Kế toán quản trị quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ tại Công ty Điện Máy và Kỹ Thuật Công Nghệ
Trang 1PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ VÀ KẾT QUẢ TIÊU THỤ
A/ TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
I/ Khái niệm và sự cần thiết của kế toán quản trị
1/ Khái niệm
Kế toán quản trị ( KTQT ) là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấpthông tin kinh tế - tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế - tài chínhtrong nội bộ đơn vị kế toán
Kế toán quản trị về bản chất là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống
kế toán và không thể thiếu được để kế toán trở thành công cụ quản lý đắc lực.KTQT trực tiếp cung cấp thông tin cho các nhà quản lý bên trong tổ chức doanhnghiệp - người có trách nhiệm điều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chứcđó
KTQT không chỉ thu nhận, xử lý thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã phátsinh, đã ghi chép trong sổ kế toán mà đặt trọng tâm vào việc xử lý và cung cấpthông tin phục vụ cho việc lập dự toán để đạt được các mục tiêu trong tương lai
2/ Sự cần thiết của việc áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Tất cả các nhà kinh doanh trong cơ chế thị trường đều kỳ vọng mang lại lợinhuận tối đa, do vậy họ phải biết mình là ai, hoạt động SX - KD như thế nào, hiệuquả ra sao…? Hàng loạt câu hỏi đặt ra cho nhà quản lý cần phải giải quyết mộtcách thoả đáng nhất Để thực hiện chức năng quản lý của mình, nhà quản lý cầnnhiều thông tin chi tiết hơn nhiều so với nhưng thông tin được cung cấp bởi kếtoán tài chính Có những thông tin nhà quản lý cần nhưng đối tượng bên ngoài lạikhông cần Ví dụ như: có chấp nhận một đơn đặt hàng đặc biệt với giá thấp hơnbình thường không? Có nên vay ngân hàng để tài trợ cho những khoản thiếu hụttrong thu - chi hàng tháng không? Những thông tin mà nhà quản lý cần phải phục
vụ cho nhu cầu ra quyết định hàng ngày của nhà quản lý Những thông tin như thếđược cung cấp bởi kế toán quản trị KTQT là công cụ đắc lực cung cấp nhữngthông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh mà nhà quản lý cần
Một vấn đề nữa hết sức quan trọng làm cho KTQT ngày càng có vị trí vàvai trò quan trọng trong việc tổ chức hệ thống thông tin kinh tế trong doanh nghiệp
là khả năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật để thu thập, xử lý, phân tích, tổnghợp và truyền đạt thông tin Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quátrình này đã làm tăng tốc độ cung cấp thông tin mà KTQT đảm nhận
Trang 2Vì vậy, KTQT ở các doanh nghiệp có ý nghĩa lớn lao để tăng cường khảnăng hội nhập, tạo nên sự an tâm cho các nhà quản trị khi có trong tay một công
cụ khoa học hỗ trợ cho quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp
3/ Chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của kế toán quản trị
a/ Chức năng
Nhà quản trị nhìn chung có bốn chức năng là: hoạch định, điều hành, kiểmsoát và ra quyết định Những chức năng này thường được nhà quản trị thực hiệncùng một lúc
Chức năng lập kế hoạch
Trong việc lập kế hoạch, người quản lý vạch ra những việc phải làm để đưahoạt động của tổ chức doanh nghiệp hướng về các mục tiêu đã xác định như mụctiêu về lợi nhuận, về sự tăng trưởng…Trong chức năng này, KTQT cung cấpnhững thông tin để ra các quyết định về kế hoạch thông qua việc lượng hoá cácmục tiêu của quản lý dưới dạng các chỉ tiêu về số lượng và giá trị
Chức năng điều hành ( thực hiện kế hoạch)
Để việc thực hiện kế hoạch đạt được kết quả cao nhất, nhà quản trị sẽ quyếtđịnh các phương pháp tốt nhất để tổ chức con người với các nguồn tài nguyên-vậtlực KTQT phải cung cấp thông tin hàng ngày về tình hình hoạt động của tổchức , về tài sản, chi phí, thu nhập…cả về mặt hiện vật và giá trị để phục vụ đắclực cho nhà quản trị điều hành tốt quá trình hoạt động của tổ chức
Chức năng Kiểm soát
Để thực hiện chức năng này, nhà quản trị phải dùng các phương pháp quản
lý cần thiết để đảm bảo cho từng bộ phận của tổ chức đều đi theo kế hoạch đãđược vạch ra Để cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra của nhà quản lý,KTQT sẽ thiết kế các báo cáo có dạng so sánh được, so sánh giữa thực tế với kếhoạch đã được lập, qua đó phát hiện những khâu, những chỗ chưa đạt được củaquá trình thực hiện các kế hoạch cũng như những chỉ tiêu chưa hợp lý trong kếhoạch đã lập, từ đó có những điều chỉnh thích hợp trong kế hoạch và trong quátrình thực hiện kế hoạch
Chức năng ra quyết định
Ra quyết định tự bản thân nó không phải là một chức năng riêng biệt Thực
ra nó là một bộ phận không thể tách rời của các chức năng mà chúng ta vừa nghiêncứu ở trên Khi nhà quản trị ra một quyết định về kế hoạch, về điều hành hay vềkiểm tra thì cũng có nghĩa là anh ta đã thực hiện chức năng ra quyết định hay nóicách khác thì thông qua chức năng ra quyết định nhà quản trị thực hiện các chứcnăng còn lại của mình
Trang 3Thu thập, xủ lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toánquản trị của đơn vị xác định theo từng thời kỳ Muốn vậy kế toán phải sử dụng hệthống các chứng từ và sổ sách để ghi chép một cách có hệ thống hoạt động kinhdoanh hàng ngày.
Kiểm tra giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán
Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo
Xây dựng các khoản dự toán ngân sách, cho các mục tiêu hoạt động
Kiểm soát quá trình thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệchchi phí giữa dự toán và thực tế
Cung cấp các thông tin cần thiết để có các quyết định kinh doanh hợp lý
II/ Phân loại chi phí trong kế toán quản trị
1/ Khái niệm
Chi phí được hiểu là toàn bộ những hao phí về lao động sống và lao độngvật hoá mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong một thời kỳ nhất định và được biểu hiệnbằng tiền
Theo chế độ kế toán ( chuẩn mực kế toán 01- Chuẩn mực chung ) thì chiphí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hìnhthức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợdẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho các cổđông hoặc chủ sở hữu
Trang 42/ Phân loại chi phí
Trong kế toán quản trị, chi phí dược tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhauphục vụ cho nhu cầu quản trị chi phí trong doanh nghiệp Vì vậy, phân loại chi phí
là công việc hết sức cần thiết
2.1/ Phân loại theo chức năng hoạt động
Mục đích của việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động trong KTQT
là nhằm xác định rõ vai trò, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạtđộng SX – KD ở doanh nghiệp, đồng thời là căn cứ dể tập hợp chi phí và tính giáthành sản phẩm cũng như cung cấp thông tin một cách có hệ thống cho việc lậpcác báo cáo tài chính
Theo chức năng hoạt động, chi phí được phân thành chi phí sản xuất và chiphí ngoài sản xuất
a/ Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ những chi phí có liên quan đến việc chế tạo sảnphẩm trong một kỳ nhất định Chi phí sản xuất gồm ba khoản mục:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Như vậy, chi phí sản xuất là toàn bộ những chi phí cần thiết để chế tạo sảnphẩm, những chi phí khác không gắn liền với việc sản xuất sản phẩm thì khôngđược xếp vào chi phí sản xuất
b/ Chi phí ngoài sản xuất
Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn phải thựchiện một số chi phí ở khâu ngoài sản xuất, được gọi là chi phí ngoài sản xuất Chiphí ngoài sản xuất bao gồm: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng: Bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để đẩy mạnh quátrình tiêu thụ hàng hoá và để đảm bảo việc đưa hàng hoá đến tay người tiêu dùng.Bao gồm những khoản chi phí như chi phí tiếp thị, chi phí khuyến mãi, chi phíđóng gói sản phẩm…
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Bao gồm những khoản chi phí liên quanvới việc tổ chức hành chính và các hoạt động văn phòng làm việc của doanhnghiệp Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm những khoản chi phí như lương cán bộquản lý và nhân viên văn phòng, chi phí văn phòng…
2.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính
a/ Chi phí sản phẩm
Trang 5Chi phí sản phẩm là những chi phí liên quan trực tiếp đến các đơn vị sảnphẩm được sản xuất bởi một doanh nghiệp công nghiệp hoặc được mua vào bởimột doanh nghiệp thương mại.
Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí:nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, sản xuất chung và sau đó là chi phísản xuất kinh doanh dở dang và cuối cùng là thành phẩm nhập kho Đối với doanhnghiệp thương mại thì chi phí sản phẩm là giá trị hàng mua vào
Chi phí sản phẩm được trình bày trên bảng cân đối kế toán dưới khoản mụchàng tồn kho,bao gồm: sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá, hàng gửi đi bán
c/ Mối quan hệ giữa chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
Xác định chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ là nhằm mục đích cho việc lậpbáo cáo tài chính Trên bảng cân đối kế toán, chi phí sản phẩm là những khoảnmục hàng tồn kho và khi thành phẩm, hàng hoá được tiêu thụ thì chi phí sản phẩmnày trở thành chi phí thời kỳ thể hiện ở giá vốn của hàng xuất bán được ghi nhậntrong kỳ và được trình bày trên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
2.3/ Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Đây là cách phân loại chi phí theo khả năng phản ứng hoặc thay đổi như thếnào của chi phí khi có những thay đổi xảy ra trong các mức độ hoạt động SX –KD.Mức độ hoạt động có thể hiểu là số lượng sản phẩm được sản xuất ra, số lượng sảnphẩm được tiêu thụ, số giờ mày hoạt động…Theo đó, chi phí được chia thành chiphí khả biến ( biến phí), chi phí bất biến ( định phí) và chi phí hỗn hợp
a/ Biến phí
Đây là những chi phí mà về mặt tổng số sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với sự thayđổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp Nghĩa là, mức dộ hoạt động tăng (hoặcgiảm) thì biến phí cũng tăng (hoặc giảm) theo với cùng một tỷ lệ Tuy nhiên, biếnphí tính trên một đơn vị sản phẩm là không đổi
Các biến phí trong doanh nghiệp thường là: chi phí nguyên vật liệu trựctiếp, chi phí lao động trực tiếp, tiền hoa hồng bán hàng, chi phí vận chuyển…
b/ Định phí
Định phí là những chi phí mà về mặt tổng số được coi là không thay đổi khimức độ hoạt động của doanh nghiệp thay đổi trong một giới hạn nhất định Tuy
Trang 6vậy, định phí tính trên một đơn vị sản phẩm thì biến đổi tỷ lệ nghịch với mức độhoạt dộng Ví dụ: Khấu hao tài sản cố định (theo phương pháp đường thẳng), Tiềnthuê nhà xưởng và máy móc thiết bị…
Định phí chỉ được xem là không thay đổi theo mức độ hoạt động khi mức
độ hoạt động nằm trong giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp Khi doanhnghiệp mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm máy móc thiết bị,nhà cửa thì định phí sẽ tăng lên đến một phạm vi hoạt động mới
Ngày nay, xu hướng trong các doanh nghiệp là tăng dần tỷ trọng của địnhphí và giảm dần tỷ trọng của biến phí Lý do là vì hiện nay các doanh nghiệp đều
sử dụng các máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất, do vậy chi phí lao độngngày càng giảm để thay chỗ cho các chi phí khấu hao Tỷ trọng của định phí vàbiến phí trong mỗi doanh nghiệp còn phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp Ởnhững doanh nghiệp sản xuất do cần nhiều máy móc thiết bị, nhà xưởng…nên tỷtrọng của định phí thường lớn hơn những doanh nghiệp thương mại - loại hìnhdoanh nghiệp chủ yếu là mua và bán hàng hoá nên thường có định phí thấp
c/ Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà bao hàm cả yếu tố biến phí và địnhphí Ở một mức hoạt động này thì chi phí hỗn hợp sẽ biểu hiện đặc điểm của địnhphí nhưng ở một mức độ hoạt động khác thì chi phí biểu hiện những đặc điểm củabiến phí
B/ TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ VÀ
KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ
I/ Tổng quan về tổ chức kế toán quản trị quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
1/ Mục đích tổ chức kế toán quản trị quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Tiêu thụ là khâu cuối cùng cũng là khâu quan trọng và mấu chốt trong suốtquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ thông qua tiêu thụ, hàng hoámới thể hiện được giá trị sử dụng từ đó doanh nghiệp mới có thể thu hồi được vốn
và có lãi Mặt khác, nhu cầu của xã hội ngày càng phong phú và đa dạng hơn,trong bối cảnh nền kinh tế phát triển không ngừng, không một doanh nghiệp nàosản xuất một loại sản phẩm đơn điệu mà cần sản xuất kinh doanh nhiều loại sảnphẩm, hàng hoá, dịch vụ khác nhau thì mới có thể thiên biến vạn hoá trong nềnkinh tế năng động hiện nay
Vấn đề đặt ra cho các nhà doanh nghiệp là kinh doanh loại sản phẩm hànghoá, dịch vụ nào, kinh doanh như thế nào và cho ai?
Trang 7Người tiêu dùng bỏ tiền ra để mua những hàng hoá mà họ thích với sốlượng mà họ cần và giá cả mà họ chấp nhận chứ không phải mua những gì màdoanh nghiệp bán Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét đến nhu cầu của
xã hội dể sản xuất loại sản phẩm nào, số lượng bao hiêu, giá cả như thế nào để đủsức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Hơn nữa, trong cuộc cạnh tranh nàybuộc các doanh nghiệp phải sử dụng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để giảm haophí lao động cá biệt, tăng thị phần tiêu thụ, tăng khối lượng hàng bán ra nhằm tăngdoanh thu bán hàng
Để giúp nhà quản trị có những quyết định sáng suốt nhằm đạt được các mụctiêu đề ra, KTQT bằng những phương pháp kỹ thuật riêng có của mình sẽ cungcấp cho nhà quản lý những thông tin hữu ích nhất
2/ Nội dung khái quát của tổ chức kế toán quản trị quá trình tiêu thụ
và kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Như đã trình bày, KTQT phục vụ cho yêu cầu của nhà quản lý, mà mụcđích yêu cầu của mỗi doanh nghiệp cũng như đặc điểm tổ chức kinh doanh là khácnhau Tuy nhiên, để có đầy đủ thông tin về tình hình và kết quả tiêu thụ, tạo điềukiện cho nhà quản trị ra các quyết định tối ưu, KTQT quá trình tiêu thụ và kết quảtiêu thụ cần thực hiện tốt các công việc cơ bản sau:
Xây dựng kế hoạch, dự toán bán hàng và kế hoạch lợi nhuận theo từngmặt hàng chủ yếu, theo từng địa điểm kinh doanh hoặc theo từng chỉ tiêu phù hợpvới yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Tổ chức kế toán quản trị bán hàng và lợi nhuận theo từng chỉ tiêu kếhoạch, dự toán đã xây dựng nhằm cung cấp thông tin một cách chi tiết, cụ thể, kịpthời cho nhà điều hành
Tổ chức phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoach trên cơ sởnguồn số liệu thực tế đã thu nhận được và kế hoạch dự toán đã đề ra
Đề xuất các kiến nghị giúp lãnh đạo doanh nghiệp có các quyết định phùhợp nhằm đẩy mạnh quá trình tiêu thu, tăng lợi nhuận
II/ Tổ chức hạch toán chi tiết quá trình tiêu thụ và kết quả tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần thông tin một cách chi tiết, cụthể về chi phí, doanh thu, và kết quả tiêu thụ của từng hoạt động, từng nhóm sảnphẩm, hàng hoá, dịch vụ dể đáp ứng nhu cầu quản lý vĩ mô cũng như vi mô, nhờ
đó để có được những quyết định đúng đắn, kịp thời trong tiến trình phát triển củadoanh nghiệp Việc kế toán chi tiết quá trình tiêu thụ sẽ giúp nhà quản lý lựa chọn
cơ cấu sản xuất kinh doanh hợp lý, cần mở rộng những mặt hàng nào và thu hẹp
Trang 8những mặt hàng nào để có hướng đầu tư đúng trong tương lai Tuy nhiên, mức độchi tiết như thế nào phụ thộc vào đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp.
1/ Tổ chức kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính tổnghợp, đa dạng Các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh nhiều loại sảnphẩm, hàng hoá, dịch vụ khác nhau Vì vậy, đối với tổ chức kế toán chi tiết doanhthu tiêu thụ ta có thể chi tiết như sau:
Chi tiết theo từng đơn vị, bộ phận phụ thuộc như: cửa hàng, quầy hàng,
xí nghiệp…
Chi tiết theo từng mặt hàng, nhóm hàng
Chi tiết doanh thu bán hàng ra ngoài và nội bộ
Chi tiết theo từng phương thức bán hàng: bán buôn, bán lẻ, bán thu tiềnngay, bán trả chậm…
Mặt khác, việc hạch toán doanh thu cần phải tôn trọng nguyên tắc chi phí
và doanh thu của hoạt SX – KD thực tế phát sinh phù hợp với niên độ kế toán Dovậy, doanh thu nhận trước cũng phải hạch toán riêng
Ngoài ra, việc chi tiết doanh thu còn phụ thuộc vào trình độ kế toán của đơn
vị nhưng phải được tổ chức chi tiết sao cho thuận tiện đối với việc cung cấp thôngtin cũng như hạch toán kết quả tiêu thụ
a/ Tổ chức hạch toán ban đầu phục vụ KT chi tiết doanh thu tiêu thụ
Để phục vụ cho kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ, doanh nghiệp vẫn sửdụng các chứng từ bán hàng trong hệ thống chứng từ do bộ tài chính ban hành.Song để đáp ứng yêu cầu hạch toán chi tiết doanh thu bán hàng, doanh nghiệp cần
có thêm những quy định chi tiết ngay từ khâu lập chứng từ ban đầu
Những tiêu thức cần theo dõi chi tiết đã được in sẵn trên chứng từ thì cầnghi đầy đủ, rõ ràng, chi tiết Chẳng hạn như tên khách hàng, tên mặt hàng, sốlượng, đơn giá…
Những chi tiết cần theo dõi chi tiết nhưng chưa in sẵn trên chứng từ thì cầnquy định thêm một số chỉ tiêu bổ sung trên những chứng từ đó để phục vụ cho việcghi sổ sau này đồng thời đáp ứng yêu cầu của kế toán chi tiết
b/ Tổ chức hệ thống sổ chi tiết doanh thu bán hàng
Từ đặc điểm của doanh nghiệp, sổ kế toán chi tiết doanh thu được mở theocác đối tượng hoặc theo từng ngành hàng, mặt hàng kinh doanh sao cho đáp ứngđược yêu cầu quản lý, phù hợp với trình độ của nhân viên kế toán và hình thức kếtoán mà doanh nghiệp áp dụng Kế toán có thể mở sổ chi tiết doanh thu bán hàng
Trang 9kết hợp với việc xác định kết quả tiêu thụ trên cùng một sổ chi tiết Mỗi sổ chi tiếtdoanh thu chỉ theo dõi cho một loại hàng ( nhóm hàng ).
Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc phát sinh gồm: Hoá đơn GTGT, hoáđơn bán hàng, báo cáo bán hàng của các nhân viên bán hàng và các chứng từ khác
để ghi vào sổ kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ
Tuỳ từng doanh nghiệp và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp có thểbáo cáo doanh thu tiêu thụ riêng hoặc không lập báo cáo doanh thu mà lập báo cáochi tiết kết quả tiêu thụ bởi trong báo cáo này có phản ánh doanh thu bán hàngnhằm thuận tiện cho việc theo dõi doanh thu và kết quả tiêu thụ một cách chi tiết
2/ Tổ chức chi tiết giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán của sản phẩm hàng hoá được hiểu là chi phí kết tinh vàotrong sản phẩm, là giá trị hàng xuất kho GVHB là cơ sở để định giá bán, để phântích chi phí và là căn cứ để xác định kết quả tiêu thụ Xác định được GVHB sẽgiúp cho việc xác định được giá trị của hàng tồn kho đáp ứng được các quyết địnhban hành hàng ngày Việc xác định giá vốn hàng bán phụ thuộc vào phương pháptính giá mà doanh nghiệp áp dụng, có thể tính theo một trong các phương pháp:
Phương pháp nhập trước- xuất trước
Phương pháp nhập sau- xuất trước
Phương pháp bình quân
Phương pháp thực tế đích danh
Trong thực tế việc ghi sổ nhập, xuất sản phẩm, hàng hoá hàng ngày theo giáthực tế là rất phức tạp Để đơn giản trong công tác ghi sổ, kế toán có thể sử dụnggiá hạch toán trong hạch toán chi tiết nhập, xuất kho sản phẩm, hàng hoá hàngngày Giá hạch toán phải được cố định trong một kỳ hạch toán do vậy, kế toánphải quy định giá hạch toán chung cho các sản phẩm Cuối kỳ, kế toán sử dụngphương pháp hệ số giá để tính giá thực tế sản phẩm, hàng hoá xuất bán trong kỳ.Phương pháp này được xác định như sau:
Giá thực tế sp, Giá hạch toán sp Hệ số giá
Hàng hoá xuất = hàng hoá xuất X sản phẩm,
Bán trong kỳ bán trong kỳ hàng hoá
Trong đó:
Giá thực tế sp, hàng hoá + Giá thực tế sp, hàng hoá
Hệ số giá tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
sản phẩm,
hàng hoá Giá hạch toán sp, hàng hoá + Giá hạch toán sp,hàng hoá tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
Trang 103/ Tổ chức chi tiết chi phí kinh doanh
a/ Tổ chức chi tiết chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng ( CP BH ) là những chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sảnphẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ trong kỳ như: lương của nhân viên bán hàng, chiphí vận chuyển, quảng cáo, chi phí bảo hành…Do chi phí bán hàng bao gồm nhiềunội dung khác nhau như vậy nên cần theo dõi chi tiết theo từng nội dung chi phí:
- Chi phí nhân viên
- Chi phí vật liệu bao bì
Để cung cấp thông tin cho nhà quản trị ra các quyết định trong các tìnhhuống kinh doanh, chi phí này cần được theo dõi theo cách ứng xử Theo đó chiphí được phân thành định phí bán hàng và biến phí bán hàng, trong đó định phíđược chia ra thành định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý Cuối kỳ, phân bổ cho từngsản phẩm, nhóm sản phẩm dã tiêu thụ theo tiêu thích hợp lý
b/ Tổ chức chi tiết chi phí quản lý doanh nghiệp ( CP QLDN )
Chi phí QLDN là chi phí quản lý chung liên quan đến toàn bộ hoạt độngcủa doanh nghiệp mà không tách riêng ra được cho bất kỳ một hoạt động nào Baogồm chi phí: quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí chung khác Chiphí này cần được theo dõi theo từng nội dung chi phí:
- Chi phí nhân viên QLDN
- Chi phí vật liệu văn phòng
- Chi phí công cụ dụng cụ
- Chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp
- Tiền thuê đất, nhà xưởng, thuế, phí và lệ phí
Trang 11QLDN, trong đó định phí được chia ra thành định phí bắt buộc và định phí tuỳ ý.Cuối kỳ, phân bổ cho từng sản phẩm, nhóm sản phẩm dã tiêu thụ theo tiêu thíchhợp lý
4/ Tổ chức hạch toán chi tiết kết quả tiêu thụ
Kết quả tiêu thụ là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng và khoản chi phíliên quan đến số sản phẩm, hàng hoá đã tiêu thụ gồm: giá vốn hàng bán, chi phíQLDN và chi phí BH
Tất cả các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên thị trường đều kỳ vọngmang lại lợi nhuận tối đa nhưng để đạt được, một trong những yếu tố quan trọngnhất là nhà quản trị phải biết kết quả tiêu thụ của từng ngành hàng, nhóm sảnphẩm…để lựa chọn cơ cấu kinh doanh hợp lý Xuất phát từ yêu cầu quản trị doanhnghiệp, phương pháp tính giá, khả năng phân tích chi phí mà kết quả tiêu thụ cầnthiết tổ chức chi tiết theo từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm như sau:
Theo phương pháp trực tiếp:
Theo phương pháp này kết quả tiêu thụ sẽ được xác định như sau:
Kết quả tiêu thụ DTT từng Tổng biến phí Tổng định phí Tổng định phítừng sản phẩm, = sản phẩm, - hàng bán sản - sản xuất chung - BH,QLDNnhóm sản phẩm nhóm sp phẩm, nhóm sp sp, nhóm sp phân bổ sp Trong đó:
- Doanh thu thuần từng sản phẩm, nhóm sản phẩm dược xác định thôngqua hạch toán chi tiết doanh thu tiêu thụ
- Tổng biến phí hàng bán sản phẩm, nhóm sản phẩm được xác định: Tổng biến phí Số lượng sp Biến phí
hàng bán sản = tiêu thụ của X đơn vị của
phẩm,nhóm sp sp,nhóm sp sp, nhóm sp
Với:
đơn vị của = đơn vị + đơn vị
Trang 12TĐPSXC PB Tổng định Tổng Tiêu thức
sản phẩm = phí chung tiêu thức X phân bổ cho nhóm sản phẩm phân bổ phân bổ sp, nhóm sp
Nếu xác định kết quả tiêu thụ vào lúc cuối kỳ thì tổng định phí chung phân
bổ là định phí đã thực sự đã phát sinh trong kỳ Nếu xác định kết quả tiêu thụ vàomột thời diểm bất kỳ thì tổng dịnh phí này là một con số ước tính
Theo phương pháp toàn bộ:
Theo phương pháp này kết quả tiêu thụ ( KQTT ) sẽ được xác định như sau: KQTT DTT Giá vốn hàng Chi phí BH,
Để kế toán quản trị kết quả tiêu thụ, doanh nghiệp có thể mở kết hợp các sổchi tiết doanh thu và sổ chi tiết kết quả kinh doanh thành một sổ “sổ chi tiết kếtquả tiêu thụ” như sau:
Bảng 1 SỔ CHI TIẾT KẾT QUẢ TIÊU THỤ
Các khoảngiảm trừ
CPBH
TT
CKTM
GGHB
… Biếnphí
Địnhphí
Biếnphí
Địnhphí
Tổng
Trang 13III/ Xử lý thông tin kế toán quản trị kết quả tiêu thụ
1/ Lập báo cáo kế toán quản trị doanh thu tiêu thụ
Từ việc tổ chức chi tiết doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, tổng hợp sốliệu để lập nên báo cáo KTQT doanh thu tiêu thụ Báo cáo này được lập vào cuối
kỳ kế toán hay lập vào một thời điểm bất kỳ tuỳ theo yêu cầu của quản lý để đảmbảo cung cấp thông tin thích hợp, kịp thời và phù hợp theo từng đối tượng sử dụngthông tin Báo cáo KTQT doanh thu tiêu thụ được lập chi tiết theo từng sản phẩm,nhóm sản phẩm, từng đơn vị trực thuộc, từng khu vực thị trường…theo yêu cầucủa nhà quản lý
- Báo cáo KTQT doanh thu tiêu thụ theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm cóthể được lập như sau:
Bảng 2 BÁO CÁO DOANH THU TIÊU THỤ Sp,
- Báo cáo doanh thu theo từng khu vực thị trường có thể được lập như sau:
Bảng 3 BÁO CÁO DOANH THU TIÊU THỤ
Doanh thu thuần
2/ Lập báo cáo KTQT chi phí
Tương ứng với hai cách phân loại chi phí là phân loại chi phí theo chứcnăng và phân loại chi phí theo cách ứng xử có thể lập các báo cáo KTQT chi phínhư sau:
- Báo cáo KTQT chi phí khi chi phí được phân loại theo chức năng:
Trang 14Bảng 4 BÁO CÁO CHI PHÍ THEO CHỨC NĂNG
3/ Lập báo cáo KTQT kết quả tiêu thụ
Để cung cấp thông tin về kết quả tiêu thụ, kế toán quản trị lập báo cáo kếtquả tiêu thụ theo số dư đảm phí Với dạng báo cáo này, chi phí được phân thànhyếu tố khả biến và bất biến, người quản lý sẽ vận dụng cách ứng xử của chi phí đểlập báo cáo kết quả tiêu thụ thể hiện được quan hệ giữa chi phí và sản lượng tiêuthụ Qua đó dự đoán lợi nhuận ứng với các mức sản lượng tiêu thụ khác nhau
Bảng 6 BÁO CÁO KẾT QUẢ TIÊU THỤ
Trang 15Nguyên tắc: Khi định giá bán sản phẩm trước hết phải nhìn nhận quanđiểm: giá bán sản phẩm về lâu dài phải bù đắp được tất cả các chi phí sản xuất, chiphí BH, chi phí QLDN và mức lãi mong muốn.
