượng vải thừa ít nhất Cần đầu tưmáy móc thiết bị, nâng cao trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm của côngnhân Những vật liệu như chỉ, khuy, khoá là những vật liệu phụ nên côngnhân khi sản xuất có thể không chú ý quan tâm nhiều vì nghĩ nó không quantrọng cũng lànguyên nhân làm lãng phí rất nhiều chủ yếu là ở khâu thùakhuyết, đơm khuy Cần yêu cầu công nhân bảo quản một cách tốt nhất và hợp
lý nhất tránh tình trạng lãng phí quá nhiều
Trang 12Như vậy để sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật liệu thì cần chú ý tiết kiệmtrên tất cả các bước công việc đặc biệt là trên khâu xếp vải, cắt các chi tiếtsản phẩm, may các chi tiết sản phẩm .
2.3 Đặc điểm về máy móc thiết bị
Từ năm 2004 Công ty đã đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, cải tiến kỹthuật nhằm nâng cao năng suất lao động đáp ứng yêu cầu sản xuất của Công
ty Công ty đã đầu tư một nhà xưởng hiện đại, một dây chuyền công nghệbằng các thiết bị đo, cắt, may do Nhật Bản, Đài Loan, Mỹ, Hồng Kông sảnxuất với năng suất thiết kế là 10.000 bộ tiêu chuẩn / năm Với tổng số vốn đầu
tư là 2920 triệu đồng, trong đó vốn vay là 729,2 triệu đồng còn lại là vốn tự
có của Công ty Dây chuyền đã được đưa vào hoạt động từ ngày 1/4/2004 và
đã đáp ứng được năng suất thực tế của Công ty Hiện tại máy móc thiết bị củaCông ty còn bao gồm các loại máy sau đây:
Bảng 2: Cơ cấu máy móc thiết bị của Công ty
STT Danh mục thiết bị Nước sản xuất Số lượng Nguyên giá (đồng) Giá trị còn lại (đồng) %
1 Hệ thống là hơi CHBE 40-6 bàn ủi Nhật Bản 1 bộ 91614600 1963100 2,14
2 Máy một kim điện tử Unicorn Đài Loan 246 chiếc 28153620 24466838 86,9
3 Máy một kim sén biên Unicorn Đài Loan 468 chiếc 46414132 30336104 49
4 Máy 2 kim 5 chỉ 757F-
5 Máy 2 kim di động LT2-
6 Máy cắt đẩy tay KMKSAU 8” Nhật Bản 1 chiếc 167796010 3856696 2,29
7 Máy cắt vòng KM-BK900 Đài Loan 1 chiếc 109298214 43684190 39,9
9 Máy ép lăn keo+ 1 bình hơi Hồng Kông 2 chiếc 56000000 23200000 41,4
10 Máy may 2 kim Juki LH3168 Nhật Bản 310 chiếc 320651100 73291700 22,8
12 Máy vắt sổ Juki MO3604 Nhật Bản 121 chiếc 17254083 6310283 35,2
13 Hệ thống lò hơi đốt bằng than Hồng Kông 1 bộ 156476200 34122470 21,8
14 Máy đính cúc Juki MB-
15 Máy cán cao su CA360 Hồng Kông 3 chiếc 282000000 53714500 18,8
16 Máy may KANSAI 4 chỉ
Trang 13(Nguồn: Phòng Tài chính - kế toán Công ty May 19/5- Bộ Công An)
Hiện nay Công ty đã có 714 máy may một kim, 385 máy may hai kim,
123 máy là hơi nước, máy thùa khuyết, máy chảy vải, máy chặt mếch, máy épkeo, Với việc đầu tư những dây chuyền công nghệ mới đảm bảo cho Công
ty đáp ứng yêu cầu năng suất lao động đồng thời nâng cao chất lượng sảnphẩm Do máy móc thiết bị được nhập khẩu là chủ yếu cho nên các thông số
kỹ thuật trong máy đo rất chính xác, trong máy cắt không bị sai lệnh do đólàm giảm lượng vật liệu bị hư hỏng trong giai đoạn này đặc biệt là vật liệuchính được tiết kiệm rõ rệt Tuy nhiên do máy móc của Công ty một số đã bịlạc hậu và khấu hao hết nhưng Công ty vẫn còn dùng do vậy gây lãng phí vậtliệu như máy cắt do sử dụng đã lâu nên khi trải vải thì một số vải phía dưới sẽ
bị cắt lệch làm sản phẩm đó bị hỏng Hoặc trong khi may cũng dễ gây rối chỉnhiều, mà nhiều công nhân không có ý thức sẽ làm lãng phí rất nhiều chỉ…
Do vậy Công ty cần đầu tư máy móc thiết bị đã quá lạc hậu để nhằm nâng
cao năng suất lao động và giảm lãng phí vật liệu trong quá trình sản xuấtnguyên nhân do máy móc thiết bị gây ra
2.4 Đặc điểm về nguồn tài chính
Vốn kinh doanh đó là một nhân tố quan trọng quyết định quá trình sản
xuất kinh doanh của Công ty, quyết định đến cơ hội kinh doanh của Công ty
Công ty May 19/5 đã được thành lập khá lâu nhìn chung tình hình tàichính của Công ty tương đối ổn định và ngày càng phát triển về quy mô chonên Công ty rất chủ động trong sản xuất kinh doanh Dưới đây là tình hình tàichính của Công ty trong giai đoạn từ năm 2005 – năm 2006:
Trang 14Bảng 3: Tình hình tài chính của Công ty trong hai năm 2005-2006
(Nguồn: Phòng tài chính kế toán Công ty May 19/5- Bộ Công An )
Qua bảng trên ta thấy khả năng huy động vốn của Công ty là khá mạnh
cả vốn chủ sở hữu lẫn công nợ phải trả Nguồn vốn chủ sở hữu tăng tức hệ sốtài trợ tăng từ 0,69 của năm 2005 lên 0,75 năm 2006, nợ ngắn hạn giảm 1.384triệu đồng nhiều hơn so với nợ dài hạn tăng 449 triệu đồng
