1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Hoạt Động Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Ở Vịêt Nam Nghiên Cứu Tình Hình Quản Lý Và Sử Dụng Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Quản Lý Chất Lượng Các Công Trình Xây Dựng.docx

57 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Hoạt Động Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Ở Việt Nam Nghiên Cứu Tình Hình Quản Lý Và Sử Dụng Vốn Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Quản Lý Chất Lượng Các Công Trình Xây Dựng
Người hướng dẫn Th.s Trần Mai Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế xây dựng và quản lý đầu tư
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 75,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Một số khái niệm về đầu t và đầu t phát triển (4)
    • 1. Khái niệm về đầu t (4)
    • 2. Khái niệm về đầu t phát triển (4)
  • II. Vai trò và đặc điểm của đầu t phát triển (5)
    • 1. Vai trò của đầu t phát triển (5)
      • 1.1. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nớc (5)
      • 1.2. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ (6)
      • 1.3. Đối với các cơ sở vô vị lợi (7)
  • III. Lý luận chung về đầu t xây dựng cơ bản (8)
    • 1. Khái niệm xây dựng cơ bản và đầu t xây dựng cơ bản (8)
      • 1.1. Khái niệm xây dựng cơ bản (8)
      • 1.2. Đầu t xây dựng cơ bản (8)
    • 2. Đặc điểm và vai trò của hoạt động đầu t xây dựng cơ bản (8)
      • 2.1. Đặc điểm của hoạt động đầu t xây dựng cơ bản (8)
      • 2.2. Vai trò của hoạt động đầu t xây dựng cơ bản (9)
  • IV. Nhiệm vụ, vai trò và quản lý hoạt động đầu t xây dựng cơ bản (9)
  • I. Khái quát hoạt động đầu t phát triển ở Việt Nam trong thời gian qua 13 (12)
    • 2.1. Vốn huy động từ khu vực nhà nớc (14)
    • 2.2. Vốn huy động từ khu vực ngoài nhà nớc (15)
    • 2.3. Vốn huy động từ khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài (FDI) (16)
  • II. Thực trạng hoạt động đầu t xây dựng cơ bản ở Việt Nam trong thời (19)
  • III. Thực trạng quản lý hoạt động đầu t xây dựng cơ bản (22)
    • 1.1. Thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng cơ bản (22)
      • 1.1.1. Thất thoát, lãng phí do đầu t không có quy hoạch hoặc quy hoạch chất lợng thấp (23)
      • 1.1.2. Thất thoát, lãng phí trong khâu xác định chủ trơng đầu t (24)
      • 1.1.3. Thất thoát, lãng phí trong khâu thẩm định, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán (25)
      • 1.1.4. Thất thoát, lãng phí trong khâu kế hoạch hoá đầu t (25)
      • 1.1.5. Thất thoát, lãng phí trong khâu đấu thầu xây dựng (26)
      • 1.1.6. Thất thoát lãng phí trong công tác chuẩn bị xây dựng (27)
      • 1.1.7. Thất thoát, lãng phí trong khâu tổ chức thực hiện (28)
      • 1.1.8. Thất thoát, lãng phí do cơ chế quản lý giá trong xây dựng (29)
      • 1.1.9. Thất thoát, lãng phí trong khâu thanh toán (29)
      • 1.1.10. Lãng phí, thất thoát trong khâu quyết toán vốn đầu t (30)
    • 1.2. Nợ tồn đọng vốn đầu t xây dựng cơ bản (30)
    • 2. Quản lý chất lợng công trình xây dựng (32)
  • IV. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đầu t xây dựng cơ bản (34)
    • 2.1. Nợ tồn đọng vốn đầu t lớn (37)
    • 2.2. Thất thoát, lãng phí vốn đầu t xây dựng cơ bản (38)
    • 2.3. Huy động và sử dụng ODA cha hiệu quả (39)
    • 2.4. Tiến độ thực hiện các dự án xây dựng còn chậm (40)
    • 2.5. Đầu t còn dàn trải (41)
  • Chơng III: giảI pháp (42)
    • I. Giải pháp thu hút vốn cho đầu t xây dựng cơ bản (42)
    • II. Giải pháp giải quyết nợ tồn đọng trong đầu t xây dựng cơ bản (44)
    • III. Giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng cơ bản, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn (45)
    • IV. Giải pháp nâng cao chất lợng các công trình xây dựng (48)
      • 1. Nâng cao chất lợng công nhân kỹ thuật ngành xây dựng (48)
      • 2. Đổi mới công tác quản lý nhà nớc về chất lợng công trình xây dựng (49)
      • 3. Quản lý các bớc của quá trình thực hiện đầu t (49)
      • 4. Nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp xây dựng sau đấu thầu (50)
    • V. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn (50)

Nội dung

PHÇN II NéI DUNG 1 Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t C«ng nghiÖp ho¸ HiÖn ®¹i ho¸ CNH H§H X©y dùng c¬ b¶n XDCB Uû ban nh©n d©n UBND C¬ së h¹ tÇng CSHT GiÊy phÐp x©y dùng GPXD Lêi më ®Çu Tríc §¹i héi §¶ng lÇn t[.]

Một số khái niệm về đầu t và đầu t phát triển

Khái niệm về đầu t

Đầu tư là việc hy sinh nguồn lực hiện tại để thực hiện các hoạt động nhằm thu về kết quả lớn hơn trong tương lai Nguồn lực có thể bao gồm tiền bạc, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ.

Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm các hoạt động sử dụng nguồn lực hiện tại để tạo ra kết quả lớn hơn cho nền kinh tế xã hội trong tương lai so với nguồn lực đã sử dụng.

Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo ra và vận hành tài sản kinh doanh như nhà xưởng, máy móc, và vật tư, cũng như mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi Những tài sản này có khả năng sinh lợi hoặc đáp ứng nhu cầu cho nhà đầu tư và xã hội trong tương lai Đầu tư sử dụng vốn để tạo ra dự trữ và tiềm năng tài sản, nhằm sinh lợi theo thời gian Đây là chuỗi hành động chi cho một chiến lược kinh doanh, với mục tiêu đảm bảo hoàn vốn và lợi nhuận Quá trình đầu tư cũng liên quan đến việc quản lý tài sản một cách hợp lý, đặc biệt là cấu trúc tài sản để tối ưu hóa lợi nhuận, với tài sản được hiểu là tổng thể các yếu tố và nguồn lực sản xuất thuộc sở hữu của doanh nghiệp.

Khái niệm về đầu t phát triển

Đầu tư phát triển là hoạt động mà cá nhân hoặc tổ chức sử dụng vốn để tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế Hoạt động này không chỉ tăng cường tiềm lực sản xuất kinh doanh mà còn thúc đẩy các hoạt động xã hội khác Đầu tư phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm và nâng cao đời sống của người dân trong xã hội.