Phương pháp định giá: Để xác định giá bán sản phẩm, có thể áp dụngnhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên, phương pháp định giá mà KTQT sửdụng là dựa trên chi phí và lợi nhuận mục tiêu để cung cấp mức giá cơ sở chodoanh nghiệp xem xét, tham khảo chứ đây không phải là mức giá cụ thể thực hiệnkhi mua bán Đây là phương pháp cộng thêm chi phí Theo phương pháp này trước
Trang 16tiên phải tính chi phí nền, sau đó cộng thêm vào chi phí nền một khoản phụ trội đểhình thành giá bán.
Giá bán = Chi phí nền + phần phụ trội
Trong đó:
- Chi phí nền là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra kết tinh trong sản phẩm
- Phần phụ trội là phần cần thiết để bù đắp chi phí BH, chi phí QLDN và
cả phần để đảm bảo cho doanh nghiệp có được mức hoàn vốn mongmuốn
Có các phương pháp định giá bán sản phẩm, hàng hoá :
a/ Định giá bán sản phẩm, hàng hoá trong trường hợp DN áp dụng phương pháp tính giá toàn bộ
- Chi phí nền gồm: Chi phí sản xuất để tạo ra sản phẩm: Nguyên vật liệutrực tiếp, nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
- Phần phụ trội gồm chi phí BH, chi phí QLDN và mức hoàn vốn đầu tưmong muốn
Để xác định phần phụ trội thông thường các doanh nghiệp sử dụng chỉ tiêu
tỷ lệ phụ trội nhân với chi phí nền
Theo phương pháp toàn bộ, tỷ lệ phụ trội (TLPT ) được xác định
Chi phí BH + chi phí QLDN + mức hoàn vốn đầu tư mong muốnTLPT =
Khối lượng sản phẩm x Giá thành đơn vị
b/ Định giá bán sản phẩm, hàng hoá trong trường hợp DN áp dụng phương pháp tính giá trực tiếp
Theo phương pháp này:
- Chi phí nền bao gồm các biến phí gắn liền với quá trình sản xuất và tiêuthụ sản phẩm
CP nền biến phí sản xuất + biến phí kinh doanh
Trong đó:
Biến phí sản xuất gồm nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, biếnphí sản xuất chung
Biến phí kinh doanh gồm Biến phí BH, biến phí QLDN
- phần phụ trội phải bù đắp được định phí ( định phí SXC, định phí BH,định phí QLDN ) và tạo ra lợi nhuận mong muốn
Tỷ lệ phụ trội ( TLPT ) theo phương pháp trực tiếp được xác định
Đ.phí SX + Đ.phí BH&QLDN + Mức hoàn vốn đầu tư mong muốn TLPT
Trang 172/ Lập kế hoạch tiêu thụ
Kinh doanh trong cơ chế thi trường, các nhà quản lý doanh nghiệp phải biếttính toán như thế nào để sản phẩm, hàng hoá không dự trữ quá mức làm ứ đọngvốn hay bị giảm mức tiêu thụ do hết hàng Phải làm sao cho mức tiêu thụ tối đa
mà không ứ đọng hàng, đặc biệt là ở các doanh nghiệp thương mại Điều đó đượcthể hiện thông qua việc lập kế hoạch tiêu thụ, nhà quản lý phải dự toán được khốilượng sản phẩm tiêu thụ Do vậy, phải dự toán một cách chính xác, phù hợp vớikhả năng, điều kiện của doanh nghiệp Kế hoạch tiêu thụ được lập dựa trên cơ sởmức tiêu thụ ước tính và giá bán kế hoạch
Doanh thu tiêu Tổng khối lượng sản phẩm Đơn giá bán thụ dự kiến tiêu thụ dự kiến kế hoạch
Trong quá trình lập kế hoạch tiêu thụ thì dự toán khối lượng sản phẩm tiêuthụ là vấn đề không đơn giản bởi vì nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố nhưthị hiếu của người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm…nhưng đặc biệt, nó có mốiquan hệ chặt chẽ với đơn giá bán kế hoạch, bởi vì theo quy luật chung giá bán caothì khối lượng sản phẩm tiêu thụ ít và ngược lại
a/ Dự toán khối lượng sản phẩm tiêu thụ
Dự toán khối lượng sản phẩm tiêu thụ là khâu rất quan trọng trong việc lập
kế hoạch tiêu thụ, đây là dự toán khó nhất bởi vì khối lượng sản phẩm tiêu thụ làyếu tố đầu ra phụ thuộc vào nội tại DN rất ít mà phụ thuộc bên ngoài rất lớn Đểthực hiện công việc dự toán này cần phải xem xét đến nhiều yếu tố khác nhau như:mức tiêu thụ kỳ trước, mức cung cầu của thị trường, mức thu nhập của người tiêudùng, chính sách của Nhà nước, kế hoạch giá bán…từ đó xác định số lượng sảnphẩm tiêu thụ Để làm được điều này, KTQT thường căn cứ vào mức tiêu thụ củaquá khứ Mức tiêu thụ quá khứ sẽ được phân thành ba nhân tố:
b/ Lập kế hoạch giá bán
Như phần trước đã nói, định giá bán chỉ cung cấp cho nhà quản lý mức giá
cơ sở ban đầu còn trong từng giai đoạn cụ thể DN cần có sự điều chỉnh để xácđịnh kế hoạch giá bán tối ưu Thật vậy, trong từng tình huống cụ thể DN cần phải
Trang 18chủ động cắt giảm hay nâng giá Nhưng khi làm việc này phải hết sức thận trọng,đặc biệt chú ý đến phản ứng của khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp và
cả sự sống còn của DN…
DN có thể cắt giảm giá bán trong các trường hợp sau:
- Hàng ứ đọng: Giảm giá để tiêu thụ được nhiều hơn, thu hồi được vốn
- Thị phần giảm sút
- Muốn khống chế thị trường thông qua giá thấp…
DN có thể nâng giá bán trong các trường hợp:
- Lạm phát
- Nhu cầu tăng cao
- Chi phí đầu vào tăng…
3/ Kiểm soát chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
a/ Xác định mục tiêu
Chi phí là nhân tố chủ yếu tác động đến kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh, do đó nhiệm vụ kiểm soát chi phí và dự toán biến động của chi phí đối vớinhà quản lý là rất quan trọng Để làm chủ được các chi phí, nhà quản lý có haiquyết định phải làm: những quyết định liên quan đến chi phí bỏ ra và các quyếtđịnh liên quan đến lượng vật chất sử dụng Để đạt được các mục tiêu mà doanhnghiệp vạch ra, nhà quản lý luôn mong muốn phải chi ra ít nhất và lượng vật chấttiêu hao bé nhất nhưng chất lượng và số lượng sản phẩm sản xuất ra phải cao nhất
Bằng cách nào nhà quản lý có thể làm chủ được chi phí bỏ ra và lượng vậtchất sử dụng? Câu trả lời cho vấn đề này là các định mức chi phí Thật sự ngàycàng nhiều DN áp dụng các định mức như một phương pháp để kiểm soát các chiphí và đánh giá kết quả thực hiện
b/ Xây dựng định mức chi phí
Các định mức chi phí và các định lượng được lập bởi người quản lý cho 3yếu tố của sản phẩm: nguyên vật liệu, lao dộng, sản xuất chung Tiêu chuẩn địnhlượng nêu lên cần bao nhiêu yếu tố chi phí như thời gian lao động hoặc nguyên vậtliệu để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc để cung cấp một đơn vị dịch vụ.Định mức chi phí nói về giá phí của thời gian và nguyên liệu là bao nhiêu Lượngthực tế và chi phí thực tế của các yếu tố đưa vào sẽ được đo lường với các yếu tốtiêu chuẩn định mức để xem xét các hoạt động có tiến hành trong phạm vi màquản lý đã định ra không Nếu số lượng hoặc chi phí các yếu tố đưa vào vượt rangoài giới hạn đã định thì phải kiểm tra lại quá trình sản xuất kinh doanh Mộttrong những lý do của việc sử dụng các định mức chi phí là để tạo sự thuận lơi choviệc kiểm tra chi phí Sự lệch lạc so với định mức càng sớm được quản lý quan
Trang 19xuất là loại hình doanh nghiệp sử dụng phổ biến nhất các định mức chi phí Ở đâycác định mức liên quan đến nguyên vật liệu, lao dộng, sản xuất được lập cho từngdây chuyền sản xuất riêng biệt Những định mức này được tổng hợp trong thẻ địnhmức chi phí sẽ báo cho nhà quản lý biết chi phí sản xuất là bao nhiêu cho một đơn
vị sản phẩm sản xuất ra
