BÁO CÁO KẾT QUẢĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG MÃ SỐ: TN 2012 - 82 TÊN ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN SAU QUÁ TRÌNH XỬ LÝ YẾM KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SBR TẠI TRUNG
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
MÃ SỐ: TN 2012 - 82
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN SAU QUÁ
TRÌNH XỬ LÝ YẾM KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SBR
TẠI TRUNG TÂM THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: ĐẶNG THỊ HỒNG PHƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
MÃ SỐ: TN 2012 - 82
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN SAU QUÁ
TRÌNH XỬ LÝ YẾM KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SBR
TẠI TRUNG TÂM THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
Chủ trì đề tài: ĐẶNG THỊ HỒNG PHƯƠNG Thời gian thực hiện: 1/2012 – 12/2012 Địa điểm nghiên cứu: ĐH Nông lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: “Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình
Chủ nhiệm đề tài: Đặng Thị Hồng Phương
Tel.: 0976177083 E-mail: hongphuong83@gmail.com
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
Thời gian thực hiện: 1/2012-1/2013
1 Mục tiêu:
- Đánh giá khả năng loại COD, N trong nước thải chăn nuôi lợn sau
quá trình xử lý yếm khí của công nghệ SBR;
- Nghiên cứu đưa ra chế độ vận hành tối ưu cho hệ thiết bị SBR
- Hệ thống SBR có hiệu suất xử lý COD trong nước thải chăn nuôi lợn
rất cao, không phụ thuộc vào các chế độ vận hành
- Hiệu quả xử lý N-NH4+ đạt tương đối cao và ổn định (đạt xấp xỉ
99%)
- Hiệu suất xử lý T-N là 85% ở chế độ một chu trình bao gồm hai quá
trình hiếu khí – thiếu khí xử lý đạt hiệu quả cao nhất
- Chế độ cấp nước 2 lần với tỷ lệ cấp nước giữa 2 lần là 2:1 cho hiệu
quả xử lý cao nhất Hiệu suất xử lý N-NH4+ và T-N tương ứng đạt 100% và
90%
Trang 4- Study on the effect of regime aeration process to pig livestock
wastewater treament process after anaeration treatment by SBR
- Study on the effect of wastewater mode to the wastewater treatment
efficiency of the SBR process
3 Results obtained:
- SBR system had COD removal efficiency of swine wastewater is very
high, it was not depend on the operating mode
- The efficient treatment of N-NH4+ was relatively high and stable
(approximately 99%)
- T-N treatment efficience was 85% in mode cycle which included two
process: aerobic and lack of gas were the most effective treatment
- water supply Mode with 2 times and rate of water supply 2:1 were the
highest treatment efficiency Effective Process of N-NH4+ and T-N were
100% and 90%, respectively
Trang 5PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi là lĩnh vực gắn liền với cuộc sống của con người Để đápứng nhu cầu ăn uống của con người thì lượng thịt để tiêu thụ cũng phải luônđảm bảo đáp ứng được nhu cầu đó Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tíchcực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, việc phát triển chăn nuôi lợn đã để lạinhững tác động tiêu cực đến môi trường, làm suy thoái chất lượng đất, chấtlượng nước và không khí xung quanh các khu vực nuôi lợn Chất thải chănnuôi lợn đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh, đến sứckhỏe con người và đặc biệt, chúng đóng góp một phần lớn khí gây hiệu ứngnhà kính, biến đổi khí hậu