Vai trò và đặc điểm của đầu t phát triển

Vai trò của đầu t phát triển

1.1.Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nớc a Đầu t vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu Đối với tổng cầu, tác động của đầu t là ngắn hạn Với tổng cung cha kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu t làm cho tổng cầu tăng kéo theo sản lợng cân bằng tăng theo và giá cả của các đầu vào của đầu t tăng.

Khi các năng lực mới được phát huy, tổng cung dài hạn sẽ tăng lên, dẫn đến sản lượng tiềm năng tăng và giá cả sản phẩm giảm Sự gia tăng sản lượng và giảm giá cả sẽ thúc đẩy tiêu dùng, từ đó kích thích sản xuất hơn nữa Sự phát triển sản xuất là yếu tố then chốt để tăng tích lũy, phát triển kinh tế xã hội, nâng cao thu nhập cho người lao động và cải thiện đời sống của mọi thành viên trong xã hội Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.

Sự tác động không đồng thời của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung trong nền kinh tế khiến cho mỗi thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm, đều vừa duy trì sự ổn định vừa có thể phá vỡ sự ổn định của các quốc gia.

Khi tăng đầu tư, cầu về các yếu tố đầu tư cũng tăng, dẫn đến giá cả hàng hóa liên quan như chi phí vốn, công nghệ, lao động và vật tư tăng, gây ra lạm phát Lạm phát làm sản xuất đình trệ, đời sống người lao động khó khăn do tiền lương giảm, ngân sách thâm hụt và kinh tế phát triển chậm lại Tuy nhiên, tăng đầu tư cũng thúc đẩy cầu về các yếu tố liên quan, phát triển sản xuất, thu hút lao động, giảm thất nghiệp và nâng cao đời sống người lao động, từ đó giảm tệ nạn xã hội Những tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước.

Công nghệ đóng vai trò then chốt trong quá trình công nghiệp hóa, là yếu tố quyết định cho sự phát triển và nâng cao năng lực công nghệ của đất nước hiện nay.

Có hai con đường cơ bản để phát triển công nghệ: tự nghiên cứu và nhập khẩu từ nước ngoài Dù chọn phương án nào, việc có nguồn vốn đầu tư là điều kiện tiên quyết Mọi kế hoạch đổi mới công nghệ mà không gắn liền với nguồn vốn sẽ không khả thi Đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yếu tố quan trọng trong quá trình này.

Để đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh mong muốn, việc tăng cường đầu tư là điều cần thiết nhằm thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

Đầu tư là yếu tố quyết định trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia, nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh cho toàn bộ nền kinh tế.

Đầu tư có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự mất cân đối phát triển giữa các vùng lãnh thổ, giúp các khu vực kém phát triển thoát khỏi đói nghèo Nó tối ưu hóa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa lý, kinh tế và chính trị của những vùng có tiềm năng phát triển nhanh hơn, từ đó tạo động lực cho sự phát triển đồng bộ của các khu vực khác Hơn nữa, đầu tư còn ảnh hưởng tích cực đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.

ICOR là một trong những thớc đo sự tăng trởng của nền kinh tế.

GDP do vốn tạo ra GDP

Kinh nghiệm từ các nước cho thấy chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành và vùng lãnh thổ, cũng như vào hiệu quả của chính sách kinh tế tổng thể Ở các nước phát triển, tỷ lệ đầu tư thấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp Nếu ICOR không thay đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.

1.2.Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Để tạo dựng cơ sở vật chất cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà xởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa đợc tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu t. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, h hỏng Để duy trì đợc sự hoạt động bình thờng cần định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất đã h hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu t

1.3.Đối với các cơ sở vô vị lợi Đối với các cơ sở vô vị lợi đang tồn tại, để duy trì sự hoạt động, ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kì các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thờng xuyên Tất cả các hoạt động và chi phí này đều là hoạt động đầu t.

2.Những đặc điểm của hoạt động đầu t phát triển

Hoạt động đầu t phát triển đòi hỏi khối lợng vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu t.

Thời gian cần thiết để thực hiện một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả phát huy tác dụng thường kéo dài nhiều năm và trải qua nhiều biến động.

Thời gian cần thiết để thu hồi vốn đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh thường kéo dài nhiều năm Điều này dẫn đến sự ảnh hưởng từ các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị và kinh tế, tạo ra cả tác động tích cực và tiêu cực.

Các thành quả từ hoạt động đầu tư phát triển không chỉ có giá trị sử dụng lâu dài mà còn có thể tồn tại vĩnh viễn, như những công trình kiến trúc nổi tiếng trên thế giới Điều này thể hiện giá trị to lớn của các thành quả từ hoạt động đầu tư phát triển.

Lý luận chung về đầu t xây dựng cơ bản

Khái niệm xây dựng cơ bản và đầu t xây dựng cơ bản

1.1 Khái niệm xây dựng cơ bản

Xây dựng cơ bản là các hoạt động liên quan đến xây lắp, mua sắm máy móc thiết bị và các hoạt động khác nhằm gia tăng tài sản cho doanh nghiệp và đất nước Các hoạt động này đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và hạ tầng.

Hoạt động xây dựng có tính chất lu động, ngời lao động phải di chuyển đến nơi sản xuất.

Chu kỳ sản xuất kéo dài do điều kiện thi công ngoài trời, chịu ảnh hưởng của thời tiết và khí hậu Hoạt động xây dựng có số lượng lao động lớn và cấu trúc phức tạp.

Các công việc trong hoạt động xây dựng rất đa dạng, từ những công việc thủ công đến những công việc có tính chất phức tạp về kỹ thuật

1.2 Đầu t xây dựng cơ bản Đầu t XDCB là việc hi sinh các nguồn lực ở hiện tại cho mọi hoạt động của lĩnh vực XDCB nhằm thu về cho chủ đầu t, xã hội và nhà nớc các công trình xây dựng, các cơ sở nh đã đặt ra trong mục tiêu.

Đặc điểm và vai trò của hoạt động đầu t xây dựng cơ bản

2.1 Đặc điểm của hoạt động đầu t xây dựng cơ bản

Hoạt động đầu t XDCB là một hoạt động của hoạt động đầu t phát triển nên nó cũng có những đặc điểm của hoạt động đầu t phát triển nh:

Hoạt động đầu t XDCB cần khối lợng vốn lớn, thể hiện từ giai đoạn lập dự án đến giai đoạn vận hành kết quả đầu t.

Thời gian thực hiện dự án từ giai đoạn chuẩn bị đến giai đoạn vận hành kết quả đầu tư kéo dài, vì vậy nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý.

Các thành quả từ hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) sẽ được triển khai ngay tại địa điểm mà chúng được hình thành, vì vậy chúng sẽ bị ảnh hưởng bởi các điều kiện địa hình, thời tiết và khí hậu của khu vực đó.

Các thành quả của hoạt động đầu t XDCB là các công trình xây dựng có giá trị sử dụng trong nhiều năm thậm chí là vĩnh viễn.

