Lêi më ®Çu Chuyên đề thực tập tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Quá trình phát triển đó diễn ra trên khắp các vùng lãnh thổ, các dạng tài nguyê[.]
Tổng quan về kinh tế sinh thái và những vấn đề về
Khái niệm phát triển
Theo quan điểm của các nhà kinh tế trứơc kia, sự phát triển kinh tế đồng nhất với tăng trưởng kinh tế, có trình độ tiêu dùng cao nghĩa là thông qua hai chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng của thu nhập quốc dân và thu nhập bình quân đầu người.
Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất, tinh thần của con người bằng mở rộng sản xuất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao các hoạt động văn hoá.
Mối quan hệ phát triển và môi trường
Vai trò của môi trường tự nhiên :nền kinh tế được biểu diễn bởi hai khu vực hộ gia đình là nơi tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ, các xí nghiệp là nơi sử dụng tài nguyên thiên nhiên do môi trường cung cấp và đưa vào môi trường các loại chất thải Môi trường có vai trò :
Cung cấp nguyên liệu thô.
Là nơi chứa chất thải.
Cung cấp ngoại ứng tích cực.
Các quan điểm phát triển:
Quan điểm cũ : phát triển là xu thế của mọi thời đại, mọi quốc gia song không phải mức độ phát triển của mọi quốc gia đều như nhau, có những nước đã ở vào trình độ phát triển cao song còn nhiều nước kém phát triển dẫn đến một sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển Chính cuộc chạy đua phát triển giữa các quốc gia, các khu vực kinh tế trên thế giới diễn ra ngày càng gay gát khốc liệt khiến quan điểm “phát triển với bất cứ giá nào” trên thực tế rất được tôn sùng đặc biệt là ở các nước đang phải đối đầu với đói nghèo, lạc hậu, kinh tế chậm phát triển Trong bối cảnh đó người ta dễ có khuynh hướng hy sinh môi trường và các yếu tố khác cho phất triển kinh tế Với tâm lý sốt ruột trước tình trạng lạc hậu kém phát triển nhiều người lập luận rằng cứ phát triển trước đã rồi sẽ tính sau Do đó để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế con người không ngừng khai thác các tài nguyên thiên nhiên Kết quả là môi trường bị suy thoái, tài nguyên môi trường bị giảm sút về số lượng và chất lượng.
Ngược lại với quan điểm “phát triển với bất cứ giá nào” thì một trường phái khác lại có chủ trương bảo vệ các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường chủ trương không can thiệp vào các nguồn tài nguyên sinh học nhằm bảo tồn chúng thông qua “tăng trưởng bằng hoặc không bằng âm” hay “đình chỉ phát triển ”.
Quan điểm phát triển mới: Phát triển và môi trường có liên quan chặt chẽ nhưng không phải là hai khái niệm mâu thuẫn và đối kháng nhau theo kiểu loại trừ có cái này không có cái kia Do đó không thể chấp nhận cách đặt vấn đề “phát triển hay môi trường” Ngày nay theo quan điểm phát triển mới, đó là sự kết hợp, dung hoà cả hại Với cách tiếp cận hệ thống và tổng hợp, hai nhà môi trường học Canada là Jacobs và Sadler trình bày mối quan hệ biện chứng giữa phát triển và môi trường trong hình dưới đây:
Phát triển bền vững = A B CPhát triển bền vững là sự kết hợp của các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường đây chính là quan điểm phát triển đúng đắn, là mục tiêu mà con người đang hướng tới.
Kinh tế sinh thái và mô hình hệ kinh tế sinh thái
Kinh tế sinh thái là một khái niệm được hình thành trong những năm gần đây Kinh tế sinh thái là sự kết hợp giữa các lĩnh vực kinh tế –xã hội và tự nhiên Kinh tế sinh thái là một môn khoa học nghiên cứu giải quyết các khía cạnh sinh thái của các hoạt động kinh tế của con người cũng như các khía cạnh sinh thái của các hoạt động sinh thái.
1.2 Đối tượng của kinh tế sinh thái. Đối tượng của kinh tế sinh thái là mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Các hoạt động kinh tế hiện nay chỉ có thể đem lại hiệu quả thiết thực khi được tiến hành trên cơ sở vận dụng phù hợp các quy luật sinh thái.
Mặt khác các hoạt động sinh thái như giữ gìn, bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo vệ nguồn gen…chỉ có ý nghĩa khi nó góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả cảu các hoạt động kinh tế Mọi hoạt động của con người đều hướng tới những mục đích nhất định.
Cho đến nay con đường đi đến mục tiêu của chúng ta vấp phải trở lực trong đó có những trở lực là những phản ứng của thiên nhiên trong nhiều trường hợp làm cho chúng ta thất bại Sự tác động của con người đối với tự nhiên càng mạnh thì sự phản ứng của tự nhiên càng lớn.
Tuy nhiên xã hội vẫn tiến hoá, nền kinh tế phát triển, con người ngày càng đi sâu khám phá, khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách nhiều hơn thì một đòi hỏi khách quan được đặt ra là con người ngày càng phải nắm bắt được các quy luật tự nhiên Mục đích hoạt động của con người chỉ có thể mang lại hiệu qủa khi họ không làm trái với quy luật tự nhiên.
2 Mô hình hệ kinh tế sinh thái
2.1 Khái niệm hệ kinh tế sinh thái.
Hệ kinh tế sinh thái được xem là một hệ thống chức năng nằm trong tác động tương hỗ giữa sinh vật và môi trường chịu sự điều khiển của con người để đạt mục đích phát triển lâu bền là hệ thống vừa đảm bảo chức năng cung cấp kinh tế vừa đảm bảo chức năng bảo vệ sinh thái, môi trường và bố trí hợp lý trên lãnh thổ.