Ở Việt Nam, chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn được coi là thế mạnhcủa ngành nông nghiệp Hiện nay, trong bối cảnh thức ăn chăn nuôi, vật tưchăn nuôi đều tăng, cùng với đó là sức cạnh tranh, vấn đề kiểm soát dịch bệnhnên việc chăn nuôi trong các hộ gia đình có xu hướng giảm trong khi chănnuôi gia trại, trang trại tăng nhanh và tạo được khả năng cạnh tranh trên thịtrường Do vậy, vấn đề chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi lợn cầnphải được quản lý tốt Chất thải của các trang trại chăn nuôi lợn với thànhphần chủ yếu là phân lợn và nước thải hiện đang là vấn đề lo lắng của các nhàquản lý Hầu hết việc xử lý chất thải của các hộ chăn nuôi là lắp đặt hệ thống
xử lý chất thải Biogas, nhưng hệ thống này chưa đủ công suất đáp ứng nhucầu xử lý toàn bộ chất thải mà chỉ đạt được 50% - 70% lượng chất thải củatrang trại Tuy nhiên, với nhiều trang trại đã có hầm biogas, có hệ thống xử lýchất thải nhưng chất thải chưa được xử lý triệt để [15] Việc sử dụng bể
Biogas tại các trại chăn nuôi thuận tiện cho sử dụng chất thải và khai thácnguồn năng lượng nhưng nước thải sau bể Biogas vẫn còn nhiều chất gây ônhiễm môi trường cần được xử lý trước khi thải vào môi trường
Từ đặc tính nước thải ngành chăn nuôi và thực tế các công nghệ đã áp
Trang 6dụng để xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí (biogas),
công nghệ SBR (các quá trình xử lý chất hữu cơ và nitơ được thực hiện trong
một bể) dễ dàng đáp ứng các yêu cầu của xử lý nước thải chăn nuôi Đề tài
“Nghiên cứu xử nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí bằng
phương pháp SBR tại trung tâm thực hành thực nghiệm Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra khả năng ứng
dụng của phương pháp SBR trong nỗ lực đảm bảo nước thải sau xử lý đạt quy
chuẩn môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá khả năng loại COD, N trong nước thải chăn nuôi lợn sau
quá trình xử lý yếm khí của công nghệ SBR;
- Nghiên cứu đưa ra chế độ vận hành tối ưu cho hệ thiết bị SBR
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Lắp đặt hệ thí nghiệm xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử
lý yếm khí bằng phương pháp SBR
- Lấy mẫu, phân tích hàm lượng hữu cơ, tổng N, COD, NO3-, NO2-,
NH4+ trong nước thải đầu vào và nước thải sau khi qua hệ thống thí nghiệm,
đưa ra được hiệu suất xử lý
- Đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý COD, Nitơ
trong nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp SBR
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài là nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo về việc xử
lý triệt để các chất hữu cơ, N, P trong nước thải chăn nuôi lợn ở Việt Nam
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài rất có ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài sẽ góp phần đưa
ra mô hình xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí, có thể
phổ cập sử dụng trong các hộ, trang trại chăn nuôi lợn
Trang 7PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO): Châu Á sẽ trởthành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất Chănnuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăngtrưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bướchướng tới xuất khẩu Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta pháttriển với tốc độ nhanh, bình quân giai đoạn 2001 - 2006 đạt 8,9%
Trong số các nước thuộc khối Asean, Việt Nam là nước chịu áp lực vềđất đai lớn nhất Tốc độ tăng dân số và quá trình đô thị hóa đã làm giảm diệntích đất nông nghiệp Để đảm bảo an toàn về lương thực và thực phẩm, biệnpháp duy nhất là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một thànhphần quan trọng trong định hướng phát triển
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn phát triển với tốc độ rấtnhanh nhưng chủ yếu là tự phát và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật
về chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi Do đó, năng suất chăn nuôi thấp và gây
ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng Ô nhiễm môi trường không nhữngảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, năng suất chăn nuôi mà còn ảnh hưởng rấtlớn đến sức khỏe con người và môi trường sống xung quanh Mỗi năm ngànhchăn nuôi gia súc gia cầm thải ra khoảng 75 - 85 triệu tấn phân, với phươngthức sử dụng phân chuồng không qua xử lý ổn định và nước thải không qua
xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng [3]
Cho đến nay, chưa có một báo cáo nào đánh giá chi tiết và đầy đủ về ônhiễm môi trường do ngành chăn nuôi gây ra Theo báo cáo tổng kết của ViệnChăn nuôi, hầu hết các hộ chăn nuôi đều để nước thải chảy tự do ra môi
trường xung quanh gây mùi hôi thối nồng nặc, đặc biệt là vào những ngày oibức Nồng độ khí H2S và NH3 cao hơn mức cho phép khoảng 30 - 40 lần.Tổng số VSV và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần Ngoài
ra nước thải chăn nuôi còn có chứa COD, coliform, e.coli, v.v., và trứng giunsán cao hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép
Khả năng hấp thụ Nitơ và Photpho của gia súc, gia cầm rất kém, nên khithức ăn có chứa Nitơ và Photpho vào thì chứng sẽ bị bào tiết theo phân và
Trang 8Đơn vị công nghệ Hiệu quả xử lý (%)
N hữa cơ N-NH 4+ N-NO 3- Tổng N
Lắng 1 10 – 20 - - 5 – 10
Xử lý bậc 2 10 - 50 <10 ít 10 - 30 Tổng hợp tế bào - 40-70 ít 3-70 Nitrat hóa ít ->NO3- ít 5-20 Khử Nitrat - - 80-90 70-95
Hồ oxy hóa ít Bay hơi ít nitrat 20-90
nước tiểu Trong nước thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng Nitơ vàPhotpho rất cao [14]
Theo Jongbloed và Lenis (1992), đối với lợn trưởng thành, khi ăn vào100g Nitơ thì: 30g giữ lại cơ thể, 50g bài tiết ra ngoài theo nước tiểu dướidạng ure, còn 20g ở dạng phân Nitơ vi sinh khó phân hủy và an toàn cho môitrường
Nitơ bài tiết ra ngoài theo nước tiểu và phân dưới dạng ure, sau đó ure
sẽ tiết ra enzime ureaza chuyển hóa ure thành NH3, NH3 phát tán vào khôngkhí gây mùi hôi hoặc khuếch tán vào nước làm ô nhiễm nguồn nước Nồng độ
NH3 trong nước thải phụ thuộc vào lượng urê trong nước tiểu và pH của nướcthải Khi pH tăng, NH4+ sẽ chuyển thành NH3 Ngược lại, khi pH giảm, NH3chuyển thành NH4+ Hợp chất nitơ bền và không có hậu quả xấu với môitrường là khí N2 Xử lý hợp chất N trong nước thải với mục tiêu cao nhất vềphương diện công nghệ là chuyển chúng về dạng khí nitơ
Khả năng loại bỏ N, P qua các quá trình xử lý nước thải:
- Trong quá trình xử lý sơ bộ lắng nồng độ N giảm khoảng 5-10% dohợp chất N được giữ lại ở trong các hợp chất lắng
- Trong quá trình xử lý yếm khí quá trình oxy hóa amoni hầu nhưkhông diễn ra chỉ một phần nhỏ tham gia tổng hợp sinh khối Trong quá trìnhyếm khí chỉ chuyển hóa từ dạng N-hữu cơ về dạng N-vô cơ qua quá trình thủyphân
- Trong quá trình xử lý hiếu khí so với quá trình phân hủy COD thì quátrình oxy hóa N-amoni thành Nitrit và Nitrat diễn ra chậm hơn nhiều Nhưvậy đối với nước thải chăn nuôi lợn có hàm lượng N, P cao – thành phần N, Pluôn dư so với nhu cầu tổng hợp tế bào Vậy cần có quá trình thiếu khí đểthực hiện quá trình khử nitrat
Bảng 2.1 Hiệu quả xử lý N bằng các công trình xử lý thông thường
Trang 9Trong quá trình xử lý nước thải luôn tồn tại nhiều chủng loại VSV có
khả năng cùng sống trong một môi trường Tỷ lệ của các loại VSV trong quần
thể phụ thuộc vào thành phần nước thải Trong cùng điều kiện hiếu khí, tỷ lệ
VSV hiếu khí dị dưỡng (oxy hóa Chữa cơ) và loại VSV hiếu khí tự dưỡng (oxy
hóa NH4+), tỷ lệ các VSV trên phụ thuộc vào tỷ lệ BOD/N được thể hiện
trong bảng sau:
Bảng 2.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ BOD/T-N đến (%) VSV tự dưỡng trong hệ hiếu khí
