TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH TRÊN TH GIỚI
Tỉ lệ % về sản lượng giữa các vùng và các loại hàng: 35 2.1.4 Sản lượng của một số nước sản xuất cà phê chủ yếu trên 36 2.1.5 Tổng giá trị xuất khẩu trên thế giới (Niên vụ 2009-10 và 2010-11)
Bảng 2.2: Tỉ lệ % về sản lượng giữa các vùng và các loại hàng
Theo bảng 2.1 và bảng 2.2, Nam Mỹ là khu vực sản xuất lớn nhất thế giới, chiếm 43-47% tổng sản lượng toàn cầu Châu Á - TBD đứng thứ hai với tỷ lệ 24-30% Trong đó, chủng loại arabicas chiếm 59-63% và robustas chiếm 37-41% tổng sản lượng.
2.1.4 Sản lượng của một số nước sản xuất cà phê chủ yếu trên thế giới Bảng 2.3: Sản lượng của một số nước sản xuất cà phê chủ yếu trên thế giới
SAN LUQNG CÁC NIÊN VỤ
Việt Nam đứng thứ hai thế giới về sản xuất cà phê, và đặc biệt, là nhà xuất khẩu lớn nhất cà phê Robusta, vượt qua cả Brazil (VICOFA, 2010) Sản lượng cà phê của Việt Nam đang có xu hướng tăng trong giai đoạn từ cuối năm.
2005 đến nay do các địa phương mở rộng diện tích cả phê, đồng thời năng suất bình quân đã từng bước được cải thiệnở mỗi địa phương, khu vực
2.1.5 Tổng giá trị xuất khẫu trên thế giới (Niên vụ 2009-10 và 2010-
Bảng 2.4: Tổng giá trị xuất khẩu trên thế giới (Niên vụ 2009-10 và 2010-11)
Qua bảng 2.4, ta thấy sản lượng xuất khẩu năm 201 Ichỉ tăng 9,3% so với năm 2010 nhưng giá trị lại tăng đến 40,74 là do giá tăng từ
78,74cent/pound vào năm 2010 lên 109,21cem/pound vào năm 2011
Tổng sản lượng xuất khẩu trên thế giới (Niên vụ 2009-10 và 2010- 2.1.7 Tình hình tiêu thụ trên thế giới 39 2.1.8 Các thông tin nền tảng thị trường 5ủọÄ 2.2 TINH HINH SAN XUAT KINH DOANH CA PHE CUA VIET NAM
'Bảng 2.5: Tổng lượng xuất khẩu trên thế giới của hai niên vụ (09/10-10/11)
Theo bảng 2.5, Việt Nam đứng thứ hai thế giới về sản lượng xuất khẩu, chỉ sau Brazil, với sản lượng tăng từ 14,591 triệu bao trong niên vụ 2009-2010 lên 16,850 triệu bao trong niên vụ 2010-2011, tương ứng với mức tăng 15,5%.
2.1.7 Tình hình tiêu thụ trên thế giới
Tiêu thụ toàn cầu trong 40 năm qua đã tăng gấp đôi từ 70.7 triệu bao vào năm 1970 đến năm 2010 đã lên 135 triệu bao, tăng 91% ( phụ lục 01)
Dữ liệu trong Phụ lục 1 cho thấy sự thay đổi từ năm 1970 đến 2010, với mức tăng trưởng hàng năm trung bình là 2.5% trong những thập niên gần đây Tiêu thụ nội địa tại các quốc gia xuất khẩu tăng nhanh chóng, đạt 4.6%, từ 26.4 triệu bao vào năm 2000 lên 41.3 triệu bao vào năm 2010.
Trong những năm gần đây, xuất khẩu 40 thụ đã tăng mạnh, góp phần vào tiêu thụ toàn cầu Mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 3.9% cho thấy thị trường đang nổi lên với những tín hiệu tích cực về nguồn tăng trưởng tiêu thụ toàn cầu trong tương lai.
Tại thị trường truyền thống Bắc Mỹ, Đông Âu và Nhật Bản, giai đoạn 2000-2010 ghi nhận mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 1.1%, tương đương với sự gia tăng tiêu thụ từ 63.6 triệu bao lên 71 triệu bao, tức là 7.4 triệu bao Đặc biệt, Canada có tỷ lệ tăng trưởng trung bình cao nhất trong những thập niên gần đây với 4.2%, tiếp theo là Anh với 3%.
