1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khai thác tiềm năng du lịch sinh thái tại vườn quốc gia núi chúa tỉnh ninh thuận

87 643 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa Tỉnh Ninh Thuận
Trường học University of Ninh Thuan
Chuyên ngành Ecotourism Development
Thể loại Graduation project
Năm xuất bản 2023
Thành phố Ninh Thuận
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 20,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời đại ngày nay hoạt động du lịch sinh thái đóng vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của nhiều khu vực, quốc gia.. Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu điều kiện tự nhiên

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HÒ CHÍ MINH

KHAI THAC TIEM NANG DU LICH SINH THAI TAI VUON

QUOC GIA NUI CHUA - TINH NINH THUAN

NGUYEN DINH NGQC

KHOA LUAN TOT NGHIEP

DE NHAN VAN BANG CU NHAN NGANH KINH TE TAI NGUYEN MOI TRUONG

Thành phó Hồ Chí MinhTháng

Tháng 7/2008

Trang 2

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Khai Thác Tiềm Năng

Du Lịch Sinh Thái Tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa, Tính Ninh Thuận”, Nguyễn Đình Ngọc, sinh viên khóa 30, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã báo vệ thành công trước hội đồng vào ngày

Đặng Minh Phương Người hướng dẫn,

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Thám thoát bốn năm ngồi trên giảng đường đại học đã sắp kết thúc, những gì tôi đạt được trong thời gian qua là sự động viên và giúp đỡ của gia đình, thầy cô, bạn

bè, tất cả tôi xin ghi mãi trong lòng

Đầu tiên tôi xin gởi sự biết ơn sâu sắc của mình đối với người dưỡng dục tôi đạt được ngày hôm nay là Ba, Mẹ và những người thân trong gia đình đã nâng đỡ con trên con đường Đại Học và là nguồn động lực rất lớn dé con phan dau trong học tập Xin gởi lời cảm ơn đến thầy Đặng Minh Phương, người đã tận tình hướng dẫn

và giúp đỡ tôi, cho tôi những ý kiến qúy báu để có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên

cứu Tôi cũng xin cảm ơn đến toàn thể qúy thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành

Phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt cho tôi một lượng kiến thức rất lớn làm hành trang để

tôi vào đời

Xin chân thành cảm ơn Cô, Chú, Anh, Chị tại Ban Quản Lý Vườn Quốc Gia Núi Chúa đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp những thông tin, kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Sau cùng tôi muốn gới lời cám ơn của mình đến tất cả bạn bè đã ủng hộ, cổ vũ

tôi trong thời gian thực hiện đề tài này

Sinh viên

Nguyén Dinh Ngoc

Trang 4

NOI DUNG TOM TAT

NGUYEN DINH NGOC Thang 7 nam 2008 "Khai Thac Tiém Nang Du Lich Sinh Thái tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa, Tỉnh Ninh Thuận”

NGUYEN DINH NGOC July 2008 "Exploiting The Ecotourism Potentialities of Nui Chua National Park, Ninh Thuan Province "

Trong thời đại ngày nay hoạt động du lịch sinh thái đóng vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của nhiều khu vực, quốc gia Những khó khăn về tài chính, sự

nghèo đói và việc không chấp nhận sự tổn tại của người dân địa phương đã dẫn đến sự

nhất trí chung trong lĩnh vực bảo tồn nhằm giải quyết vấn đề này Điều này được thể hiện qua một số ví dụ như Công ước đa dạng sinh học (Điều 10), hay các chiến lược quốc gia, kế hoạch hành động và các báo cáo quốc gia nhằm thực hiện công ước này

Du lịch sinh thái đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh đó Tuy nhiên, nó không thể

được sử dụng như một công cụ tiếp thị bằng cách lợi dụng sự quan tâm của xã hội tới

môi trường bằng cách kinh doanh du lịch sinh thái như một giải pháp lý tưởng của một

số cộng đồng đang muốn tăng cường lực kinh tế Cần phải coi du lịch sinh thái như một phần của thị trường nhằm giúp nó tồn tại nhưng đồng thời phải ưu tiên bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cả trong và ngoài Vườn quốc gia

Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội, các để án phát triển tại Vườn quốc gia Núi Chúa đặc biệt trong lĩnh vực du lịch sinh thái, đề tài cho thấy Núi Chúa đang là một địa điểm có nhiều tiềm năng phát triển

du lịch du lịch sinh thái Qua đề tài nghiên cứu chúng tôi cho thấy những lợi ích kinh

tế xã hội từ hoạt động du lịch mang lại, từ đó đề xuất một số giải pháp, mục tiêu,

chương trình nhằm góp phần giúp hoạt động du lịch sinh thái thật sự có hiệu quả và là công cụ sắc bén, tích cực phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và ngành

du lịch nói riêng của tỉnh Ninh Thuận.

Trang 5

MỤC LỤC

2.1 Giới thiệu tong quan vé tinh Ninh Thuan Ninh Thuan 4

2.2.1 Quá trình hình thành Vườn quốc gia Núi Chúa 9 2.2.2 Điều kiện tự nhiên 10

2.2.5 Tiềm năng về du lịch sinh thái và những vấn đề hạn chế trong quá

trình phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Núi Chúa 17

3.1.1 Khái nệm du lịch 21

3.1.3 Khai niém du lich sinh thai 21 3.1.4 Cấu trúc của ngành du lịch sinh thái 22

Trang 6

3.1.8 Khái niệm: Hiện giá ròng (NPV - Net Present Value) 26

3.2.2 Phương pháp quan sát trực quan thực địa 27

4.1 Tổng quát về khách du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Núi Chúa 28

4.1.5 Hình thức biết thông tin về Vườn quốc gia Núi Chúa 36

4.1.6 Sự mong đợi và dự định của khách khi quay trở lại Vườn quốc gia

4.2 Định hướng phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Núi Chúa 38

4.2.1 Định hướng các sản phẩm du lịch tại Vườn quốc gia Núi Chúa 38

4.2.3 Định hướng phát triển thị trường mục tiêu 43

4.3 Chính sách quản lý du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Núi Chúa 45

4.4 Một số giải pháp giúp đây mạnh phát triển du lịch sinh thái tại V Núi Chúa

Trang 7

4.4.4 Quy định trách nhiệm và nhiệm vụ của các cơ quan liên quan đến

4.4.5 Giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 57

4.5 Ước tính những hiệu quả kinh tế - xã hội mà các để xuất chính sách tạo ra61

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.Hệ Động Vật tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa

Bảng 4.1 Các Nhóm Du Khách Đến Vườn Quốc Gia Núi Chúa

Bảng 4.2 Các Điểm Thu Hút Khách Đến Vườn Quốc Gia Núi Chúa

Bảng 4.3 Hình Thức Biết Thông Tin Về Vườn Quốc Gia Núi Chúa

Bảng 4.4 Sự Mong Đợi của Khách Khi Quay Trở Lại Vườn Quốc Gia Núi Chúa Bảng 4.5 Phân Đoạn Thị Trường Dựa Trên Các Yếu Tố Kinh Tế - Xã Hội

Bảng 4.6 Mức sẵn lòng trả của du khách khi đến VQG Núi Chúa

Bảng 4.7 Bức Xạ Tổng Hợp, Số Giờ Nắng, Tốc Độ Gió Tại Vườn Quốc Gia Núi

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Đồ Thị Thể Hiện Trình Độ Học Vấn của Khách Du Lịch Đến Vườn Quốc

Hình 4.2 Đồ Thị Thể Hiện Thu Nhập của Khách Du Lịch Đến Vườn Quốc Gia Núi

Hình 4.3 Đồ Thị Thể Hiện Độ Tuổi của Khách Du Lịch Đến Vườn Quốc Gia Núi

Hình 4.4 Đồ Thị Thể Hiện Mức Độ Hài Lòng của Khách Du Lịch Về Dịch Vụ Du

Hình 4.5 Đồ Thị Thể Hiện Mức Độ Hài Lòng của Khách Du Lịch về Cơ Sở Hạ Tầng,

Hình 4.6 Vịnh Vĩnh Hy - V ườn Quốc Gia Núi Chúa 42

Ix

Trang 10

PHỤ LỤC Phụ Luc 1 Phiếu Phỏng Vấn Du Khách

Phụ Lục 2 Quảng Bá Hình Ảnh Vườn Quốc Gia Núi Chúa.

