Một số nguyên nhân tăng chỉ phí sản xuất Đối với một sản phẩm công nghiệp ở nước ta, hiện nay các nhà nghiên cứu kinh tế đều cho rằng có nhiều nguyên nhân làm gia tăng chỉ phí đầu vào, t
Trang 1NANG CAO TINH CANH TRANH VA
HUONG DAU TU PHAT TRIEN CAC
SAN PHAM THUOC CONG NGHIEP
HOA CHAT
HÀ NỘI - 2008
Trang 2
MỤC LỤC
Trang
L GIỚI THIỆU CHUNG
HỆ GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT, YẾU TỐ QUAN TRONG
NHAT DE TANG NANG LUC CANH TRANH
H.2 Một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ phí đầu vào
sản xuất
đốt)
11.2 3 Ảnh hưởng của chỉ phí vận tai
Trang 3Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp
Các giải pháp nâng cao NLCT của sản phẩm công
Ngành sản xuất sản phẩm phân đạm từ than
Ngành sản xuất sản phẩm supe lân
Ngành sản xuất sản phim PLNC
Ngành sản xuất sản phẩm phân NPK
Trang 4III.1.5 Ngành sản xuất sản phẩm cao su
HILI.7 Ngành sản xuất sản phẩm pin-ac quy
11.1.8 | Nganh sén xuat sén pham chat giat riva
I GIỚI THIỆU CHUNG
Chưa bao giờ mà chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế lại được đề cập nhiều như lúc này, không chỉ trên các phương tiện
thông tin đại chúng, các diễn đàn hội nghị của các cấp, các ngành, mà cả ở các hội
nghị của Chính phủ và tại các kỳ họp Quốc hội Một trong những vấn đề có tầm
quan trọng hàng đầu của chất lượng tăng trưởng, của hiệu quả sản xuất và sức
cạnh tranh của nền kinh tế là chỉ phí đầu vào Tỷ lệ chỉ phí trung gian so với giá trị
sản xuất đã gia tăng từ 47,8% năm 1999 lên 50,4% năm 2000; 51,6% nam 2001 va
Trang 552,1% năm 2002 và vẫn tiếp tục ở mức cao trong những năm gần đây Chỉ phí đầu vào sản xuất tăng sẽ đây giá thành sản phẩm tăng và hệ quả tất yếu là giá bán sản
phẩm phải tăng theo kéo theo giảm tính cạnh tranh của sản phẩm
Ngành Công nghiệp Hoá chất (CNHC) nước ta là một ngành được hình thành khá sớm, ngay từ thời ký kháng chiến chống Pháp và hiện là ngành công nghiệp đa ngành, đa chủng loại sản phẩm Nhìn chung, công nghệ và thiết bị sản xuất của CNHC nước ta hiện nay mới ở trình độ dưới trung bình của khu vực và thế giới;
giá trị của nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng và công lao động thường chiếm tỷ
lệ lớn trong giá thành sản phẩm xuất xưởng Hầu hết các sản phẩm của CNHC chủ
yếu vẫn tiêu thụ nội địa Tuy đã có một số loại sản phâm đã bắt đầu thâm nhập thị
trường quốc tế như lốp ô tô, ac quy, phân lân nung chảy, v.v , nhưng có thể nhận thấy những sản phẩm có khả năng xuất khẩu của CNHC nước ta đều là những loại
được sản xuất bằng công nghệ và thiết bị hiện đại, mới được nhập khâu từ các
nước tiên tiến (như lốp ô tô, ac quy, v.v ) hoặc các sản phẩm có liên quan đến ưu
thế tài nguyên (như phân lân nung chảy), hoặc các sản phẩm gia công đơn thuần trên cơ sở nguyên liệu nhập ngoại (các chất giặt rửa, thuốc bảo vệ thực vật, V.V )
Để sản phẩm của CNHC tự tin bước vào hội nhập kinh tế quốc tế, vẫn đề quan trọng là phải tăng sức cạnh tranh của sản phâm bằng những biện pháp đồng bộ Ngoài ra đối với mỗi doanh nghiệp và ngành hàng, việc xác định hướng đầu tư
phát triển cũng rat quan trong Tiềm lực của doanh nghiệp là hữu hạn nên xác định
đúng hướng cần đầu tư sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tập trung nguồn lực để