Hệ thống quản lý chất lượng thi công xây lắp của nhà nước hiện nay có quy trình kiểm tra chất lượng nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo rằng sản phẩm sau thi công đạt tiêu chuẩn tốt nhất.

2.2 Vai trò của hoạt động đầu t xây dựng cơ bản Đầu t ĐCXCB là một bộ phận của đầu t phát triển, cùng với các hoạt động đầu t khác, đầu t XDCB đã và đang góp phần lớn vào sự nghiệp CNH- HĐH đất nớc Đầu t đúng hớng là nhân tố rất quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nớc theo hớng tăng tỷ trọng các ngành công nghịêp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng các ngành nông nghiệp trong DGP của mỗi quốc gia Mỗi quốc gia muốn phát triển thì không thể thiếu hoạt động đầu t Trong quá trình phát triển của đất nớc, hoạt động đầu t XDCB có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trởng kinh tế Đầu t XDCB tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, tạo ra cơ sở hạ tầng, gián tiếp thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển Hoạt động đầu t XDCB tạo thêm công ăn, việc làm cho ngời lao động, nâng cao đời sống của từng ngời dân, từ đó nâng cao mức sống chung của toàn xã hội Đầu t XDCB còn thúc đẩy sản xuất hàng hoá, nâng cao chất l- ợng, số lợng hàng hoá thông qua việc đầu t mua sắm máy móc, dây chuyền hiện đại, từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng CNH-HĐH Đầu t XDCB còn đóng góp vào ngân sách nhà nớc và gián tiếp thúc đẩy xuất khẩu, cảI thiện cán cân thanh toán, góp phần đa nớc ta tham gia vào phân công lao động quốc tế và hội nhập kinh tÕ quèc tÕ.

Nhiệm vụ, vai trò và quản lý hoạt động đầu t xây dựng cơ bản

1.Nhiệm vụ của quản lý trong xây dựng

Nhiệm vụ chính trong quản lý xây dựng là sáng tạo và đổi mới phương pháp nhằm tăng tốc độ giải ngân vốn xây dựng cơ bản, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội Các công ty tư vấn tham gia vào lĩnh vực này thực hiện thăm dò, khảo sát địa chất, quy hoạch, thiết kế kiến trúc và kỹ thuật Đồng thời, các nhà thầu thi công hoàn thành sản phẩm xây dựng trong khuôn khổ vốn đầu tư và thời gian đã được xác định trước.

Sản xuất xây dựng là một phần quan trọng trong chu kỳ đầu tư, chiếm nhiều thời gian và bao gồm việc hoàn thành các công tác xây dựng với chất lượng đảm bảo Nó là một hệ thống phức tạp, kết hợp giữa tổ chức, sản xuất và các hệ thống thông tin quản lý để đưa công trình vào vận hành hiệu quả.

Hệ thống sản xuất bao gồm các tổ chức chuyên xây dựng và sản xuất các sản phẩm như nhà ở, công trình và các tổ hợp khác Quá trình này sử dụng nguyên vật liệu, cấu kiện xây dựng, cùng với các công nghệ kỹ thuật và quản lý, cũng như các thiết bị hỗ trợ khác.

Hệ thống thông tin quản lý xây dựng có vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm, thu thập, xử lý, phân phối, lưu trữ và bảo mật thông tin Hệ thống này đáp ứng các yêu cầu về tốc độ, độ chính xác, tính kịp thời và độ tin cậy cao, đảm bảo thông tin được truyền tải liên tục để hỗ trợ quá trình ra quyết định hiệu quả.

Quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế thất thoát vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Hoạt động xây dựng có tính chất linh hoạt, với người lao động thường xuyên di chuyển đến các địa điểm sản xuất thay đổi liên tục Điều này, cùng với chu kỳ sản xuất kéo dài và ảnh hưởng của thời tiết, làm cho việc quản lý trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Địa điểm xây dựng cần được lựa chọn cẩn thận dựa trên các yếu tố tự nhiên, khí hậu và giao thông Sự phức tạp trong công việc, từ thủ công đến kỹ thuật cao, đòi hỏi sự chú ý đặc biệt để đảm bảo chất lượng công trình Qua đó, quản lý đầu tư xây dựng không chỉ nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

3.Đối tợng của quản lý hoạt động đầu t xây dựng cơ bản

Quản lý xây dựng bao gồm các yếu tố quan trọng như quản lý tiến độ, ngân sách, chất lượng và rủi ro, là những thành phần cơ bản trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Những yếu tố này được xác định bởi các kế hoạch dự án, tiêu chuẩn, quy phạm, phân tích tài chính và các nguồn lực, tài nguyên được sử dụng trong dự án.

Trong chu kỳ đầu tư, mỗi chủ đầu tư thực hiện các hoạt động đặc thù và quản lý các đối tượng riêng Đơn vị quy hoạch và khảo sát xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn địa điểm cho các công trình Các đơn vị tư vấn và dịch vụ như quản lý, thống kê, đấu thầu, giám sát kỹ thuật, cùng với các nhà thầu, đều tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất xây dựng.

Quá trình sản xuất xây dựng được quản lý bởi các tổ chức tổng thầu, trong khi các công việc cụ thể thuộc về các đơn vị chuyên môn như nhà thầu phụ trách chuyên ngành Thành công của quá trình này phụ thuộc vào tiến độ cung cấp tài chính, nguyên vật liệu, phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và công nghệ xây dựng, tất cả đều nằm trong sự quản lý của ban giám đốc điều hành dự án Đồng thời, các biện pháp đảm bảo chất lượng, bảo vệ môi trường và kỹ thuật an toàn xây dựng cũng là trách nhiệm của các tổ, đội thi công.

Quản lý xây dựng đối mặt với các đối tượng động, với các tham số thay đổi theo xác suất Do đó, việc xem xét ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện chương trình công việc là rất quan trọng Nhiệm vụ của quản lý bắt đầu từ việc phân tích và tính toán các tác động đến đối tượng quản lý, nhằm lựa chọn phương án tối ưu để giảm thiểu sự không chắc chắn và đạt được mục tiêu đề ra.

Chơng II: thực trạng quản lý hoạt động đầu t xây dựng cơ bản ở Việt nam

Khái quát hoạt động đầu t phát triển ở Việt Nam trong thời gian qua 13

Vốn huy động từ khu vực nhà nớc

Nguồn vốn khu vực nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các công trình trọng điểm quốc gia, đặc biệt là hạ tầng kinh tế - xã hội Đây là nguồn vốn mà các thành phần kinh tế khác không thể hoặc không muốn đầu tư, đồng thời có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu vùng kinh tế, và cho phép nhà nước trực tiếp điều hành.

Vốn đầu t phát triển từ khu vực nhà nớc Đơn vị: tỷ đồng

Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ba nguồn vốn, nhưng lại dễ bị lãng phí và thất thoát Do đó, suất đầu tư tăng trưởng của khu vực này gấp hai lần so với khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, với tỷ lệ là bảy lần so với ba lần.