Vậy định mức có giống với dự toán không? Về cơ bản, định mức và dựtoán là như nhau Điểm để phân biệt giữa hai khái niêm này là: định mức là tổngcho một đơn vị, trong khi, dự toán là tổng cho một tổng Thực tế, một định mức cóthể được xem như có bản chất là chi phí dự toán cho 1 đơn vị sản phẩm
Lập các định mức chi phí là một công việc có tính nghệ thuật hơn là mangtính khoa học Công việc này kết hợp giữa sự suy nghĩ và tài chuyên môn của tất
cả những người có trách nhiệm với giá và lượng của các yếu tố đưa vào Trongmột tổ chức sản xuất, đó là những cá nhân như các nhà KTQT, Giám sát viên sảnxuất…
Điểm đầu tiên để lập các định mức chi phí là phải xem xét các kinh nghiệm
đã qua Để hỗ trợ cho nghiệp vụ này, nhà quản trị phải soạn các số liệu về các đặcđiểm chi phí các hoạt động của các năm trước ở các mức độ thực hiện khác nhau.Tất nhiên là một định mức trong tương lai phải nhiều hơn chứ không phải chỉ đơngiản là một sự phản ảnh của quá khứ Các số liệu phải được chỉnh lý và điều chỉnhtheo sự thay đổi của các điều kiện kinh tế, sự thay đổi các đặc diểm của nhu cầu,cung ứng và sự thay dổi của kỹ thuật Tóm lại, người quản lý phải nhận thức đượcrằng quá khứ chỉ có giá trị giúp cho việc dự toán trong tương lai, hay nói cáchkhác, các định mức phải là sự phản ánh của các hoạt động hiệu quả tương lai chứkhông phải của các hoạt động quá khứ
c/ Đo lường kết quả và phân tích biến động
Một điều chắc chắn là rất hiếm khi các hoạt động thực tế , thu nhập thực tếtrùng khớp một cách chính xác với dự toán Lý do là vì cho dù các dự toán ( kếhoạch ) được lập một cách cẩn thận nhất cũng sẽ không bao giờ có thể có đượcnhững số liệu dự toán mà chứa đựng đầy đủ những phần chính xác cho mỗi mộtbiến số trong hàng ngàn biến số có thể ảnh hưởng đến chi phí và thu nhập thực tế
Vì lý do này có thể nhận định rằng ở mỗi kỳ thực tế mỗi một số liệu dự toán sẽcung cấp môt dạng biến động nào dó khi chúng được đem so sánh với số liệu thực
tế Nhà quản lý phải quyết định xem sự biến động đó là trong phạm vi giới hạn cóthể chấp nhận được hay không để từ đó có biện pháp nhằm kiểm soát chi phí phátsinh trong doanh nghiệp
4/ Lập kế hoạch kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá
Trang 20Việc lập kế hoạch kết quả tiêu thụ dưới dạng dự toán cũng không kém phầnquan trọng Đây là kết quả tài chính cuối cùng, là chỉ tiêu chất lượng tổng hợpphản ánh kết quả tiêu thụ kế hoạch và cũng là điều kiện tiền đề cho kế hoạch táisản xuất kinh doanh mở rộng cũng như trích lập các quỹ Kế hoạch kết quả tiêuthụ được thể hiện dưới hai dạng: kế hoạch theo mức lợi nhuận và theo tỷ suất lợinhuận.
a/ Lập kế hoạch kết quả tiêu thụ thông qua kế hoạch lợi nhuận
Lợi nhuận từ việc tiêu thụ là khoản chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ sảnphẩm và chi phí bỏ ra để đạt được doanh thu đó trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Theo phương pháp này lợi nhuận trong kỳ được xác định:
lợi nhuận tiêu Doanh thu Tổng Tổng định phí
thụ dự kiến thuần biến phí phát sinh trong kỳ
Theo đó:
- Doanh thu thuần = Doanh thu – các khoản giảm trừ
- Tổng biến phí gồm: giá vốn hàng bán,biến phí BH, biến phí QLDN
- Tổng định phí gồm: định phí BH, định phí QLDN
Đây là phương pháp xác đinh kế hoach kế hoạch giúp nhà quản trị đưa raquyết định về giá bán, về chi phí để đạt được mục tiêu đề ra Có thể lập kế hoachtheo từng nhóm mặt hàng hoặc chi tiết theo yêu cầu quản lý
b/ Kế hoạch kết quả tiêu thụ thông qua tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận một khi được thể hiện bằng con số tuyệt đối có thể không phảnánh đúng mức độ hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Bởi vì chỉ tiêu nàykhông những chịu tác động của chất lượng công tác của chính bản thân nhà quảntrị mà còn chịu sự ảnh hưởng của quy mô sản xuất Do đó để thể hiện dúng đắnmục tiêu về kết quả tiêu thụ cần sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên Lợi nhuận tiêu thụ kế hoạch
Doanh thu thuần Doanh thu thuần kế hoạch
Từ đó cho thấy sử dụng chỉ tiêu này loại bỏ được sự ảnh hưởng của quy mô
sả xuất Nhờ thế nhà quản trị có sự đánh giá chính xác hơn về mức sinh lời củađồng vốn đã đầu tư Chẳng hạn: nếu tỷ suất này trong thực tế nhỏ hơn trước thìhoạt động đang mở rộng quy mô như vậy là không hiệu quả và ngược lại
Đây là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng mà DN cóthể đạt được trong kế hoạch Từ đó lãnh đạo DN có thể thực hiện được mục tiêuđặt ra trong tương lai lâu dài
IV/ Phân tích các báo cáo doanh thu, chi phí
Trang 21Khi mục tiêu và nhiệm cụ đã được xác đinh, trong quá trình thực hiện cácmục tiêu, hoạt động phân tích được sử dụng làm công cụ quan trọng để phát hiện
ra ở khâu nào,bộ phận nào, thời điểm nào mà kết quả hoạt động của nó chưa tươngxứng với những chi phí đã bỏ ra, nguyên nhân và những nhân tố nào ảnh hưởngđến nó Từ đó thông tin kịp thời cho lãnh đạo, cho nhà quản lý biết được để đề ranhững biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ sự ảnh hưởng của các nhân tố tiêu cực,phát huy tác động của các nhân tố tích cực, phát hiện và khai thác các khả năngtiềm tàng, tăng hiệu quả cho toàn bộ các hoạt động SXKD trên cơ sở các mục tiêu,nhiệm vụ đã đặt ra
2/ Phân tích theo từng nhóm mặt hàng
Mục đích của việc phân tích này là nhằm đánh giá tình hình doanh thu, chiphí và kết quả từng nhóm mặt hàng chủ yếu Thông qua đó cung cấp thông tin chitiết về doanh thu, chi phí và kết quả tiêu thụ của từng nhóm mặt hàng Tạo điềukiện cho nhà quản trị trả lời câu hỏi: nên kinh doanh loại hàng nào và sản xuấtkinh doanh như thế nào cho có lãi
Phương pháp phân tích là so sánh giữa thực tế và dự toán để xác định chênhlệch và tìm nguyên nhân ảnh hưởng Trước khi phân tích cần phải xử lý số liệu thunhận được do KTQT cung cấp nhằm đảm bảo tính so sánh được của các chỉ tiêuphân tích Trong trường hợp chi phí liên quan đến nhiều nhóm mặt hàng phải tiếnhành phân bổ theo tiêu thức thích hợp
3/ Phân tích theo chức năng hoạt động
Mục đích của việc phân tích theo chức năng hoạt động là nhằm nghiên cứu,đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch theo từng khâu của quá trìnhSXKD Thông qua đó cung cấp thông tin chi tiết về tình hình doanh thu, chi phí,kết quả theo từng chức năng hoạt động, giúp nhà quản lý có kế hoạch sản xuất, dựtrữ, tiêu thụ phù hợp hơn nữa
Để nghiên cứu chi phí theo chức năng hoạt động, nhà phân tích cần phảiphân tích riêng chi phí ở từng khâu hoạt động Toàn bộ chi phí được phân tíchtheo chức năng hoạt động như sau:
4/ Phân tích chi phí, doanh thu,và kết quả theo địa điểm tiêu thụ
Trang 22Mục đích của việc phân tích này nhằm đánh giá chất lượng SXKD và hiệuquả công tác ở từng đơn vị trực thuộc của DN để có chế độ khuyến khích vật chấtđồng thời quyết định phương án đầu tư phát triển cho những đơn vị hoạt động cóhiệu quả.