Hệ thống kinh tế sinh thái thực chất nằm trong hệ thống kinh tế môi trường Tính tất yếu của hệ kinh tế sinh thái nằm trong yêu cầu giải quyết tính cân đối và hợp lý của hoạt động giữa hai hệ thành phần: hệ kinh tế xã hội và hệ môi trường Hệ kinh tế sinh thái được đặt dưới sự điều khiển của con người theo các quy luật sinh học và kinh tế nhằm đạt hiệu quả tổng hợp: đảm bảo sự phát triển về kinh tế, xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Dưới tác động sâu sắc của con người –với tư cách là chủ thể - đã chuyển các hệ sinh thái từ dạng tự nhiên sang các hệ sinh thái cao quan hệ đến các quần cư loài người Hoạt động tương hỗ giữa hai hệ kinh tế xã hội và hệ môi trường đã hình thành một hệ thống nhất mới đó là hệ kinh tế sinh thái.
Các mối quan hệ tương tác giữa hệ kinh tế sinh thái và hệ môi trường diễn ra dưới dạng trao đổi các dòng năng lượng, vật chất và thông tin Các
Hãng sản xuất Hộ gia đình
Nhân công và các nhân tố đầu vào khác
(không khí, đất, nước, nguyên liệu, nhiên liệu )
Tài nguyên Rác thải dòng này sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc cà chức năng của từng hệ thống Hệ thống kinh tế đòi hỏi có năng lượng chất đốt cho hoạt động sản xuất các cảnh quan có giá trị thư giản du lich nghỉ ngơi…Cường độ của những dòng này ảnh hưởng tới mật độ dân số và sự phân bố dân cư Ngược lại hệ thống kinh tế cung cấp vật chất cho con người dưới dạng các sản phẩm và thải vào môi trường các chất thải và chất ô nhiễm Các chất này làm ảnh hưởng đến nguồn năng lượng và vật chất của hệ kinh tế Mối quan hệ giữa hệ thống kinh tế và môi trường là mối quan hệ hai chiều trong đó mỗi một thay đổi của hệ thống này liên tục ảnh hưởng đến cấu trúc và chức năng của hệ thống kia.
Ta có thể thấy việc cân bằng các hoạt động của hệ thống kinh tế và hệ thống môi trường là vô cùng quan trọng nếu không sẽ dẫn tới những tác động xấu đến tự nhiên và từ đó lại ảnh hưởng tới con người đòi hỏi con người phải có những điều chỉnh hợp lý để đảm bảo cả hai mục tiêu kinh tế và môi trường.
Tối ưu, bền vững Đầu vào Đầu ra
2.2 Mô hình kinh tế - sinh thái.
Mô hình kinh tế sinh thái là một hệ kinh tế sinh thái cụ thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định.
2.2.2 Nguyên lý đề xuất mô hình kinh tế sinh thái.
Mô hình kinh tế - sinh thái được đề xuất dựa trên những nguyên lý các tiềm năng bao gồm việc điều tra tự nhiên, điều tra kinh tế - xã hội, hạ tầng cơ sở kỹ thuật và tổ chức sản xuất - xã hội, dân số, lao động, ngành nghề, tập quán canh tác sinh hoạt, những vấn đề về môi trường.
Từ chiến lược sử dụng tài nguyên - bảo vệ môi trường với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong cơ chế kinh tế, trên cơ sở đặc điểm tài nguyên sinh thái của vùng mà xây dựng các cấu trúc mô hình kinh tế sinh thái. Điều khiển hệ kinh tế sinh thái trong mô hình là điều khiển chu trình năng lượng - sản xuất - tiêu thụ, các quy luật kinh tế, quy luật sinh học.
2.2.3 Mô hình mô phỏng hệ kinh tế - sinh thái.
Năm 1984, hai nhà toán học người Mỹ là: Cohen và Newman đã đưa ra mô hình toán học cho hệ sinh thái dưới dạng phương trình vi phân với bài toán hệ kinh tế - sinh thái. Đặc trưng cho đầu vào của mô hình hệ kinh tế - sinh thái của một vùng lãnh thổ bao gồm:
X - Các yếu tố giống loài sinh vật.
T - Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên.
K - Các yếu tố kinh tế - xã hội.
U - Vai trò điều khiển của con người. t - yếu tố thời gian.
Các yếu tố này tác động tương hỗ với nhau và thay đổi theo thời gian trong đó nhu cầu xã hội ngày càng tăng lên, tài nguyên có xu hướng cạn kiệt, ô nhiễm môi trường xảy ra Mối quan hệ phức tạp đó của hệ kinh tế sinh thái có thể xem như hệ không gian nhiều chiều và được mô hình hoá bằng một hệ phương trình vi phân phi tuyến Để đảm bảo cân bằng tối ưu của hệ, để phát triển lâu bền một vùng lãnh thổ cần có tác động của con người sao cho: i ∑ = l n j ∑ = l m k ∑ = l z
Các nhân tố cần quan tâm, vai trò và ý nghĩa của mô hình hệ kinh tế
1 Các yếu tố tác động tới mô hình kinh tế sinh thái
Mô hình kinh tế sinh thái chịu tác động của các yếu tố:
2 Nguyên tắc của tập trung cụm dân cư theo mô hình cộng đồng làng xã
Cụm dân cư là cụm có trên một điểm dân cư nằm trong một địa giới hợp lý Dân số trong cụm có ít nhất là 200 người Quy mô dân số này đủ để đảm bảo xây dựng và khai thác một số công trình phúc lợi thiết yếu như trường phổ thông, trạm xá, chợ, cửa hàng…
Các điểm dân cư có vị trí thuận lợi cho việc xây dựng như có đủ đất đai để xây dựng nhà ở, sân vườn trước mắt và khả năng tăng dân số sau này, có nguồn nước sinh hoạt, có đất để làm nông nghiệp.
Cụm có một trung tâm có vị trí tương đối trung tâm Trung tâm này có ít nhất trường phổ thông, trạm xá, chợ nông thôn, cửa hàng.
Cụm dân cư hình thành trên cơ sở tác động của sản xuất và phục vụ công cộng con người, nó tồn tại và phát triển nhờ sự hỗ trợ đa dạng của mạng lưới trung tâm với nhiều cấp bậc khác nhau: xã, huyện, tỉnh, thành phố, thị xã.