Nguồn vốn nhà nước bao gồm ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, và vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước, trong đó có cả vốn ODA Để tăng cường nguồn vốn ngân sách, cần thu hút vốn từ đất đai quốc gia Tuy nhiên, giá đất tăng theo các nghị định mới, trong khi thị trường bất động sản đóng băng, dẫn đến thu ngân sách từ nguồn này không đáng kể và nhiều doanh nghiệp bất động sản gặp khó khăn, thậm chí có nguy cơ phá sản Nguồn vốn nhà nước có thể gia tăng nếu đẩy mạnh bán, khoán, cho thuê và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các công ty lớn Mặc dù chủ trương này đã được thực hiện tích cực, tỷ trọng vốn nhà nước trong các doanh nghiệp vẫn còn thấp Triển vọng nguồn vốn này sẽ khả quan hơn khi cổ phần hóa được mở rộng, thu hút nhà đầu tư, đặc biệt trong ngành ngân hàng.

Hệ thống ngân hàng đã có những đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Tăng trưởng tín dụng trong các giai đoạn khác nhau rất mạnh mẽ, với mức tăng 36,6% từ năm 1976 đến 1986 và 325,7% từ năm 1980 đến 1986 Đặc biệt, dư nợ tín dụng năm 1990 so với năm 1985 đã tăng lên 185,7 lần.

D nợ cho vay nền kinh tế nếu năm 1992 mới có 15.209 tỷ đồng thì đến năm

Từ năm 1995, tổng dư nợ cho vay đạt 33.793 tỷ đồng, với mức tăng trưởng bình quân 34,3% Trong giai đoạn 1996-2000, dư nợ cho vay tăng từ 24-27% mỗi năm Từ năm 2001 đến 2005, vốn huy động qua hệ thống ngân hàng tăng trưởng 23,5% hàng năm, trong khi dư nợ cho vay toàn nền kinh tế cũng tăng cao, trung bình khoảng 26% mỗi năm Hiện nay, lượng vốn cho vay hàng năm của hệ thống ngân hàng đạt trên 100.000 tỷ đồng, tương đương 12-14% GDP hàng năm Đến nay, dư nợ của hệ thống ngân hàng gần 500.000 tỷ đồng, với tổng lượng vốn qua ngân hàng chiếm khoảng 30-35% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Vốn huy động từ khu vực ngoài nhà nớc

Nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế Thời gian qua, nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế đã được thống kê một cách rõ ràng.

Vốn đầu t phát triển từ khu vực ngoài nhà nớc Đơn vị: tỷ đồng

Nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước đã liên tục gia tăng từ năm 2001 đến nay, không chỉ về lượng vốn tuyệt đối mà còn về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư.

Năm 2004, tỷ lệ vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước đạt 30,9%, và ước tính năm 2005 sẽ tăng lên 32,4%, chủ yếu nhờ vào việc thực hiện luật doanh nghiệp và hợp tác xã kiểu mới Để tiếp tục thu hút vốn đầu tư và nâng cao trình độ kinh doanh, cần tháo dỡ các rào cản đối với sự phát triển doanh nghiệp Mặc dù vốn từ khu vực ngoài nhà nước đã tăng và chiếm gần một phần ba tổng vốn đầu tư xã hội, nguồn vốn trong dân vẫn còn rất lớn Theo khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004, thu nhập bình quân một nhân khẩu là 484,8 nghìn đồng, trong khi chi tiêu là 396,8 nghìn đồng, tạo ra chênh lệch thu lớn hơn chi khoảng 87,6 nghìn đồng mỗi tháng, tương đương 1.051,2 nghìn đồng mỗi năm Với dân số 82.032,3 nghìn người, tổng số vốn trong dân ước tính trên 86 nghìn tỷ đồng, chưa kể chênh lệch từ các năm trước vẫn còn hàng trăm nghìn tỷ đồng dưới dạng vàng, ngoại tệ và bất động sản.

Vốn huy động từ khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài (FDI)

Nguồn vốn FDI ảnh hưởng đến cả các nước phát triển và đang phát triển Đối với các nước công nghiệp phát triển, FDI đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất, mở rộng nguồn thu cho Chính phủ, giải quyết thất nghiệp và kiềm chế lạm phát Trong khi đó, đối với các nước đang phát triển, FDI là nguồn lực thiết yếu cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời bổ sung quan trọng cho ngân sách quốc gia.

Trong những năm gần đây, nguồn vốn đầu tư phát triển từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại nước ta đã có sự tăng trưởng đáng kể, với số liệu cụ thể được thể hiện bằng đơn vị tỷ đồng.

Vốn đầu t phát triển từ khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài

Nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) đã liên tục tăng lên từ năm

Từ năm 1998 đến nay, tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung đạt 65,7 tỷ USD, trong đó số vốn thực hiện đạt khoảng một nửa Năm 2003 và 2005 ghi nhận mức cao nhất với 5.814 triệu USD Trong giai đoạn này, 13 đối tác đã đạt trên 1,5 tỷ USD, chiếm 81,1% tổng số vốn 53,3 tỷ USD Ngoài ra, 17 tỉnh, thành phố có vốn đầu tư trên 500 triệu USD, trong đó 9 địa phương đạt trên 1 tỷ USD, tổng cộng 52,2 tỷ USD, chiếm 79,5% cả nước.

Thêi kú 1996-2000 2001-2003 íc 2005 Vèn ®Çu t 100.881,8 75.177,1 92.035,6

Cơ cấu các nguồn vốn đầu t toàn xã hội 2000-2004 Đơn vị: %

Tổng số 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 Vốn nhà nớc 57,50 58,10 55,00 56,00 56,05 +Vốn ngân sách 23,74 24,71 23,56 21,17 23,58 +Vốn tín dụng nhà n- íc 18,53 17,12 17,22 13,20 11,21

3.Một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động đầu t phát triển

Bên cạnh những kết quả đã đạt đợc, trong đầu t phát triển vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau đây:

Vốn đầu tư phát triển xã hội vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn nhà nước, trong khi nguồn vốn từ khu vực ngoài quốc doanh chưa được huy động hiệu quả do nhiều khó khăn chưa được giải quyết, như mặt bằng sản xuất - kinh doanh Cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Đầu tư từ khu vực nhà nước chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn đầu tư khác, mà còn lấn át các nguồn này Mặc dù việc thu hút nguồn vốn FDI đã cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, vẫn còn nhiều dự án tập trung vào thị trường nội địa và các ngành được bảo hộ.

Nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản đang có xu hướng gia tăng và chưa được xử lý triệt để, chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực giao thông vận tải và nông nghiệp Mặc dù Chính phủ đã triển khai nhiều giải pháp, bao gồm việc chi hơn 4 nghìn tỷ đồng để thanh toán nợ trong năm 2004, nhưng vấn đề này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm Do đó, cần thiết phải có các biện pháp hiệu quả hơn, như xem xét và sửa đổi cơ chế phân cấp quản lý vốn đầu tư nhà nước.