Với nguồn vốn kinh doanh Công ty có khả năng đầu tư vào việc mua
sắm vật liệu có nhiều chủng loại, chất lượng tốt tạo điều kiện sử dụng vật liệumột cách hiệu quả, tiết kiệm Mặt khác trong quá trình vận chuyển, do không
bị động vốn nên vật liệu có thể được vận chuyển đến đúng lúc, đúng thờiđiểm, chi phí vận chuyển cũng ít tốn kém hơn do đó sẽ làm giảm chi phí vậtliệu chính Điều cần quan tâm nhất ở đây lượng vật liệu dự trữ, do Công tychủ động về vốn nên lượng vật liệu dự trữ không cần nhiều từ đó nó làm giảmlượng vật liệu bị hư hỏng trong qúa trình dự trữ Đồng thời chi phí bảo quảnvật liệu cũng giảm xuống do đó sẽ làm giảm chi phí sử dụng vật liệu trong sản
Trang 15Công ty
Bộ phận sản xuất chính
Bộ phận sản xuất phù trợ
Bộ phận phục vụ sản
xuất
Xí nghiệp (I)
Xí nghiệp
PX
Các
NLV Các NLV Các NLV Các NLV Các NLV Các NLV
xuất kinh doanh của Công ty Từ đó có thể tận dụng nguồn vốn đó để đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc được sử dụng vào công việc khác củaCông ty
Do vậy ể sử dụng hợp lý tiết kiệm vật liệu thì Công ty nên sử dụng hợp
lý nguồn vốn kinh doanh của mình, tận dụng tiết kiệm các loại chi phí cho vậtliệu có thể để giảm chi phí vật liệu trong sản phẩm của Công ty nhằm hạ giáthành sản phẩm nâng cao lợi nhuận cho Công ty
2.5 Cơ cấu sản xuất của Công ty
Dưới đây là cơ cấu sản xuất kinh doanh của Công ty:
Sơ đồ 4: Cơ cấu sản xuất của Công ty
`
(Nguồn: Phòng kế hoạch- vật tư Công ty May 19/5- Bộ Công An)
Trang 16Qua sơ đồ cơ cấu sản xuất của Công ty ta thấy gồm có ba bộ phận sảnxuất là bộ phận sản xuất chính, bộ phận sản xuất phù trợ và bộ phận sản xuấtphụ Bộ phận sản xuất chính chịu trách nhiệm sản xuất sản phẩm dưới sự hỗtrợ của bộ phận phục vụ sản xuất và bộ phận sản xuất phù trợ Việc sử dụnghợp lý tiết kiệm vật liệu chính chủ yếu tập trung ở các bộ phận sản xuất chính
do vậy cần được chú ý đến các bộ phận sản xuất chính Tuy nhiên để tiết kiệmđược vật liệu ở các bộ phận sản xuất chính còn đòi hỏi sự tác động của bộphận sản xuất phụ và bộ phận sản xuất phù vì hai bộ phận này sẽ giúp bộphận sản xuất chính hoàn thiện sản phẩm, giảm tỷ lệ phế phẩm sẽ giảm đượchao hụt vật liệu chính
3.Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty May 19/5 - Bộ Công An
Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn qua được thể hiện qua bảng dưới đây:
Bảng 4: Thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu
1.850 588,4 1.261
2.160 264 1.896
2.970 790 2.180
3.590 611 2.979
4550 783 3.717
7.Doanh thu BQ người LĐ/tháng Trđ 0,86 0,943 1,086 1,210 1,508
(Nguồn: Phòng kế hoạch vật tư Công ty May 19/5 – Bộ Công An)
Trang 17Qua bảng số liệu ta thấy hoạt động sản xúât kinh doanh của Công tytrong giai đoạn 2002- 2006 liên tục tăng tất cả các chỉ tiêu: doanh thu, lợinhuận sau thuế, nộp ngân sách, số lượng sản phẩm sản xuất hàng năm, thunhập bình quân người lao động hàng tháng Cụ thể như sau:
- Về doanh thu của Công ty qua năm năm tăng gần 3 lần từ 23.720 triệuđồng năm 2002 lên tới 73.641 triệu đồng vào năm 2005 Năm 2004 so vớinăm 2003 tăng gần 8000 triệu đồng tương ứng 19,65% Năm 2005 tăng so vớinăm 2004 là 11.730 triệu đồng tương ứng 24%, năm 2006 tăng 13.191 triệuđồng so với năm 2005 tương ứng 21,82% Qua đó thể hiện sự phát triểnkhông ngừng của Công ty trong thời gian qua, và được thể hiện qua biểu đồsau đây:
Biểu đồ 1: Doanh thu giai đoạn từ 2002 đến 2006
Doanh thu tăng lên như vậy phần lớn là do nhu cầu quân trang, quânnhu cho quốc phòng an ninh tăng lên, một phần cũng là do Công ty đã bắt đầunghiên cứu thị trường trong nước và nước ngoài như thị trường của Lào,Campuchia, Hông Kông và đang tìm cách tiếp cận sang thị trường Nhật Bản,
EU Nhìn vào biểu đồ thì ta cũng có thể thấy mức tăng dần qua các năm thểhiện độ dốc tăng dần từ trái qua phải, điều đó nói lên sự lớn mạnh khôngngừng của Công ty