3 Điều kiện của mô hình
Mô hình luôn luôn chịu sự chi phối trực tiếp của các điều kiện tự nhiên, điều kiện sản xuất, truyền thống kinh tế - xã hội của từng vùng khác nhau. Các điều kiện đó càng đa dạng thì mô hình các điểm dân cư càng phong phú. Để tồn tại và phát triển con người và cộng đồng con người phải có nhu cầu thiết yếu Các nhu cầu đó là:
Việc làm và thu nhập: Đây là yêu cầu đầu tiên và rất quan trọng cho việc hình thành, tồn tại và phát triển của cộng đồng dân cư Yêu cầu này đòi người lao động phải có việc làm (lâm sinh, chế biến, dịch vụ, quản lý, kỹ thuật, công nghiệp…) Việc làm phải có thu nhập đủ sông cho cá nhân và gia đình ngoài ra còn phải phù hợp với sức khoẻ con người.
So với nhiều ngành khác ngành nông, lâm ngư nghiệp hiện nay lao động phải làm việc nặng nhọc trong các điều kiện tự nhiên nhiều khi không thuận lợi: nắng, nóng, mưa nhiều, đường sá khó đi đặc biệt thu nhập thường rất thấp, lao động dư thừa nhàn rỗi sau mùa vụ Chính việc làm và thu nhập đã ảnh hưởng tới việc định cư của con người.
Nhà ở và dịch vụ công cộng: Ngoài việc làm và thu nhập, nhà ở và dịch vụ công cộng cũng là nhu cầu hết sức quan trọng Nhà ở phải đảm bảo yêu cầu về ở, sinh hoạt tối thiểu bao gồm phần để ở và các công trình phụ khác.
Dịch vụ công cộng bao gồm y tế, giáo dục, thương nghiệp, văn hoá…là những dịch vụ đa dạng và thiết yếu cho các thành viên trong cộng đồng. Nhưng để đảm bảo cho các dịch vụ công cộng tồn tại thì dân cư phải sống tập trung thành một khu vực vì chi phí cho việc xây dựng là rất tốn kém nếu dân cư thưa thớt, không tập trung. Đi lại: Một nhu cầu của con người trong các hoạt động sống là đi lại.
Sự đi lại diễn ra mọi nơi từ nhà ở tới các công trình phúc lợi, các vùng xa, nhu cầu thăm hỏi, trao đổi, sản xuất…Vì vậy các mô hình xây dựng cần có đường xá.
Ba vấn đề trên là ba vấn đề thiết yếu Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi vùng để đề ra cách giải quyết ba vấn đề trên.
4 Vai trò kinh tế nông hộ trong mô hình làng sinh thái
Kinh tế hộ được coi là một đơn vị kinh tế có qui mô nhỏ, theo qui mô hộ sở hữu và tổ chức sản xuất lao động, theo gia đình, do dân tự tạo việc làm là chủ yếu.
Kinh tế hộ là hệ thống nguồn lực trong đó giữ vai trò duy trì, phát triển nguồn lao động, tài sản, vốn, tài nguyên…đảm bảo cho quá trình phát triển nguồn thu nhập của mỗi hộ và góp phần phát triển nguồn thu nhập của xã hội.
Sự tồn tại của hộ là một điều kiện bảo tồn xã hội nông thôn Trước những biến động đầy trắc ẩn của nền kinh tế thì họ là cơ sở để thích ứng trong phương thức khai thác các nguồn lực để tái sản xuất nông nghiệp đáp ứng những nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội Là một đơn vị kinh tế xã hội hộ thực hiện các chức năng sản xuất kinh doanh, tái tạo sức lao động, xây dựng quĩ phúc lợi cùng xã hội đảm bảo các điều kiện sử dụng lao động.
5 Vai trò, ý nghĩa của mô hình kinh tế sinh thái
Mô hình kinh tế sinh thái có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với các vùng nông thôn nước ta hiện nay khi mà nền nông nghiệp vẫn còn là phổ biến ở nước ta Quá trình phát triển phải đi từ những bậc thang thấp nhất đó là phát triển kinh tế hộ gia đình trên quy mô áp dụng cho một cộng đồng Kinh tế hộ gia đình đóng vai trò rất lớn trong phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Hộ gia đình tổ chức sản xuất dưới hình thức nông - lâm - ngư nghiệp kết hợp trên cơ sở vốn lao động trong gia đình đã sử dụng nguồn đất đai sẵn có để sản xuất, trồng trột, canh tác, chăn nuôi đóng góp vào nền kinh tế dưới dạng giá trị sản lượng nông, lâm, thuỷ, hải sản từ đó tăng thu nhập của dân cư cải thiện điều kiện sống, nâng cao mức sống của một cộng đồng dân cư trên quy mô tập trung, góp phần giải quyết việc làm, sử dụng lao động một cách hiệu quả đặc biệt trong các mùa vụ nhàn rỗi.
Mô hình góp phần tăng năng suất vật nuôi và cây trồng nâng cao sản lượng nông, lâm, thuỷ sản giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm trong nội vùng và suất sang vùng khác, góp phần xoá đói giảm nghèo.
Mô hình thể hiện vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…và trong nội bộ các ngành.
Làng sinh thái và các lợi ích Kinh tế , Xã hội , Môi trường từ mô hình làng sinh thái
Mô hình làng sinh thái ở nước ta còn là vấn đề mới mẻ nên chưa thể để đưa ra một nội dung cụ thể, đầy đủ về mô hình làng sinh thái, vì đây mới đang ở bước thử nghiệm Có thể đó là một dạng nông trại muốn thay thế nông nghiệp hoá học phải đầu tư nhiều bằng nông nghiệp hữu cơ Hoặc bằng các công nghệ mới như dùng giống lai thay cho giống thuần, bón phân sinh học, quản lý sâu bệnh bằng phương pháp tổng hợp, đa dạng hoá cây trồng và vật nuôi (làng công nghệ sinh học ) Hoặc cũng có thể là một làng nông nghiệp tự nhiên kiểu nông lâm kết hợp, sử dụng các tài nguyên sẵn có tại chỗ và dựa vào thiên nhiên là chính Như vậy, hình thức tổ chức làng sinh thái có thể khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế ở từng nơi, từng nước, nhưng đều có chung một mục đích là cải thiện đời sống của nông dân về nhiều mặt, kết hợp với giữ gìn tài nguyên và bảo vệ môi trường. Để xây dựng làng sinh thái, cần điều tra khảo sát kỹ địa điểm, bao gồm:
- Kinh tế xã hội :nguồn thu nhập chính, tập quán, tín ngưỡng, trình độ văn hoá giáo dục, dân số và tỷ lệ sinh đẻ, sức lao động …
- Tài nguyên sinh học và nông nghiệp: diện tích rừng, đất nông nghiệp, đất hoang chưa khai thác, sinh vật chỉ thị có thể dùng làm thước đo sự cân bằng sinh thái (như hệ vi sinh vật đất có ích, loài đặc hữu, sâu bệnh và dịch hại phổ biến, thiên địch….).