Hiệu quả của vốn đầu tư phát triển của nhà nước vẫn chưa cao, một vấn đề kéo dài nhiều năm mà chưa được khắc phục Nguyên nhân chủ yếu là do những yếu kém và bất cập trong tất cả các khâu đầu tư, từ quy hoạch tổng thể đến quản lý thi công và vận hành công trình Gần đây, Chính phủ đã triển khai một số biện pháp cải thiện tình hình, như tăng cường thanh tra đầu tư và quy định cơ chế ràng buộc trách nhiệm, nhưng vẫn còn quá sớm để đánh giá tác dụng của những biện pháp này.

Việc giải ngân vốn đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ đang diễn ra chậm do nhiều công trình trọng điểm vẫn trong giai đoạn hoàn thiện thủ tục đầu tư xây dựng Bên cạnh đó, khó khăn trong giải phóng mặt bằng cũng là một nguyên nhân chính, đặc biệt là do giá đền bù tăng cao.

Giá các vật liệu quan trọng như sắt thép, xi măng, xăng và dầu đã tăng cao, gây ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tiến độ thực hiện vốn đầu tư phát triển Nhiều dự án sử dụng vốn nhà nước buộc phải tạm ngừng hợp đồng để chờ cơ chế bù đắp giá từ Chính phủ Dự kiến, trong năm 2004, Chính phủ sẽ phải chi hơn 1 nghìn tỷ đồng để bù trợ giá sắt thép cho các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước.

Vốn đầu tư là yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là Việt Nam Bài viết này sẽ tổng quan về hoạt động đầu tư phát triển tại Việt Nam trong thời gian gần đây, bao gồm nguồn vốn, quy mô và tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư Tiếp theo, chúng ta sẽ đi sâu vào thực trạng hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, một phần quan trọng trong đầu tư phát triển.

Thực trạng hoạt động đầu t xây dựng cơ bản ở Việt Nam trong thời

Kể từ sau Đại hội Đảng VI, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển sang mô hình kinh tế thị trường XHCN, dẫn đến sự sôi động trong hoạt động kinh tế với sự xuất hiện của nhiều ngành nghề và đối tác mới Điều này đã giúp nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, trung bình lên tới 7,5%.

5 năm gần đây (trong đó riêng năm 2005 là 8,4%)

Hoạt động đầu t XDCB cũng diễn ra hết sức sôi nổi, ngay từ những năm đầu sau đổi mới, nguồn vốn cho đầu t XDCB đã rất cao:

Cơ cấu vốn đầu t XDCB của Việt Nam thời kỳ năm 1991-1999

Tổng vốn đầu t (tỷ đồng)

Vèn trong níc (tỷ đồng)

Vèn ®Çu t TTNN (tỷ đồng)

%vèn ®Çu t TTNN so với tổng số

Trong giai đoạn 1991-1999, vốn đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) cho các dự án đầu tư thủy lợi (TTNN) chiếm 26,51% tổng vốn đầu tư XDCB xã hội và có xu hướng tăng qua các năm Cụ thể, giai đoạn 1995-1999, vốn đầu tư từ các dự án TTNN đạt 118.200 tỷ đồng, vượt xa số vốn từ ngân sách nhà nước trong cùng thời kỳ là 97.389,6 tỷ đồng, tương đương với 82,4% vốn đầu tư từ các dự án TTNN.

Trong thời gian gần đây, nhờ vào những cải cách trong chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước, vốn đầu tư huy động được đã tăng trưởng ổn định qua các năm, cả về quy mô lẫn cơ cấu.

Vốn đầu t phát triển phân theo thành phần kinh tế

Nông, lâm nghiệp- thuỷ sản

Công nghiệp- xây dựng Dịch vụ

Vốn đầu tư cho lĩnh vực công nghiệp xây dựng đang gia tăng nhanh chóng nhờ vào mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhà nước đã tăng cường đầu tư vào ngành công nghiệp và xây dựng, đồng thời phát triển cơ sở hạ tầng để hỗ trợ sự phát triển của các ngành kinh tế khác Nguồn vốn huy động từ khu vực kinh tế trong nước cho đầu tư cũng không ngừng tăng trưởng.

Năm Tổng số Vốn của khu vực nhà nớc

Vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Nguồn vốn đầu tư trong nước đã chiếm tỷ lệ cao, từ 82% năm 2000 đến 84,5% năm 2004, cho thấy sự huy động hiệu quả từ nội lực kinh tế để phát triển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Mặc dù nguồn vốn trong nước là quyết định cho sự phát triển kinh tế, nhưng nhà nước cũng chú trọng thu hút nguồn vốn từ nước ngoài, nhằm tiếp thu khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý và giải quyết việc làm, góp phần thúc đẩy các mục tiêu kinh tế xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kết cấu hạ tầng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Từ những năm đầu đổi mới, Việt Nam đã tiến bộ từ việc chỉ xây dựng các công trình nhỏ và làm nhà thầu phụ cho nước ngoài, đến nay đã có khả năng thực hiện các dự án lớn trong nước và quốc tế, bao gồm cả các dự án tại Lào, Campuchia và một số quốc gia châu Phi Năm 2004, cả nước hoàn thành khoảng 3460 dự án, trong đó có 980 dự án cấp bộ, ngành, trung ương và 2660 dự án cấp tỉnh, thành phố Cơ chế và chính sách quản lý đầu tư xây dựng đã được điều chỉnh và đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ, ngành và địa phương trong việc quyết định chủ trương, phê duyệt và bố trí vốn cho các dự án, không phân biệt giữa các nhóm dự án A và B.

Trong hoạt động đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước không trực tiếp quyết định các khoản đầu tư mà chỉ thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra, đánh giá và quản lý đầu tư theo quy hoạch đã được phê duyệt.

Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, giúp đạt được mục tiêu công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng trưởng nhanh chóng Tuy nhiên, quản lý hoạt động đầu tư XDCB tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng công trình và uy tín của các công ty xây dựng Vấn đề này sẽ được làm rõ hơn trong phần tiếp theo của nghiên cứu.

Thực trạng quản lý hoạt động đầu t xây dựng cơ bản

Thất thoát, lãng phí trong đầu t xây dựng cơ bản

Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) đã đạt được nhiều thành tựu lớn, góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều vấn đề yếu kém, đặc biệt là tình trạng thất thoát và lãng phí, với tỷ lệ 20-30% giá trị công trình Hàng năm, khoảng 100.000 tỷ đồng được đầu tư cho xây dựng cơ bản, và nếu tỷ lệ thất thoát lên đến 30%, số tiền mất mát có thể lên tới 30.000 tỷ đồng, đủ để chi trả cho bộ máy hành chính cả nước Con số này đã gây ra nhiều tranh cãi trong dư luận, nhất là khi nhà nước đang đầu tư mạnh mẽ cho các công trình cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống và phát triển kinh tế Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB, trong đó có 10 nguyên nhân chính chiếm tỷ lệ cao nhất.

