1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đề tài: Chính sách lãi suất và tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị trường giai đoạn từ năm 2000 đến nay tại Việt Nam

31 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách lãi suất và tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế thị trường giai đoạn từ năm 2000 đến nay tại Việt Nam
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 504,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT (3)
    • I. KHÁI NIỆM LÃI SUẤT (0)
      • 1. Khái niệm (3)
      • 2. Đặc điểm (3)
    • II. CÁC LOẠI HÌNH LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT (4)
      • 2. Đầu tư (7)
      • 3. Thuế thu nhập (7)
      • 4. Ngân sách của chính phủ (7)
      • 5. Các yếu tố khác của đời sống xã hội (0)
    • IV. VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT ĐỐI VỚI NÊN KINH TẾ (8)
  • CHƯƠNG II. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TỚI NỀN (11)
    • 2. Sự ảnh hưởng của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị trường Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay (16)
    • 3. Dự báo ảnh hưởng và thay đổi của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị trường Việt (19)
  • CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT (20)
    • I. GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH VÀ KIỂM SOÁT LÃI SUẤT THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ 18 1. Hoàn thiện cơ chế tự do hoá lãi suất bằng VNĐ (21)
      • 2. Nâng cao hiệu quả của các công cụ lãi suất (22)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT

CÁC LOẠI HÌNH LÃI SUẤT VÀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT

1 Các loại hình lãi suất:

Lãi suất có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm nội tệ và ngoại tệ, nghiệp vụ kinh doanh của các tổ chức tín dụng, thời gian và nội dung kinh tế Trong bài viết này, chúng ta sẽ chia lãi suất trên thị trường thành hai nhóm dựa trên các nhân tố tác động.

Lãi suất thị trường tự do biến động theo quan hệ cung - cầu, bao gồm lãi suất tín phiếu kho bạc, tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng và lãi suất tín dụng ngắn hạn của các ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp Mức lãi suất cao nhất trên thị trường tiền tệ thường là lãi suất của các ngân hàng thương mại lớn áp dụng cho doanh nghiệp uy tín, được gọi là lãi suất cho vay cơ bản (Prime Rate Bank Loans).

Lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố được xác định dựa trên quan hệ cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ, tùy thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ và chính sách kinh tế vĩ mô Các loại lãi suất này bao gồm lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất định hướng trên thị trường liên ngân hàng, và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở.

2 Các loại chính sách lãi suất:

Chính sách lãi suất trần là quy định về mức lãi suất cho vay tối đa, nhằm khuyến khích huy động vốn và tăng cường khả năng kiểm soát của chính phủ Chính phủ thiết lập một mức lãi suất cụ thể, áp dụng đồng nhất cho toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Chính sách lãi suất cố định: Lãi suất cố định là lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước khống chế

Ngân hàng thương mại (NHTM) điều chỉnh cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay Chính sách này dẫn đến việc không có sự cạnh tranh về lãi suất trong thị trường tài chính tín dụng, từ đó không thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

Chính sách lãi suất tự do cho phép chính phủ can thiệp khi lãi suất vượt quá mức chung, với lãi suất biến động dựa trên cung và cầu vốn vay Tuy nhiên, chính sách này chỉ khả thi trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo Hiện tại, Việt Nam đang áp dụng chính sách lãi suất thỏa thuận.

Các TCTD hiện nay áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động thương mại, thay thế cho lãi suất cơ bản bằng VNĐ Việc xoá bỏ “trần” lãi suất cho vay sẽ giúp các TCTD mở rộng phương thức huy động vốn và cho vay với lãi suất phù hợp với cung cầu thị trường tín dụng Điều này mang lại lợi ích lớn cho các tổ chức kinh tế và người sản xuất ở khu vực nông thôn, đặc biệt khi tăng trưởng tín dụng vượt xa tăng trưởng huy động vốn Theo NHNN, cơ chế lãi suất này sẽ hỗ trợ cải cách hệ thống Ngân hàng theo định hướng thị trường, xoá bỏ những “dị biệt” trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam, tiến tới hội nhập thị trường tín dụng Quốc tế.