- Thổ nhưỡng và khí hậu: tính chất của đất về mặt cơ học, vật lý, hoá học và sinh học, nhiệt độ và độ ẩm theo mùa nguồn nước chính, thiên tai thường gặp.
- Hệ thống canh tác: cơ cấu cây trồng và vật nuôi quen thuộc, kinh nghiệm truyền thống, tình trạng thu nhập, cách sử dụng sản phẩm làm ra, độc canh hay đa canh…
2 Mô hình làng sinh thái điển hình
2.1 Làng sinh thái vùng cồn cát –Làng sinh thái Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình
Làng sinh thái vùng cồn cát là làng sinh thái được xây dựng trên vùng sinh thái cồn cát mục tiêu là thiết lập lại cân bằng sinh thái Quy hoạch không gian sống ổn định, bền vững, phát triển kinh tế bằng cách khai thác triệt để nguồn tài nguyên đất khắc phục và hạn chế một cách tối đa những khắc nhiệt của thiên nhiên.Việc cải tạo dải cồn cát ven biển dựa trên cơ sở của quá trình biên đổi: Cát vàng, trắng, đất canh tác Khi có tác động của con người làm tăng độ phì của cát, biến vùng cát hoang hoá trở thành vùng đất có nhựa sống, cây cối sinh trưởng phát triển xanh tốt.
Làng sinh thái đặc trưng cho hệ sinh thái này là làng sinh thái xã Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình. Điạ hình: Dải cồn cát ven bỉên xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình chạy dọc bờ bỉên phia Nam cửa sông Ròn (khoảng 17 0 52 vĩ độ bắc , 106 0 27 độ kinh đông ) Diện tích tự nhiên khoảng 152 ha, đây là vùng cát ven biển không có đất nông nghiệp và đất vườn; có bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng; sườn phía Đông Bắc cao hơn và thoải dần về phía Tây Nam, nghiêng dần về phía biển; dân sống chủ yếu bằng nghề đánh cá Những năm gần đây, bờ biển bị xói lở, ảnh hưởng lớn đén công biệc làm ăn sinh sống của nhân dân Đất cồn cát Cảnh Dương thuộc loại cát vàng được hình thành do tác dụng tổng hợp của biển và gió Phẫu diện đất đơn giản Tầng A có mầu vàng nhạt thành phần là cát thô, khô và hơi chua Tầng dưới màu vàng, ẩm ít, cát thô mịn đồng nhất Nhìn chung đất cồn cát trắng vàng có phản ứng ít chua, pHKCl=5 - 6, nghèo mùn (0.04 -0.06%) nghèo đạm và nghèo lân tổng số ở tầng mặt Hiện nay phần lớn đất cồn cát bỏ hoang, ở một số diện tích cũng có trồng một số loài cây nông nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả rải rác, cần cỗi Muốn biến vùng cất này thành đất nông nghiệp cần dầu tư nhiều phân bón hữu cơ. Như vậy, ở vùng cát ven biển này dạng tài nguyên cơ bản là đất lại có đặc điểm rất nghèo dinh dưỡng.
Khí hậu thuỷ văn: vùng cát Cảnh Dương, Quảng Trạch, Quảng Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất phức tạp và khắc nhiệt; thường xảy ra sạt lở ven bờ trong mùa mưa, bão lũ: gió Tây Nam khô nóng, hạn hán kéo dài không thuận lợi cho sản xuất và đời sống Nhiệt độ không khí trong vùng thường xuyên lớn, nhiệt độ bình quân khoảng 24.6 - 24.8 0 C và nhiệt độ cao tuyệt đối khoảng 42.1 0 C Nắng hạn kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 nên ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của cây trồng, cây phòng hộ. Đến tháng 10 và tháng 11 có mưa liên tiếp, nhiều loài cây trồng còn sống sót phục hồi và phát triển rất nhanh Nếu được trồng bổ sung thì số cây đã chết, đồng thời trồng thêm cây mới sẽ tạo thành thảm thực vật mầu xanh phủ kín vùng cát này.
Tình hình kinh tế xã hội môi trường: Cảnh Dương là một xã vùng cát phía bắc huyện Quảng Trạch, cách đèo Ngang khoảng 20 km về phía nam, dân số toàn xã có gần 8000 người với 1750 hộ Số lao động chưa có việc làm chiếm trên 45% và tỉ lệ số hộ nghèo đói chiếm gần một nửa Nhà ở đa phần còn tạm bợ, có một số nhà siêu vẹo, cơ sở hạ tầng vừa yếu lại vừa thiếu, trường học và tạm y tế đều xuống cấp Với hoạt động sản xuất chủ yếu là khai thác hải sản, buôn bán nhỏ và nghề thủ công, không có sản xuất nông nghiệp, vì vậy cảnh quan sinh thái nghèo nàn, môi trường bị ô nhiễm, khí hậu thời tiết khắc nghiệt, khô hạn triền miên Hiện trạng chung của toàn xã là hệ thống cây xanh rất ít, nên về mùa nóng thì gió Lào khô nóng đưa cát bay vào nhà đã là những thách thức của thiên nhiên đối với người dân nơi đây phải thường xuyên đối mặt Hơn thế nữa các khu dân cư bố trí chưa hợp lý đã làm ảnh hưởng tới đời sống của người dân và phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Vì vậy cải tạo vùng cồn cát hoang hoá để dãn dân, phát triển sản xuất, nâng cao mức sống của nhân dân là việc làm cần thiết.