1.1.1.Thất thoát, lãng phí do đầu t không có quy hoạch hoặc quy hoạch chất l- ợng thấp

Quy hoạch là việc sắp xếp hợp lý các yếu tố sản xuất và phân công lao động của nhà nước trên lãnh thổ Việc lựa chọn địa điểm xây dựng công trình cần phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế của vùng Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy hoạch của nhà nước còn nhiều hạn chế và thiếu tầm nhìn xa, dẫn đến việc thực hiện phải làm đi làm lại Giữa các địa phương vẫn chưa có sự thống nhất trong bố trí địa điểm xây dựng dự án và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Nguyên nhân một phần do nhà đầu tư thiếu thông tin về chiến lược phát triển của địa phương Nhiều dự án không theo quy hoạch gây lãng phí vốn đầu tư, như nhà máy nhiệt điện Cầu Đỏ phải di chuyển 3 lần, hay nhà máy lọc dầu Tuy Hạ đã đầu tư trên 20 tỷ đồng nhưng sau đó hủy bỏ Tình trạng này còn nghiêm trọng hơn ở miền Trung, với ví dụ như cảng Hòn La chỉ cách cảng Vũng Áng.

25 km, cảng Chân Mây (Thừa Thiên- Huế) chỉ cách cảng Tiên Sa (Đà Nẵng)

Cảng Dung Quất (Quảng Ngãi) chỉ cách cảng Kỳ Hà (Quảng Nam) 10 km, trong khi sân bay Quảng Bình vừa khởi công xây dựng lại cũng gần sân bay Phú Bài (Thừa Thiên-Huế) Sự gần gũi này giữa các cảng biển và sân bay ở miền Trung đã dẫn đến việc hạn chế lẫn nhau và lãng phí nguồn lực quốc gia Điều này phản ánh một cách tiếp cận kinh tế thiếu phân tích, không dựa trên thế mạnh và yếu của địa phương, cũng như không xem xét thị trường Tư duy kinh tế tự cấp, tự túc đã biến địa giới hành chính thành ranh giới kinh tế, khiến mỗi địa phương trở thành một lãnh địa khép kín, bất chấp hiệu quả kinh tế Tại cấp quốc gia, điều này cho thấy sự yếu kém trong quy hoạch lãnh thổ và vùng, cần khai thác tối đa lợi thế của từng địa phương, bổ sung cho nhau và hạn chế sự trùng lặp, lãng phí, nhằm tạo ra sự phát triển hài hòa cho mỗi vùng.

Quy hoạch cần phải được thực hiện trước một bước so với đầu tư, nhằm đảm bảo việc lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý, từ đó giảm thiểu thất thoát và lãng phí vốn đầu tư.

1.1.2.Thất thoát, lãng phí trong khâu xác định chủ trơng đầu t

Xác định chủ trương đầu tư là bước quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, cần dựa trên quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Việc xác định đúng đắn chủ trương đầu tư sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện dự án, giúp nhanh chóng thu hồi vốn và có lãi Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều dự án không dựa vào quy hoạch, dẫn đến lãng phí ngân sách nhà nước.

Trong tổng số 1505 dự án công trình, có 176 dự án vi phạm chủ trương đầu tư, chiếm 11,6% Gần đây, Chính phủ đã triển khai chính sách đầu tư tín dụng ưu đãi cho ngành đóng tàu đánh bắt xa bờ, dẫn đến việc thực hiện nhiều dự án trong lĩnh vực này Đối tượng vay vốn chủ yếu là các hộ gia đình, nhưng hoạt động đánh bắt xa bờ vẫn chưa được thực hiện một cách đồng bộ.

Để giảm thiểu thất thoát và lãng phí vốn đầu tư, việc xác định chủ trương đầu tư cần được thực hiện một cách thận trọng Cần nghiên cứu kỹ lưỡng kế hoạch và quy hoạch của địa phương, đồng thời dự báo các biến đổi có thể xảy ra trong tương lai Điều này giúp xác định chủ trương đúng đắn và phù hợp, tránh việc phải điều chỉnh nhiều lần.

1.1.3.Thất thoát, lãng phí trong khâu thẩm định, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán

Bản thiết kế kỹ thuật là cơ sở quan trọng để đánh giá hồ sơ mời thầu, nhưng việc thẩm định thiết kế và tổng dự toán chưa tuân thủ đúng quy định, dẫn đến khó khăn trong quản lý và thanh quyết toán vốn đầu tư Sai sót trong áp dụng đơn giá đã khiến nhiều dự án phải điều chỉnh nhiều lần, trong khi giá nguyên vật liệu thường xuyên biến động, như trường hợp nhà hát lớn Hà Nội, hoàn thành năm 1997 nhưng tổng dự toán vẫn chưa được duyệt đến năm 2002 Một số dự án quan trọng, như xây dựng đê điều, cho phép chỉ định đơn vị thi công trong khi thiết kế và lập tổng dự toán vẫn đang diễn ra Ngoài ra, chi phí tư vấn và khảo sát thiết kế thường được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng chi phí, dẫn đến xu hướng tăng quy mô và hệ số an toàn của công trình để hưởng lợi, như dự án đường Láng Cát-Long Xuyên từ 67 tỷ lên 97,7 tỷ Trong hơn 1000 dự án đầu tư bị thanh tra, gần 180 dự án vi phạm quy trình thẩm định.

1.1.4.Thất thoát, lãng phí trong khâu kế hoạch hoá đầu t

Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) ở Việt Nam hiện đang gặp nhiều vấn đề do việc chia nhỏ vốn đầu tư cho các dự án, dẫn đến thời gian hoàn thành kéo dài và gây lãng phí Trong thời gian này, các dự án không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, trong khi chủ đầu tư vẫn phải trả lãi vay ngân hàng hoặc mất cơ hội đầu tư khác Thực tế cho thấy, vốn đầu tư XDCB thường được bố trí dàn trải, thiếu tập trung, với số lượng dự án nhóm B, C ngày càng tăng qua các năm, dẫn đến tình trạng thi công dở dang và công trình chậm đưa vào sử dụng Số lượng dự án đầu tư tăng nhanh nhưng không tương xứng với tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư, với trung bình mỗi năm có trên 6000 dự án được đưa vào kế hoạch, nhiều dự án chỉ nhận được 10-12% tổng mức vốn phê duyệt Từ năm 2001 đến 2004, số lượng dự án đầu tư đã tăng từ 6.942 lên 12.355, cho thấy tình trạng dàn trải vốn là không thể tránh khỏi Ngoài ra, nhiều dự án chưa đủ thủ tục đầu tư vẫn được đưa vào kế hoạch cấp vốn, cho thấy sự yếu kém trong quản lý đầu tư Nguyên nhân chính là chất lượng quy hoạch ngành và lãnh thổ thấp, dẫn đến sai lầm trong quyết định đầu tư Do đó, cần phải bổ sung và hoàn thiện cơ chế kế hoạch hóa đầu tư của nhà nước trong thời gian tới.