Trang 18Từ quá trình phân tích trên cho ta thấy doanh thu của Công ty tăng tươngđối ổn định và tăng lên là nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng lên cụ thể là số lượngsản phẩm sản xuất liên tục tăng lên qua các năm Tuy nhiên ta cũng thấy rằngCông ty May 19/5 có được thế mạnh đó là do sức ép trong kinh doanh khônglớn, được độc quyền trong việc sản xuất sản phẩm cung cấp đủ cho nhu cầucủa Bộ Công An Bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận được sự lãnh đạosáng suốt của Ban Giám đốc công ty cũng như sự đồng lòng của cán bộ nhânviên Công ty mà hàng năm doanh thu năm sau luôn cao hơn năm trước, đờisống của cán bộ công nhân viên trong Công ty được tăng lên rõ rệt Điều đóđược thể hiện qua năng suất lao động tăng lên, chi phí sản xuất kinh doanhcũng tăng lên nhưng chậm hơn so với chỉ tiêu doanh thu điều đó cho ta thấyvật liệu được tiết kiệm hiệu quả Thể hiện chi phí sản xuất năm 2002 là17.925 triệu đồng đến năm 2006 là 56.253 triệu đồng tức tăng 3,1 lần, trongkhi đó doanh thu tăng 3.2 lần Ngân sách nộp nhà nước ngày càng tăng từ
1850 triệu đồng năm 2002 lên đến 4550 triệu đồng năm 2006 (tăng 2700 triệuđồng) gấp 3 lần tương ứng với tỷ lệ tăng của doanh thu, điều đó chúng tỏCông ty đã thực hiện chính sách của nhà nước một cách đầy đủ, làm tốt quyền
Trang 19Lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng theo tỷ lệ tăng của doanh thu, năm
2002 chiếm 11,3%, năm 2003 chiếm 9,89%, năm 2004 chiếm 9,5%, năm
2006 chiếm tỷ lệ 10,5% và năm 2006 chiếm 11,16% Như vậy năm 2002 thuđược tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so vơi doanh thu là cao nhất, năm 2004 tỷ lệ đó
là thấp nhất nguyên nhân là do năm 2004 Công ty cũng chịu ảnh hưởng củanhững biến động chung của thi trường như giá cả vật liệu mua vào, chi phívận chuyển đều tăng…Nhưng đến năm 2005 đã đạt 10,5% và đến năm 2006đạt 11,16% (đạt gần bằng so với năm 2002), tỷ lệ này đã thể hiện sự phát triển
ổn định của Công ty Nếu như sự tăng lên của doanh thu chỉ nói lên sự tănglên của kết quả, quy mô sản xuất kinh doanh thì sự tăng lên của lợi nhuận sauthuế năm 2005 so với năm 2004, năm 2006 so với năm 2005 đã thể hiện sựtăng về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Do vậy Công ty cần cónhững biện pháp phương hướng để duy trì sự tăng trưởng ổn định này và làmgiảm sự ảnh hưởng của thị trường đến hiệu quả kinh doanh của mình
- Về chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí vật liệu của Công ty đều tăngtương ứng với sự tăng của doanh thu và nó cũng làm cho lợi nhuận tăng lênnhưng không nhiều,Chi phí sản xuất tăng từ 17.925 triệu đồng năm 2002 lênđến 56.253 triệu đồng năm 2006
- Số sản phẩm sản xuất hàng năm tăng từ 1.347 (1000 cái) năm 2002 đến2.425 (1000 cái) năm 2006 là yếu tố chính làm cho doanh thu của Công tyhàng năm tăng lên Điều này được thể hiện ở biểu đồ sau đây:
Trang 20
Biểu đồ 3: Số lượng sản phẩm sản xuất hàng năm
(từ năm 2002 đến năm 2006)
Theo biểu đồ trên ta thấy, số lượng sản phẩm sản xuất ra hàng năm tăngdần thể hiện sự phát triển khá ổn định của Công ty đó cũng là nhân tố làmtăng doanh thu và lợi nhuận sau thuế Việc sản phẩm sản xuất tăng dần và khá
ổn định như vậy làm cho việc cung ứng vật liệu cũng dễ dàng hơn, quá trìnhsản xuất diễn ra ổn định sẽ làm cho lượng phế phẩm ít hơn và sẽ tiết kiệm mộtlượng vật liệu chính khá lớn cho Công ty, nó cũng không làm cho Công typhải mua một lượng lớn vật liệu chính cùng một lúc do đó chi phí mua vậtliệu cũng không bị tăng lên
-Về thu nhập bình quân đầu người trên một tháng liên tục tăng trongnăm năm gần đây từ 860.000 đồng/tháng năm 2002 lên 1.308.000 đồng/thángnăm 2006 tăng lên 548.000 đồng Điều đó thể hiện đời sống của cán bộ côngnhân viên được nâng lên rõ rệt làm cho người lao động ngày càng yên tâmhơn với công việc của mình không phải tìm kiếm việc khác, chuyển đến làmnơi làm việc khác như trước đây nữa cho nên trong những năm gần đây tìnhhình lao động của công ty tương đối ổn định và dễ quản lý giám sát
Như vậy điều lớn nhất mà Công ty đã tạo dựng được trong thời gianqua là uy tín và hình ảnh của Công ty đối với khách hàng từ đó tạo thêm cơ
Trang 21hội gọi vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Điểm nổi bật
ở đây là điều kiện lao động được cải thiện, tâm lý thoải mái trong môi trườnglàm việc, chính là yếu tố đã làm nâng cao năng suất lao động tăng doanh thucủa Công ty Các yếu tố môi trường như nồng độ bụi, tiếng ồn, ánh sáng bảođảm ở mức độ cho phép,do đó trong quá trình sản xuất kinh doanh của mìnhCông ty liên tục thu hút được thêm nhiều lao động đặc biệt là lao động cótrình độ đại học, cao đẳng