Với các đặc trưng đó mô hình phù hợp cho người dân ở đây là xây dựng mô hình kinh tế vườn nhà:
Vườn sinh thái là một dạng mô hinh kinh tế sinh thái vùng cát với quy mô nông hộ, trong đó đảm bảo các tính chất cơ bản như ổn định, năng suất, chống chịu và đa dạng Nhà ở gắn liền với đất canh tác để thuận lợi trong việc chăm sóc, bảo vệ cây trồng, vừa cung cấp thêm chất hữu cơ để cải tạo đất.
Thực tiễn cho thấy nơi nào có người ở thì ở nơi đó cây cỏ mọc lên tươi tốt Để phát triển kinh tế hộ gia đình thì áp dụng xây dựng mô hình vườn sinh thái là thích hộp nhất Nơi đây đất hẹp người đông nên diện tích xây dựng vườn bị hạn chế Mỗi vườn có diện tích không lớn, khoảng 500m 2 đến 700m 2 , thậm chí nhỏ hơn, khoảng trên 400m 2 với các yếu tố cấu thành giữ những chức năng nhất định;
+Giếng nước để phục vụ sinh hoạt và tưới cây.
+Chuồng trại để chăn nuôi và lấy phân bón.
+Trồng cây quanh nhà vừa tạo bóng mát vừa tăng thêm thu nhập.
+Trồng phi lao chung quanh khu đất và dọc các đường bở phân lô vừa có tác dụng phòng hộ, vừa lấy củi đun.
+Các cây nông nghiệp ngắn ngày trồng theo điều kiện đầu tư sản xuất của từng hộ.
Sau 3 năm xây dựng từ một bãi tha ma với cát bạc màu vàng, màu trắng đến nay đã trở thành một khu dân cư đông đúc với khuôn viên cây xanh mát về mùa nóng và ấm hơn về mùa lạnh.Tình trạng cát bay vào nhà cửa, vườn tược vào mùa gió Lào đã được hạn chế Quy hoạch nhà cửa, vườn tược thông thoáng, đường sá được mô mở mang, nâng cấp giúp người dân đi lại thuận tiện Nhìn chung, việc thiết kế và xây dựng mô hình rất hợp lý về không gian, ổn định và bền vững về môi trường, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực phục vụ người dân xoá đói giảm nghèo.
2.2 Làng sinh thái vùng ngập nước - Làng sinh thái Phú Điền, Nam Sách, Hải Dương.
Mục tiêu chủ yếu của việc xây dựng làng sinh thái trên vùng đất ngập nước là phục hồi thảm thực vật để tái lập sự cân bằng sinh thái cho vùng, với vùng ngập nước ngọt mô hình là độc canh cây lúa xen kẽ với đào ao nuôi cá và vườn cây, còn với vùng nước mặn thì xây dựng các rừng cây đước và xen kẽ nuôi tôm.
Sau khi nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội, các chuyên gia của viện kinh tế sinh thái đã gợi ý thiết kế xây dựng mô hình sản xuất lúa cá rau qủa trên chân ruộng trũng ở xã Phú Điền - Nam Sách –Hải Dương. Nhằm sử dụng có hiệu qủa những chân ruộng trũng và vụ lúa mùa thường bấp bênh, nay chuyển sang cấy lúa xuân kết hợp nuôi cá và trên bờ đất đắp cao trồng các loại rau mầu và cây ăn quả.
Vận dụng kinh nghiệm cảu một số địa phương nhất là kết quả của một số nơi thuộc ngoại thành Hà Nội, đồng thời thực nghiệm công thức liên canh kết hợp vườn cây, ao cá ruộng lúa nhằm mang lại hiệu quả kinh tế và sinh thái tốt hơn là cấy 2 vụ lúa 1 năm Để giúp đỡ các hộ gia đình nắm vững cách làm và vận dụng cụ thể vào hoàn cảnh của mình Viện kinh tế Sinh thái gợi ý thiết kế và hướng dẫn cách làm như sau.
Diện tích chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo mô hình này thường phải có quy mô từ 15000m 2 trở lên thì mới có hiệu quả, với chiều dài 50m chiều rộng
30 m thì cách đào đắp như sau :
+Đắp bờ làm vườn: chiều rộng chân bờ 3m, chiều rộng mặt bờ 2m và chiều cao bờ 1,5 m
+Đào mương lấy đất đắp bờ và tạo diện tích sâu để nuôi cá: Chiều rộng mặt mương 3m, chiều rộng đáy mương 2m, chiều sâu mương 1.5m
Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích để đánh giá hiệu quả kinh tế của làng sinh thái
1 Cơ sở cho sự lựa chon phương pháp
Một bệnh viện khác trong thành phố?
Một sân bay mới hay một đường băng khác ở nơi hiện có?
Một xa lộ ở vị trí X, hay Y?
Tăng nguồn điện từ dầu, than đá, gió hay từ nguồn năng lượng mặt trời?
Trong thực tế chúng ta thường xuyên phải đứng trước những sự lựa chọn như vậy Điều này là không thể tránh khỏi vì xã hội không bao giờ đủ nguồn lực để thực hiện tất cả các phương án sẵn có đó Sự lựa chọn giữa một số nguồn năng lượng để sản xuất thêm điện rõ ràng là một sự lựa chọn giữa các phương án cạnh tranh nhau Một quyết định giữa hai vị trí thay thế nhau để xây dựng một con đường cao tốc cũng liên quan đến những yếu tố cạnh tranh, và cũng đòi hỏi một sự đánh giá về sự lựa chọn tương đối Quyết định về việc có xây một bệnh viện ở một địa điểm cụ thể nào đó hay không cũng là một sự lựa chọn giữa các phương án mặc dù có thể lúc ban đầu không ai xem là ưu tiên số một Sự lựa chọn là giữa tình hình hiện nay không có bệnh viện và tình hình mới là có bệnh viện Vì vậy quyết định luôn luôn là những lựa chọn các phương án cạnh tranh nhau, thông qua phương pháp phân tích chi phí lợi ích sẽ cho chúng ta so sánh về lợi ích từ các phương án đã nêu và cũng thông qua đó cho phép chúng ta có một sự lựa chọn tối ưu nhất theo quan điểm của mối người.