My 1.5% va 1.2% Trong 4 thập niên qua ( từ 1970 đến 2010) tỉ lệ tăng trưởng bình quân tiêu thụ toàn cầu là 1.6% Nếu như tỉ lệ tiêu thụ toàn cầu tiếp tục tăng theo tỉ lệ trên, thì mức tiêu thụ của thế giới lên đến 158 triệu bao vào năm 2020
Số liệu trong phụ lục 3 cho thấy trung bình tiêu thụ đầu người suốt 4 thập niên qua được ghi nhận ở mức cao tại Finland là 11.9 kg/người
Kết luận: Thông tin về thị trường cà phê cho thấy giá hiện tại đang ở mức cao nhất kể từ năm 1977, nhờ vào sự tăng trưởng mạnh mẽ trong tiêu thụ toàn cầu Sự cân bằng giữa cung và cầu sẽ tiếp tục thắt chặt thị trường, giúp giá cà phê duy trì ổn định.
Trong 40 năm qua, phân tích tóm tắt về tiêu thụ toàn cầu cho thấy sự nổi bật của thị trường, đặc biệt trong 10 năm gần đây Tuy nhiên, tình hình tài chính thế giới và khủng hoảng kinh tế đã tạo ra những hạn chế về tiền mặt và tính thanh khoản, cùng với chi phí sản xuất tăng cao, có thể dẫn đến nguồn cung giảm Điều này có khả năng làm giảm tỷ lệ tăng trưởng tiêu thụ.
2.1.8 Các thông tin nền tảng thị trường
Tổng sản lượng vụ 2011/12 đã được điều chỉnh xuống còn khoảng 128.6 triệu bao, giảm 3.4% so với vụ 2010/11 là 133.1 triệu bao Thời tiết bất thường tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng ở một số vùng, dẫn đến sự gia tăng sâu bệnh trong các vườn cây Hiện tại, Colombia vẫn chưa xác nhận khả năng khắc phục sản lượng, với mức trung bình 8.4 triệu bao trong 4 năm qua.
Tại Châu Phi: Có một vài dấu hiệu về phục hồi sản lượng, dự kiến tăng từ 13.6 triệu bao vụ 2010/11 lên 16.3 triệu bao trong năm 201 1/12, tăng
19.6% - đây là mức cao nhất kế từ vụ 2000/01
Tai Chau A: San lugng có thể giảm 4.6% từ 37.5 triệu bao vụ 2010/11 còn 35.8 triệu bao vụ 2011/12 Nguyên nhân chính làm sản lượng giảm là do điều kiện thời tiết bá
'Việt Nam dự kiến sản lượng giảm khoảng 5% t thường tại Indonesia và An độ Cơ quan thâm quyền
Tại Mexico và Trung Mỹ: Sản lượng dự kiến giảm 4.6% từ 19.2 triệu bao vụ 2010/11 xuống 18.4 triệu bao vụ 2011/12
Tại Nam Mỹ: Sản lượng Brazil giảm mặc dù sản lượng tại Peru tăng
San lugng Arabica giảm 79.6 triệu bao và Robusta giảm 48.9 triệu bao vụ 2011/12
'Về xuất khẫu: Tông lượng xuất khâu tháng 10 đạt 7.1 triệu bao, mang lai tong lượng xuất khẩu trong 10 tháng đầu năm 201 1 là 86.2 triệu bao, tăng
7.9% so với 79.9 triệu bao cùng kỳ năm trước.
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM
Sản lượng cà phê của Việt Nam qua các năm
Bảng 2.6: Sản lượng cà phê của Việt Nam qua các năm
Nguon: Tong cuc thong ké, cuc thong ké cdc tinh
Diện tích cà phê của Việt Nam qua các năm
Bang 2.7: Diện tích cà phê của Việt Nam qua các năm
Nguôn: Tổng cục thông kê, cục thông kê các tỉnh
Số lượng và kim ngạch xuất khẩu trong năm 2011
Niên vụ 2010/2011, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam đạt trên 1,2 triệu tấn, trị giá trên 2,7 tỷ USD, tăng 3,2% về lượng và 48,7% về kim ngạch so với niên vụ trước Đây là kết quả cao nhất từ trước đến nay của ngành cà phê.
Bang 2.8: Số lượng và kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 12/2011 và trong năm 2011
Thị trường KNXK T12/2011 KNXK năm 2011
Lượng Trị giá Lượng Trị giá
Thị trường KNXK T12/2011 KNXK năm 2011
Lượng Trị giá Lượng Trị
Nguồn: Tổng cục hải quan, 2012
Năm 2011, Việt Nam đã xuất khâu cà phê sang 2§ thị trường trên thị trường Các thị trường chính nhập khẩu cà phê của Việt Nam là Hoa Kỳ, Đức,
Thị trường Hoa Kỳ dẫn đầu về xuất khẩu cà phê với 138,6 nghìn tấn, chiếm 11% thị phần và đạt kim ngạch 341 triệu USD Đức đứng thứ hai với 135,8 nghìn tấn cà phê, trị giá 296,6 triệu USD Đặc biệt, cà phê nhân chất lượng cao trong niên vụ 2010 cũng ghi nhận sự phát triển đáng mừng.