không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh và chính điều này có thê tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
Ở đây chỉ đề cập đến vấn đề liên quan đến giảm chỉ phí sản xuất dé nâng tính
Trang 6II GIAM CHI PHi SAN XUAT, YEU TO QUAN TRỌNG NHẤT
DE TANG NANG LUC CANH TRANH
II.1 Một số nguyên nhân tăng chỉ phí sản xuất
Đối với một sản phẩm công nghiệp ở nước ta, hiện nay các nhà nghiên cứu kinh tế đều cho rằng có nhiều nguyên nhân làm gia tăng chỉ phí đầu vào, trong đó
có thể tóm gọn vào 7 nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, sử dụng công nghệ cũ và lạc hậu Hiện tại, mặc dù công nghiệp
nước ta đã đạt được nhiều kết quả vượt trội, nhưng trình độ công nghệ nói chung
còn thấp Tỷ trọng doanh nghiệp công nghiệp của Việt Nam thuộc nhóm ngành
công nghệ cao chỉ đạt 20,6%, thấp hơn tỷ trọng tương ứng 29,1% của Philippin,
29,7% của Inđônêxia, 30,8% của Thái Lan, 51,1% của Malaixia, 73,0% của
Xingapo Công nghiệp Việt Nam thuộc nhóm trung bình thấp với tỷ lệ ngành công nghệ trung bình là 20,7%; còn ngành công nghệ thấp chiếm tới 58,7% , trong khi các ngành công nghệ thấp tương ứng ở Inđônêxia chiếm 47,7%, Philippin 45,7%,
Thái Lan 42,7%, Malaixia 24,3%, Xingapo 10,5% Trong các ngành công nghiệp,
thì ngành công nghiệp chế biến của Việt Nam có tỷ lệ công nghệ tiên tiến là thấp
nhất Cụ thể, công nghệ cao chỉ chiếm 15,7%, công nghệ thấp chiếm tới 52,8%,
còn lại là công nghệ trung bình Nếu tính theo giá trị gia tăng thì tỷ trọng công nghệ cao của công nghiệp nước ta còn thấp hơn nữa, vì phần lớn những ngành công nghệ cao lại chủ yếu là lắp ráp
Trang 7Trình độ kỹ thuật - công nghệ thấp chủ yếu do vốn sản xuất kinh doanh thấp
Năm 2004, mức trang bị tài sản cố định bình quân trên I lao động của các cơ sở
kinh tế cá thể ở nước ta chỉ có 8,6 triệu đồng, của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
chỉ có 36,6 triệu đồng, của doanh nghiệp Nhà nước cao hơn cũng chỉ có 132,1 triệu đồng, còn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao nhất, đạt 191,6
triệu đồng Hệ số đổi mới tài sản cố định hiện mới đạt 19%, thấp hơn so với mức
24 - 25% của mục tiêu đề ra
Thứ hai, tỷ lệ khấu hao tài sản cố định trong giá thành tăng lên, một mặt do
đầu tư vào thiết bị công nghệ mới, mặt khác do tăng tỷ lệ trích khấu hao dé thu hồi
vốn nhanh
Việc lãng phí và thất thoát lớn trong đầu tư xây dựng và trong sản xuất, làm cho giá thành công trình vống lên không đúng thực chất, cũng góp phần làm gia tăng khấu hao
Ngoài ra không ít doanh nghiệp còn chủ động khai tăng chỉ phí đầu vào để gian lận thuế
Thứ ba, giá nhà đất tăng và đang ở mức rất cao, làm cho chỉ phí đầu tư xây
dựng, chỉ phí thuê trụ sở, địa điểm sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng chỉ phí sản xuất của các doanh nghiệp, làm cho giá cả sản phẩm vật chất và
dịch vụ dâng cao
Thứ tư, giá của nhiều chủng loại nguyên, nhiên vật liệu đầu vào là hàng nhập khẩu giá cao, với cước phí vận tải quốc tế tăng Ngay trong 3 tháng đầu của
năm 2008, chi phi đầu vào sản xuất tăng đột biến so với cùng kỳ năm 2007: giá
xăng dầu tăng trên 50% làm tăng chỉ phí vận tải; giá sắt thép tăng gần gấp đôi làm
