1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích đoạn thơ Cảnh ngày xuân -trích Truyện Kiều- Nguyễn Du.

16 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích đoạn thơ Cảnh ngày xuân -trích Truyện Kiều- Nguyễn Du
Tác giả Nguyễn Du
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Phân tích tác phẩm văn học
Thể loại Bài viết phân tích
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuyệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ mang những giá trị xã hội sâu sắc mà còn làm say lòng người đọc ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt bút. Một trong số đó là đoạn trích “Cảnh ngày xuân”. Đoạn trích là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, náo nhiệt. Mở đầu là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân. Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Trang 1

Phân tích đoạn thơ Cảnh ngày xuân -trích Truyện Kiều- Nguyễn Du

Dàn ý

I Mở bài

- Nguyễn Du không chỉ là bậc thầy miêu tả chân dung mà còn có cách

miêu tả thiên nhiên rất tài tình Sau bức tranh về vẻ đẹp của chị em Thúy

Kiều là bức tranh cảnh thiên nhiên ngày xuân thể hiện trong “Cảnh ngày

xuân”

II Thân bài

1 Khung cảnh ngày xuân

– Hình ảnh con én là hình ảnh đặc trưng của ngày xuân

– Thời gian trong bức tranh được gợi lên như trôi rất nhanh

– Ánh sáng: thiều quang, ánh sáng đẹp của ngày xuân

– Bức họa ngày xuân: Vẻ đẹp thanh khiết, mới mẻ và vô cùng sống động

2 Cảnh lễ hội

– Không khí vui tươi, nhộn nhịp của ngày hội

– Từng dòng người đi du xuân

– Đây là một truyền thống của dân tộc để tri ân tổ tiên

3 Cảnh chị em Thúy Kiều trở về

– Cảnh vật vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân

– không khí lệ hội không còn nữa, tất cả đều đang nhạt dần, lặng dần

– Tâm trạng bâng khuâng , lưu luyến của chị em Thúy Kiều từ lễ hội trở

về

III Kết bài

– Bằng ngòi bút tài hoa Nguyễn Du đã khắc họa thành công bức tranh

thiên nhiên ngày xuân

– Bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp của ngày xuân

Trang 4

Phân tích đoạn thơ Cảnh ngày xuân -trích

Truyện Kiều- Nguyễn Du.

Bài làm

Tuyệt tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du không chỉ mang những giá trị xã hội sâu sắc mà còn làm say lòng người đọc ở những đoạn thơ tả cảnh tuyệt bút Một

trong số đó là đoạn trích “Cảnh ngày xuân” Đoạn trích

là bức tranh thiên nhiên, lễ hội mùa xuân tươi đẹp, trong sáng, náo nhiệt.

Mở đầu là bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân.

Ngày xuân con én đưa thoi

Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.

Hai câu thơ, mở ra một không gian nghệ thuật hữu sắc, hữu hương, hữu tình, nên thơ Giữa bầu trời bao

la mênh mông là những cánh én bay qua bay lại như

"đưa thoi" “ Con én đưa thoi" nghệ thuật ẩn dụ, so

Trang 5

sánh vừa gợi cảnh én rộn ràng bay liệng trên bầu trời trong sáng, vừa có ý nói thời gian đang trôi

nhanh Cảnh rất gợi hình, gợi cảm Sau cánh én

"đưa thoi" là ánh xuân, là "thiều quang” của mùa xuân khi “đã ngoài sáu mươi" Cách tính thời gian

và miêu tả vẻ đẹp mùa xuân thật là hay và ý vị, là

"khát vọng mùa xuân" ngây ngất, say đắm lòng

người Hai chữ "thiều quang" gợi lên cái màu hồng

của ánh xuân, cái ấm áp của khí xuân, cái mênh mông bao la của đất trời Nguyễn Du đã đưa ra

những con số rất cụ thể thời gian: Mùa xuân có

chín mươi ngày thì đã trôi đi quá nửa Câu thơ ẩn chứa sự nuối tiếc khôn nguôi của con người trước

sự chảy trôi của thời gian

Trang 6

Nếu như hai câu đầu, Nguyễn Du nghiêng về miêu

tả thời gian thì hai câu sau nhà thơ tập trung miêu tả

cảnh sắc Đó là sắc "xanh" mơn mởn, ngọt ngào của

cỏ non trải dài, rộng như tấm thảm "tận chân trời"; là

sắc "trắng" tinh khôi, thanh khiết của hoa lê :

“Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”

Trên nền xanh non ấy điểm xuyết sắc "trắng" tinh

khôi, thanh khiết của hoa lê nở lác đác, chỉ mới hé lộ,

khoe sắc khoe hướng "một vài bông hoa” Hai chữ

"trắng điểm" là nhãn tự, cách chấm phá điểm xuyết của

thi pháp cổ làm cho bức tranh có hồn , sống động; gợi

lên vẻ đẹp thanh xuân, trinh trắng của thiên nhiên, cỏ hoa; từ ngữ miêu tả, bút pháp nghệ thuật phối sắc tài tình, đảo ngữ khiến cho màu trắng càng được nhấn

Trang 7

mạnh cảm nhận màu trắng của hoa lê chủ động tô

điểm cho bức tranh xuân thêm tuyệt diệu: giàu sức

sống, khoáng đạt, trong trẻo, nhẹ nhàng, thanh khiết Qua đó có thể thấy Nguyễn Du không chỉ là đại thi hào trong lĩnh vực thơ ca mà cũng là bậc thầy trong lĩnh

vực hội họa

Đoạn thơ có sự chuyển tiếp nhịp nhàng, tự nhiên

Từ khung cảnh mùa xuân tươi mới, êm đềm ấy, nét

bút của Nguyễn Du bắt đầu tập trung khắc họa những hoạt động của con người Họ là những người đi tảo

mộ, đi chơi xuân ở miền quê Và trong lễ hội dập dìu

đó có những nhân vật của Nguyễn Du – chị em Thúy Kiều – đang thong thả du xuân:

“Thanh minh trong tiết tráng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.

Gần xa nô nức yến anh.

Trang 8

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm

Ngổn ngang gò đống kéo lên.

Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay"

Điệp ngữ: "lễ là hội là " gợi lên những cảnh lễ

hội dân gian cứ liên tiếp diễn ra đã bao đời nay

Cảnh trẩy hội đông vui, lưng bừng, náo nhiệt Trên các nẻo đường "gần xa" những dòng người cuồn

cuộn trẩy hội Có biết bao "yến anh" "nô nức", hồ

hởi; có biết bao tài tử, giai nhân "dập dìu" vai sánh

vai, chân nối chân nhịp bước Dòng người trẩy hội

tấp nập ngựa xe "như nước", áo quần đẹp đẽ, tươi

thắm sắc màu, nghìn nghịt, đông vui trên các nẻo đường "như nêm" Các từ ngữ: "nô nức", "dập dìu", các ẩn dụ, so sánh (như nước, như nêm) gợi tả lễ

Trang 9

hội mùa xuân tưng bừng náo nhiệt đang diễn ra khắp

mọi miền quê Tất cả đều trẻ trung, xinh đẹp, sang trọng

và phong lưu: “Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như

nước, áo quần như nêm” Trong đám tài tử, giai nhân

"gần xa” ấy, có 3 chị em Kiều Câu thơ: "Chị em sắm

sửa bộ hành chơi xuân" , mới đọc qua ta tưởng như chỉ

là một thông báo Nhưng sâu xa hơn, nó ẩn chứa bao nỗi niềm: chờ trông mong đợi ngày lễ tảo mộ, ngày hội đạp thanh đến để du xuân trong những bộ quần áo đẹp

đã chuẩn bị, đã "sắm sửa" Ai đã từng đi hội chùa

Hương, hội Lim, hội Yên Tử mới cảm thấy cái đẹp, cái vui, cái tưng bừng trong hội đạp thanh mà Nguyễn Du nói đến Các từ ghép: "yến/anh", "chị/em", "tài / tử",