Chính sách lãi suất ưu đãi nhằm hỗ trợ các đối tượng đặc biệt như người nghèo và gia đình chính sách bằng cách cung cấp lãi suất thấp Tuy nhiên, chính sách này có thể dẫn đến việc người vay không chú ý đến hiệu quả sử dụng vốn, khiến họ đầu tư vào các dự án kém hiệu quả Điều này không chỉ không thúc đẩy tăng trưởng vốn mà còn phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước Các đối tượng được hưởng lãi suất ưu đãi thường là hộ nghèo và cư dân ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo, miền núi Mặc dù chính sách này tạo điều kiện cho người vay, nhưng lại hạn chế sự phát triển của thị trường vốn vay.

III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LÃI SUẤT

Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của nhà nước chủ yếu là điều tiết vĩ mô, trong khi thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian hoạt động theo cơ chế tự do hóa tài chính Chính sách này dẫn đến việc lãi suất hình thành chủ yếu dựa vào cơ chế thị trường, nơi mà sự thay đổi về cung và cầu của vốn vay ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất.

Cung về vốn vay xuất phát từ những người có thu nhập dư thừa, họ tiết kiệm và cho vay để kiếm lời, cho thấy tiết kiệm là nguồn cung cấp vốn vay Ngược lại, cầu về vốn vay đến từ các hộ gia đình và doanh nghiệp cần vay tiền để đầu tư, mua bất động sản hoặc xây dựng nhà máy Do đó, đầu tư chính là yếu tố tạo ra nhu cầu về vốn vay.

Trên thị trường, có nhiều yếu tố tác động đến sự biến động của cung và cầu vốn vay, trong đó những yếu tố quan trọng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đường cung và đường cầu, từ đó tác động đến lãi suất.

1 Mức lạm phát kỳ vọng

Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu hướng tăng

Ta thấy rằng : Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát

Do đó, để duy trì lãi suất thực tế không giảm, khi tỷ lệ lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa cũng phải tăng lên tương ứng

Khi lạm phát gia tăng, người dân có xu hướng chuyển đổi tiết kiệm sang hàng hóa hoặc tài sản phi tài chính như vàng và ngoại tệ, thay vì cho vay Hành động này dẫn đến sự giảm cung vốn vay, làm dịch chuyển đường cung sang trái và kéo theo lãi suất tăng cao.

Ngược lại, ta thấy rằng, nếu lạm phát dự tính có xu hướng giảm thì sẽ làm cho lãi suất giảm xuống

2 Đầu tư Đầu tư là nhân tố tác động trực tiếp đến lượng cầu về vốn vay Khi Nhà nước có các chính sách khuyến khích về đầu tư, ví dụ như nhà nước giảm thuế lợi tức công ty, nó có khuyến khích doanh nghiệp vay tiền và đầu tư nhiều hơn vào tư bản mới Qua đó làm thay đổi đầu tư tại mọi mức lãi suất và làm thay đổi đến cầu về vốn vay Nhu cầu vay vốn tăng lên, đường cầu về vốn vay dịch chuyển sang bên phải và làm cho lãi suất tăng lên Ngược lại, các chính sách của chính phủ làm kìm hãm đầu tư sẽ là nhân tố làm giảm lãi suất

Thuế thu nhập ảnh hưởng đến lãi suất tương tự như cách mà thuế tác động đến giá cả hàng hóa Người ta thường chú trọng đến lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa Khi thuế thu nhập tăng, thu nhập của cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng cũng bị giảm, dẫn đến việc tiết kiệm của họ giảm và lượng tiền cho vay trên thị trường giảm theo Điều này làm giảm cung vốn vay, khiến đường cung vốn vay dịch chuyển sang trái và lãi suất tăng lên Ngược lại, khi thuế thu nhập giảm, lãi suất sẽ có xu hướng giảm.