Trang 11

CHƯƠNG I DAT VAN DE

1.1 Sw can thiết của đề tài

Du lịch thế giới phát triển mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước Năm 2010 dự báo thế giới có trên I tỷ người đi du lịch Du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống dân cư và trong xã hội và là một trong những ngành kinh tế phát triển nhất trên thế giới Ở nước ta, nhờ thực hiện đường lối

đổi mới về kinh tế, trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt nam đã khởi sắc và

ngày càng có tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước Số doanh nghiệp du lịch tăng, đặc biệt là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch với sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế đã phát huy được hiệu quả tích cực góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch Trong những năm qua, lượng khách du lịch (bao gồm của

khách quốc tế và nội địa) tăng không ngừng từ 250.000 khách quốc tế năm 1990 lên 3,58 triệu lượt khách vào năm 2006 Thu nhập từ du lịch năm 1990 đạt 13 ngàn tỷ đồng, đến năm 2006, thu nhập từ du lịch đạt 51 nghìn tỷ đồng

Du lịch sinh thái là một bộ phận của ngành du lịch nói chung đang ngày càng đóng vai trò lớn trong quá trình phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn tài nguyên tại các VQG và các khu bảo tồn thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên nước ta được ưu đãi

với bãi biển trái dài hàng nghìn cây số rất đẹp hay những danh lam thắng cảnh như Hạ

Long, Mỹ Sơn, Sa Pa, Huế, Hội An, Hà Nội, cùng đó là truyền thống đầy tự hào trong mỗi con người Việt Nam từ chống giặc ngoại xâm cho đến lòng hiếu khách hay một

bản sắc văn hóa đa dang Đây là một ưu thế rất lớn để phát triển ngành DLST còn non

Trang 12

nông nghiệp Thêm nữa, do đất đai khô cằn, chưa chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên hàng năm lương thực sản xuất ra không đủ tự cấp, tự túc Tình trạng dựa vào rừng

để săn bắn chim thú, đốt than, phát rừng làm rẫy, trồng hoa màu, cây ăn quả đồi lấy lương thực vẫn còn phổ biến gây ảnh hưởng rất lớn cảnh quan và HST của VQG Núi Chúa

Mặc dù có tiềm năng lớn như vậy, nhưng DLST ở tại đây đang ở giai đoạn bắt

đầu phát triển và chưa tương xứng với tiềm năng của nó Một trong những nguyên

nhân chủ yếu kìm hãm sự phát triển DLST tại Núi Chúa là sự thiếu sự phối kết hợp

giữa các cơ quan, các ngành, các cấp trong việc xây dựng chính sách phát triển và quy

hoạch DLST Du lịch là ngành liên quan tới nhiều lĩnh vực, vì vậy cần có sự kết hợp giữa các bên liên quan thì mới có thể phát triển được Hiện tại, các hoạt động du lịch tại đây còn mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và thị trường mục tiêu, chưa có sự

đầu tư cho công việc xúc tiến và phát triển công nghệ phục vụ DLST

Phat trién DLST là một giải pháp rất hợp lý vừa giúp nâng cao đời sống của người dân, vừa góp phần báo tồn tại nguyên thiên nhiên tại VQG Núi Chúa Nhưng vấn đề đặt ra là phải tìm ra những chính sách vừa phát triển, vừa bảo tồn, không tạo ra những ảnh hưởng xấu cho cảnh quan môi trường mà vẫn cải thiện cho cuộc sống của người dân nơi đây

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Kinh tế trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh cùng với sự hướng dẫn của thầy Đặng Minh Phương, chúng tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Khai Thác Tiềm Năng Du Lịch Sinh Thái Tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa, Tính Ninh Thuận”, như một giải pháp phù hợp để vừa phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo tồn hệ sinh thái, cảnh quan

tại khu vực nghiên cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích hiện trạng khu bảo tồn về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và sự

kiện đa dạng sinh học tại VQG Núi Chúa

- Phân tích và xây đựng các sản phẩm du lịch sinh thái đã và đang có tại VQG Núi Chúa

- Đề xuất các chính sách nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái

va bao ton da dạng sinh học tại VQG Núi Chúa.

Trang 13

- Dự báo những hiệu quả về kinh tế xã hội mà các chính sách từ bài nghiên cứu

tạo ra

1.3 Phạm vi nghiên cứu của khóa luận

về không gian: Đề tài được thực hiện tại 'VQG Núi Chúa, huyện Ninh Hải, tỉnh

Ninh Thuận

Về thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 15/3/2007 đến ngày 15/6/2007

1.4 Cấu trúc của đề tài

Nội dung nghiên cứu gồm có 5 chương:

Chương này phác họa bức tranh tổng quát về đặc điểm tự nhiên và hiện trạng

kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận và VQG Núi Chúa Đồng thời giới thiệu cơ bản về

hoạt động du lịch tại VQG Núi Chúa

Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Ở chương này nêu lên một số lý thuyết, khái niệm cơ bản liên quan hoạt động

DLST và các phương pháp phân tích hay một số định hướng, chiến lược mà VQG Núi

Chúa đã và nên sử dụng làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu để tài nhằm tìm ra kết quả nghiên cứu rõ ràng và chính xác

Chương 4 Kết quả và thảo luận

Dựa vào dữ liệu và các thông tin thu thập được chúng tôi đi sâu phân tích, đánh

giá nêu bật lên thực trạng hoạt động DLST tại VQG Núi Chúa Qua cơ sở phân tích

những thông tin về khách du lịch, về cơ sở vật chất mà chúng tôi đưa ra những định hướng, giải pháp đề khai thác tốt tiềm năng DLST tai khu vực nghiên cứu

Chương 5 Kết luận và kiến nghị

Cuối cùng, ở chương này nêu lên một cách ngắn gọn, cô đọng về các kết quả nghiên cứu ở chương 4 từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động DLST và bảo tồn ĐDSH tại VQG Núi Chúa

Trang 14

CHƯƠNG II TONG QUAN

2.1 Giới thiệu tống quan về tính Ninh Thuận Ninh Thuận

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Ninh Thuận là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông Phần đất liền Ninh Thuận nằm trong giới hạn 11”18' -

Ninh Thuận giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tiếp thu

và ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyền giao công nghệ với các tỉnh Đông Nam Bộ, bán Tây Nguyên và duyên hải miền Trung Đồng thời cũng đặt Ninh Thuận trước sự thách thức phải đây mạnh phát triển kinh tế cũng như tránh nguy cơ tụt hậu so với các tỉnh trong vùng Nam Trung Bộ và cả nước

Trang 15

Vùng đồi núi của tỉnh chiếm 63,2% diện tích toàn tỉnh Địa hình chủ yếu là núi thấp, cao trung bình từ 200 m - 1000 m Vùng đồi gò bán sơn địa chiếm 14,4% diện

tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở phía Tây các huyện Ninh Phước, Ninh Hải

và Ninh Sơn Đây là vùng tập trung phần lớn diện tích đất chưa sử dụng và có khả năng khai thác phát triển sản xuất nông nghiệp và nông lâm kết hợp với điện tích khá

lớn Vùng đồng bằng ven biển chiếm 22,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Đây là vùng

có điều kiện phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, sản xuất công nghiệp chính của tỉnh

c Khí hậu và thời tiết

Nhiệt độ và lượng mưa

Nhiệt độ trung bình năm 27°C

Lượng mưa trung bình từ 700 - 800 mm 6 Phan Rang và tăng dần theo độ cao

trên 1100 mm ở vùng miễn núi Độ ẩm không khí từ 75 - 77% Năng lượng bức xạ lớn

160 CL/m Tổng lượng nhiệt 9500 - 10000 °C

Khí hậu

Nằm trong khu vực có vùng khô hạn nhất cả nước, có nền khí hậu nhiệt đới gió

mùa điển hình với đặc trưng là khô nóng gió nhiều, bốc hơi mạnh từ 670 - 1827 mm Khí hậu có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến thang 8 nam sau

2.1.2 Tai nguyén thién nhién

a Tài nguyên rừng

Tỉnh Ninh Thuận có 157.300 ha bao gồm rừng tự nhiên 152.300 ha, rừng trồng

5.000 ha, tỷ lệ che phủ rừng 46,8%

Do nhiều năm khai thác gỗ với khối lượng lớn phục vụ cho nhu cầu phát triển

kinh tế xã hội trong và ngoài tỉnh nên đã làm kiệt quệ tài nguyên rừng, làm giảm diện tích rừng già và trung bình làm tăng rừng nghèo và rừng non Diện tích rừng giàu có

7.000 ha chiếm 4,65% và diện tích rừng trung bình có 20,000 ha chiếm 13,2%, trữ

lượng gỗ toàn tỉnh còn gần 11 triệu mỶ và 2,5 triệu cây tre nứa, rừng sản xuất có 58,5 nghìn ha trữ lượng 4,5 triệu m gỗ, rừng phòng hộ đầu nguồn 98,9 nghìn ha trữ lượng

gỗ 5,5 triệu m”.