Trang 8chất dẻo cũng tăng làm tăng chỉ phí bao bì, v.v Trong tất cả các ngành sản xuất
công nghiệp, ngay trong những tháng đầu năm 2008, giá các nguyên liệu nhựa, bông và sợi dệt, gỗ, sơn keo, v.v đều tăng mạnh làm tăng chi phí về nguyên liệu
trong các ngành hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu USD Trong CNHC, giá phân bón và nguyên liệu sản xuất phân bón cũng tăng quá cao, có nhiều loại đã tăng giá
1,5- 2 lần so với cùng kỳ năm 2007 như: DAP tăng gấp đôi lên trên 1000 USD/tấn;
giá urê, kali, SA cũng tăng 1,5 lần so với cùng kỳ năm trước Riêng giá lưu huỳnh hiện tại tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2007 và so với thời kỳ 2002-2003 thì tăng lên đến 6 lần Chỉ một số mặt hàng trên đã làm mức đầu vào sản xuất tăng gan | ti USD, chiếm khoảng 5% tổng kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm
2008
Ngoài ra nhiều doanh nghiệp ở nhiều ngành kinh tế còn thay đổi chủng loại
nguyên vật liệu, mua nguyên liệu có chất lượng cao hơn, có giá trị lớn hơn để phù
hợp với thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu, để tăng tính cạnh tranh và đây
cũng là một yếu tố làm tăng thêm chỉ phí đầu vào sản xuất
Thứ năm, việc tăng giá điện, giá xăng dầu, than, cước phí vận chuyển, lãi
suất ngân hàng, tăng lương cho người lao động theo quy định về mức lương tối thiêu, v.v đã trực tiếp tác động đến chỉ phí sản xuất
Thứ sáu, việc gia tăng các chỉ phí liên quan đến bảo vệ môi trường, bao
gồm chỉ phí đi chuyển nhà máy, chi phí xử lý chất thải cũng là yếu tố làm tăng thêm chỉ phí sản xuất
Thứ bảy, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước, còn phải
chịu gánh nặng nhiệm vụ xã hội như các khoản đóng góp cho chính sách xã hội,
cứu trợ thiên tai bão lụt, trách nhiệm xây dựng địa bàn cơ sở, v.v Các khoản
Trang 9đóng góp này đáng lẽ được trích từ quỹ phúc lợi của doanh nghiệp, nhưng ở một
số doanh nghiệp do quỹ còn nhỏ bé so với nhu cầu phúc lợi của bản thân doanh
nghiệp, nên doanh nghiệp đã tìm cách đưa chi phi này vào chi phí sản xuất, làm
cho giá thành sản phẩm bị dâng cao
Trên đây là một số nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng chỉ phí đầu vào sản xuất của các sản phâm công nghiệp ở nước ta Cũng vì thế mà giá bán sản phẩm
trong nước thường cao hơn so với giá sản phẩm cùng loại trên thị trường quốc tế
Ví dụ so với giá nhập khau (CIF) thì giá xi măng sản xuất trong nước bằng 115%, giấy 127%, phân urê 131%, xút 163%, phôi thép 125%, đường 140% so với giá quốc tế; giá điện bán cho công ty nước ngoài, cước vận tải biển, cước phí thực tế
về điện thoại quốc tế của nước ta cũng vẫn cao hơn hầu hết các nước trong khu vực và thường cao gấp 2 - 3 lần nước có mức giá trung bình Xếp hạng năng lực
cạnh tranh quốc gia của Việt Nam theo Diễn đàn kinh tế thế giới thuộc loại thấp,
kém ổn định và chậm được cải thiện
CNHC nước ta hiện nay cũng có nhiều đặc điểm tương tự với các ngành sản xuất công nghiệp nói chung như đã trình bày ở trên, trong đó có thể thấy rõ một số nguyên nhân làm tăng chỉ phí đầu vào sản xuất của CNHC như sau:
1 Giá của tất cả các loại nguyên, nhiên liệu và năng lượng đầu vào, bất kế
cả là hàng nhập khâu hoặc cung cấp trong nước, đều tăng cao Đây là nguyên nhân