4 Ngân sách của chính phủ

Tiết kiệm quốc dân = Tiết kiệm tư nhân + Tiết kiệm Chính phủ

Khi Chính phủ chi tiêu vượt quá thu nhập từ thuế, thâm hụt ngân sách sẽ làm giảm tiết kiệm quốc dân và cung cấp vốn vay giảm, dẫn đến việc đường cung vốn vay dịch chuyển sang trái và lãi suất cân bằng tăng lên Hơn nữa, tình trạng bội chi ngân sách này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý người dân về sự gia tăng lạm phát, gây áp lực làm tăng lãi suất.

5 Các yếu tó khác của đời sống xã hội

VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT ĐỐI VỚI NÊN KINH TẾ

Lãi suất là một yếu tố quan trọng trong nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cá nhân và là chỉ số phản ánh sức khỏe kinh tế Vai trò của lãi suất có thể được phân chia thành hai khía cạnh chính: vai trò vĩ mô và vai trò vi mô.

1 Vai trò Vĩ mô: Đối với Ngân hàng Nhà nước thì lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô Sự biến động của lãi suất trong quá trình điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế như đầu tư,tiêu dùng ,tiết kiệm,tỷ giá…qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước

Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng và doanh nghiệp có quyền tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, miễn là có phương tiện thanh toán Ngân hàng Nhà nước có thể chi phối sự tăng trưởng kinh tế thông qua việc kiểm soát giá bán và lãi suất Bằng cách tăng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước làm giảm khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại, từ đó thực hiện chính sách tiền tệ và hạn chế khối lượng tiền cho sản xuất và chi tiêu Ngược lại, việc điều chỉnh lãi suất cũng giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế Để kiểm soát tốc độ phát triển hoặc khuyến khích một ngành cụ thể, Ngân hàng Nhà nước có thể tăng hoặc giảm lãi suất cho vay nhằm điều chỉnh đầu tư trong ngành đó.

Lãi suất tín dụng không chỉ hướng dẫn điều hành nền kinh tế mà còn có vai trò quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát Tháng 3 năm 1989, Việt Nam áp dụng chế độ siêu lãi suất tiền gửi, giúp giảm lạm phát từ 9,2% xuống 4,5% chỉ trong một tháng Điều này chứng tỏ sức mạnh của lãi suất trong điều tiết kinh tế vĩ mô, mặc dù có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế Từ năm 1989 đến nay, chính sách lãi suất luôn được sử dụng để điều chỉnh nền kinh tế Việt Nam Sau khi ổn định lạm phát, Ngân hàng Nhà nước đang dần hạ thấp khung lãi suất nhằm khuyến khích đầu tư và phục hồi kinh tế.

Chính sách lãi suất là một phần quan trọng trong chính sách tiền tệ của nhà nước, có vai trò điều hòa lưu thông tiền tệ và hướng dẫn sản xuất kinh doanh Lãi suất cho vay được áp dụng để mở rộng cung ứng tiền tệ, đồng thời thu hẹp đầu tư và kiểm soát lạm phát.

Lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh kinh tế, được điều chỉnh theo từng giai đoạn để phù hợp với mục tiêu phát triển Nhà nước sử dụng các ưu đãi về lãi suất và điều kiện tín dụng như công cụ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các sản phẩm ưu tiên trong chiến lược phát triển Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước chậm phát triển, giúp họ nhanh chóng tiếp cận công nghệ hiện đại Do đó, lãi suất có thể được xem là công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ.

Sự điều chỉnh lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, từ đó giúp đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ Cụ thể, việc mở rộng khung lãi suất hoặc tăng trần lãi suất sẽ làm tăng lượng tiền trong lưu thông, trong khi việc giảm lãi suất sẽ có tác dụng ngược lại Lãi suất không chỉ tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến lượng tiền mà các ngân hàng cung ứng ra thị trường.