Trang 16

Ngoài ra Ninh Thuận còn có các khu rừng đặc dụng khác như rừng nguyên sinh đèo Ngoạn Mục, rừng nguyên sinh Phước Bình (Bác Ai) cần được bảo vệ

c Tài nguyên nước

Ninh Thuận có nhiều sông, suối, tổng diện tích lưu vực các sông chính 3,600

km?, tổng chiều dài sông suối 430 km, gồm có 2 hệ thống sông chính:

- Hệ thống sông Cái và các sông nhánh bao gồm sông Trà Co, sông Sắt, sông Cho Mo, suối Ngang, sông Ông, sông Dầu, sông Than, sông Quao, sông Lu với tổng

chiều đài 246 km, diện tích lưu vực 1929,5 km’ Trữ năng thủy điện trên hệ thống sông

Cái khoảng 20.000 KW, điều kiện để xây dựng các công trình thủy điện nhỏ và vừa

- Hệ thống các sông độc lập ngoài sông Cái Phan Rang gồm sông Trâu, suối Bà

Râu - Kiền Kiền, suối Đồng Nha, suối Ông Kinh, suối Nước Ngọt, sông Quán Thẻ (Ninh Phước), suối Núi Một

d Tài nguyên biễn

Bờ biển Ninh Thuận với vùng lãnh hải rộng khoảng 18.000 km có 3 cửa ra

biên là Đông Hải, Cà Ná, Khánh Hải Vùng biển Ninh Thuận là một trong bốn ngư

trường lớn nhất và giàu nguồn lợi nhất về các loại hải sản của cả nước, nhiều tiềm năng đề phát triển du lịch và phát triển công nghiệp khai thác thủy sản và khoáng sản biển

Vùng biển Ninh Thuận có trên 500 loại cá trong đó có nhiều loại có giá trị kinh

tế cao Tổng trữ lượng cá tôm 120 ngàn tắn, trong đó trữ lượng cá đáy 70 - 80 ngàn tấn, cá nôi 30 - 40 ngàn tấn Khả năng khai thác hàng năm 50 - 60 ngàn tan Toàn tinh

Trang 17

có 3.000 ha mặt nước, gồm các đầm vịnh và các bãi rạn lớn gần bờ rất thuận lợi cho

việc làm muối, nuôi trồng thủy hải sản quy mô lớn, tập trung Khả năng diện tích làm

muối có thể tới 3 - 4 ngàn ha; sản lượng 400 - 500 ngàn tắn, tập trung ở khu vực Dam Vua, Cà Ná, Quán Thẻ và vùng ven biển thị tran Khanh Hai

Vùng bờ biển Ninh Thuận có các bãi tắm nỗi tiếng như: Ninh Chữ - Bình Sơn,

Cà Ná, Bình Tiên, Vĩnh Hy, Mũi Dinh, gắn với các công trình văn hóa Chăm nồi tiếng

và nhiều cảnh quan tạo thế liên hoàn cho khả năng phát triển ngành du lịch - dịch vụ

e Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản ở Ninh Thuận tương đối phong phú về chủng loại gồm:

- Nhóm khoáng sản kim loại cé Wolfram 6 Kréng pha, núi Đất,

molipden, núi Đắt (4.000 tan), thiếc gốc ở núi Đắt (24.000 tan)

- Nhóm khoáng sản phi kim loại có thạch anh tinh thể ở núi Chà Bang,

Mộ Tháp 1, Mộ Tháp 2; cát thủy tinh ở Thành Tín, sét gốm ở Vĩnh Thuận,v.v

- Muối khoáng: thạch anh ở Cà Ná, Đầm Vua, sô đa ở đèo Cậu,v.v

- Nguyên liện sản xuất vật liệu xây dựng có đá Granitte trữ lượng trên

850 triệu mỶ, cát kết vôi ở Sơn Hải, Cà Ná, Mỹ Tường trữ lượng khoảng 1,5 triệu mỶ;

đá vôi san hô tập trung ở Mỹ Tường, Thái An, Ca Ná - trữ lượng 2,5 triệu tấn CaO; sét phụ gia, đá xây dựng

2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội

a Cơ cầu kinh tế

Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh có nhiều ngành: Nông - lâm — ngư nghiệp, thủy hải sản, công nghiệp sản xuất muối, du lịch,v.v Ninh Thuận có vùng lãnh hải rộng 18 nghìn kmỸ, là một trong những ngư trường quan trọng của Việt Nam với 500 loài hải sản, cho phép khai thác mỗi năm 5 - 6 vạn tan

Ninh Thuận là địa phương sản xuất muối lớn nhất cả nước với sản lượng 130 nghìn tân/năm, với các nhà máy sản xuất lớn như: Cà Ná, Phương Cự, ngoài ra với diện tích rừng lớn lâm nghiệp cũng được coi là thế mạnh nhưng khai thác chưa hiệu quả

Tổng quỹ đất lâm nghiệp của tỉnh có khoảng 200 nghìn ha, đến năm 2000 đã sử dụng 157,3 nghìn ha Diện tích đất lâm nghiệp có thể mở rộng thêm khoảng 50 nghìn

ha Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá không rừng cây có 104,1 nghìn ha Trong

Trang 18

đó, trên 19.200 ha đất bằng, trên 72.500 ha đất đồi núi và diện tích mặt nước chưa sử

điện, nhưng do thiếu hệ thống hạ thế và hệ thống lưới 15KV và 20KV chưa được cải

tạo và dau tu day du

Cấp nước: Khu vực quy hoạch là vùng giáp bờ biển, ở nơi đây dân vẫn khai thác nước ngọt bằng giếng đào đề sinh hoạt

Thông tin liên lạc: Ninh Thuận có mạng lưới bưu chính viễn thông khá tốt, từ

Bưu điện trung tâm tỉnh đến bưu điện các huyện, xã đã được trang bị hệ thống kỹ thuật

hiện đại như: viba, cáp quang, có thé đáp ứng tốt các nhu cầu về bưu chính viễn thông trong nước và quốc tế

Hệ thống đài truyền hình và các trạm tiếp phát hình, đài phát thanh trong tỉnh

có khả năng phủ sóng trên toàn tỉnh với chất lượng phát hình, phát thanh đang ngày

càng được cải thiện và đổi mới tiếp cận với công nghệ hiện đại

d Dân cư, văn hóa

Ninh Thuận là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cô Các nhà

khảo cổ đã phát hiện được ở Nhơn Hải của Ninh Thuận các mộ cổ chôn cùng với đồ

đá, đồ sắt thuộc nền văn minh Sa Huỳnh cách đây khoảng 2500 năm Ninh Thuận còn

là nơi gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hóa Chămpa, bao gồm chữ viết,

dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và nghề đệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu

Trang 19

người Chăm, chiếm trên 11,3% dân số toàn tỉnh và chiếm 43,05% tổng số người Chăm của cả nước; 47,6 nghìn người RagLay, chiếm 4,9% và 49,1%

Tỉnh có hơn 20 làng người Chăm, trong đó có những làng vẫn duy trì các tập quán của chế độ mẫu hệ Ninh Thuận có gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chàm xây dựng trong nhiều thế kỷ trước, tiêu biêu là cụm tháp Hòa Lai xây dựng thế kỷ thứ

9, cụm tháp Poklong Gaira xây dựng thể kỷ 13 và cụm tháp Pôrêmê xây dựng thế kỷ XVII

2.2 Giới thiệu Vườn quốc gia Núi Chúa

2.2.1 Quá trình hình thành Vườn quốc gia Núi Chúa

Núi Chúa là khu bảo tồn thiên nhiên theo Quyết định 194/CT ngày 09/08/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, với tên gọi Rừng Khô Phan Rang có diện tích 1.000

ha Khu bảo tồn thiên nhiên thuộc huyện An Phước (nay là Ninh Phước) Tuy nhiên, rừng của khu Rừng Khô Phan Rang đã bị phá hủy nghiêm trọng trong những năm giữa

thập ky 90 Do vay, So NN&PTNT tinh Binh Thuan đã lựa chọn một vùng ven biển ở phía bắc có hệ sinh thái rừng khô hạn, với trung tâm là Núi Chúa đề thiết lập một khu

bảo tồn thay thế (Lê Trọng Trải pers comm.)