Các nhà phân tích lợi ích chi phí quan tâm đến sự ưa thích tương đối của các phương án trong phạm vi xã hội rộng, và họ đánh giá sự ưa thích căn cứ vào lợi ích ròng tạo ra cho toàn xã hội Cơ sở kinh tế cho việc đánh giá này là khái niệm về trạng thái kinh tế tối ưu và nguyên tắc lựa chọn phương án để đạt được trạng thái tối ưu đó Cả hai cơ sở này đều xuất phát từ công trình củaPareto(1960) nhà xã hội học và kinh tế học người ý Các quy trình để áp dụng các ý tưởng cơ bản này được suy ra từ mô hình kinh tế về hành vi của cá nhân trong thị trường cạnh tranh Những nền tảng triết lý đặc trưng và mô hình chung cho các cách phân tích đã làm cho phân tích lợi ích chi phí trở thành một phương pháp lôgic và phù hợp để đánh gía sự mong muốn kinh tế Sự mong muốn của một phương án được thể hiện qua lợi ích vượt mức chi phí. Nhưng lợi ích và chi phí phải được nhận dạng và đánh giá về mặt xã hội như là tổng thể Kết quả tạo ra cho xã hội từ một phương án cụ thể có thể khác với kết quả của một hãng hay một cá nhân Hơn nữa quy mô của lợi ích ròng có thể khác nhau giữa hai quan điểm cá nhân và xã hội và quan điểm về xã hội bao giời cũng đem lại những lợi ích về lâu dài và thường khó định lượng hơn. Như vậy phân tích lợi ích chi phí luôn luôn giúp chúng ta có những quyết định, những lựa chọn tối ưu nhất.
2 Khái niệm và nội dung của phương pháp phân tích chi phí lợi ích (CBA)
Phân tích lợi ích chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội.
Phương pháp tìm ra sự đánh đổi giữa các lợi ích thực mà xã hội có được từ một phương án cụ thể với các nguồn tài nguyên thực mà xã hội phải từ bỏ để đạt được lợi ích đó Theo cách này đây là phương pháp ước tính sự đánh đổi thực giữa các phương án, và nhờ đó giúp cho xã hội đạt được những lựa chọn ưu tiên kinh tế của mình.
CBA là một chu trình nhằm so sánh mức độ chênh lệch giữa lợi ích và chi phí của một chương trình hay dự án biểu hiện băng giá trị tiền tệ ở mức độ thực tế.
Trong nền kinh tế xã hội, mọi hoạt động đầu tư đều phải được xem xét dưới hai góc độ: phía nhà đầu tư và phía xã hội.Công cụ phân tích chi phí lợi ích cho phép phân định và so sánh các chi phí và lợi ích xét trên góc độ cá nhân và xã hội đó là phân tích tài chính và phân tích kinh tế.
2.2 Nội dung cơ bản của phương pháp CBA.
2.2.1 Các bước tiến hành. Để tiến hành phương pháp phân tích chi phí lợi ích chúng ta phải qua các bước
Bước 1: Quyết định lợi ích và chi phí thuộc ai: trong phân tích CBA phải xác định đối tượng bỏ ra chi phí và đối tượng được lợi ích
Bước 2: lựa chọn các khả năng thay thế của dự án; tuỳ dự án mà có bước này hay không.
Bước 3: liệt kê các ảnh hưởng và các chỉ số đo lường.
Bước 4: Dự đoán về những khả năng biến đổi về lượng và ảnh hưởng của chúng suốt quá trình tồn tại của dự án
Bước 5: lượng hoá băng tiền.
Lượng hoá các ảnh hưởng do dự án đưa lại và chuyển hoá tất cả ra một mặt bằng giá trị là tiền Đây là bước quan trọng và khó khăn của phương pháp CBA bởi việc chuyển hoá các tác động ra mặt bằng giá trị tiền tệ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của người đánh giá.
Nếu gọi lợi ích mà dự án đưa lại cho kinh tế –xã hội và tài nguyên môi trường tại khu vực dự án năm đầu tiên là B0, năm thứ nhất là B1,Năm thứ hai là B 2 và năm thứ n là B n Tổng lợi ích dự án đưa lại là:
Hay tổng quát ta có
Trong đó : Bt là lợi ích tình bằng tiền ở năm thứ t t là thời gian hoạt động của dự án Nếu ta gọi chi phí hay thiệt hại mà dự án đưa lại năm đầu tiên là C0
,năm thứ nhất là C1 , năm thứ hai là C 2 ở năm thứ n là Cn thì tổng chi phí dự án thu lại là:
Trong đó : Ct là chi phí cho dự án hoạt động ở năm thứ t t : thời gian hoạt động của dự án Bước 6: Xác định tỷ lệ chiết khấu và hệ số chiết khấu
Khi tiến hành so sánh lợi ích và chi phí của dự án để phản ánh đúng bản chất của nó người ta đưa tất cả các giá trị lợi ích và chi phí về một thời điểm để so sánh Thời điểm đó so sánh thường tính là năm dự án bắt đầu hoạt động
Các giá trị lợi ích và chi phí đưa về thời điểm so sánh đó được gọi là giá trị hiện tại thực của lợi ích và chi phí dự án Thông thường đối với một khoản tiền nếu không đem đầu tư thì người ta đem gửi vào ngân hàng để thu được một khoản lãi Đồng tiền lúc thu lại phải bị chiết khấu một tỉ lệ nhất định.Tỉ lệ chiết khấu này thường được tính dựa vào lãi suất của ngân hàng ký hiệu là r tính bằng % Để biểu thị giá trị của chi phí và lợi ích qua thời gian khi qui về giá trị tại thời điểm hiện tại các lợi ích và chi phí phải nhân với hệ số chiết khấu
Bước 7 :Tính tổng lợi ích và chi phí.
Tổng chi phí mà dự án đem lại qui về hiện tại là:
Tổng lợi ích của dự án qui về hiện tại là:
2.2.2 Các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích chi phí - lợi ích.
Trong CBA các chỉ tiêu thường sử dụng để phân tích là:
Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng: NPV
Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại: IRR
Chỉ tiêu tỉ lệ lợi ích chi phí: BCR
Chỉ tiêu tỉ lệ chi phí lợi ích: CBR
Trong giới hạn của đề tài tôi sử dụng chỉ tiêu NPV để phân tích Công thức hay sử dụng nhất trong phân tích kinh tế là giá trị hiện tại ròng của một dự án Đại lượng này xác định giá trị lợi nhuận ròng hiện thời khi chiết khấu dòng lợi ích và chi phí trở về với năm bắt đầu thực hiện dự án Hai công thức được sử dụng
NPV=0 dự án có hiệu quả
NPV 0, xây dựng mô hình sử dụng nguồn vốn cho vay với lãi suất thấp có hiệu quả
4.2.Phân tích lợi ích chi phí với trường hợp có xét tới chi phí lao động. Đơn vị :triệu đồng
Nguồn: Tác giả tính toán.