1.1.5.Thất thoát, lãng phí trong khâu đấu thầu xây dựng

Thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) xảy ra ở nhiều khâu, bao gồm cả quá trình đấu thầu Đấu thầu là phương thức lựa chọn nhà thầu phù hợp với yêu cầu của bên mời thầu, với nhiều hình thức như cạnh tranh rộng rãi, cạnh tranh hạn chế, chỉ định thầu, và mua sắm trực tiếp Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy vi phạm quy chế đấu thầu diễn ra thường xuyên Sau khi có chủ trương lập dự án, ban quản lý dự án (bên A) phải thực hiện nhiều bước chuẩn bị đầu tư, từ lập báo cáo nghiên cứu khả thi đến hồ sơ mời thầu Quá trình này phức tạp và phụ thuộc vào nhiều cơ quan chức năng, dẫn đến việc chủ đầu tư và bên A phải chi một khoản tiền lớn cho các điều kiện hợp pháp để tổ chức đấu thầu Điều này tạo ra tình huống các bên phải thỏa thuận ngầm với nhà thầu, thường chỉ với một nhà thầu duy nhất, biến cuộc đấu thầu thành hình thức, khi mà giá trị trúng thầu đã được biết trước.

Nhiều dự án đầu tư bị bỏ thầu với giá thấp nhằm lợi ích cho cả hai bên, nhưng trong quá trình thi công, các nhà thầu thường tìm cách phát sinh thêm khối lượng, cắt xén vật tư và sử dụng nguyên vật liệu rẻ tiền, dẫn đến chất lượng công trình kém Khi nghiệm thu, việc sử dụng phong bì cũng diễn ra phổ biến Ví dụ, dự án đèo Hải Vân có gói thầu 1A với giá 72,5 triệu USD nhưng giá trúng thầu chỉ là 46,1 triệu USD; gói thầu 2A có giá 42,1 triệu USD nhưng giá trúng thầu chỉ là 28,1 triệu USD Nhiều địa phương như Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Long, thành phố Hồ Chí Minh và Bạc Liêu vi phạm quy chế đấu thầu, đặc biệt tại Quảng Ninh, tỷ lệ vi phạm lên tới 70% trong số các dự án được thanh tra.

1.1.6.Thất thoát lãng phí trong công tác chuẩn bị xây dựng

Sau khi nhận được chủ trương đầu tư và lựa chọn địa điểm, chủ đầu tư cần thực hiện các công việc chuẩn bị xây dựng Các công việc này bao gồm xin giao đất, thuê đất, chuẩn bị mặt bằng, xin giấy phép xây dựng, khai thác tài nguyên, lập thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán.

Việc chuẩn bị mặt bằng xây dựng là một trong những công việc tốn nhiều thời gian nhất, dẫn đến ách tắc và chậm tiến độ dự án, gây thất thoát và lãng phí vốn đầu tư Nguyên nhân chính của việc chậm giải phóng mặt bằng thường là do mức đền bù không hợp lý, khi nhà thầu hoặc chủ đầu tư cắt giảm tiền đền bù, khiến người dân không đồng ý di dời Hơn nữa, giá đất và giá nhà tăng qua các năm cũng làm cho số tiền đền bù cần phải tăng theo để đáp ứng nhu cầu của người dân Một yếu tố khác ảnh hưởng đến việc di dời là diện tích đền bù quá lớn, kéo dài thời gian bồi thường Tại Hà Nội, một số dự án như vành đai I Ô Chợ Dừa - Kim Liên đã phải thi công chậm 3 năm do vấn đề đền bù, trong khi nút giao thông Ngã T Sở dự kiến hoàn thành phục vụ Seagames 22 nhưng lại bị trì hoãn cho đến khi sự kiện này kết thúc.

Sau 2 năm, dự án xây dựng khu tập thể Kim Liên mới bắt đầu thi công Mặc dù các căn hộ mới tại khu B7, B10 đã hoàn thành, nhưng người dân không chịu di dời do giá nhà phải trả quá cao, vượt khả năng chi trả của họ Điều này đã cản trở việc giải phóng mặt bằng để xây dựng các khu tiếp theo Đến cuối năm 2005, giá nhà mới mới được thỏa thuận xong Ngược lại, một số dự án lợi dụng giá đền bù của nhà nước, xây dựng nhà tạm hoặc trồng rau ngắn ngày để nhận tiền đền bù, gây khó khăn cho chủ đầu tư do giá đền bù tăng Mặc dù nhiều dự án gặp khó khăn về vốn đầu tư, vẫn có không ít dự án đã được cấp vốn nhưng chưa thể giải phóng mặt bằng để thi công.

Để rút ngắn thời gian thi công và giảm lãng phí trong đầu tư xây dựng, nhà nước cần đưa ra khung giá đền bù hợp lý và công bố rộng rãi để người dân nắm bắt thông tin kịp thời Đối với các dự án có lượng dân cư phải di dời lớn, sau khi giải phóng mặt bằng, nhà nước cần ổn định nơi ở mới cho người dân, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa, nhằm tránh tình trạng người dân quay lại nơi ở cũ hoặc vào rừng chặt phá để dựng nhà.

1.1.7.Thất thoát, lãng phí trong khâu tổ chức thực hiện

Nợ tồn đọng vốn đầu t xây dựng cơ bản

Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) ở Việt Nam hiện nay gặp nhiều vấn đề, đặc biệt là tình trạng thất thoát và lãng phí vốn Một vấn đề nghiêm trọng khác là nợ tồn đọng trong đầu tư XDCB, với số nợ từ nguồn vốn ngân sách nhà nước hàng năm lên đến hàng ngàn tỷ đồng Tình trạng này không chỉ gây khó khăn cho công tác xây dựng mà còn làm thất thoát tài sản nhà nước.

Tỷ lệ vốn đầu tư thanh toán so với kế hoạch nhà nước giao trong các năm qua đạt mức thấp Cụ thể, đến 30/6/2001, tỷ lệ này chỉ đạt 21,3%, và đến 30/6/2002, con số này chỉ tăng nhẹ lên 22,6% Đến 31/7/2003, tỷ lệ đã cải thiện lên 38% Tuy nhiên, đến 30/4/2004, tổng vốn đầu tư được thanh toán chỉ đạt 8.753,1 tỷ đồng, tương đương 23,0% so với kế hoạch, trong đó công trình trung ương đạt 25,1% và công trình địa phương đạt 22,3%.