Trong năm 1997, Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây dựng dự án đầu

tư và đối tên thành Khu Bảo tồn thiên nhiên Rừng khô hạn Núi Chúa (Anon 1997)

Dự án đầu tư này đã được Bộ NN&PTNT phê chuẩn ngày 12/01/1998 theo Quyết định

số 243/BNN-PTLN và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Ninh Thuận phê chuẩn ngày 01/04/1998

theo Quyết định số 659/QĐ-UBND Cũng trong tháng 4/1998, UBND tỉnh đã thành

lập Ban Quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên với 30 cán bộ, trong đó có 18 cán bộ kiểm

lâm hoạt động tại một văn phòng và trạm kiểm lâm (Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận,

thái có diện tích 8.261 ha và phân khu hành chính dịch vụ là 5 ha Thêm vào đó, một

vùng đệm có diện tích 11.200 ha cũng được xác định (Anon 1997)

Trang 20

Ngày 9/07/2003, Khu BTTN Núi Chúa được chuyên hạng thành VQG Núi Chúa theo Quyết định số 134/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo Quyết định này diện tích của VQG là 29.865 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiệm ngặt là 16.087 ha, phân khu phục hồi sinh thái 6.421 ha và phân khu hành chính dịch vụ là 5

ha

2.2.2 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

VQG Núi Chúa nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang

- Tháp Chàm khoảng 20 km Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh lộ

702, phía Tây giáp quốc lộ 1A, phía Đông giáp Biên Đông

Hình 2.1 Bán Đồ Vuờn Quốc Gia Núi Chúa

BAN DO KHU BAO TON NUE CHUA HUYEN NINH HAI - TINH NINH THUAN

- Phần diện tích trên đất liền: 22.513 ha

- Phần diện tích trên biển: 7.352 ha

10

Trang 21

- Vùng đệm của VQG Núi Chúa: 7.350 ha

e Địa hình

- Khu vực Núi Chúa là một khối núi khá liền lạc, nhìn từ ảnh vệ tỉnh thì Núi Chúa có hình dạng như một con rùa có đầu quay về phía Nam, đuôi là phần nhô ra của mũi Xốp thò vào vịnh cam Ranh như đang từ biển bò lên dat liền Khối núi này có

nhiều đỉnh ở các độ cao khác nhau, mà đỉnh cao nhất là đỉnh núi Cô Tuy có độ cao

1.039 m

-_ Địa hình thấp dần từ trung tâm ra, phần phía bắc và tây có độ đốc lớn hơn phía

nam và phía đông Phía tây và tây nam địa hình bị chia cắt do có các khối núi nhỏ tạo thành các thung lũng sườn núi theo hướng đông bắc - tây nam, còn phía bắc, đông và

đông nam địa hình ít bị chia cắt, thấp dần từ đỉnh núi ra biển

-_ Địa hình có độ cao dưới 300 m: phân bố phía đông và nam và các khu vực ở phía bắc giáp biển, địa hình ít bị chia cắt, độ dốc dưới 200

- Địa hình có độ cao tir 300 — 700 m: phan bố phía tây và tây nam, địa hình bị chia cắt mạnh, hình thành các thung lũng và sườn vách dốc trên 200, cho đến 350

- Địa hình có độ cao trên 700 m: phân bó phần trung tâm, có nhiều đỉnh núi ở các

độ cao khác nhau, bị ngăn cắt bởi các thung lũng, có độ dốc từ 200 đến 400

d Địa chất thổ nhưỡng

VQG Núi Chúa nằm trong miền Trường Sơn Nam thuộc địa đới Kontum, có

tuôi địa chất cách đây hàng triệu năm, được cấu tạo chủ yếu trên nền địa chất vững chắc của khối magma xâm nhập và phún xuất xen kẽ nhau với 3 loại đá mẹ đặc trưng

là: Andelit, đá Liparit (Riolit) va Granite chiếm chủ yếu ở khu vực này Ở ven rìa khối núi là trầm tích đệ tứ nguồn gốc biển và đầm lầy biển Trên cơ sở nền đá mẹ này, quá

trình phong hoá hình thành đất có các loại đất chính như sau: đất bạc màu trên đá

Magma acid và cát, đất xám nâu vàng bán khô hạn, đất vàng đỏ trên đá mẹ magma

acid, đất xói mòn trơ sỏi đá, đất cát, đất phù sa, đất mặn đầm lầy

e Thủy văn

Do địa hình hiểm trở, độ dốc cao 10 - 25° nên đã hình thành hệ thống suối trong vùng với mật độ khe suối 0,7 km/kmỶ Trong khu VQG có các suối với điện tích lưu vực nước lớn như: suôi Nước Ngọt, suôi Kiên Kiên, suôi Đông Nha.

Trang 22

Hầu hết các suối trên đều bắt nguồn từ các khu vực núi cao chảy ra biển Đông Ngoài ra, VQG Núi Chúa có khoảng hơn 40 km bờ biển trong đó có một số bãi cát và

cồn cát nhỏ, và có một hồ nước nhỏ trên núi Đá Vách, ở gần biển khu vực Vĩnh Hy có nước ngọt tồn đọng quanh năm, là nơi có khá nhiều thực vật thân thảo, cây bụi và động vật: thú, lưỡng thê, bò sát sinh sống

Thủy triều trong khu vực mang tính bán nhật triều không đều, trong ngày có hai lần triều lên và hai lần triều rút Độ lớn của thuỷ triều trong kì nước cường khoảng 2 -

3,5m

f Khí hậu và thời tiết

Nhiệt độ và lượng mưa: Chế độ nhiệt của khu vực mang những nét đặc trưng

của chế độ nhiệt miền Nam, không có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm xấp xi

26°C, nhiệt độ tháng lạnh nhất không xuống thấp hơn 23°C (do địa hình thấp, đồng

bằng), nền nhiệt độ các tháng trong năm khá ồn định theo kiểu chuyền tiếp khí hậu xích đạo - nhiệt đới Các yếu tố cực trị về nhiệt có thể thấy qua các trị số cực tiểu như nhiệt độ tối thấp tuyệt đói có thé đạt 14 - 15C ở đồng bằng và giảm thêm theo độ cao

Độ âm không khí liên quan đến chế độ nhiệt và mưa như trên nên độ am trung binh chi

khoảng 80%, trong các tháng mùa mưa thì cũng chỉ đạt khoảng 85%, trong cac tháng

mùa khô, độ âm tối thấp tuyệt đối có thể xuống dưới 20 - 25%

Khí hậu: Khu vực VQG Núi Chúa nằm lọt hoàn toàn trong khu vực khí hậu ven biển miền Trung thuộc vùng khí hậu nam Trung Bộ với đặc điểm là khô hạn cao trong toàn bộ chế độ mưa - ẩm, mà đặc điểm này liên quan đến vị trí bị che khuất của

vùng này bởi các vòng cung núi bao bọc phía bắc, tây và nam với hai luồng gió mùa

chính Trong vùng khí hậu khô hạn này thì khu vực Phan Rang được coi là trung tâm khô hạn nhất nước, với lượng mưa trung bình năm dưới 700 mm, có những năm dưới

500 mm

Mùa mưa ở khu vực này đến muộn so với các vùng khác và kết thúc cũng sớm hơn, bắt đầu khoảng tháng 9 - 10 và kết thúc khoảng tháng 12 Theo Luận chứng Khoa

học của VQG Núi Chúa, tính toán các chỉ số nhiệt và mưa hàng tháng thì khu vực này

có 9 tháng khô, 4 tháng hạn và 2 tháng kiệt và được xếp vào loại khô hạn nhất ở Việt Nam.

Trang 23

2.2.3 Tài nguyên thiên nhiên

a Tài nguyên rừng

VQG Nui Chúa có tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng với diện tích rừng

khô hạn rộng lớn đặc trưng và độc đáo của Việt Nam, diện tích rừng thường xanh cây

lá rộng xen kẽ cây lá kim đặc trưng của vùng khí hậu á nhiệt đới am con mang tinh chat nguyén sinh

Hệ thực vật rừng: Theo kết quả điều tra năm 2001 - 2002, hệ thực vật rừng ở VQG Núi Chúa khá phong phú đa dạng và mang tính khô hạn rõ rệt với các kiểu rừng chính sau:

I1) Kiéu thực vật trên cát biển

2) Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới

3) Kiểu chuông gai hạn nhiệt đới

4) Kiểu trảng cây to cây bụi cỏ cao khô nhiệt đới

5) Kiểu rú kín lá cứng hơi khô nhiệt đới

6) Kiéu rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới núi thấp

Qua điều tra đã ghi nhận được 1.265 loài thực vật bậc cao có mặt trên cạn nằm trong 85 bd, 147 ho va 596 chi thuộc 7 ngành thực vật khác nhau (Việt Nam có 8 ngành thực vật bậc cao có mặt hiện hữu thì ở VQG núi chúa có tới 7 ngành, chiếm tới

87%, chỉ thiếu ngành cỏ Tháp Bút) bao gồm:

Những loài thực vật đã được ghi nhận có những giá trị khác nhau:

-_ Cây có giá trị kinh tế về gỗ: Có khoảng 19 họ, 24 chi, 42 loài, với một số loài điển hình: Gõ đỏ, Cẩm lai, Cẩm thị,Thông lông gà, Kim giao Trung

bộ

- _ Cây có giá trị dược liệu: Có khoảng 94 họ, 309 loài, phô biển là: Xá xị,

Mã tiền, Quế chi, Trầm hương, Đỗ trọng trắng, Sa nhân

- Cây làm cảnh: 28 họ, 53 chi, 104 loài Họ điển hình là họ Lan

(Orchidaceae), có nhiều loài có giá trị như: Quế lan hương (Aeridesfalcatum), Lan thủy tiên (Dendrobium Parmeti), Lan vảy rồng (D.aggregatum), Lan bao thủy (Dendrobium secundum (BI.) Lindl ) Đặc biệt có nhiều loài địa lan ở đỉnh núi thuộc khí hậu bán ẩm

Trang 24

- Cay đặc hữu: Thực vật VQG Núi Chúa không có đặc hữu nhưng có một

số chỉ và 99 loài đặc hữu có tên dia danh phân bố ở Phan Rang thuộc 42

họ khác nhau, trong đó có 9 chi

- Thực vật quý hiếm cần bảo vệ nghiêm ngặt: Có khoảng 35 loài nằm

trong 10 họ thực vật khác nhau Đáng chú ý là: Trầm hương, Mun, Gõ

cà, Gõ mật, Trắc Việt

Hệ động vật rừng: Kết quả điều tra năm 2001 - 2002 về hệ động vật như sau: Bảng 2.1.Hệ Động Vật tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa

đang bị đe dọa như Khách đuôi cờ, Niệc nâu, v.v Ngoài ra, sinh cảnh này còn có

khoảng 36 loài bò sát, ếch nhái đặc trưng là: Rồng đất, Kì đà vân, Rắn lục xanh, Trăn đất, các loài họ Rùa đầm

- Sinh thái rừng khô hạn và trảng cỏ: Các khu vực khô hạn và trảng cỏ thường

tiếp giáp với rừng thường xanh Do vậy coi thể coi đây là khu vực vành đai nối liền

rừng thường xanh với sinh cảnh bãi cát ven biên Có 38 loài thú, chủ yếu là Cheo cheo Nam Dương (Trangulus javanicus), Mèo rừng (Felis bengalensis), Sóc chuột lửa (Tamiops Rodophei), Thi rừng (Lepus nigricollis),v.v Đây là nơi sinh sống và kiếm ăn

14

Trang 25

của nhiều loài chim nhất: 115 loài (chiếm 63.54% số loài) Đặc biệt là Công, Trĩ sao,

Gà tiền mặt đỏ, chỉ phân bó ở sinh cảnh này Ngoài ra còn 9 loài bò sát, ếch, nhái, chủ

yếu là các loài Thần lằn bóng đốm (Mabuya macularia), Nhông xanh (Calostes vesicolor), Nhông xám (Calos Mystaceus), Rắn leo cây (Dendrelaphis pictus)

- Sinh cảnh ven biên và khu dân cư: Sinh cảnh này đặc trưng bởi các bãi cát ven biển và khu vực canh tác nông nghiệp xung quanh các thôn bản Sinh cảnh này tập

trung nhiều loài thú nhỏ và một số loài thú kiếm ăn gần với khu dân cư gốm 30 loài như Chuột, Sóc, Thỏ, v.v Khoảng 98 loài chim gồm các loài Dẽ, Mòng Biển, Nhàn,

các loại Cò và 24 loài bò sát, ếch nhái Đặc trưng nhất cho dạng sinh cảnh này là nhóm Rùa biển: Rùa da (Dermochelys coriacea), Vích (Chelonia mydas), Đồi môi (Eretmochelys imbricata) và Quảng đồng (Iepidochelys olivacea) Ngoài ra còn có các loài Nhông cát (Leiolepis spp.), Rắn cát (psamdomophis condanarus), Rắn nước

(Xenochrophis oiscator),v.v

b Tai nguyén bién

Nằm trong giới hạn từ Mũi Đá vách phía bắc cửa đâm Vĩnh Hy kéo dài đến

Hòn Chông, chiều dài đường bờ khoảng 24,5 km và nơi có chiều rộng nhất là 4,5 km -

là nơi phân bố của nhiều loài sinh vật biển với thành phần như sau:

Về san hô: Tổng cộng có khoảng 307 loài san hô cứng tạo rạn thuộc 59 giống,

15 họ Trong đó có 46 loài được ghi nhận phân loại mới Hầu hết các dãy rạn san hô đều trong tình trạng khá tốt với độ bao phủ san hô cứng trung bình là 30%, phân bố từ dưới 10% đến ở 50%, độ che phủ cao nhất ở những điểm nước cạn nhu Hon Deo, Bai

Lớn với tỷ lệ tình trạng sống - chết hết sức khả quan là 3:1 Số san hô chết là rất thấp (trung bình 9%)

Điểm đặc biệt là sự phát triển rộng các dãy rạn chịu ảnh hưởng của thủy triều kéo dài ngoài khơi từ các khu vực lân cận Mỹ Hòa - Thái An- Hang Rái, sâu từ 8 đến

15 m Xa dần về phía Bắc, mức độ các dãy rạn phát triển theo độ đốc hình thành dãy rạn riềm hẹp ven bờ (khu vực Hòn Tai và Bình Tiên) và các dãy rạn nhỏ nối với nhau (Bãi Nhỏ) Các khu vực phong phú nhất như Bãi Nhỏ, Bãi Hõm, Hang Rái có hơn 1/3 trên tổng số san hô cứng (>1 10 trong số 307 loài)

Chiều dài rạn san hô ở Hang Rái, Mỹ Hòa có thể kéo đài 1 km từ bờ.

Trang 26

Phần lớn các rạn san hô trong khu vực này thuộc vào dạng rạn riềm với 2 loại: rạn riềm điền hình (chiếm tỷ lệ lớn) và không điền hình, điều đó chứng tỏ rạn san hô

trong khu vực này có điều kiện phát triển thuận lợi trong một thời gian dài

Về rùa biến: Vùng biển xã Vĩnh Hải, tỉnh Ninh Thuận được xem là vùng có nhiều rùa biên thứ 2 ở Việt Nam (sau vườn quốc gia Côn Đảo), với 4 loài:

+ Rùa xanh (Chelonia mydas)

+ Rùa đầu to (Careta careta)

+ Đồi mỗi (Eretmochelys imbricata)

+ Vich (Lepidochelys olivacea)

2.2.4 Tình hình kinh tế xã hội

VQG Núi Chúa nằm trên địa giới hành chính của 05 xã Vĩnh Hải, Công Hải,

Lợi Hải, Phương Hải và Nhơn Hải, một xã thuộc vùng đệm là Tri Hải thuộc huyện Ninh Hải với tổng số dân toàn vùng quy hoạch là 53.409 người gồm người Kinh chiếm 75%, người Raglay chiếm 22%, người Chăm chiếm 3% và một số rất ít hộ người Hoa

Hầu hết các hộ người kinh đều tập trung trên 2 trục đường giao thông chính là quốc lộ

1A và tỉnh lộ 702 Tất cả các hộ dân đều đã được định cư Đặc biệt có hai thôn người

dân tộc Raglay có số hộ ít nhất nhưng lại phân bố vào sâu trong vườn (thôn Cầu Gay

và thôn Đá Hang xã Vĩnh Hải)

Ngành nghề chính là sản xuất nông nghiệp nhưng do đất đai khô căn, chưa chủ động được nguồn nước tưới tiêu nên hàng năm lương thực sản xuất ra không đủ tự

cấp, tự túc Tình trạng dựa vào rừng để săn bắn chim thú, đốt than, phát rừng làm tẫy,

trồng hoa màu, cây ăn quả đổi lây lương thực vẫn còn phô biến Vì vậy diện đói nghèo

ở đây còn rộng, chủ yếu vào các hộ thuần nông và đồng bào dân tộc Raglay Đặc biệt

ở 2 xã Lợi Hải, Công Hải tỷ lệ hộ đói và nghèo chiếm trên 30% Nguyên nhân do diện tích đất canh tác nông nghiệp ruộng 02 vụ ít và lại chưa có trình độ thâm canh, mặt

khác do phong tục tập quán hủ lậu còn nặng nề Đến nay tuy đã khắc phục được phần nào nhưng vẫn chưa triệt để

Nghề chăn nuôi: Chủ yếu là bò, dê, cừu theo tập quán thả rong Do đó có

những tác động xấu không chỉ với hoa màu, cây lương thực mà còn đối với cả rừng

trồn 8.