Từ kết quả tính toán ở bảng trên ta có:
NPV có tính tới chi phí lao động là:
Xét trên góc độ xã hội thì đầu tư nguồn vốn vào xây dựng mô hình làng sinh thái có tính chi phí lao động không hiệu quả Qua đó cho thấy đối với việc xây dựng mô hình cần phải có sự phối hợp của cả người đầu tư và cả từ phía người dân thì việc xây dựng mô hình mới đem lại hiệu quả cao.
Tuy nhiên trong kết quả tính toán trên chưa lượng hoá được thành tiền những lợi ích và chi phí có tính xã hội như các lợi ích về giải quyết tình trạng thất nghiệp, lợi ích về cải thiện sức khoẻ cho người dân và các lợi ích về môi trường như chống sói mòn, điều hoà không khí từ việc trồng rừng,….Những lợi ích này mang tính chất lâu dài khó định lượng tuy nhiên nếu tính cả những lợi ích và chi phí chưa hạch toán được bằng tiền thì ta thu lại được lợi ích lớn hơn chi phí phải bỏ ra.
Bên cạnh những hiệu quả về môi trường dự án còn mang lại nhiều lợi ích lớn về xã hội mà lợi ích lớn nhất ở dự án này là việc người dân tộc Dao đã thoát khỏi cảnh phát nương làm rẫy, sống du canh du cư và đồng thời cũng như những phần trên ta đã nêu việc định canh định cư sẽ mang lại những lợi ích lớn đó là chống phá rừng, chống xói mòn Ngoài ra khi dự án được thực hiện việc thực hiện nếp sống vệ sinh, đồng thời thực hiện khám chữa bệnh và cung cấp các loại thuốc làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tử vong và tăng cường sức khoẻ Những lợi ích về mặt xã hội của dự án còn có thể kể đến việc tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp của người dân, tăng mức thu nhập đồng thời tác động đến việc thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn rất nhiều về cải thiện mức sống, cải thiện dinh dưỡng cho người dân tại khu vực Với thành công từ mô hình đem lại có thể mở ra một hướng đi mới cho các địa phương khác có điều kiện sinh thái khó khăn và do đó việc nghiên cứu để nhân rộng mô hình là điều cần làm để thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo tại các vùng nông thôn Có thể nói bên cạnh những lợi ích về kinh tế những lợi ích về xã hội mô hình đem lại rất lớn
Hiệu quả môi trường của mô hình đem lại
Mô hình làng sinh thái đem nhiều lợi ích đăc biệt là những tác động tích cực tới môi trường, như chống rửa trôi đất, chống sói mòn, tăng độ che phủ, cải thiện bầu không khí, cải thiện môi trường đất…Để nhận thức rõ hơn những tác động tới môi trường của việc xây dựng làng sinh thái ta sử dụng phương pháp Đánh giá hiệu quả môi trường theo phương pháp Ma trận giản đơn
Các hoạt động của dự án và nhân tố môi trường chịu sự tác động của các hoạt động gây nên là:
*Các hoạt động của dự án
+San lấp đất làm vườn bậc thang.
+Xây dựng chuồng trại, chăn nuôi, trạm xá.
*Các nhân tố môi trường:
+Sử dụng đất lân cận
+Cư trú của người dân.
Căn cứ vào các hoạt động của làng sinh thái bằng việc tác động đến các nhân tố môi trường gồm có hoạt động như san lấp làm vườn bậc thang, đào giếng, đào ao, chăn nuôi, trồng cây Nó ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến các thành phần môi trường như môi trường đất, môi trường không khí…để đánh giá hoạt động có liên quan đến môi trường ta có ma trận định lượng sau:
San lấp đất Đào ao thả cá
Trồng cây Đào giếng Xây dựng chuồng trại , trạm xá
Môi trường đất ++ Ks + Ks -
Sử dụng đất lân cận + + + 0 +
Cây xanh + 0 ++ 0 0 động vật + + + Ks +
Tăng diện tích rừng Ks Ks + 0 0
Ks : không dễ tác động
++ : Tác động rất tích cực.
Mô hình làng sinh thái trên vùng đất dộc đồi núi với đặc trưng vườn bậc thang rất thích hợp cho việc phát triển cây xanh nhằm mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc của đảng và nhà nước và nó có tác động tích cực tới môi trường.
Người dân không còn phá rừng nữa mà biết cách trồng rừng tăng diện tích phủ xanh của đất chống được nạn rửa trôi và suy thoái, bạc màu đất, áp dụng phương thức canh tác thâm canh cây trồng đã làm cho môi trường sinh thái ngày càng được cải thiện.
Bài học kinh nghiệm và những kiến nghị
Qua vịêc xây dựng làng sinh thái Người Dao cho ta thấy được những khó khăn tồn tại chung của làng sinh thái Người Dao Ba Vì nói riêng và các xã thuộc vùng nông thôn nói chung vấn đề tồn tại là cơ sở hạ tầng còn yếu kém vì thế muốn phát triển mô hình một cách toàn diện cần phải có sự đầu tư với cơ sở hạ tầng, và đối với viêc xây dựng làng kinh tế sinh thái hiện nay vấn đề lớn nhất vẫn là kinh phí để tổ chức và xây dựng làng cần phải tìm được nguồn vốn để giúp người dân xây dựng và phát triển mô hình.
Mô hình làng sinh thái Người Dao, Ba Vì được thực hiện trong vòng 5 năm nhưng đa cho thấy được ý nghĩa hết sức to lớn về kinh tế cũng như môi trường tại vùng đồi này Những gì đa làm được với mô hình cho chúng ta thấy nếu con người biết khai thác một cách hợp lý, có kế hoạch thì những vùng đồi trơ, những vùng đất cát, những vùng ngập nước đều có thể biến thành những vùng xanh tươi.