Năm 2011, sản lượng cà phê xuất khẩu tăng đáng kể so với niên vụ trước, đạt 39.025 tấn, chiếm 12,54% tổng số lượng cà phê xuất khẩu Trong đó, cà phê loại 1 (R1) đạt 125.140 tấn, chiếm 40,22%, và cà phê nhân loại 2 (R2) đạt 146.931 tấn, chiếm 47,23% tổng số lượng cà phê xuất khẩu của tỉnh.
Theo nguồn tin từ VICOFA, niên vụ 2012/13 sản lượng cà phê Việt
Nam sẽ giảm đáng kể Đến thời điểm này, người dân trồng cà phê ở Tây
Nguyên đang trong giai đoạn cuối của vụ thu hoạch cà phê, với hơn 80% sản lượng đã thu hoạch và chỉ còn nửa tháng nữa để kết thúc Tuy nhiên, người dân lo ngại về việc năng suất và sản lượng có thể giảm do cà phê đang bung hoa sớm Nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của các đợt áp thấp nhiệt đới, cơn bão số 7 và gió mùa đông bắc gần đây đã gây mưa phùn cho khu vực Tây Nguyên.
2.3 TÌNH HÌNH KINH TE - XA HOI TAI TINH GIA LAI
Gia Lai là tỉnh miền nui vùng cao _., biên giới, nằm ơ phía bãc Tây
Gia Lai nằm trong tọa độ địa lý từ 12°58'20" đến 14°36'36" vĩ Bắc và từ 107°27'23" đến 108°94'40" kinh Đông, với diện tích tự nhiên là 15.494,9 km², chiếm 4,75% diện tích toàn quốc Tỉnh này giáp với tỉnh Kon Tum ở phía Bắc (203 km), tỉnh Đắk Lắk ở phía Nam, và giáp với Bình Định và Phú Yên ở phía Đông.
Campuchia có đường biên giới dài 90 km với Gia Lai, nơi có chiến lược quốc phòng an ninh quan trọng Gia Lai đóng vai trò là điểm trung chuyển thiết yếu trên hành lang kinh tế Đông-Tây và là khu vực bảo vệ môi trường sinh thái quan trọng của cả nước.
Phan Lơn tỉnh Gia Lai nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, với địa hình đa dạng bao gồm gò, đồi và núi cao nguyên, tạo điều kiện thuận lợi cho thảm thực vật rừng và phát triển kinh doanh rừng Vùng đất đỏ ở đây cũng rất thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp, trong khi khí hậu thuận lợi góp phần vào sự đa dạng sinh học.
Tỉnh sở hữu nguồn tài nguyên phong phú, bao gồm đất đai, rừng, nước và khoáng sản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc Bên cạnh đó, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế cũng mang lại nhiều lợi thế cho sự phát triển kinh tế của tỉnh.
Lệ Thanh là khu vực có nhiều công trình thủy điện lớn, kết nối với các tỉnh Tây Nguyên và Bình Định qua đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 19 Ngoài ra, khu vực này còn gần các cảng lớn ở miền Trung Việt Nam như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Dung Quất, và có cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh nối với Đông Bắc Campuchia và Đông Bắc Thái.
Mạng lưới giao thông liên huyện, liên xã và các tuyến nội thị của Tỉnh đã đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và nhu cầu đi lại của người dân Điều này góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo, phát triển cũng như sử dụng nguồn nhân lực của Tỉnh.
Gia Lai sở hữu diện tích tự nhiên rộng lớn, vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng tài nguyên phong phú, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế-xã hội mạnh mẽ trong tương lai Điều này đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực trong lĩnh vực hành chính công.
Tỉnh có tiềm năng trở thành trung tâm đào tạo nhân lực không chỉ cho khu vực Bắc Tây Nguyên mà còn cho các nước Lào.
Trong tương lai gần, Campuchia sẽ phát triển mạnh mẽ Gia Lai, với diện tích rừng lớn và nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, cần xác định cây trồng chủ lực cùng các ngành công nghiệp và dịch vụ thế mạnh Dựa trên những yếu tố này, tỉnh sẽ định hướng công tác đào tạo nguồn nhân lực phù hợp.
Gia Lai, tỉnh nằm trong khu vực tam giác phát triển giữa Việt Nam, Lào và Campuchia, sẽ tham gia vào các hoạt động hợp tác phát triển đa dạng hơn trong tương lai Khu vực này dự kiến sẽ tăng cường giao lưu với các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Đông Bắc Thái Lan thông qua cửa khẩu Bờ Y và cửa khẩu Lệ Thanh, tập trung vào các lĩnh vực kinh tế thương mại, xuất nhập khẩu, du lịch cây công nghiệp và xây dựng.
Doanh nghiệp Gia Lai đã đầu tư thành công vào Lào và Campuchia, tạo ra cơ hội phát triển Do đó, việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp chế biến và y tế tại tỉnh cần được chú trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ cho việc khai thác hiệu quả những lợi thế này.