Lãi suất có tác động quan trọng đến đầu tư và tiết kiệm, với sự đồng thuận từ các nhà kinh tế rằng mức lãi suất ảnh hưởng đến quy mô tiết kiệm của người dân Khi lãi suất thực tế cao, số tiền gửi vào ngân hàng tăng lên, dẫn đến sự gia tăng trong khả năng mua sắm tài sản Lãi suất dương khuyến khích người dân gửi tiết kiệm tại ngân hàng, vì nó an toàn và có khả năng sinh lời cao hơn so với việc tích trữ tài sản Điều này không chỉ làm tăng nguồn vốn của ngân hàng mà còn nâng cao khối lượng tiền tệ phục vụ cho nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiết kiệm tài chính.

Lãi suất có ảnh hưởng sâu rộng đến nền kinh tế, đặc biệt là trong việc thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng Một chính sách lãi suất hợp lý không chỉ thu hút vốn nhàn rỗi mà còn kích thích đầu tư, từ đó góp phần vào sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế.

Lãi suất đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng Doanh nghiệp vay vốn cần hoàn trả cả vốn lẫn lãi đúng hạn, vì vậy họ phải chú trọng đến kết quả sản xuất kinh doanh để có nguồn vốn trả nợ Nếu không hoàn trả đúng hạn, lãi suất quá hạn sẽ cao hơn 1,5 lần lãi suất đúng hạn, điều này khuyến khích doanh nghiệp nỗ lực kinh doanh tốt hơn Ngân hàng huy động vốn để cho vay, phải trả lãi cho người gửi và thu lãi từ người vay, do đó cần tính toán mức lãi suất hợp lý để bù đắp chi phí và tạo ra lợi nhuận.

Lãi suất là công cụ cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng (TCTD), với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định mức trần tối đa về lãi suất cho vay và chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và tiền vay để bảo vệ lợi ích của người gửi, người vay và ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ giữa các thành phần kinh tế về sản phẩm, giá cả và dịch vụ Để tồn tại trong môi trường cạnh tranh này, các ngân hàng thương mại cần đổi mới phương thức phục vụ và huy động vốn, đồng thời đẩy mạnh cho vay Các TCTD cũng cần giảm chi phí để hạ lãi suất đầu ra, thu hút nhiều khách hàng mở tài khoản và vay vốn.

SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TỚI NỀN

Sự ảnh hưởng của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị trường Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến nay

Sau khi tự do hoá lãi suất, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng đã làm tăng lãi suất huy động và cho vay Kết quả là lãi suất thực tế trong giai đoạn 2001-2003 ở mức cao Lãi suất hiện nay phản ánh chính xác hơn nhu cầu và cung cấp trên thị trường vốn vay, với các ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường và thúc đẩy cải cách để nâng cao khả năng cạnh tranh.

Có ba ý kiến khác nhau về cơ chế lãi suất cơ bản Ý kiến đầu tiên cho rằng cơ chế mới không khác gì so với trần lãi suất trước đây, dẫn đến việc loại bỏ những người vay vốn nhỏ khỏi thị trường tài chính chính thức do chi phí vay cao Ý kiến thứ hai nhấn mạnh tính tích cực của cơ chế lãi suất cơ bản, cho phép các ngân hàng định mức lãi suất theo mức độ rủi ro trong phạm vi biên độ cho phép, từ đó tăng cường cạnh tranh và cải thiện hiệu quả phân bổ vốn.

Nhà nước đã điều chỉnh lãi suất cơ bản để phù hợp với tình hình thị trường, đánh dấu bước tiến tới tự do hóa lãi suất Tuy nhiên, một số ý kiến bi quan cho rằng việc ngân hàng tự do định đoạt lãi suất, trong khi các doanh nghiệp nhà nước chậm đổi mới, có thể làm trầm trọng thêm mối quan hệ tài chính không lành mạnh giữa hai bên Các doanh nghiệp nhà nước, được chính phủ bảo lãnh, thường nhận được lãi suất vay thấp hơn (0,6-0,65%/tháng), trong khi khu vực tư nhân phải chịu lãi suất cao hơn (0,75-0,8%/tháng) do ngân hàng coi đây là rủi ro lớn hơn.