Trang 22
PHẦN II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VẬT LIỆU CHÍNH CỦA
CÔNG TY MAY 19/5- BỘ CÔNG AN
2.1.Một số chỉ tiêu phản ánh thực trạng sử dụng vật liệu chính của Công ty
2.1.1 Công tác thực hiện định mức tiêu dùng vật liệu chính
Định mức tiêu dùng vật liệu chính giữ một vai trò rất quan trọng, lànhân tố góp phần làm giảm chi phí vật liệu trong sản xuất Hệ thống định mứctiêu dùng vật liệu của Công ty hiện nay đã có nhiều cố gắng sữa đổi, hoànthiện cho phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế Định mức tiêu dùng cũng làcăn cứ để tổ chức theo dõi việc cấp phát và sử dụng vật liệu Đối với khâu nào
sử dụng vượt định mức Công ty cho tiến hành kiểm tra lại, tìm nguyên nhân
để từ đó xác định lại mức đã phù hợp chưa? Viêc điều chỉnh, nâng cấp địnhmức tiêu dùng vật liệu để ngày càng tiên tiến, sát với thực tế của Công ty làviệc làm cần thiết Dưới đây là tình hình thực hiện định mức sản phẩm maymặc cỡ 3 của Công ty trong thời gian qua
Bảng 5: Thực hiện định mức tiêu dùng vật liệu (năm 2006)
Chênh lệch sd/
đm
Chênh lệch giá trị
2,64 2,43 0,8 100 14
0,985 0,983 1 1,03 1
-0,04 -0,04 0 3 0
2,15 2,13 0,7 95 14
0,99 0,99 1 1,03 1
-0,02 -0,02 0 3 0
( Nguồn: Phòng kế hoạch - vật tư Công ty May 19/5 - Bộ Công An)
Trang 23Qua bảng trên ta thấy so với định mức xây dựng thì định mức thực tế
sử dụng của vật liệu chính của cả nam va nữ đều đã giảm Như quần áo thuđông nam cỡ 3 vải chính tiết kiệm được 0,04 mét (Với đơn giá là 11000 đồng)tương ứng tiết kiệm được 0,04.11000 = 440 (đồng) Mà hàng năm Công tysản xuất hàng ngàn bộ quần áo như vậy do đó sẽ tiết kiệm một lượng vật kliệurất lớn Tuy nhiên vải phụ và cúc thì vẫn giữ nguyên định mức nhưng chỉ maylại sử dụng nhiều hơn, nguyên nhân là do nhiều máy may đã khấu hao hết dovậy dễ bị hỏng trong khi may sẽ làm lãng phí chỉ vì phải cắt bỏ nhiều, mặtkhác do công nhân xem nhẹ việc tiết kiệm chỉ may nên đã gây lãng phí rấtnhiều Cứ một bộ quần áo thu đông nam lãng phí thêm 3 mét chỉ thì hàng năm
sẽ lãng phí hàng ngàn mét chỉ may Do vậy Công ty cần chú ý tiết kiệm hơnnữa vật liệu trong quá trình sản xuất Tình hình sử dụng vật liệu trong mấynăm qua cũng được thể hiện qua bảng sau đây:
Bảng 6: Chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng vật liệu
( Nguồn: Phòng kế hoạch vật tư Công ty May 19/5 - Bộ Công An)
Hệ số phế phẩm qua các năm có giảm nhưng không nhiều, năm 2005 giảm
so vơi năm 2004 là 0,03, năm 2006 giảm so vơi năm 2005 là 0,02 cho thấyvật liệu bị lãng phí do sản phẩm hỏng đã giảm xuống Còn hệ số sử dụng vậtliệu thì tăng, năm 2005 so với năm 2004 tăng 0,02, năm 2006 so với 2005tăng 0,005, cho thấy vật liệu ngày càng được sử dụng tiết kiệm và hiệu quảhơn Nhưng hệ số đó vẫn còn có thể cao hơn nữa nên Công ty cần tìm giảipháp nâng cao hệ số sử dụng vật liệu trong sản xuất
Trang 242.1.2 Tỷ lệ sản phẩm hỏng
Tỷ lệ sản phẩm hỏng là yếu tố làm tăng chi phí vật liệu, bởi vì khi sảnphẩm bị hỏng thì Công ty cần phải sửa chữa lại sản phẩm tại cửa hàng sữachữa hoặc sản xuất lại sản phẩm đó Sản phẩm hỏng do nhiều nguyên nhânkhác nhau như do máy móc thiết bị cũ lạc hậu, do trình độ thấp và ý thức củangười lao động thiếu trách nhiệm, do chất lượng vật liệu không đảm bảm…Sản phẩm cắt không đúng cỡ số, cắt bị lệch, may bị lệch, vật liệu không đảmbảo chất lượng sẽ được xem là sản phẩm hỏng cần phải sữa chữa hoặc sảnxuất lại Những sản phẩm hỏng hiện nay của Công ty là do máy móc thiết bị
đã cũ và lạc hậu, số lượng máy móc thiết bị có nhưng còn quá ít, trình độ taynghề của công nhân còn thấp như hiện nay công nhân của Công ty chủ yếu làbậc 3/6 và khá nhiều người bậc 1/6, rất ít thợ bậc 4,5,6 Mặt khác do việc bảoquản vật liệu chưa thật sự tốt làm cho vật liệu sau một thời gian nhập kho thìkhi xuất kho cấp phát vật liệu đầu vào chưa đảm bảo chất lượng cũng là mộttrong những nguyên nhân làm tăng tỉ lệ sản phẩm hỏng Dưới đây là tỷ lệ sảnphẩm hỏng của một số sản phẩm chủ yếu của Công ty trong một số năm gầnđây
Trang 25Bảng 7: Tình hình chất lượng sản phẩm của Công ty May 19/5
( Nguồn: Phòng kế hoạch- vật tư Công ty May 19/5 - Bộ Công An)
Biểu đồ 4:Tỷ lệ sản phẩm loại B của các sản phẩm( 2002 – 2006 ).