Trang 27

Ngành nghề khác: Đánh bắt hải sản và làm muối Các hộ dân sống bằng nghề này có mức sống cao hơn so với nghề nông thuần túy Tuy nhiên, số lao động đầu tư cho lĩnh vực này chiếm tỉ trọng thấp (7%) Một bộ phận hộ dân tiểu thương buôn bán

nhỏ và làm dịch vụ vẫn là hộ luôn có thu nhập cao và khá ồn định

Văn hóa, giáo dục: Các xã đều có trường mẫu giáo và tiểu học, riêng phổ thông cơ sở và trung học tập trung ở hai xã Nhơn Hải và Khánh Hải nằm ngoài vùng quy hoạch

Số người mù chữ hiện nay vẫn còn chiếm tỉ lệ khá cao, đây là một thực trạng rất

cần được quan tâm đầu tư để nâng cao dân trí

Do điều kiện kinh tế và sinh hoạt hết sức khó khăn ở vùng sâu và xa, tại nhiều thôn người dân tộc Raglay còn thiếu giáo viên, đặc biệt là đối với hệ tiểu học, CSVC của nhà trường bị xuống cấp và còn nhiều thiếu thốn Mặc dù đã có sự có gắng của

chính quyền địa phương song vẫn gặp không ít khó khăn

về y tế: Các xã đều có trạm xá (mỗi xã có từ l - 2 cơ Sở), mỗi trạm xá có

khoảng 5 giường bệnh và 3 - 5 thầy thuốc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Nhìn

chung, khó khăn đối với ngành y tế nông thôn vẫn là tình trạng thiếu thuốc men

về giao thông: Đang được đầu tư phát triển nhưng chưa hoàn chỉnh nên phần nào hạn chế sự giao lưu kinh tế giữa các xã trong vùng Vì vậy, nếu được đầu tư nâng

cấp hoàn chỉnh sẽ tạo sự giao lưu kinh tế thuận lợi giữa các xã vùng sâu, vùng xa,

đồng thời tạo vành đai kiểm soát rất tốt cho việc bảo vệ tài nguyên rừng trong

2.2.5 Tiềm năng về du lịch sinh thái và những vấn đề hạn chế trong quá trình phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Núi Chúa

a Tiềm năng về du lịch sinh thái

Qua kết quả nghiên cứu và khảo sát của các tổ chức trong và ngoài nước cho thấy VQG Núi Chúa có tiềm năng tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, đặc

biệt là về tài nguyên du lịch tự nhiên

- Tại VQG Núi Chúa có các sinh cảnh rừng tự nhiên, các đồi núi, vùng ven biển, có 18 bãi biển có cảnh quan rừng, biển rất đẹp và mang đậm tính hoang sơ như:

Bình Tiên, Bãi Thùng, Vĩnh Hy, Thái An, v.v Ở đây còn có một hiện tượng thiên

nhiên kỳ thú như Hồ treo trên núi Đá Vách (Ao Hồ)

Trang 28

Hình 2.2 Bãi Thùng - Vườn Quốc Gia Núi Chúa

Nguồn: Phòng DLST - GDMT, VQG Núi Chúa

Hệ thống suối tại VQG Núi Chúa nổi tiếng với cảnh quan đẹp và thơ mộng như:

suối Đông Nha, Lồ Ò, Kiền Kiền, Nước Ngọt, v.v

Khu vực này là nơi tập trung đa dạng sinh học cao, không chỉ đa dạng về các

loài sinh vật trên bờ, dưới nước, các loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm mà mỗi hệ sinh

thái ở đây còn có những đặc trưng đa dạng, rất khác biệt Các cảnh quan tự nhiên cũng sinh động, mỗi nơi một vẻ đẹp riêng Về rùa biển, Núi Chúa được ghi nhận là nơi duy

nhất ở đất liền và là khu vực thứ 2 ở Việt Nam (sau VQG Côn Đảo) có quần thê Rùa

biển đến đẻ trứng Về san hô thì có khoảng 350 loài san hô, trong đó có những loài san

hô cứng tạo và một số loài khác có màu sắc rất đẹp

Tài nguyên nhân văn mặc dù ít phong phú hơn nhưng cũng có tính hấp dẫn riêng và đóng vai trò quan trong trong việc bồ trợ tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù của khu vực Đặc biệt là nét văn hóa độc đáo của cộng đồng người Chăm và người Raglay tại đây

b Những hạn chế trong quá trình phát triển du lịch sinh thái tại Vườn

quốc gia Núi Chúa

Cơ sở hạ tầng: Trong thời gian qua nơi đây chưa có sự quan tâm đầu tư về CSHT phục vụ du lịch nên các nguồn tài nguyên trên vẫn còn ở đạng tiềm năng, một

18

Trang 29

số nơi các tài nguyên du lịch bị xâm phạm, sử dụng cho mục đích khác như phá rừng làm rẫy Hiện nay toàn khu vực thì các cơ sở lưu trú rất ít, các dịch vụ đưa khách đi tham quan biển, đảo hầu hết đều do ngư dân thực hiện Nhìn chung các dich vụ du lịch

ở đây còn đơn điệu Các loại hình du lich ở đây chủ yếu là: tắm biển, lặn biển, câu cá, cắm trại, leo núi, du thuyền thăm quan biển đảo

Đội ngũ cán bộ phục vụ cho du lịch: Do mới ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát

triển, lực lượng lao động làm du lịch tại vườn quốc gia Núi Chúa nói chung còn mỏng,

trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển du lịch hiện nay Như vậy cần có kế hoạch phát triển lao động cho hoạt động du lịch của vùng trong thời gian tới Hơn nữa hiện tại VQG chưa có hướng dẫn viên phục vụ cho nhu cầu du lịch mà chỉ có những tình nguyện viên thiếu chuyên nghiệp, đây là một thiếu sót cần

được khắc phục kịp thời và hợp lý

Hoạt động đầu tư cho du lịch: Đầu tư là đòn bây thúc đấy các ngành kinh tế nói chung và phát triển du lịch sinh thái nói riêng Tuy nhiên cho đến nay, công tác đầu tư cho phát triển du lịch của khu vực chưa được quan tâm tạo điều kiện, nên còn

gặp nhiều khó khăn, một số dự án được soạn thảo nhưng phần lớn là những dự án treo

Vấn đề này cần được quan tâm hơn nữa đề hoạt động du lịch tại đây xứng đáng với tiềm năng, góp phần nâng cao vị trí của du lịch tỉnh Ninh Thuận

Thực tế nhu cầu đầu tư du lịch cho cụm du lịch VQG Núi Chúa và ngành du

lịch cả tỉnh Ninh Thuận là rất lớn Tuy nhiên trong thời gian qua tình hình đầu tư du lịch trong đây còn gặp nhiều khó khăn, nguồn vốn cho phát triển còn hạn hẹp

Chính những vấn đề còn hạn chế nói trên đã dẫn hoạt động DLST tại VQG Núi Chúa chưa thức sự hiệu quả Sự không hiệu quả này được thể hiện qua các mặt:

- Khách du lịch: Do công tác thu thập số liệu về khách toàn bộ 'VQG chưa thực hiện được, nên bài nghiên cứu chỉ có được số liệu về lượng khách của vịnh Vĩnh Hy là 32.439 người (2007) Nếu các hạn ché nêu trên được khắc phục thì số lượng khách tới

tham quan sẽ tăng lên rất nhiều

- Doanh thu từ du lịch: Bao gồm tất cả các khoản thu do khách du lich chi tra,

đó là doanh thu từ lưu trú và ăn uống; từ vận chuyển khách du lịch; và từ các dich vu khác Ngoài ra một số ngành khác thu hút từ du lịch như: ngân hàng, bưu điện, văn

hóa, giao thông, v.v Do các cơ sở lưu trú rất ít đã dẫn đến mức độ chỉ tiêu của khách

19

Trang 30

du lịch tại tỉnh Ninh Thuận và VQG Núi Chúa nhìn chung còn ở mức thấp, mức chỉ

tiêu tại tỉnh chỉ bằng 50 — 60 % so với các tỉnh thành có du lịch phát triển (Khánh Hòa, Lâm Đồng, Quảng Ninh, Hà Nội), năm 2000, một ngày trung bình mỗi khách du lịch nội địa chi tiêu khoảng 150.000 VNĐ (tương đương 10 USD) và trên đưới 45 USD đối

với khách du lịch quốc tế

20

Trang 31

CHUONG III NOI DUNG VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU

3.1 Cơ sở lý luận

3.1.1 Khái nệm du lich

"Du lịch là sự phát triển tự nhiên của cuộc sống vật chất và văn hóa của loài

người nhằm thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiến, giải trí và văn hóa bằng cách di chuyền lưu động cư trú tạm thời từ nơi này đến nơi khác" (Vương Lôi Đình)