Sự cạnh tranh mở rộng quy mô Ngân hàng đẩy lãi suất lên cao, làm cho lãi suất không ổn định

Lãi suất cơ bản hiện nay chỉ mang tính chất tham khảo, với các công cụ chính của Ngân hàng Nhà nước như lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn Khi lãi suất cơ bản không còn là yếu tố quyết định, các ngân hàng có thể áp dụng lãi suất khác nhau dựa trên mức độ rủi ro của khách hàng và chi phí cho vay Điều này giúp các đối tượng vay như hộ kinh doanh nhỏ và nông dân không bị loại ra khỏi thị trường như trước đây.

Do lạm phát gia tăng trong giai đoạn 2004 - 2005, các ngân hàng toàn cầu đã đồng loạt nâng lãi suất nhằm đối phó với áp lực từ việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất đồng ngoại tệ.

Nửa đầu năm 2006, lãi suất huy động giữa các Ngân hàng tăng mạnh do cạnh tranh, dẫn đến việc hầu hết các Ngân hàng điều chỉnh lãi suất Sự thay đổi này đã làm xoá bỏ các thoả thuận lãi suất trước đó giữa các Ngân hàng và TCTD Nhiều ý kiến lo ngại rằng sự gia tăng nhanh chóng của lãi suất huy động sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lãi suất cho vay, từ đó tác động xấu đến đầu tư sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.

Với lãi suất cơ bản hiện tại là 8,25%/năm (0,6875%/tháng), lãi suất cho vay tối đa không được vượt quá 1,1%/tháng theo quy định của Bộ luật Dân sự Tuy nhiên, con số này không phản ánh thực tế lãi suất cho vay trong sản xuất kinh doanh và các hợp đồng dân sự hiện nay Trong khi đó, ở nhiều quốc gia, lãi suất cơ bản được xác định dựa trên thị trường và được xem là mức tối thiểu để bù đắp chi phí và đảm bảo lợi nhuận hợp lý.

Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định rằng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Trung ương công bố là cơ sở để các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam Tuy nhiên, hiện tại, lãi suất cơ bản chỉ đóng vai trò định hướng cho thị trường mà chưa đủ mạnh để Ngân hàng nhà nước có thể điều tiết cung cầu trên thị trường.

Lãi suất cơ bản của Việt Nam phản ánh một thị trường tiền tệ chưa hoàn hảo, với sự chênh lệch lớn so với lãi suất thương mại, nơi thể hiện cung cầu thực tế Hơn nữa, lãi suất cơ bản không tương thích với các công cụ tài chính khác như lãi suất trái phiếu chính phủ và trái phiếu kho bạc, cho thấy sự kết nối giữa các loại thị trường tiền tệ còn yếu và thậm chí có thể mâu thuẫn.

Theo một quan chức NHNN, việc hạ lãi suất không phải là điều dễ dàng Một số quốc gia như Hàn Quốc đã gặp khó khăn trong việc điều chỉnh lãi suất sau khi áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất Việt Nam chỉ mới áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận, cho phép các ngân hàng tự quyết định lãi suất huy động và cho vay từ năm 2002, thời gian chưa dài.

Theo quan chức này, tại Mỹ, khi FED điều chỉnh lãi suất cơ bản, các ngân hàng phải thay đổi theo do hệ thống chính sách tiền tệ đã phát triển hoàn thiện Ngược lại, tại Việt Nam, công cụ chính sách tiền tệ còn yếu và phạm vi tác động hạn chế, điều này không chỉ do Ngân hàng Nhà nước mà còn do thị trường còn mới phát triển Do đó, khi NHNN thực hiện các động thái thu tiền hoặc bơm tiền, thị trường có thể mất vài tháng, thậm chí cả năm, mới phản ứng với những thay đổi này.