Trang 26Biểu đồ 5:Tỷ lệ sản phẩm loại B của quấn áo thu đông nam- nữ
Biểu đồ 6:Tỷ lệ sản phẩm loại B của quần áo xuân hè nam- nữ
Biểu đồ 6: Tỷ lệ sản phẩm loại B của quần áo xuất khẩu.
Nhìn vào bảng 7 và đồ thị 1,2,3,4 ta có thể nhận thấy rằng tỷ lệ sản phẩmsai hỏng ( sản phẩm loại B) nói chung có xu hướng tăng lên trong giai đoạn từ
Trang 27năm 2002 đến 2004 Năm 2002 tỷ lệ sản phẩm loại B là 0,09% nhưng đếnnăm 2004 là 0,12% và đến năm 2006 thì tỷ lệ loại B chỉ còn là 0,07% điều đóchứng tỏ Công ty đã có sự đầu tư vào máy móc thiết bị trong giai đoạn này vàtrình độ của người lao động trong giai đoạn này cũng được nâng cao.
Đi vào xem xét từng loại sản phẩm ta thấy, quần áo thu đông năm 2002sản phẩm loại B là 0,06% tăng lên 0,07% năm 2004 và lại giảm xuống còn0,05% năm 2006, quần áo xuân hè nam- nữ tỷ lệ này tăng từ năm 2002 là0,1% lên nhanh năm 2004 là 0,21% và giảm xuống năm 2006 là 0,14%, quần
áo xuất khẩu thì tăng từ 0,11% năm 2002 lên 0,12% năm 2003 sau đó giảmxuống còn 0,05% năm 2006 và đây là yếu tố quyết định để Công ty ngày càngnhận được nhiều hợp đồng hơn từ các nước bạn và có khả năng xâm nhập vàothị trường EU và Nhật Bản
Qua đó ta thấy tỷ lệ sản phẩm loại B của Công ty tuy chiếm tỷ lệ khônglớn nhưng nó cũng là một nhân tố làm tăng vật liệu chính của Công ty
Trang 28Phế phẩm 528,8 463,8 321.6 -65 -12,3 -142,2 -30,6
(Nguồn: Phòng kế hoạch - vật tư Công ty May 19/5 - Bộ Công An)
Qua bảng tổng giá trị vật liệu tăng qua các năm ta thấy hoạt động sảnxuất kinh doanh của Công ty ngày một phát triển Trong những năm gần đâytổng giá trị vật liệu luôn tăng năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt năm 2005tăng gấp 1,3 lần năm 2004, năm 2006 tăng so với năm 2005 là 1,14 lần và đivào ổn định Điều này chứng tỏ số lượng cán bộ chiến sĩ tăng lên và số đơnđặt hàng mà Công ty ký kết được cũng được nhiều hơn, nói lên chất lượng uytín của Công ty ngày càng được khẳng định trên thị trường Giá trị vật liệu sửdụng tăng qua các năm điều đó thể hiện qua vật liệu tồn kho giảm so với tổnggiá trị vật liệu Năm 2005 vật liệu tồn kho chiếm 14% trong tổng trị giá trị vậtliệu, năm 2006 là 13,6% Lượng phế phẩm cũng giảm dần năm 2004 là 528,8triệu đồng, năm 2005 là 463,8 triệu đồng, năm 2006 là 321,6 triệu đồng
Ở Công ty việc sử dụng vật liệu ở các xí nghiệp được áp dụng theo hìnhthức hạn mức, theo hình thức này thì các xí nghiệp buộc phải sử dụng theođúng hạn mức, đúng số lượng do phòng kế hoạch vật tư cấp Khi tiến hànhsản xuất các xí nghiệp sẽ theo nhiệm vụ, bước công việc và quy trình côngnghệ mà đến kho lĩnh vật liệu để tiến hành sản xuất Số lượng vật liệu cấp chocác xi nghiệp sẽ được chia làm nhiều lần để tránh lãng phí, hao hụt và đảmbảo chất lượng vật liệu… Điều này đã góp phần vào sử dụng hợp lý và tiếtkiệm vật liệu Cũng với hình thức này, việc hoạch toán vật liệu sẽ được đảmbảo và giúp Công ty có thể dự toán vật liệu cho sản xuất tránh tình trạng thiếuhụt vật liệu, gián đoạn quá trình sản xuất Hiện nay lượng vật liệu tồn kho còntương đối nhiều tuy đã có giảm dần điều này nói lên hệ thống định mức vàquá trình cung ứng vật liệu chưa được tốt Mặc dù công ty sản xuất theonhiệm vụ được giao và theo đơn đặt hàng thì lượng tồn kho lớn cũng là một
Trang 29lợi thế nhưng sẽ làm cho ứ động vốn, chi phí bảo quản tăng và đặc biệt tạotâm lý không tốt cho công nhân về sử dụng hợp lý vật liệu.