Tình hình nợ xây dựng cơ bản (XDCB) và hoàn trả tạm ứng đang trở nên nghiêm trọng, với tổng số nợ khoảng 11.000 tỷ đồng Trong đó, các bộ, ngành Trung ương nợ khoảng 3.500 tỷ đồng, chủ yếu từ Bộ Giao thông vận tải và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong khi các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nợ khoảng 7.444 tỷ đồng Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ đã rà soát các khoản nợ XDCB theo các nguyên tắc cụ thể, bao gồm việc chỉ xem xét các công trình được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và đã hoàn thành từ năm 2000 trở đi Qua rà soát, tổng nợ đọng cần xử lý khoảng 4.977 tỷ đồng, trong đó các Bộ, ngành Trung ương chiếm khoảng 2.000 tỷ đồng và các địa phương 2.977 tỷ đồng.

Vào năm 2004, tình trạng nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn nhà nước tiếp tục gia tăng, với tổng số nợ ước tính lên đến 16.000 tỷ đồng, tăng từ 11.000 tỷ đồng vào cuối năm 2003 Ngoài ra, các dự án sử dụng vốn từ Quỹ Hỗ trợ phát triển và tín dụng của các ngân hàng thương mại cũng gặp khó khăn, với số nợ quá hạn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của 5 ngân hàng thương mại nhà nước đạt 1.344 tỷ đồng tính đến hết tháng 6/2004.

Các khoản nợ vượt quá khả năng cân đối ngân sách nhà nước đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty xây dựng và nhà thầu Hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau và nợ quá hạn ngân hàng ngày càng gia tăng, dẫn đến nhiều công trình dở dang, tiến độ thi công chậm, và công nhân không có việc làm, gây lãng phí và thất thoát vốn đầu tư Trong trường hợp vay vốn để giải phóng mặt bằng và đầu tư kết cấu hạ tầng, sau đó đấu giá quyền sử dụng đất để thu hồi vốn, nợ xây dựng cơ bản có thể trở thành tích cực Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là những người phát sinh nợ biết rõ rằng họ không thể trả nợ nếu không có sự hỗ trợ từ cấp trên Đây là vấn đề bức xúc hiện nay trong công tác đầu tư, đòi hỏi sự quan tâm và biện pháp xử lý thích hợp từ các ngành và cấp quản lý.

Quản lý chất lợng công trình xây dựng

Ngày nay, ở Việt Nam và trên toàn thế giới, mục tiêu chung của các dự án xây dựng đã được phát triển đồng bộ và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao Ban đầu, tam giác mục tiêu gồm chất lượng, giá thành và thời gian với sự tham gia của chủ đầu tư, nhà thầu và tư vấn Cuối thế kỷ XX, tam giác này đã mở rộng thành tứ giác và ngũ giác, bao gồm chất lượng, giá thành, an toàn, vệ sinh môi trường và thời gian, với sự quản lý của nhà nước Quản lý để đạt được tất cả các mục tiêu này trong một dự án đầu tư xây dựng là một thách thức lớn Bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào một mục tiêu quan trọng: quản lý chất lượng công trình xây dựng Để đảm bảo chất lượng, cần quản lý dự án xuyên suốt trong cả ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư khi công trình đưa vào sử dụng.

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư bao gồm việc lựa chọn địa điểm xây dựng và thực hiện các khảo sát về địa chất, thủy văn, được trình bày trong báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và khả thi.

Giai đoạn thực hiện đầu tư bao gồm việc lựa chọn các giải pháp kiến trúc và kết cấu phù hợp, chọn vật liệu xây dựng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thi công, và xác định trang thiết bị máy móc cần thiết cho quá trình xây dựng.

Giai đoạn kết thúc đầu t: Đó là việc vận hành thử dây chuyền công nghệ; bàn giao hớng dẫn sử dụng; các quy định về bảo trì

Sự quan tâm về quản lý chất lượng công trình chủ yếu tập trung vào giai đoạn thi công xây dựng, khi mà chất lượng có thể được quan sát và đo lường bằng thiết bị kỹ thuật Trong giai đoạn này, nếu phát hiện sự không đảm bảo chất lượng, việc khắc phục hoặc sửa chữa có thể thực hiện kịp thời.

Trong thời gian qua, nhiều công trình xây dựng ở Việt Nam gặp vấn đề về chất lượng do tham nhũng và thất thoát trong đầu tư Một ví dụ điển hình là vụ thi công cọc nhồi nhà A2 Kim Giang của Vinaconex, với hạng mục thất thoát lên đến 50% Theo báo cáo của Tổng hội xây dựng Việt Nam, 27% trong số 59 công trình có biểu hiện lãng phí có chất lượng kém và cần bổ sung kinh phí Nhiều dự án sử dụng vốn ngân sách có tổng mức đầu tư cao nhưng lại phát sinh hạng mục không hiệu quả, dẫn đến chất lượng không đảm bảo Ngược lại, một số dự án không lường hết yếu tố khi lập báo cáo khả thi, khiến tổng mức đầu tư thấp và phải tìm cách ép dưới trần tổng mức đầu tư, điều này ảnh hưởng đến chất lượng công trình Một số chủ đầu tư còn cố tình lập tổng mức đầu tư thấp để giảm bớt rào cản pháp lý, dẫn đến chất lượng thiết kế và thi công không đảm bảo, gây ra tình trạng chậm tiến độ và lãng phí.

Chất lượng công trình xây dựng hiện nay tại địa phương đang gặp nhiều vấn đề do sự chồng chéo và không thống nhất trong công tác quản lý nhà nước Các Sở địa phương chịu sự quản lý từ cả UBND tỉnh và Bộ, dẫn đến hệ thống quản lý thiếu rõ ràng và đồng bộ Hầu hết các bộ, ngành không có bộ phận chuyên trách cho quản lý chất lượng công trình, ngoại trừ Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông vận tải Tại địa phương, chức năng này càng bị phân tán, với gần 50% cơ sở không có bộ phận chuyên trách Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn bất cập, phụ thuộc vào trình độ và phương thức của đội ngũ cán bộ, công chức Theo thống kê trong 5 năm qua, các sự cố và sự xuống cấp sớm chủ yếu xảy ra ở các công trình thuộc dự án nhóm B và nhóm C do địa phương quản lý.

Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng đã có nhiều đổi mới, thể hiện qua việc chế hoá hoạt động xây dựng thông qua các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước khi có luật xây dựng, nhấn mạnh các nội dung quan trọng.

- Xác định rõ vai trò quản lý nhà nớc về chất lợng công trình xây dựng.

- Kiểm soát công tác thiết kế và chi phí.

- Kiểm soát chất lợng vật liệu, chế phẩm và thiết bị.

- Giám sát biện pháp tổ chức thi công và chất lợng thi công.

- Nghiệm thu đánh giá chất lợng công trình trớc khi đa vào sử dụng, áp đặt chế độ bảo hành và chế tài đối với nhà thầu xây dựng.

Nội dung đã có sự thay đổi cơ bản, chuyển từ cơ chế thanh tra nhằm phát hiện chất lượng kém sang cơ chế ngăn ngừa, nhằm đảm bảo không xảy ra chất lượng kém trong các công trình xây dựng.

Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đầu t xây dựng cơ bản

giảI pháp

Ngày đăng: 24/07/2023, 08:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w