3.1.2 Khái niệm khách du lịch

Theo tổ chức du lịch thế giới: "Khách du lịch là một người đi từ quốc gia này

tới quốc gia khác vớ một lý do nào đó, có thể là kinh doanh, thăm viếng, hoặc làm một

việc gì khác”

Định nghĩa này còn được áp dụng cho khách du lịch trong nước Theo cách định nghĩa này, khách du lịch được chia thành du khách và khách tham quan Trong

đó, du khách là khách du lịch lưu trú tại quốc gia trên 24 giờ và ngủ qua đêm ở đó với

lý do kinh doanh, thăm viếng hay làm một việc gì khác và khách tham quan là khách

du lịch đến viếng thăm một nơi nào đó dưới 24 giờ đồng hồ và không ở lại qua đêm

- Khách quốc tế: Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam: khách quốc tế là người

nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam ra nước ngoài du lịch

- Khách nội địa: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước

ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

3.1.3 Khái niệm du lịch sinh thái

Đối với DLST, định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh nhất là định nghĩa của Honey (1999): “ Du lịch sinh thái là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên

sinh thường được bảo vệ nhằm gây ra ít tác hại với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục

Trang 32

du khách, tạo quỹ đề bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự

quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người”

Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được đặt ra nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi

trường Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau, khái

niệm về DLST cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất Tại hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST thái cho Việt Nam năm 1999 đã đưa ra định nghĩa:

“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn VỚI

giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

3.1.4 Cấu trúc của ngành du lịch sinh thái

Để phát triển du lịch sinh thái, chúng ta phải biết đến những bên sẽ tham gia vào hoạt động này và cho biết họ sẽ ảnh hưởng như thế nào tới các quyết định khi đưa

ra khi bắt đầu và trong quá trình thực hiện Các bên tham gia này không phải là những bên độc lập với nhau mà là những cơ quan, nhóm hoặc cá nhân phải cùng nhau làm việc và có chung lợi ích Dưới đây là các bên tham gia chính trong hoạt động DLST ở

các VQG:

- Các bộ ngành liên quan: Bộ Tài nguyên và Môi trường kết hợp với Bộ Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài

chính, Bộ Văn hóa thông tin xây dựng và ban hành văn bản pháp qui về nguyên tắc hợp tác và trách nhiệm trong hoạt động DLST ở các VQG và xây dựng cơ chế chia sẻ

lợi ích và đầu tư cho công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH ở các VQG

Ban quản lý các VQG chịu trách nhiệm chính trong quản lý hoạt động DLST ở

các VQG, nhưng nhiệm vụ chính sẽ là quản lý, bảo tồn ĐDSH và bảo tồn thiên nhiên

nói chung

- Các hãng lữ hành: Các hãng lữ hành trong và ngoài nước thường cung cấp những tour trọn gói cho khách DLST trong đó các công ty DLST sẽ có cơ hội quảng

bá hoạt động của mình thông qua đàm phán với du khách Các cơ quan này sẽ đặt

trước và thiết kế các hoạt động mà các khách DLST thường thực hiện khi họ ở Việt

2

Trang 33

Nam Đôi khi, cần phải dam phán về chi phí tham quan dé gộp nó vào chi phi dich vu trọn gói do các hãng lữ hành cung cấp

- Hướng dẫn viên: Hướng dẫn viên đóng vai trò cơ bản trong các hoạt động

DLST Họ là bộ mặt của công ty trước khách hàng Họ cần phải được đào tạo, nhận

biết được nhu cầu của khách hàng và có kỹ năng giao tiếp tốt để tiến hành các hoạt động và mang lại cho khách những an tượng khó quên Cùng với cuốn cẩm nang, hướng dẫn viên cần phải có nhiều công cụ hướng dẫn khác đề thực hiện công việc một cách thành công và họ cũng cần quan tâm đến các thủ tục của các công ty khác, các hiệp hội và cơ sở ở địa phương

- Các cơ quan tài chính: Các cơ quan trong và ngoài nước sẽ nhận được những yêu cầu xin tài trợ để đề xuất các dự án Các công ty DLST cần phải liên lạc với các cơ quan nhà nước và tư nhân liên quan đến du lịch nhằm có được thông tin về các tổ chức

có thể hỗ trợ cho các hoạt động của mình

- Tổng Cục du lịch Việt Nam: Tổng Cục du lịch Việt Nam là một cơ quan của

nhà nước quản lý du lịch ở Việt Nam Nó có vai trò tích cực trong quan lý du lịch tại các VQG Cơ quan này cần phải áp dụng và điều hành trên quy mô toàn quốc một quy

hoạch và thiết kế hoàn chỉnh các hoạt động DLST, mặc dù việc thành lập một diễn đàn

nhằm thảo luận giữa các vụ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là một điều

bắt buộc nhằm đạt được sự nhất trí về tiêu chí và nhằm thực hiện quản lý du lịch bền vững thực sự

- Cộng đồng địa phương: CĐĐP ở bên trong và xung quanh VQG phải tham quan tích cực vào quản lý DLST Những người dân địa phương sẽ là những người tiếp Xúc trực tiếp với du khách Họ thường không được chuẩn bị tốt để làm việc này, vì vậy

họ phải được đào tạo và hỗ trợ nhằm thực hiện tốt sự tham gia vào hoạt động du lịch

Chính quyền các cấp tỉnh/thành phó, huyện, xã, chính quyền địa phương phải đóng vai trò chính trong DLST vì nó phải duy trì điều hòa các lợi ích nhằm đảm bảo phát triển bền vững Một số tác giả (Voure°h & Dennan, 2003) đã đề xuất chính quyền địa phương nên xem xét phát triển chiến lược du lịch bền vững liên quan đến chương trình

nghị sự 2l

Ở Việt Nam, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh đang chịu trách nhiệm quan ly 21 VQG

và phần lớn các KBTTN khác Vì vậy dựa trên chính sách chung của chính phủ,

23

Trang 34

UBND tỉnh sẽ chịu trách nhiệm ban hành các chính sách các quy chế hoạt động DLST trong các VQG cũng như xây dựng chiến lược, phê duyệt và kêu gọi các dự án đầu tư phát triển DLST, ban hành quy định thu phí tham quan các VQG

- Các tổ chức phi chính phú: Các công ty DLST nên quan tâm tới những tổ chức phi chính phủ làm việc với các VQG vì các tổ chức phi chính phủ có kinh nghiệm quản lý Các tô chức phi chính phủ có thê cung cấp thông tin và kỹ thuật phát

triển các dự án

Các tổ chức phi chính phủ có liên quan đến các hoạt động phát triển có thể sử dụng DLST như một công cụ thúc đây phát triển cộng đồng sống trong và ngoài các VQG

- Các nhà điều hành du lịch: Các nhà điều hành du lịch là những tổ chức

chuyên cung cấp các tour trọn gói Giám đốc công ty có thê hợp tác với họ đề cung cấp

dịch vụ chung Các nhà điều hành du lịch nhận khách như tên gọi của nó là những tổ

chức trong nước đón khách DLST Các nhà điều hành du lịch đưa khách ra nước ngoài

là những tổ chức cung cấp cung cấp các chuyến du lịch tới các nước khác

- Khách du lịch: Khách du lịch đóng vai trò chính trong các hoạt động DLST

và nên tập trung quan tâm tới họ Cần biết những điều du khách, hay trong trường hợp này là khách DLST, nghĩ gì về CSHT và những trải nghiệm của họ nhằm nâng cao chất lượng và điều chỉnh các chương trình và cơ sở hạ tầng Cần phải quan tâm tới

khách du lịch trong các bước lập kế hoạch cho hoạt động DLST cũng như việc thực

hiện và giám sát các hoạt động

Chúng ta phải luôn coi khách có vai trò chính trong hoạt động của mình và nếu

quên đi điều này đồng nghĩa với việc chúng ta phải chấp nhận sự thất bại

3.1.5 Khái niệm bảo tồn đa dang sinh hoc

“Bảo tồn đa dạng sinh học ở mọi mức độ về cơ bản là duy trì các quần thể loài

đang tồn tại và phát triển” Công việc này có thể được tiến hành bên trong hoặc bên ngoài nơi sống tự nhiên

3.1.6 Đa dạng văn hóa

Việt Nam có 54 tộc người, tuy quy về mấy nhóm ngôn ngữ - tộc người lớn như:

Việt, Mường, Tày — Thái, Mông, Chăm, Tạng — Miền, v.v, nhưng mỗi dân tộc lại bao

chứa nhiều nhóm địa phương, khiến số lượng nhóm địa phương với các sắc thái văn

24

Trang 35

hóa riêng lên đến hàng trăm, làm cho sự đa dạng sắc thái văn hóa tộc người càng được

hiện rõ

Văn hóa Việt Nam còn thể hiện sự đa dạng qua các sắc thái văn hóa vùng Việt

Nam có 7 vùng văn hóa lớn, trong mỗi vùng lớn lại chia nhỏ thành các tiểu vùng, gộp lại thành các tiểu vùng văn hóa khác nhau (Ngô Đức Thịnh, 1997) Trong mỗi vùng và tiểu vùng như vậy đã hình thành nên sắc thái và truyền thống văn hóa địa phương hết sức phong phú và đa dạng

Từ xa xưa các cộng đồng dân cư khác nhau đã từng sinh sống và gắn bó với các

VQG, các khu dự trữ thiên nhiên Họ vừa là chủ nhân vừa là một bộ phận của môi

trường tự nhiên đó Đó là người H°Mông, người Dao ở VQG Hoàng Liên, người Mường với VQG Cúc Phương, người Chăm và Raglay ở VQG Núi Chúa, người Katu

ở Bạch Mã, người Stiêng, Mạ với VQG Cát Tiên, v.v Các khu bảo tồn thiên nhiên vốn

được các cộng đồng dân cư làm chủ, bảo vệ và là môi trường sống, môi trường sản sinh ra các nền văn hóa của các tộc người Ấy Các tri thức về rừng, về thế giới động

vật, thực vật, về thời tiết và khí hậu, về kinh nghiệm sản xuất với hệ canh tác xen canh,

gối canh, mà hệ quả của nó là vừa khai thác vừa bảo vệ môi trường, các kinh nghiệm

về quản lý môi trường và quản lý cộng đồng mà ở nhiều dân tộc được rút thành các phong tục, tập quán, các luật tục

Sự đa dạng về văn hóa và tri thức dân gian, tri thức bản địa là những tài nguyên

vô cùng quý báu, góp phần to lớn vào việc phát triển DLST và bảo tồn các khu bảo tồn thiên nhiên

3.1.7 Khái niệm về Đường mòn diễn giải

Đường mòn là những lối đi khám phá VQG Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp du khách di chuyên bên trong khu vực mà vẫn bảo vệ được tài nguyên thiên nhiên và vẫn cung cấp cho du khách một cơ hội học tập thú vị Chúng là những

con đường được mở ra dành cho du khách đi bộ Chúng được xây dựng nhằm phục vụ

cả hoạt động diễn giải có người hướng dẫn và diễn giải tự hướng dẫn Chúng phải cho phép người sử dụng hiểu được khái niệm về thiên nhiên được bảo vệ tốt như thế nào

Khu vực này phải hơn hắn những khu vực đang bị xuống cấp hay những khu vực đang chịu quá nhiều hoạt động quản lý

25

Trang 36

3.1.8 Khai niém: Hién gia rong (NPV - Net Present Value)

Là tổng của dòng các lợi ích ròng hàng năm, trong đó mỗi lợi ích ròng được diễn đạt như một hiện giá Tất cả các phương án có hiện giá ròng dương tức là có lợi ròng và như vậy là đáng mong muốn, phương án có hiện giá ròng cao nhất có lợi ròng cao nhất là đáng mong muốn nhất

wi (8, -C;) NPV =À, “dary

Trong đó:

- B;: Loi ich nam i

- C;: Chi phi nam i

- r: Suất chiết khấu

- n: Số năm của dự án

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

Thu thập thông tin là một khâu hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu

Đặc biệt các dữ liệu thu thập được sẽ làm cơ sở cho việc đánh giá, phân tích và dự báo

hướng phát triển của vấn đề cần nghiên cứu một cách chính xác và toàn diện hơn Phương pháp trực tiếp: Là phương pháp quan sát, phỏng vấn trực tiếp những người có uy tín, kinh nghiệm, các hộ dân Trong quá trình thu thập thông tin, chúng tôi

đã tiếp thu, lấy các thông tin cần thiết từ những cán bộ phòng Phòng DLST - GDMT

và phòng Kĩ thuật của BQLVQG Núi Chúa cũng như một số những người dân có kinh nghiệm ở địa phương như kiểm lâm, tình nguyện viên và đặc biệt phỏng vấn trực tiếp

50 khách du lịch, để biết thêm một số thông tin về hiện trạng và tình hình phát triển

của VQG Núi Chúa, từ đó đưa ra những kiến nghị, chính sách hợp lý

Phương pháp gián tiếp: Phương pháp được thực hiện thông qua các báo cáo, thống kê của BQLVQG Núi Chúa, cùng các cơ quan, tô chức có liên quan cũng như

các số liệu thống kê được đăng tải trên báo, các bài viết, các báo cáo có liên hệ đến vấn

dé cần tìm hiểu trên Internet, v.v

26

Trang 37

3.2.2 Phương pháp quan sát trực quan thực địa

Bằng các phương tiện sẵn có, tiến hành đến nơi nghiên cứu quan sát hiện trạng thực tế đang diễn ra ở đây Đồng thời, ghi lại những hình ảnh minh hoạ cho bài nghiên cứu

3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin

Sau khi thu thập xong số liệu, bắt đầu tiến hành phân tích, thống kê và sử dụng

phần mềm excel đề xử lý một số thông tin cần thiết cho báo cáo

3.2.4 Phương pháp mô tả

Là phương pháp sử dụng các yếu tố có sẵn trong quá khứ và số liệu hiện tại

thể hiện thực trạng và tình hình vùng nghiên cứu Sau khi thu thập các số liệu cần

thiết, tiền hành tổng hợp, phân tích và phân bố các kết quả nghiên cứu theo các mục

tiêu của đề tài

27

Trang 38

CHƯƠNG IV KÉT QUÁ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tống quát về khách du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Núi Chúa

4.1.1 Lượng khách du lịch

Những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng tương đối đồng đều, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, số ngày nghỉ trong tuần cũng tăng lên, cộng thêm tâm lý thích du lịch, khám phá của người Việt Nam đã khiến cho lượng khách du lịch tại những địa điểm truyền thống tại VQG Núi Chúa ngày càng tăng Hoạt động DLST tại địa điểm đang trong giai đoạn phát triển, bên cạnh đó Phòng

DLST - GDMT của vườn mới được thành lập năm 2006 nên công tác thu thập số liệu

du khách được thực hiện chưa hoàn chỉnh, do đó không cho thấy được cái nhìn cụ thể hơn về tình hình tăng trướng số lượng khách du lịch đến Núi Chúa qua các năm Theo

số liệu từ Phòng DLST - GDMT, số lượng khá ch đến tại VQG Núi Chúa là 32.349

người (năm 2007), chiếm 9,2% trong tổng số khách của tỉnh Ninh Thuận Khách quốc

tế chỉ chiếm 9,1% trong tổng số khách đến đây, cho thấy công tác liên kết, quảng bá

hình ảnh của vườn vẫn còn nhiều hạn chế

Qua những số liệu trên cho thấy được VQG Núi Chúa vẫn chưa khai thác hiệu

quả tiềm năng DLST của vùng, do một số hạn chế về cơ sở hạ tầng, dịch vụ du lịch

4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội cúa khách du lịch

Sau khi phân tích các mẫu điều tra thu thập được tại các địa điểm, ta có kết quả

về trình độ học vấn, thu nhập và độ tuổi của du khách

Trang 39

a Trình Độ Học Vấn

Hình 4.1 Đồ Thị Thể Hiện Trình Độ Học Vấn của Khách Du Lịch Đến Vườn

Quốc Gia Núi Chúa

Trang 40

Khách DLST là những người có học vấn cao nên thu nhập của họ cũng khá cao, thể hiện qua thu nhập trung bình của khách du lịch là 3,86 triệu VNĐ Vì đã có thu

nhập tốt thì con người muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ cuộc sống vào những ngày nghỉ

cuối tuần, ngày lễ

Nguồn tin: Điều tra và tính toán tổng hợp

Kết qua phân tích cho thấy rằng, đối với khách DLST thì khách du lịch sinh thái

tới đây thường là những người ở lứa tuổi trung niên, thường nằm trong khoảng 33 — 54 tuổi, cho thấy nhóm người này thì nhu cầu nghỉ ngơi và tham quan nhiều hơn

4.1.3 Các nhóm du khách, lý do thu hút khách và địa điểm ưa thích cúa du khách Phân tích số lượng du khách trong mối nhóm cho được kết quả như sau:

Bảng 4.1 Các Nhóm Du Khách Đến Vườn Quốc Gia Núi Chúa

Ngày đăng: 02/06/2014, 11:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w