Ngoài ra để đánh giá mức độ sử dụng vật liệu tiết kiệm hay lãng phí người tacòn sử dụng chỉ tiêu sau: (Công thức)
Qua phân tích trên ta thấy Công ty rất chủ động trong việc thực hiệntriệt để công tác tiết kiệm, chống lãng phí trong sản xuất kinh doanh Tìm mọibiện pháp để tiết kiệm định mức tiêu hao vật liệu trong mọi công đoạn sảnxuất, tiết kiệm thời gian lao động do phải chờ việc trên dây chuyền sản xuất,tiết kiệm các chi phí trong quản lý ở cả Công ty lẫn xí nghiệp Công ty đãphát động phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sảnxuất, tìm các giải pháp để tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật liệu, hạ giáthành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
2.1.4 Thu hồi phế liệu, phế phẩm
Do tính đặc thù của sản phẩm và một số vật liệu cũng như đặc diểm quytrình công nghệ sản xuất nên tỷ lệ phế liệu, phế phẩm trong Công ty tương đốicao so với một số Công ty sản xuất khác Việc tận dụng phế liệu, phế phẩmnày ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và giá thành sản phẩm Vì vậy ban lãnhđạo Công ty rất quan tâm đến việc thu hồi và sử dụng lại phế liệu, phế phẩm
và có hướng dẫn chỉ đạo giúp cán bộ nhân viên thực hiện triệt để vấn đề này.Trong các giai đoạn của quá trình sản xuất lượng phế phẩm, phế liệu xuấthiện nhiều ở trong phân xưởng cắt, phân xưởng may Đó là những mãnh vảivụn bị cắt bỏ hay là chỉ may, khuy, cúc …
Ở Công ty nhờ áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 vàbây giờ là ISO 9001:2000, công tác quản lý chất lượng ngày càng được hoànthiện, chất lượng sản phẩm ngày một ổn định và nâng cao Năm 2004 tỷ lệ
Trang 30sản phẩm kém chất lượng từ 10 – 12% xuống còn 9% năm 2005 và năm 2006
là 7% Ở Công ty phế liệu, phế phẩm đã được xử lý theo các cách sau:
Phân loại phế liệu, phế phẩm Biện pháp xử lý
Vải vụn từ phân xưởng cắt Tái sử dụng
Vải vụn từ phân xưởng may Tái sử dụng
Chỉ may, khuy, cúc Sử dụng lại
Vải thừa không tái sử dụng được Phân loại bán tái chế
Các chất thải Tụ huỷ hoặc Công ty môi trường xử lý Vậy ta thấy Công ty đã tìm mọi cách sử dụng vật liệu dư thừa khá hiệuquả và đã góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sảnphẩm
2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vật liệu chính của Tổng Công
ty May 19/5- Bộ Công An.
Nhóm này bao gồm những nhân tố nội bộ Công ty có khả năng kiểmsoát, điều chỉnh, chúng có tác động trực tiếp đến khả năng sử dụng hợp lý vàtiết kiệm vật liệu chính của Công ty
2.2.1.1.Tính chất của vật liệu chính
Công ty May 19/5 là công ty sản xuất quân trang, quân nhu phục vụngành công an, ở đây các vật liệu chính, phụ chủ yếu đều được sản xuất trongnước, chỉ có một số vật liệu đặc biệt được nhập khẩu từ nước ngoài do đócũng thuận tiện cho Công ty trong việc cung ứng vật liệu Vật liệu của Công
ty gồm nhiều chủng loại, khoảng gần 20 loại vải, chỉ các loại, khuy cúc cácloại do đó ảnh hưởng rất lớn đến quản lý và sử dụng vật liệu Dưới đây làbảng cơ cấu vật liệu của Công ty:
Bảng 9: Cơ cấu vật liệu chính
Đơn vị tính: 1000 đồng
2.2.1.Những nhân tố bên trong
Trang 31STT Danh mục vật liệu Đvt Đơn giá
Trang 32(Nguồn: Phòng kế hoạch- vật tư Công ty May 19/5- Bộ Công An)
Qua bảng trên ta thấy những vật liệu chính như vải đã rất nhiều chủng loại
với đơn giá tương đối cao, bình quân khoảng 16.000 đồng / mét Do vậy tạicác phân xưởng cắt, phân xưởng may thì lượng vải vụn dư thừa cũng đãchiếm một lượng khá nhiều trong chi phí vật liệu Nếu ở phân xưởng may,phân xưởng cắt mà vải không được sử dụng tiết kiệm và không được tận dụngthì sẽ gây lãng phí rất nhiều Bên cạnh đó một số vật liệu như cúc, khuy, chỉmay rất nhỏ, nhẹ do đó dễ thất thoát trong quá trình sản xuất Những vật liệunày cũng khó định mức trong sản xuất hơn vải nên sẽ khó quản lý, dễ bị thấtthoát nhiều
Mặt khác vật liệu chủ yếu được sản xuất trong nước, không phải là vật liệuquý hiếm, giá thành không đắt quá nên không khó khăn tìm kiếm trên thịtrường Với tính chất đó của vật liệu sẽ tạo ra tâm lý cho công nhân sản xuấtkhông tiết kiệm vật liệu trong quá trình sản xuất, có thể xẩy ra mất cắp hoặc