(Nguồn: Mecalf & Eddy Wastewater engineering, Treatment, disposal and reuse.)
Cơ sở lý thuyết loại bỏ hợp chất N trong nước thải: Quá trình khử hợp
chất N có thể được sơ đồ hóa như sau:
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Nước thải chăn nuôi thuộc loại giàu SS, COD, N, P, vì vậy để xử lý
nước thải chăn nuôi kĩ thuật yếm khí luôn là sự lựa chọn đầu tiên Ở các nước
châu Âu và Mĩ, nhất là ở Anh, nước và chất thải chăn nuôi được coi là nguồn
nguyên liệu để sản xuất biogas thu hồi năng lượng Ở Đức, năng lượng biogas
từ chất thải chăn nuôi và các nguồn thải hữu cơ khác đã được đưa vào cán cân
năng lượng quốc gia để đạt mục tiêu 20% năng lượng sử dụng là năng lượng
tái tạo vào 2020
Tuy nhiên, do nước thải chăn nuôi lợn là một nguồn thải ô nhiễm trầm
Trang 10trọng đối với môi trường, loại nước thải này rất khó xử lý, bởi vì nồng độ hữu
cơ cũng như nitơ trong nước thải rất cao Vì vậy, phát triển công nghệ xử lýnước thải chăn nuôi lợn có hiệu quả và kinh tế đang là sự quan tâm đặc biệtcủa các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đối với loại nướcthải này, nếu chỉ xử lý bằng các quá trình sinh học yếm khí thường không triệt
để, vấn còn một lượng lớn các chất hữu cơ và phần lớn thành phần dinh
dưỡng là N, P Do vậy, sau quá trình xử lý yếm khí, bước tiếp theo là quátrình sinh học hiếu khí – thiếu khí kết hợp (xử lý phần hữu cơ còn lại và phầnlớn thành phần dinh dưỡng N, P), cuối cùng có thể là bước xử lý bổ sungnhằm giảm thiểu tối đa thành phần dinh dưỡng Một số quá trình hiếu khí –thiếu khí cơ bản thường được nghiên cứu ứng dụng nhiều trong xử lý nướcthải chăn nuôi lợn như sau: Phương pháp bùn hoạt tính hiếu khí – thiếu khíkết hợp, phương pháp lọc sinh học ngập nước thiếu – hiếu khí kết hợp,
phương pháp mương oxy hóa, phương pháp anamox và phương pháp SBR
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi lợncũng như nhiều loại nước thải công nghiệp khác (nước thải chế biến thựcphẩm, nước thải nhà máy sữa, nước thải giết mổ gia súc, v.v.) bằng phươngpháp SBR [17] Kết quả nghiên cứu của Kim [19] đối với nước thải chăn nuôilợn (COD = 1000 mg/L, N-NH4+ = 3400 mg/L, T-P = 145 mg/L), trongkhoảng tải trọng 0,063 – 0,25 kg-COD/m3-ngày, với chu trình xử lý 12h chothấy hiệu suất xử lý đạt 57,4 – 87,4% đối với COD, 90,8 – 94,7% đối với N-NH4+ Kết quả nghiên cứu của Edgerton [3], với nước thải đầu vào có COD
= 4500 mg/L, N-NH4+ = 250 mg/L, T-P = 383 mg/L, với các quá trình yếmkhí/hiếu khí/thiếu khí, ở tải trọng 1,18 kg-COD/m3-ngày, chu trình xử lý 12 hcho hiệu quả xử lý là 79%, 99% và 49% tương ứng với COD, N-NH4+ và T-
P Một số nghiên cứu cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả xử lý của phương phápSBR cũng đã được thực hiện Nghiên cứu của Bortone [22] và Filali [28] về
xử lý nước thải chăn nuôi lợn cho thấy chế độ cấp nước thải 2 lần trong chu
kỳ xử lý cho hiệu suất xử lý cao hơn chế độ cấp nước thải 1 lần
Cho đến nay, việc nghiên cứu môi trường chăn nuôi ở nước ta chưađược quan tâm một cách đầy đủ Chỉ có một số công trình nghiên cứu chấtlượng môi trường tại các điểm chăn nuôi đơn lẻ đã được công bố trong mộtvài năm trở lại đây như: Báo cáo kết quả nghiên cứu môi trường các khu vựcchăn nuôi hai xã Trực Thái (Nam Định) và Trung Châu (Hà Tây) của ViệnChăn nuôi; Báo cáo của Viện Công nghệ môi trường kết hợp với Viện Thú y
Trang 11Quốc gia kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn chuồng nuôi gà tại Trung tâm nghiêncứu gia cầm Thụy Phương; Báo cáo kết quả thực hiện Dự án của liên minhChâu Âu – chương trình Asia ProEco “Phát triển chăn nuôi lợn, quản lý chấtthải động vật và bảo vệ môi trường”, v.v.