Muốn thực hiện được điều này, trước hết DN phải giao chỉ tiêu kế hoạchxuống cho từng đơn vị cơ sở Sau đó, căn cứ vào hoạt động thực tế của từng đơn
vị, KTQT sẽ tiến hành phân tích cụ thể
Về mặt lý luận cũng như trong thực tế nhà phân tích phải tính đến các chiphí không hạch toán được theo từng địa điểm hoạt động cụ thể.Các chi phí nàykhi phát sinh được tổng hợp riêng để cuối kỳ phân bổ cho từng địa điểm theo từngtiêu thức thích hợp
PHẦN HAI TÌNH HÌNH THỰC TẾ CÔNG TÁC TỔ CHỨC VÀ ỨNG DỤNG KTQT QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ VÀ KẾT QUẢ TIÊU THỤ
TẠI CÔNG TY ĐIỆN MÁY VÀ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
Trang 23A.GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY ĐIỆN MÁY VÀ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆI/ Quá trình hình thành, phát triển và chức năng, nhiệm vụ của công ty 1/ Quá trình hình thành và phát triển
a/ Quá trình hình thành
Công ty Điện Máy và Kỹ Thuật Công Nghệ tiền thân là công ty Điện MáyCấp I Đà Nẵng được thành lập theo quyết định số 75/NI/QD ngày 17 tháng 09năm 1975 của Bộ Nội Thương,nay là bộ Thương Mại Nhiệm vụ của công ty tronggiai đoạn này là đại lý cho công ty Liên Doanh thuộc tổng công ty Điện Máy thựchiện mua bán với các tổ chức kinh tế Nhà nước ở Miền Nam, tiếp nhận hàng hoánhập khẩu và viện trợ tại khu vực Đà Nẵng
Ngày 04/06/1981 Bộ Nội Thương quyết định tách công ty Điện Máy Cấp I
Đà Nẵng thành hai chi nhánh: Chi nhánh Điện Máy Đà Nẵng và chi nhánh Xe Đạp
b/ Các giai đoạn phát triển
Giai đoạn 1975 đến 1990: Trong giai đoạn này do ảnh hưởng của chế độbao cấp, mọi hoạt động của công ty phải chịu sự điều tiết, quản lý của Nhà nước
Vì vậy mà công ty thiếu sự sáng tạo trong đầu tư cũng như xác định giá cả, quảngcáo, tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường, do đó mà hoạt động của công tytrong giai đoạn này chưa đạt hiệu quả
Giai đoạn 1990 đến nay: Nền kinh tế của đất nước chuyển từ cơ chế baocấp sang cơ chế thị trường , với những ưu thế do cơ chế thị trường mang lại hoạtđộng kinh doanh của công ty không ngừng phát triển về mọi mặt cả chiều rộng lẫnchiều sâu, phát triển về quy mô kinh doanh, cơ cấu tổ chức, địa bàn kinh doanh
Hiện nay công ty là một trong những doanh nghiệp có quy mô rộng lớn vàhoạt động có hiệu quả tại khu vực Miền Trung và có hai chi nhánh đại diện trênhai miền đất nước
2/ Chức năng, nhiệm vụ của công ty
a/ Chức năng
Trang 24 Chủ động trong giao dịch, đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán, huyđộng liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư sản xuất kinh doanh.
Vay vốn tại ngân hàng Việt Nam, huy động vốn trong và ngoài nước đểphát triển kinh doanh, sản xuất theo đúng chế độ luật pháp Nhà nước quy định
Tố tụng, khiếu nại trước cơ quan pháp luật Nhà nước đối với các tổchức, cá nhân vi phạm hợp đồng kinh tế
b/ Nhiệm vụ
Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch của công ty theo pháp luậthiện hành để đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều của hàng hoá với chất lượng caotrong xã hội, bù đắp chi phí tự trang trải và phải làm tròn nghĩa vụ với NSNN
Nghiên cứu khả năng sản xuất, nhu cầu thị trường trong và ngoài nước
để xây dựng và thực hiện các phương án kinh doanh có hiệu quả
Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ nhằm tạo ra nhiều sản phẩm mới
Nhận vốn, bảo toàn vốn và phát triển vốn Nhà nước giao
Đào tạo, bồi dưỡng, quản lý toàn diện cán bộ, công nhân công ty, ápdụng thực hiện chính sách, chế độ Nhà nước và Bộ Thương Mại quy định đối vớingười lao động
II/ Tổ chức bộ máy quản lý ở công ty
1/ Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ 1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Các đơn vị trực thuộc
Trang 25giám đốc và Phó giám đốc Riêng phòng kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp quản
lý các cửa hàng kinh doanh của công ty đóng trên địa bàn thành phố
2/ Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận quản lý
Tổng giám đốc: Là người đứng đàu công ty do Bộ Trưởng Bộ Thương
Mại bổ nhiệm, là người có thẩm quyền quyết định cao nhất trong công ty, trực tiếpchỉ đạo hoạt động kinh doanh, ban hành các quyết định
Phó giám đốc: Là người tham mưu cho Tổng giám đốc trong việc đề racác phương án kinh doanh, các chiến lược phát triển công ty Mỗi Phó giám đốc sẽchịu trách nhiệm chỉ đạo những công việc theo sự uỷ thác của Tổng giám đốc
Phòng tổ chức hành chính và thanh tra bảo vệ: Đảm nhận công tác tổchức, quản lý, tuyển mộ nhân lực cho công ty Phòng có trách nhiệm theo dõi việcthực hiện các chế độ chính sách, công tác đoàn thể, chăm lo đời sống cho cán bộcông nhân viên và công tác xã hội của công ty, qua dó bình xét thi đua khenthưởng cho từng đơn vị, cá nhân trong công ty Quản lý và ngăn ngừa những hành
vi vi phạm nội quy, quy định của công ty, lưu trữ hồ sơ cán bộ công nhân viên, tổchức công tác thanh tra bảo vệ an toàn tài sản của công ty
Phòng kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩu: Đảm nhận công tác đàmphán ký kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng kinh doanh giữa công ty với cánhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước Phòng có chức năng tham mưu choTổng giám đốc các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, xây dựng lựa chọnphương án kinh doanh tối ưu để trình Tổng giám đốc phê duyệt
Phòng tài chính kế toán: Là phòng tham mưu cho Tổng giám đốc về
vấn đề tài chính, có trách nhiệm lập kế hoạch tài chính, hướng dẫn nghiệp vụ hạchtoán cho đơn vị trực thuộc, tổ chức theo dõi hạch toán, xác định lãi lỗ cho từnghoạt động kinh doanh và toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty Phòng cótrách nhiệm quyết toán hàng năm với cơ quan chủ quản cấp trên Ngoài ra, phòng
có nhiệm vụ cung cấp thông tin lẫn nhau trong nội bộ để làm tốt chức năng thammưu cho Tổng giám đốc
Phòng thị trường đối ngoại: Tham mưu cho Tổng giám đốc về thịtrường trong và ngoài nước, thực hiện tốt công tác đối ngoại, tìm kiếm kháchhàng, nghiên cứu sản phẩm mới, tổ chức thủ tục nhập khẩu, xây dựng mối quan hệvới khách hàng trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh việc tiêu dùng hàng hoá củaCty
Các chi nhánh trung tâm thuộc công ty
Chi nhánh công ty tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, NinhThuận và các cửa hàng: 374 Ngũ Hàng Sơn, 124 Nguyễn Chí Thanh, 170 HùngVương chuyên bán các mặt hàng kinh doanh của công ty
Trang 26 Trung tâm kinh doanh xuất nhập khẩu 165 Bạch Đằng.