"giai / nhân", "ngựa / xe", "áo /quần" (danh từ); "gần /

xa" , "nô / nức", 'sắm /sửa", "dập / dìu" (tính từ, động từ) được sử dụng chọn lọc tinh tế, làm sống lại không khí lễ

Trang 10

hội mùa xuân, một nét đẹp của nền văn hóa phương

Đông Thật là một lễ hội tưng bừng, sang trọng và

phong lưu Lễ tảo mộ, hội đạp thanh không chỉ là biểu hiện đẹp của lòng biết ơn tổ tiên, của tình yêu con

người trước cảnh sắc quê hương, đất nước mà còn gợi lên một vẻ đẹp của đời sống tâm linh với phong tục dân

gian cổ truyền: “Ngổn ngang gò đống kéo lên,Thoi vàng

vó rắc tro tiền giấy bay” Người đã khuất và người đang

sống, quá khứ và hiện tại như được kéo gần lại trên

những gò đống "ngổn ngang" trong lễ tảo mộ Cái tâm thánh thiện, niềm tín ngưỡng đầy ắp nghĩa tình Các tài

tử, giai nhân và chị em Kiều không chỉ nguyện cầu cho những vong linh mà còn gửi gắm bao niềm tin, bao mơ ước về tương lai hạnh phúc cho tuổi xuân khi mùa xuân

về Dưới ngòi bút miêu tả tinh tế của nhà thơ, lễ và hội trong tiết thanh minh là một sư giao hòa độc đáo, chứng

Trang 11

tỏ nhà thơ rất trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc

"Ngày vui ngắn chẳng tày gang" Cuộc vui nào rồi

cũng đến lúc tàn Buổi du xuân vui vẻ cũng đã tới chỗ

phải nói lời tạm biệt Vẫn là cảnh mùa xuân, vẫn là

không khí của ngày hội lễ, nhưng bây giờ là giây

phút cuối ngày:

“Tà tà bóng ngả về tây, Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Bước dần theo ngọn tiểu khê, Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

Nao nao dòng nước uốn quanh, Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.”

Cảnh vui khép lại bằng những hình ảnh của buổi ban

chiều xập xuống :” Tà tà bóng ngả về tây” hình ảnh

những con người ra về trong cái màu vàng vọt của bóng

Trang 12

chiều ngả về tây Nếu câu thơ mở đầu của "Cảnh ngày xuân" chan hòa ánh sáng "thiều quang" thì đến đây

hoàng hôn dường như bắt đầu nhuốm dần xuống

phong cảnh và con người Hội đã hết, ngày đã tàn nên nhịp thơ không còn cái rộn ràng, giục giã mà trái lại thật chậm rãi, khoan thai Cảnh vật vì thế mang cái vẻ nên thơ, diu êm, vắng lặng trong ánh nắng nhạt dần Dòng khe có chiếc cầu nho nhỏ cuối ghềnh tạo thành đường nét thể hiện linh hồn của bức tranh một buổi chiều

xuân Nhịp chân có chút tâm tình man mác nên "thơ

thẩn" và đến đây là "bước dần", chẳng có gì nao nức, vội vàng Các từ láy "tà tà", "thanh thanh", "nho nhỏ",

"nao nao" thể hiện cảnh sắc buổi chiều mặt trời ngả về đằng tây, gợi một cảnh sắc nhạt nhòa của buổi lễ thanh minh đã dần hết, góp phần làm nên sự yên ắng và nỗi buồn của cảnh vật, của con người Cảnh vật và thời

Trang 13

gian được miêu tả bằng bút phá ước lệ cổ điển

nhưng vẫn gợi cho người đọc cảm giác gần gũi, thân quen vì nó đã thấm hồn dân tộc, mang bóng dáng

cảnh sắc quê hương Việt Nam

Nhịp thơ chậm rãi Nhịp sống như ngừng trôi Tâm tình "thơ thẩn", cử chỉ thì "dan tay", nhịp chân thì