Theo ông Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (NHNN), rủi ro lãi suất hiện nay là một trong những rủi ro cơ bản mà các ngân hàng dễ mắc phải Khi lãi suất tăng, chi phí huy động cũng tăng, dẫn đến chi phí vay cao hơn và gia tăng rủi ro thất bại của các dự án đầu tư, có thể dẫn đến nguy cơ vỡ nợ Nếu ngân hàng tăng lãi suất huy động mà không tăng lãi suất cho vay, khoảng cách lãi suất sẽ co hẹp, làm giảm lợi nhuận và không đủ dự phòng rủi ro Ông Nghĩa đã nhấn mạnh điều này nhiều lần trên các diễn đàn, và các chuyên gia quốc tế cũng chỉ ra rằng khoảng cách lãi suất huy động và cho vay của các ngân hàng Việt Nam rất thấp, chỉ khoảng 2,5%, so với mức 3,5 đến 4% của các nước khác, điều này không đủ để bù đắp rủi ro.

Dự báo ảnh hưởng và thay đổi của chính sách lãi suất tới nền kinh tế thị trường Việt

Kể từ ngày 1/4/2007, các ngân hàng Mỹ và ngân hàng nước ngoài khác được phép thành lập chi nhánh 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Những chi nhánh và văn phòng đại diện này sẽ được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO.

Mỹ sẽ được nhận tiền gửi bằng VND không giới hạn từ các pháp nhân, được thời phát hành thẻ tín dụng

Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các công ty chứng khoán nước ngoài có thể thành lập liên doanh với tối đa 49% cổ phần Sau 5 năm, họ được phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài và mở chi nhánh tại Việt Nam, cung cấp các dịch vụ như quản lý tài sản, tư vấn và dịch vụ thanh toán.

Các công ty đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia, đảm bảo không phân biệt đối xử trong tất cả các lĩnh vực con của dịch vụ tài chính.

Xu hướng tăng lãi suất và cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng sẽ tiếp tục gia tăng, dẫn đến sự thay đổi đáng kể của mức lãi suất cơ bản Mặc dù xu hướng này có thể kích thích đầu tư, nhưng cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực cho thị trường tài chính Việt Nam Các ngân hàng trong nước có thể gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài, dẫn đến giảm lợi nhuận.

GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT

GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH VÀ KIỂM SOÁT LÃI SUẤT THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ 18 1 Hoàn thiện cơ chế tự do hoá lãi suất bằng VNĐ

1 Hoàn thiện cơ chế tự do hoá lãi suất bằng VNĐ

Hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trên thị trường tiền tệ:

Nhà nước cần xem xét sửa đổi quy định về cơ chế tài chính cho các tổ chức tín dụng và thực hiện các biện pháp đồng bộ một cách hiệu quả.

Chính sách lương và thưởng nên được thực hiện theo phương thức phân cấp thu thập, thay vì duy trì tính bình quân như hiện tại, nhằm khuyến khích sự sáng tạo và nhiệt huyết của nhân viên cũng như lãnh đạo tại các Ngân hàng thương mại Quốc doanh.

Thay đổi quy định về cơ chế tài chính giúp các ngân hàng chủ động hơn trong quản lý tài chính, từ đó tạo động lực cho sự phát triển bền vững và hoạt động lành mạnh Điều này cũng góp phần ngăn chặn tình trạng chảy máu nhân tài, giữ lại những cán bộ giỏi có chuyên môn vững vàng trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.

Cần sớm ban hành các văn bản để đánh giá lại giá trị tài sản cố định tại các ngân hàng, nhằm xác định chính xác số vốn nhà nước tham gia vào các Ngân hàng thương mại Quốc doanh.

Các Ngân hàng thương mại Quốc doanh cần khẩn trương cơ cấu lại nợ và vay ngân hàng, xử lý triệt để các khoản nợ khó đòi Đồng thời, cần tách biệt hoạt động cho vay chính sách sang Ngân hàng chính sách để loại bỏ các hình thức cho vay ưu đãi trong hệ thống Ngân hàng Thương mại.