Trung tâm vật tư tổng hợp: Kinh doanh các mặt hàng vi tính vàdịch vụ thương mại
Xí nghiệp kỹ thuật công nghệ Sài Gòn: Kinh doanh và nhập khẩumặt hàng vi tính, tổ chức đấu thầu các công trình, xử lý nước thải
Xí nghiệp lắp ráp xe máy: Chuyên kinh doanh lắp ráp các loại xemáy nhằm xuất khẩu ra thị trường thế giới
III/ Tổ chức công tác kế toán tại công ty
1/ Tổ chức bộ máy kế toán
a/ Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Do đặc điểm tổ chức kinh doanh của công ty hoạt động trên địa bàn rộng vàphân tán, để việc quản lý được chặt chẽ và đảm bảo cung cấp thông tin nhanhchóng cho nhà quản lý nên công ty đã áp dụng bộ máy kế toán vừa tập trung vừaphân tán
Sơ đồ 2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Quan hệ trực tuyến
b/ Chức năng, nhiệm vụ của kế toán viên trong bộ máy
Hiện nay phòng kế toán gồm 9 người, trong đó có: 1 kế toán trưởng, 2 phóphòng, 6 nhân viên kế toán và 1 thủ quỹ
Kế toán trưởng
PP kế toán phụ trách tổng hợp
KT kho hàng
KT công
nợ mua ngoài
KT công
nợ bán
Thủ quỹ
KT các đơn vị trực thuộc
KT Tiêu thụ & thuế
Trang 27- Kế toán trưởng: Đồng thời cũng là trưởng phòng kế toán tài chính, có
nhiệm vụ tổ chức, chỉ đạo công tác hạch toán kế toán ở công ty Kế toán trưởngcòn là người hỗ trợ đắc lực cho Tổng giám đốc trong việc ký kết hợp đồng kinh tế,xây dựng các kế hoạch tài chính, chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và cơquan tài chính cấp trên về hoạt động kế toán ở công ty
- Phó phòng kế toán phụ trách tín dụng ngân hàng: Là người hỗ trợ cho
kế toán trưởng việc điều hành mọi hoạt động hạch toán và chịu trách nhiệm vềkhoản vay vốn của công ty Thường xuyên liên hệ với các ngân hàng trên địa bànthành phố dể vay vốn khi cần thiết
- Phó phòng kế toán phụ trách tổng hợp: Căn cứ vào sổ sách của các
phần hành để tổng hợp lên báo cáo kế toán của văn phòng công ty và của toàncông ty để xác định kết quả kinh doanh, đánh giá kết quả sử dụng vốn Ngoài ra kếtoán tổng hợp còn phụ trách phần hành hạch toán tài sản cố định, theo dõi tìnhhình biến động của TSCĐ và tính khấu hao phân bổ chi phí
- Kế toán tiền mặt: Phụ trách theo dõi tình hình thu, chi tiền, đồng thời
kiểm tra báo cáo quỹ ở các chi nhánh gửi về
- Kế toán ngân hàng: Theo dõi tình hình biến động tỷ giá, tình hình biến
động của tiền gửi ở từng ngân hàng, theo dõi nợ vay ngân hàng, giao dịch vớingân hàng để mở L/C phục vụ cho việc nhập khẩu hàng hoá
- Kế toán kho hàng: Theo dõi tình hình nhập khẩu hàng hoá phát sinh
hàng ngày, trị giá mua hàng, thuế nhập khẩu, lập báo cáo về lưu chuyển hàng hoátại công ty và định kỳ tham gia kiểm kê hàng hoá Kế toán kho hàng còn thườngxuyên đối chiếu với các kho, các cửa hàng để quản lý chặt chẽ hàng hoá
- Kế toán công nợ mua ngoài: Có nhiệm vụ theo dõi các khoản nợ phải
thu, các khoản tạm ứng và trích lập BHYT, BHXH, KPCĐ cho cán bộ công nhânviên văn phòng công ty
- Kế toán công nợ bán: Theo dõi các khoản phải trả cho từng nhà cung
cấp, thuế GTGT đầu vào, các khoản phải thu, phải trả nội bộ
- Thủ quỹ: Theo dõi và đảm bảo quỹ tại công ty, phụ trách khâu thu chi
theo chứng từ hợp lệ, phản ánh việc cấp phát và nhận tiền vào sổ quỹ tiền mặt.Thường xuyên so sánh, đối chiếu tình hình tồn quỹ tiền mặt ở công ty với sổ sách
kế toán tiền mặt để kịp thời phát hiện sai lệch và sữa chữa những sai sót trong quátrình ghi chép
- Kế toán tiêu thụ và thuế: theo dõi doanh thu nội bộ và doanh thu bán ra
ngoài và thuế GTGT phải nộp
- Kế toán ở các đơn vị trực thuộc: Ngoại trừ cửa hàng 35 Điện Biên Phủ,
cửa hàng 124 Nguyễn Chí Thanh là hạch toán phụ thuộc, còn các đơn vị còn lại
Trang 28đều hạch toán độc lập nhưng theo sự chỉ đạo thống nhất của công ty Các đơn vịhạch toán phụ thuộc định kỳ gửi về công ty chứng từ của các nghiệp vụ kinh tếphát sinh.
Nhiệm vụ của kế toán ở các đơn vị hạch toán độc lập: Là theo dõi tình hìnhnhập xuất, sử dụng hàng hoá nguyên vật liệu chính, công cụ dụng cụ và phản ánhcác nghiệp vụ kinh tế phát sinh Theo dõi tình hình thanh toán của công ty với cácđơn vị tham mưu cho các giám đốc đơn vị về công tác tài chính, tính toán giáthành sản phẩm của các đơn vị (đối với đơn vị sản xuất) xác định kết quả kinhdoanh và cuối tháng lập báo cáo gửi về công ty
2 Hình thức sổ kế toán áp dụng tại công ty
b/ Sơ đồ luân chuyển chứng từ
Xuất phát từ công tác kế toán, kết hợp với yêu cầu quản lý và đội ngũ nhânviên kế toán của phòng kế toán và phù hợp với tình hình hoạt động, công ty đã ápdụng hình thức “Nhật ký chứng từ” có cải biên
Sơ đồ 3 Sơ đồ luân chuyển chứng từ
Ghi sổ hàng ngày
Ghi sổ vào cuối tháng (quý)
Quan hệ đối chiếu
Nhật ký chứng từ
Sổ cái
Báo cáo kế toán
Bảng tổng hợp chi tiết
Trang 29Đối với những đối tượng cần theo dõi chi tiết thì ghi vào sổ thẻ chi tiết kếtoán liên quan.
Đối với những nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt thì kế toán còn phải vào sổquỹ để tiện theo dõi và đối chiếu
+ Cuối tháng kế toán tập hợp tất cả các tờ kê, bảng kê chi tiết, lấy số tổngcộng ghi vào nhật ký chứng từ, ghi trực tiếp vào sổ cái
+ Cuối kỳ hoặc cuối tháng tổng hợp số liệu của kế toán chi tiết để lập bảng
kê tổng hợp chi tiết
Tổng hợp số liệu ở bảng kê để ghi vào nhật ký chứng từ, sổ cái Sau khiđối chiếu chứng từ ở sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết lập bảng cân đối kế toán, báocáo kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài khoản
Sơ đồ 4 Sơ đồ tổ chức mạng lưới kinh doanh
TT kinh doanh XNK Điện máy
TTKD tin học &
thương mại dịch vụ
TT Vật tư tổng hợp
Xí nghiệp
lắp ráp xe
máy
Xí nghiệp may xuất khẩu
Nhà máy
cơ khí kỹ thuật Deahan
Nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu GELSTAR
Chi nhánh
ĐM & KTCN tại Nha Trang
Các cửa hàngQuan hệ chỉ đạo
Quan hệ phối hợp
Trang 30Với ưu thế của một doanh nghiệp lớn, Công ty đã khai thác thế mạnh sẵn cócủa mình như vốn, những đặc quyền được nhà nước giao để kinh doanh nhiều loạimặt hàng Những mặt hàng kinh doanh của Công ty hiện nay là: Xe máy, hàngđiện tử, điện dân dụng, vật tư kim khí, vật tư xây dựng chủ yếu là mặt hàng kínhxây dựng, linh kiện phụ tùng xe máy Doanh thu chủ yếu của Công ty là từ mặthàng xe máy Hiện nay, Công ty là nhà phân phối độc quyền cho hãngDAERYANG INDUSTRY ở Việt Nam chuyên bán xe máy Deahan Công ty nhậplinh kiện phụ tùng và bán lại cho xí nghiệp xe máy lắp rắp.