"bước dần" Một cái nhìn man mác, bâng khuâng:

“lần xem” đối với mọi cảnh vật Tất cả đều nhỏ bé Khe suối chỉ là "ngọn tiểu khê" Phong cảnh "thanh thanh" Dòng nước thì "nao nao" uốn quanh Dịp cầu thì "nho nhỏ" bắc ngang ở cuối ghềnh Các từ láy

tượng hình: "thanh thanh", "nao nao", "nho nhỏ" gợi lên sự nhạt nhòa của cảnh vật và sự rung động của tâm hồn giai nhân khi hội tan, ngày tàn Nỗi niềm

man mác bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm

Trang 14

hồn của giai nhân đa tình, đa cảm Hai chữ "nao nao"

đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật Dòng nước nao nao, trôi chậm lưu luyến bên chân cầu nho nhỏ, phải

chăng cũng là nỗi lưu luyến, tiếc nuối của lòng người khi ngày vui chóng qua? Cảnh vật và thời gian được miêu tả bằng bút pháp ước lệ tượng trưng nhưng rất sống động, gần gũi, thân quen đối với bất cứ người

Việt Nam nào Rõ ràng, cảnh ở đây được nhìn qua tâm trạng nhân vật tham gia vào lễ hội

Nguyễn Du đã từng viết: "Người buồn cảnh có vui

đâu bao giờ?" Vì vậy, khi vào lễ hội, người vui thì cảnh sắc rộn ràng tươi mới Lúc lễ hội tan rồi, người về sao tránh khỏi sự xao xuyến, cảnh sắc sao tránh khỏi màu

ảm đạm! Dường như có một nỗi niềm man mác, bâng khuâng thấm sâu, lan tỏa trong tâm hồn vốn đa tình, đa cảm như Thúy Kiều Ở sáu dòng cuối này, Nguyễn Du

Trang 15

không chỉ nhằm nói tâm trạng buồn tiếc khi lễ hội vừa tàn, mà hình như, ông chuẩn bị đưa nhân vật của

mình vào một cuộc gặp gỡ khác, một thế giới khác Như ta đã biết, ngay sau buổi Thanh minh, Nguyễn

Du đã sắp đặt để Thúy Kiều gặp Đạm Tiên và Kim

Trọng Vì thế, cảnh vật trong hoàng hôn này cũng là một dự báo, một linh cảm cho đoạn trường mà đời

kiều sắp phải bước qua Tả cảnh, tả tình như thế thật khéo, cách chuyển ý cũng thật tinh tế, tự nhiên

Đoạn trích Cảnh ngày xuân có bố cục cân đối, hợp

lí Mặc dù không thật rõ ràng nhưng cũng có thể nói đến kết cấu ba phần: mở đầu, diễn biến và kết thúc Nguyễn Du đã cho thấy một nghệ thuật miêu tả thiên nhiên điêu luyện, sắc sảo Trong đoạn trích, mặc dù chủ yếu là miêu tả cảnh ngày xuân nhưng vẫn thấy

sự kết hợp với biểu cảm và tự sự (diễn biến cuộc tảo

Trang 16

mộ, du xuân của chị em Thúy Kiều, dự báo sự việc sắp xảy ra)

Tóm lại, “Cảnh ngày xuân” là một trong những đoạn thơ tả cảnh hay nhất trong “Truyện Kiều” của Nguyễn

Du Đọc đoạn trích, người đọc không chỉ trầm trồ về

bức tranh thiên nhiên trong sáng vô ngần mà còn cảm nhận được vẻ đẹp trong một lễ hội truyền thống đầy ý nghĩa của cha ông: tiết Thanh minh Và qua đây,

Nguyễn Du cũng thể hiện nét tài hoa trong việc dựng lên một bức tranh tả cảnh ngụ tình tinh tế, Với những điều đó, “Cảnh ngày xuân” sẽ luôn sống lại trong lòng người yêu thơ vào mỗi dịp đầu năm khi chúa xuân về với đất trời

Ngày đăng: 24/07/2023, 09:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w