Những kết quả từ mô hình cho chúng ta thấy với những sự đầu tư không cần thiết phải là lớn nhưng nếu chúng ta biết tác động vào nhân tố con người biết khơi dậy những cố gắng của con người, và những tiềm năng sẵn có của tự nhiên giúp người dân hiểu được những kiến thức về môi trường, lao động, sinh thái và những phương pháp lao động đúng sẽ góp phần đưa tới thành công cho việc xây dựng mô hình tại các làng sinh thái khác nhau Việc xây dựng thành công mô hình đã góp phần mở ra một hướng mới trong việc vận động bà con người dân tộc định canh định cư, xoá bỏ những quan điểm những hủ tục lạc hậu hướng họ vào điều kiện sản xuất ổn định vấn đề này mang lại nhiều lợi ích về xã hội cũng như về môi trường Đối với những dự án xây dựng các làng sinh thái do điều kiện về vốn không lớn nên chúng cấn phải có sự hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương. Vấn đề quan trọng với sự thành công của mô hình làng sinh thái là cần phải có sự hợp tác chặt chễ giữa người dân và những nhà khoa học thì mới có thể thực hiện mô hình một cách thành công.
2 Những kiến nghị Đối với vùng đất nghèo và điều kiện thiều thốn như tại vùng đất đồi của người Dao cần phải gắn chặt mục tiêu cải thiện môi trường và phát triển kinh tế, cần phải gắn chặt việc cải thiện đời sống với việc nâng cao chất lượng môi trường và việc vận dụng mô hình làng sinh thái tại vùng này là một đáp án chính xác Là một mô hình được xây dựng với sự tài trợ về vốn nhưng những kết quả đạt được của mô hình là rất lớn và không thể phủ nhận vì vậy tôi xin đưa ra một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất: Mô hình làng sinh thái cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc cần có các chương trình hội thảo nghiên cứu có tính chất khoa học cao, có tính cơ sở lý luận nhằm có cái nhìn thật chính xác về vài trò và hiệu quả của mô hình các làng kinh tế sinh thái Từ đó nghiên cứu việc áp dụng hàng loạt tại các vùng có điều kiện tự nhiên, điều kiện môi trường khó khăn như vùng cồn cát ven biển, vùng đất ngập nước ngọt, nước mặn, vùng đồi núi trọc ….
Thứ hai: Nhà nước cần có chính sách khuyến khích mở rộng xây dựng mô hình làng sinh thái ra các vùng đồi núi trọc và các vùng sinh thái khó khăn khác như vùng cát ven biển, vùng ngập nước theo một số mô hình các làng sinh thái đã được xây dựng.
Cần khuyến khích các dự án các chương trình đầu tư tài trợ xây dựng các làng sinh thái, lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư trong một tỉnh, huyện, xã như vậy sẽ đạt được hiệu quả cao hơn bởi sự tập trung nguồn vốn và nhân lực.
Tăng chi ngân sách cho việc phát triển các vùng đồi núi của bà con người dân tộc và có sự hỗ trợ từ chính sách về phía nhà nước Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng cho các vùng nông thôn để tạo điều kiện, tạo động lực ban đầu cho việc phát triển nông thôn tại các vùng đồi miền núi nói chung và các vùng nông thôn khác nói riêng Nhà nước có chính sách vay vốn ưu đãi về lãi suất và thời gian hoàn trả vốn với các vùng đồi, vùng người dân tộc để tạo điều kiện cho họ có một số vốn để phát triển.
Thứ ba: Với việc xây dựng mô hình làng kinh tế sinh thái vấn đề quan trọng là nguồn vốn Chúng ta cần phải huy động được nguồn vốn từ tất cả các thành phần có thể liên quan đến việc xây dựng mô hình, đồng thời kêu gọi nguồn vốn từ chính phủ, các nguồn vốn cho vay dài hạn hay khoản viện trợ không hoàn lại từ các tổ chức quốc tế như :ADB, FDI, WB, FAO, SIDA, CCFD….đặc biệt nếu có thể nên huy động nguồn vốn trong dân.
Thứ tư : Về tổ chức quản lý hoạt động cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên có tham gia vào việc xây dựng các mô hình làng sinh thái Từ các cấp trung ương đến địa phương, từ cấp tỉnh huyện đến cấp xã đặc biệt cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa người dân với các cán bộ hướng dẫn thực hiện mô hình
Thứ năm : Về khoa học kỹ thuật, công nghệ Thực hiện lựa chọn giống cây trồng vật nuôi, lựa chọn mô hình xây dựng làng sinh thái thích hợp với điều kiện riêng, đặc điểm riêng của từng vùng Tăng cường mối liên kết giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học với địa phương trong việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào trồng trọt, chăn nuôi, chuyển giao các công nghệ chế biến, giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, ổn định Mở các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật cho người nông dân, nâng cao nhận thức, kiến thức trong sản xuất, tăng cường các hoạt động khuyến khích người đân tăng gia sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp …Đặc biệt với các vùng dân tộc ít người cần phải có các lớp học nâng cao khả năng, trình độ quản lý cho cán bộ chính quyền cấp cơ sở.
Thứ sáu: công tác thị trường, thông tin, dịch vụ, các cơ sở để chế biến nông lâm thuỷ sản và hàng hoá cần được củng cố và mở rộng phục vụ cho việc xuất khẩu các sản phẩm trong vùng ra các vùng bên ngoài nhằm nâng cao thu nhập cho người dân và đồng thời cũng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại địa phương.
Cuối cùng để phát triển sâu rộng hơn nữa mô hình làng sinh thái tại các vùng khác chúng ta cần thiết phải ngày càng hoàn thiện hơn nữa về thiết kế mô hình bằng các kinh nghiệm trong thực tiễn, bằng cách tham khảo, hợp tác chặt chẽ với các bên có liên quan trong nước và ngoài nước để học hỏi thêm nhiều vấn đề nhằm làm cho mô hình làng sinh thái ngày càng hoàn thiện và phát triển, ngày càng thu lại được nhiều những kết quả về kinh tế, xã hội, môi trường từ làng sinh thái.