1 Hệ thống chứng từ kế toán
a/ Các chứng từ sử dụng trong quá trình tiêu thụ
Ở Công ty, tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được phản ánh thôngqua việc lập một bộ chứng từ sử dụng thống nhất theo quy định của Bộ Tài chính.Nghiệp vụ kinh tế phát sinh thuộc phần hành nào trong Công ty thì nhân viên phầnhành đó thực hiện việc lập các chứng từ có liên quan Toàn bộ các chứng từ đượclập đều có đầy đủ chữ ký của các bộ phận liên quan và chữ ký phê duyệt của Giámđốc hoặc một người được uỷ quyền trong trường hợp Giám đốc đi vắng
Đối với nghiệp vụ bán hàng, Công ty sử dụng các chứng từ sau:
- Đơn đặt hàng: Mỗi khách hàng khi đặt hàng tại Công ty sẽ có một mẫu
riêng của họ chứ không phải theo mẫu thống nhất do Công ty quy định
- Hợp đồng kinh tế: Thể hiện những thoả thuận giữa khách hàng và Công
ty Hợp đồng kinh tế được lập thành 4 bản:
+ Khách hàng giữ 2 bản
+ Phòng Kinh doanh giữ 1 bản, để theo dõi tình hình xuất bán và thanh toáncủa khách hàng, đồng thời có biện pháp đốc thúc khách hàng thanh toán đúng hạn.+ Phòng Kế toán giữ 1 bản, để theo dõi việc xuất hàng, thanh toán để từ đóghi chép vào sổ sách
- Hóa đơn GTGT: Xác định số lượng, chủng loại, đơn giá, số tiền bán hàng
để từ đó làm căn cứ ghi sổ Hóa đơn thường được lập thành 3 liên: Liên 1 lưu ởphòng kinh doanh, liên 2 giao cho khách hàng, liên 3 thủ kho dùng làm căn cứ đểghi thẻ kho và sau đó chuyển lên phòng Kế toán
- Phiếu xuất kho: Theo dõi số lượng hàng hóa xuất kho và làm căn cứ để
ghi sổ kế toán Phiếu này được lập cho 1 hoặc nhiều loại hàng hóa ở cùng 1 kho vàcùng 1 mục đích sử dụng Phiếu xuất kho được dùng làm căn cứ để ghi thẻ kho vàchuyển lên cho phòng Kế toán
- Phiếu thu.
- Giấy báo có.
Trang 31b/ Trình tự ghi sổ của quá trình tiêu thụ
Sơ đồ 5. sơ đồ luân chuyển chứng từ quá trình tiêu thụ
2 Hình thức và quy trình bán hàng của Công ty
Hiện nay, Công ty đang sử dụng hai hình thức bán hàng là hình thức bán lẻ
và hình thức bán theo hợp đồng
Đối với hình thức bán lẻ: Công ty có 3 cửa hàng bán lẻ là 170 HùngVương, 374 Ngũ Hành Sơn và 124 Nguyễn Chí Thanh Với các cửa hàng này thìngười mua thường là các khách lẻ và chỉ mua với số lượng nhỏ cho nên kháchhàng không cần viết đơn đặt hàng Khi có nhu cầu, khách hàng sẽ đến liên hệ trựctiếp với bộ phân bán hàng của công ty tại các cửa hàng để xem xét các điều kiện
về chất lượng, giá cả hàng hoá….Khi khách hàng đồng ý mua thì nhân viên bánhàng sẽ làm thủ tục bán hàng và khách hàng sẽ thanh toán luôn Ngoài ra, nếukhách hàng có nhu cầu cửa hàng sẽ nhận làm các thủ tục đăng ký xe giùm vàkhông lấy lệ phí
Tại các cửa hàng này không tổ chức hạch toán độc lập mà phụ thuộc vàocông ty, vì vậy, cuối ngày, nhân viên tại các cửa hàng đó sẽ nộp các chứng từ bánhàng lên phòng kế toán công ty để hạch toán
Trang 32 Đối với hình thức bán theo hợp đồng: Đây là hình thức kinh doanh chủyếu của công ty Khách hàng của hình thức này là các công ty, các đại lý trên toànquốc và thường mua với số lượng lớn Vì vậy, khi có nhu cầu mua hàng thì kháchhàng sẽ viết đơn đặt hàng gửi tới công ty Tại công ty, việc tiếp nhận đơn đặt hàng
là do phòng kinh doanh phụ trách
Sau khi nhận đơn đặt hàng, phòng kinh doanh sẽ tiến hành xem xét về điềukiện mua hàng của khách và khả năng đáp ứng của công ty về số lượng, chủng loạihang hoá, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán, mức chiết khấuthanh toán… Sau khi đã xem xét kỹ, phòng kinh doanh sẽ tiến hành lập và ký hợpđồng kinh tế theo sự uỷ quyền của giám đốc Sau đó, phòng kinh doanh sẽ lập hoáđơn GTGT và phiếu giao nhận hàng chuyển cho nhân viên vận chuyển hàng hoá.Nhân viên này sẽ cầm phiếu giao nhận hàng đến nhận hàng tại kho Tại đây, thủkho sẽ căn cứ vào phiếu giao nhận hàng để lập phiếu xuất kho, lên thẻ kho và tiếnhành giao hàng Sau khi đã tiến hành giao hàng và khách hàng đã ký vào giấy giaonhận hàng hoá, nhân viên vận chuyển sẽ lập hợp đồngvận chuyển và gửi cùng vớigiấy giao nhận hàng tới phòng kinh doanh ký, sau đó chuyển tới phòng kế toán đểthanh toán tiền vận chuyển Tại phòng kế toán, kế toán chi phí sẽ sử dụng hoá đơnvận chuyển này để hạch toán chi phí bán hàng Còn kế toán kho hàng sẽ căn cứvào phiếu xuất kho và thẻ kho mà thủ kho gửi lên để lên Tờ kê chi tiết TK 156xuất, lên nhật ký chứng từ, lên bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn, lên sổ cái và cuối kỳlên báo cáo kế toán Kế toán tiêu thụ sẽ căn cứ vào hoá đơn GTGT, biên bản giaonhận hàng để lên bảng kê hoá đơn hàng hoá dịch vụ bán ra
3/ Tổ chức kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ
Ngoài cửa hàng 170 hùng Vương, 374 Ngũ Hành Sơn và 124 Nguyễn ChíThanh là không có tổ chức kế toán riêng còn các đơn vị trực thuộc khác đều có hệthống kế toán riêng hạch toán độc lập nhưng chịu sự quản lý của kế toán vănphòng Công ty và định kỳ lập báo cáo gửi về Công ty Tại văn phòng Công ty cókinh doanh một số nhóm hàng và tương ứng với mỗi nhóm hàng kế toán có tổnghợp doanh thu riêng vào cuối kỳ để cung cấp thông tin cho nhà quản trị công ty.Tuy nhiên, hiện nay kế toán tại văn phòng Công ty chưa mở sổ chi tiết doanh thu
để theo dõi doanh thu chi tiết theo từng mặt hàng mà theo dõi doanh thu trên bảng
kê hàng hoá dịch vụ bán ra, sổ chi tiết phải thu khách hàng Cuối tháng, kế toáncăn cứ vào sổ chi tiết phải thu khách hàng, … và các sổ liên quan để tổng hợpdoanh thu và các khoản giảm trừ theo từng nhóm hàng và cho toàn công ty
Tại văn phòng công ty, khi phát sinh các nghiệp vụ bán hàng thì kế toántiêu thụ sẽ lập bảng kê hoá đơn hàng hoá, dịch vụ bán ra ( Xem trang 34 ) Đồng
Trang 33Bảng 7 SỔ CHI TIẾT PHẢI THU KHÁCH HÀNG
Quý I/2007 Cty TNHH Hoàn Phước
14/03 7414
Bán 27thắngđĩa
15/03 5369
Trả tiềnHĐ4973
112
35.873.540
28/03 6843
Trả tiềnHĐ6202
Trang 34Bảng 8
BẢNG KÊ HOÁ ĐƠN, CHỨNG TỪ HÀNG HOÁ DỊCH VỤ BÁN RA
( KÈM THEO TỜ KHAI THUẾ GTGT )
(dùng cho cơ sở tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế kê khai hàng tháng )
( Ngày 09/03/07 )
Tên cơ sở kinh doanh: Công ty Điện Máy và Kỹ Thuật Công Nghệ
Địa chỉ: 124 Nguyễn Chí Thanh, Hải Châu, TP Đà Nẵng
ĐVT: Trđ Hoá đơn, chứng từ bán Tên
người mua
Mã số thuế của khách hàng
Mặt hàng
Doanh
số bán ( chưa
có thuế )
Th uế su ất
Thuế GTGT
Ký
Nhóm theo:10%
RN/07 46237 09/03/07
CtyTNHHHoàPhước
040010191
XeDeahanSuper
XeDeahanSmart
Trang 364/ Tổ chức kế toán chi tiết giá vốn hàng bán
Công ty theo dõi giá xuất kho hàng hoá theo phương pháp nhập trước - xuấttrước và phương pháp thực tế đích danh Đối với mặt hàng điện dân dụng, điệnlạnh, phụ tùng thì tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước - xuất trước Cònđối với nhóm hàng xe máy thì tính giá vốn hàng bán theo phương pháp thực tếđích danh Khi có chứng từ bán hàng và phiếu xuất kho, thẻ kho gửi lên, Kế toánkho hàng sẽ vào “ Tờ kê chi tiết tài khoản 156 xuất ”
Bảng 10 TỜ KÊ CHI TIẾT TÀI KHOẢN 156 XUẤT
Văn phòng Công ty Nhóm hàng: Xe máy.
Quý I/ 2007