Hoàn thiện đề án và thực hiện cổ phần hóa từng bước các ngân hàng thương mại, cho phép các ngân hàng này phát hành cổ phiếu mới, trong khi nhà nước vẫn giữ vai trò là cổ đông lớn.

Các giải pháp này sẽ giúp các ngân hàng thương mại (NHTM) phát huy tối đa năng lực, chủ động trong quản lý và nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời tạo điều kiện cho quá trình tự do hóa lãi suất và hội nhập kinh tế quốc tế Ở cấp độ vi mô, NHTM cần tăng cường khả năng cạnh tranh bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển các dịch vụ ngân hàng kết hợp với các biện pháp tiếp thị hiệu quả Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần chú trọng đến việc cân đối tín dụng, huy động vốn hiệu quả và sử dụng vốn hợp lý để đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng bền vững.

Cụ thể có thể tiến hành như sau:

- Điều hành lãi suất phải đảm bảo tính thống nhất trong toàn hệ thống từng ngân hàng

- TCTD cần thành lập bộ phận chuyên theo dõi, nghiên cứu về lãi suất

TCTD cần xác định lãi suất điều hòa vốn nội bộ và có quyền tự chủ trong việc thiết lập biên độ dao động hợp lý so với lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.

Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ

- NHNN cần thực hiện các giải pháp hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất thoả thuận

Hệ thống hạ tầng cơ sở của thị trường tiền tệ cần được phát triển, và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện tốt vai trò của mình như là người mua bán cuối cùng khi can thiệp vào thị trường này.

Để nâng cao hiệu quả điều tiết thị trường tiền tệ và đáp ứng yêu cầu thực tiễn, NHNN cần chuyển đổi từ việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ trực tiếp sang gián tiếp, phù hợp với thông lệ quốc tế.

2 Nâng cao hiệu quả của các công cụ lãi suất

Hiện nay, các quốc gia trên thế giới áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để xác định mức lãi suất điều hành của thị trường tiền tệ Cụ thể, Mỹ sử dụng lãi suất định hướng liên ngân hàng và lãi suất chiết khấu, trong khi ECB áp dụng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất tiền gửi qua đêm Nhật Bản (BOJ) cũng sử dụng lãi suất chiết khấu và lãi suất qua đêm Xu hướng sử dụng lãi suất liên ngân hàng ngày càng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển, với thị trường liên ngân hàng được hiểu là thị trường vốn "bán buôn" giữa các ngân hàng Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng là một biến số nhạy cảm, phản ánh sự biến động của thị trường và được coi là lãi suất tham chiếu cho thị trường tiền tệ Do đó, chúng tôi ủng hộ việc đưa lãi suất trên thị trường liên ngân hàng trở thành loại lãi suất điều hành tại Việt Nam.

Thị trường liên ngân hàng hiện nay xác định lãi suất dựa trên lãi suất thoả thuận, tức là lãi suất cho vay được hình thành từ quá trình tự thẩm định và thương lượng với khách hàng.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường liên ngân hàng, cần đảm bảo rằng lãi suất trên thị trường này là cơ sở cho ngân hàng trung ương xác định lãi suất điều hành VNĐ (lãi suất VNBOR).

Khi lựa chọn ngân hàng, nên ưu tiên các ngân hàng uy tín và dựa vào lãi suất chào của các ngân hàng trên thị trường để xác định mức lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng Mức lãi suất bình quân này sẽ được công bố hàng ngày, cung cấp thông tin tham khảo cho các tổ chức tín dụng.

- NHNN cần xây dựng một đề án lãi suất trên cơ sở lãi suất liên ngân hàng và các tỷ lệ lãi suất khác

Các loại lãi suất cần được điều chỉnh và bổ sung để phù hợp với xu hướng phát triển trong tương lai, nhằm nâng cao hiệu quả của các công cụ lãi suất.

Lãi suất tín phiếu kho bạc

Ngày đăng: 24/07/2023, 11:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w