Các công trình nghiên cứu ở trên đều đưa ra nhận định chung là hầu hếtlượng chất thải chăn nuôi của Việt Nam đều không được quản lý và xử lý mà
đổ tự do ra môi trường xung quanh Các công trình nghiên cứu cũng đã đềxuất một số phương pháp xử lý chất thải bằng Biogas và De-odorase kết hợpvới biện pháp cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại như: nâng độ cao chuồngnuôi, cải tạo mái tạo độ thông thoán, lắp dàn phun mưa, v.v
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ thực hiện ở một khu vựcchăn nuôi nhỏ, các mô hình công nghệ đều mới dừng lại ở quy mô thử
nghiệm mà chưa có số liệu theo dõi, đánh giá với thời gian đủ dài và thườngxuyên để đưa ra những số liệu hệ thống, làm cơ sở cho việc đề xuất áp dụngcác phương pháp xử lý chất thải một cách rộng rãi Một số nơi công nghệ xử
lý cũng chưa đạt được các kết quả như mong đợi Vì vậy, khả năng triển khai
áp dụng trên diện rộng các biện pháp cải thiện môi trường chăn nuôi còn gặpnhiều khó khăn
Chỉ có một số ít các nghiên cứu được thử nghiệm trong thực tế như đềtài nghiên cứu công nghệ lọc sinh học trong xử lý nước thải chăn nuôi tạiVĩnh Phúc được Viện Công nghệ Môi trường thực hiện trong năm 2007, đềtài nghiên cứu công nghệ Aeroten trong xử lý nước thải chăn nuôi tại trại lợnHoàng Liễn – Vũ Thư – Thái Bình được Viện Công nghệ Môi trường thựchiện trong giai đoạn 2006 – 2007 Tuy nhiên, hiệu quả xử lý của 2 công nghệnày chưa cao và chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tế về suất đầu tư và chiphí vận hành Chính vì vậy tuy nhu cầu có đã lâu nhưng mô hình xây dựng vàvận hành thành công hệ xử lý nước thải chăn nuôi ở nước ta rất hiếm Côngnghệ SBR (quá trình yếm khí, hiếu khí, thiếu khí trong một thiết bị) đã được
áp dụng để xử lý nước thải cho các ngành khác tại Việt Nam (Bệnh viện,nước thải sinh hoạt, v.v.) đạt hiệu quả cao về kỹ thuật cũng như kinh tế Mặc
dù vậy đối với nước thải chăn nuôi vẫn chưa được nghiên cứu ứng dụng
Đối với nước thải chăn nuôi lợn, đặc tính nước thải thay đổi rất lớn phụthuộc vào phương pháp chăn nuôi, quy mô trang trại, quản lý chuồng trại (nhưviệc có tách lỏng rắn hay không), điều kiện của từng địa phương Những điềunày ảnh hưởng lớn đến quy mô xử lý cũng như lựa chọn phương pháp xử lý
Trang 12Ở Việt Nam do tập quán chăn nuôi còn lạc hậu nên đặc tính nước thải chănnuôi khác với các nước trên thế giới Vì thế để có thể đưa phương pháp SBRvào ứng dụng thực tế tại Việt Nam cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu đểxác định các điều kiện và thông số công nghệ của quá trình: thời gian sụckhí/ngừng sục khí, tỷ lệ COD:N, tỷ lệ cấp nước thải, hiệu suất xử lý và tảilượng giới hạn cho phép Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài này nghiên cứu tìm
ra các chế độ vận hành thích hợp đối với công nghệ SBR để xử lý nước thảichăn nuôi lợn có chứa thành phần chất hữu cơ và NH4+ cao, từ đó có cơ sởứng dụng thực tiễn để xử lý nước thải chăn nuôi
2.2 Tổng quan về tình hình chăn nuôi lợn
Trong báo cáo "Hiện trạng lương thực và nông nghiệp" công bố ngày23/2/2010, FAO nhấn mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm đóng vai trò quantrọng đối với đời sống của hơn 1 tỷ người nghèo trên thế giới, tạo thu nhập,cung cấp thực phẩm chất lượng cao, nhiên liệu, sức kéo, vật liệu xây dựng vàphân bón FAO nêu rõ chăn nuôi là lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong nôngnghiệp Vì vậy, đầu tư lớn hơn và xây dựng cơ sở lớn hơn là cần thiết để lĩnhvực này tiếp tục đảm nhiệm vai trò thiết yếu tăng cường an ninh lương thực
và giảm đói nghèo
Theo Tổ chức này, thế giới cần tăng đầu tư để phát triển chăn nuôi bềnvững, đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh trên toàn cầu về các sản phẩm từđộng vật như thịt, sữa, v.v
Tổng Giám đốc FAO, Jacques Diouf, cho rằng phát triển chăn nuôi lànền tảng để phát triển nông nghiệp Để đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh, sảnlượng thịt hàng năm trên toàn cầu phải tăng từ mức 228 triệu tấn hiện nay lên
463 triệu tấn vào năm 2050 Nhu cầu sản phẩm thịt tăng là cơ hội để ngànhchăn nuôi phát triển, góp phần phát triển kinh tế và xoá đói nghèo ở các nướcđang phát triển Ngoài ra, chăn nuôi còn có thể đóng vai trò quan trọng cảtrong việc thích nghi với biến đổi khí hậu và giảm tác động của biến đổi khíhậu đối với phúc lợi của con người
Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độnhanh (Bình quân giai đoạn 2001-2006 đạt 8,9%) Riêng năm 2009, tuy tìnhhình kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng so với năm 2008 thì tổng đàngia cầm đạt 208.18 triệu con, tăng 12.83%; đàn lợn đạt 27.6 triệu con, tăng3.47%, (Thống kê năm 2009 - Cục Chăn nuôi) Theo thống kê ngày
01/10/2010 thì đàn lợn đạt 27.37 triệu con và bằng 99% cùng kỳ năm 2009