sử dụng lãng phí, cán bộ quản lý không nghiêm ngặt trong quản lý vật liệu,không kiểm soát chặt chẽ số lượng vật liệu thất thoát là bao nhiêu trong sảnxuất sản phẩm cho nên vật liệu sẽ sử dụng không hiệu quả tiết kiệm
Trang 33Công tác xây dựng định mức tiêu dùng vật liệu chính tại Công ty May19/5 là một công tác rất quan trọng vì muốn nâng cao chất lượng quản lý,muốn sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật liệu thì không thể không nâng cao chấtlượng của công tác xây dựng định mức tiêu dùng vật liệu Hiện nay công tácxây dựng định mức tiêu dùng vật liệu do phòng kỹ thuật đảm nhiệm và trựctiếp thực hiện Việc xây dựng được tiến hành dựa vào các căn cứ sau đây + Căn cứ vào quy trình công nghệ may sản phẩm
+ Căn cứ vào thành phần của chủng loại sản phẩm
+ Căn cứ vào tình hình thực hiện định mức của các kỳ trước
+ Căn cứ vào kinh nghiệm của công nhân tiên tiến
Dựa vào căn cứ trên phòng phòng kỹ thuật tiến hành xây dựng hệ thốngđịnh mức cho phù hợp với thực tế sản xuất Tại Công ty việc lập định mứctiêu dùng vật liệu được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp phân tích Đây
là phương pháp khoa học vì phương pháp này kết hợp việc tính toán kinh tế
và kỹ thuật với việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lượng vật liệu tiêuhao trong quá trình sản xuất sản phẩm.Tuy nhiên việc xây dựng định mức còncăn cứ vào định mức tiêu hao của ngành, tình hình thực hiện định mức củacác kỳ trước Để định mức tiêu dùng vật liệu sát với thực tế của Công ty thìcần mất một khoảng thời gian hoàn thiện định mức tiêu hao vật liệu kỳ trước
để nó phù hợp với điều kiện hiện nay của Công ty Nhưng để trở thành địnhmức chính thức áp dụng rộng rãi trong Công ty thì còn cần phải qua một thờigian kiểm nghiệm trong những điều kiện sản xuất nhất định để kiểm tra sửađổi Dưới đây là định mức tiêu dùng vật liệu cũ và mới của Công ty
Trang 341 QA thu
đông
nam-nữ
Vải chính nam Vải chính nữ Vải lót Chỉ may Cúc
m/bộ m/bộ m/bộ m/bộ c/bộ
2,68 2,47 0,8 97 14
2,80 2,69 0,9 101 14
2,95 2,74 1 104 14
2,64 2,43 0,8 100 14
2,76 2,55 0,9 107 14
2,91 2,7 1 108 14
2 QA xuân
hè nam- nữ
Vải chính nam Vải chính nữ Vải lót Chỉ may Cúc
m/bộ m/bộ m/bộ m/bộ c/bộ
2,17 2,15 0,7 92 14
2,26 2,24 0,8 96 14
2,39 2,37 0,9 100 14
2,15 2,13 0,7 95 14
2,24 2,22 0,8 101 14
2,37 2,35 0,9 108 14
( Nguồn: Phòng kế hoạch- vật tư Công ty May 19/5 - Bộ Công An )
Từ năm 1996, khi xây dựng định mức tiêu hao vật liệu đến nay Công ty
đã liên tục có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình từng năm Như vậy,việc lập định mức gắn liền với những bước đầu tiên khi tiến hành sản xuất.Khi sản phẩm mới được khách hàng chấp nhận, các cán bộ kỹ thuật phải luôncập nhật thông tin có liên quan nhằm cải thiện và hoàn thiện định mức vật liệucủa Công ty luôn được đổi mới, cập nhật phù hợp với điều kiện thực tiễn Qua bảng 10 ta thấy định mức mới của vải chính đã giảm hơn so với địnhmức cũ, như quần áo thu đông nam - nữ cỡ 3 định mức cũ là 2,68 mét cònđịnh mức mới xây dựng giảm xuống còn 2,64 mét, các cỡ số khác cũng tương
tự Còn vải lót, chỉ may, khuy, cúc là những vật liệu nhỏ, nhẹ rất dễ bị thấtthoát trong quá trình sản xuất, hơn nữa lại khó định mức nên thường khôngthay đổi hoặc có phần lại tăng lên Với định mức mới thì do trình độ của côngnhân đã được nâng cao, máy móc thiết bị đã được đầu tư đổi mới nên địnhmức mới đã phù hợp hơn với điều kiện thực tế của Công ty hiện nay
Trang 35Tuy hệ thống định mức tiêu dùng vật liệu của Công ty hiện nay đã cónhiều cố gắng song vẫn chưa được hoàn thiện và phù hợp nhất với thực tế củaCông ty khi mà máy móc thiết bị ngày càng được đầu tư đổi mới, trình độcông nhân được nâng cao Định mức cho một số vật liệu có thể giảm xuốngnhưng vẫn đảm bảo về chất lượng sản phẩm Do vậy Công ty cũng cần nghiêncứu xây dựng định mức hàng năm cho phù hợp với điều kiện của Công tykhông nếu quá lâu không hoàn thiện định mức sẽ tạo điều kiện cho công nhân
sử dụng lãng phí vật liệu Cho nên việc Công ty hoàn thiện định mức tiêudùng vật liệu là cần thiết và thường xuyên
Lực lượng lao động của Công ty là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đếnviệc sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật liệu trong quá trình sản xuất Hiện naynguồn lao động của Công ty khá dồi dào song trình độ tay nghề của lao độngtrực tiếp chưa cao do đó sẽ ảnh hưởng đến vật liệu chính phục vụ cho sản xuất
bị lãng phí và không mang lại hiệu quả cao Dưới đây là cơ cấu lao động củaCông ty
Bảng 11: Cơ Cấu lao động năm 2006
vị
Năm 2005
Năm 2006
Chênh lệch
%
Tổng số lao động Người 1.364 1489 125 10,1
1 Theo tính chất lao
động
Lao động trực tiếp Người 1.173 1.271 98 8,3
2 Theo trình độ lao động
2.2.1.3 Trình độ công nhân
Trang 36(Nguồn : Phòng Kế Hoạch – Vật tư Công ty May 19/5 – Bộ Công An)
Dựa vào bảng trên ta thấy hiện nay tổng số lao động của Công ty là 1489người trong đó cán bộ quản lý kinh tế kỹ thuật là 218 người chiếm(14,64%),lao động trực tiếp chiếm 1271 người (85,36%) Lao động trực tiếp của Công
ty chủ yếu là lao động phổ thông có trình độ tay nghề thấp, tập trung chủ yếu
là thợ bậc 1/6, thợ bậc 2/6, thợ bậc 3/6, thợ bậc 4/6, có rất ít thợ bậc 5/6, bậcthợ bình quân là bậc 3/6, do đó có khả năng gây ra sản phẩm sai hỏng là rấtnhiều Bên cạnh đó hàng năm Công ty còn tuyển một lượng lao động mới do
đó cần có một thời gian thử việc mới làm quen được với công việc, chínhtrong giai đoạn này họ thường gây ra nhiều phế phẩm do làm sai từ đó làmtăng chi phí vật liệu trong sản phẩm Mặt khác cũng do công nhân một số có ýthức kém, thái độ làm việc kém hiệu quả nên đã làm thất thoát vật liệu trongquá trình sản xuất sản phẩm Mặt khác hiện nay Công ty cũng đã đầu tư muamột số dây chuyền sản xuất, với máy móc thiết bị hiện đại mà trình độ taynghề của công nhân lại còn thấp do đó không sử dụng hết công suất của máymóc thiết bị và chưa tận dụng được khả năng tiết kiệm vật liệu từ các dâychuyền này Cụ thể:
- Ở phân xưởng cắt do công nhân có trình độ tay nghề chưa cao nên xếp vảichưa khoa học, có thể sẽ xếp dày quá sẽ làm một số vải phía dưới bị cắt lệchlàm sản phẩm đó sẽ bị hỏng Hơn nữa máy cắt vải cũng hiện đại nên côngnhân không sử dụng hết công suất, nhiều khi sẽ làm vội vàng làm cho cắt
Trang 37không đúng mẫu thiết kế, không đúng cỡ nên sẽ phải loại sản phẩm đó làmlãng phí vật liệu.
- Ở phân xưởng may công nhân chủ yếu là thợ bậc 3/6 nên cũng rất dễ tạo rasản phẩm hỏng bởi vì máy may bằng điện do vậy nhiều khi không điều chỉnhcho đường chỉ may đúng quy định, may không đảm bảo tính thẩm mỹ nênlàm sản phẩm đó cũng phải sữa lại Bên cạnh đó chỉ may do không chiếm tỷ
lệ nhiều trong sản phẩm nên công nhân lãng phí rất nhiều, giữa những múinối thì luôn để lãng phí chỉ rất nhiều cho nên lượng chỉ bao giờ cũng vượtmức quy định
- Ở bộ phận đơm khuy, cúc thì do ý thức của một số lao động chưa cao nênthường sử dụng rất lãng phí, hoặc có thể xẩy ra mất cắp, hơn nữa những vậtliệu này khó định mức nên rất khó quản lý nên thất thoát rất nhiều so vớimức quy định
Vấn đề sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật liệu chính không những chịu ảnhhưởng bởi trình độ tay nghề của công nhân sản xuất trực tiếp mà còn chịu ảnhhưởng bởi trình độ của cán bộ quản lý kinh tế kỹ thuật Hiện nay đội ngũ laođộng gián tiếp của Công ty có 130 người có trình độ đại học, 60 người cótrình độ cao đẳng, 28 người là trung cấp Trong đó cán bộ quản lý kế hoạch có
5 người trình độ đại học, 2 người có trình độ cao đẳng, 2 người là trung cấp,chịu trách nhiệm lên kế hoạch sản xuất, kế hoạch cung ứng vật liệu Qua đó tathấy lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp vẫn còn nhiều nên trình độ quản
lý của một số bộ phận vẫn chưa cao Do đội ngũ cán bộ quản lý có kinhnghiệm quản lý chưa cao do đó dẫn đến tình trạng vật liệu bị hao hụt, mất mátkhông rõ nguyên nhân khá nhiều, ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng hợp lýtiết kiệm vật liệu chính của Công ty Bên cạnh đó công nhân viên có tinh thầntrách nhiệm trong việc thực hiện mục tiêu sử dụng hợp lý tiết kiệm vật liệu,nhưng cũng cần phải làm thế nào để cán bộ và công nhân có trình độ để nhận