chính dẫn đến làm tăng chỉ chí sản xuất của hầu hết các đơn vị thuộc CNHC Ví
dụ so với cách đây 1 năm giá lưu huỳnh cho sản xuất axit sunfuric, giá DAP, urê, kali làm nguyên liệu cho sản xuất phân bón đều tăng mạnh như đã nêu ở trên; giá chì cho sản xuất acquy cũng tăng 3 lần trong cùng thời kỳ Giá xăng dầu trong nước trong thời gian gần đây cũng tăng mạnh theo giá dầu mỏ thế giới (khoảng
gần 3 lần trong thời kỳ 2003-2008), Giá điện cho sản xuất, giá than đá cho sản
Trang 10xuất phân bón tuy được Chính phủ chỉ đạo nhưng cũng đã tăng nhiều đợt và tới đây sẽ tiếp tục tăng nữa
2 Nhiều dây chuyến sản xuất vẫn sử dụng công nghệ và thiết bị cũ, lạc hậu, khiến tỷ lệ sử dụng nhân công cao, hiệu suất sử dụng năng lượng thấp Có một số
dây chuyền sản xuất được đầu tư thêm thiết bị nhưng vẫn trong tình trạng chắp vá hoặc không đồng bộ Có một số dây chuyền được đầu tư mới hoàn toàn với công
và thiết bị tiên tiến nhưng thường lại hạn chế về công suất sản xuất, không tận
dụng ưu thế về quy mô sản xuất để giảm giá thành Từ trình độ công nghệ và thiết
bị thấp lại thường đi đôi với chất lượng sản phẩm thấp, kém sức cạnh tranh, giá bán thấp kéo theo hiệu quả sản xuất thấp
Sở dĩ có hiện tượng này là do hầu hết các cơ sở thuộc CNHC đều khó khăn
về vốn đầu tư Hiện tại, tổng tài sản bình quân trên 1 lao động của nhiều đoanh
nghiệp trong ngành là thấp và giá trị về trang thiết bị bình quân trên 1 lao động càng rất thấp Một số doanh nghiệp có dây chuyền đầu tư mới cũng chỉ có mức
đầu tư cố định vài trăm triệu đồng/ lao động Đối với các doanh nghiệp lớn có
đông lao động như công ty Supephôtphát và Hoá chất Lâm Thao, Cổ phần Công
nghiệp cao su miền Nam, TNHH một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc,
TNHH một thành viên Apatit Việt Nam, v.v thì mức bình quân về đầu tư trang thiết bị càng thấp
Tổng công ty Hoá chất Việt Nam (VINACHEM) là một tổng công Nhà
nước lớn, đại diện cho ngành Công nghiệp Hóa chất nước ta, nhưng cũng đang phải đương đầu với tình trạng thiếu vốn đầu tư trong khi thiết bị sản xuất còn lạc hậu và thiếu đồng bộ (Bảng 1) Tuy trong những năm gần đây, tất cả các doanh nghiệp trong Tổng Công ty đều có các dự án đầu tư chiều sâu, nâng cấp thiết bị
Trang 11sản xuất, nhưng nhìn chung tỷ lệ đôi mới tài sản cố định (trong đó có thiết bị) vẫn thấp hơn so với mục tiêu đề ra
Bảng I : Mic đầu tư cô định của một số doanh nghiệp lớn của VINACHEM năm
STT| Tên doanh nghiệp, | Giá trị Giá tri số lượng | Bình = quan
ngành nghề chính thiét bi |lao động |giá trị thiết
nghiệp đồng) (tr d/ngwoi)
(triệu đồng)
Trang 12
Công ty Phân lân nung
chảy Văn Điển (sản xuất
thành viên Hoá chất Cơ
bản miền Nam (sản xuất
Trang 13tuyên quặng apatit)
Công ty CP Bột giặt LIX
( sản xuất chất giặt rửa)
miền Nam (sản xuất pin
Trang 14dây chuyền sản xuất không tận dụng triệt để được sản phẩm phụ, chất thải và năng
lượng thải nên rất lãng phí, giá thành sản xuất càng cao, đồng thời còn có thê gây
ra ô nhiễm môi trường
4 Vốn lưu động của các doanh nghiệp trong ngành đều rất thấp so với doanh thu, có doanh nghiệp vốn lưu động chỉ bằng một vài phần trăm tổng doanh thu trong năm, vì vậy ngoài khó khăn về nguồn vay vốn, thì lãi suất vốn vay cũng
là một yếu tố góp phần tăng chi phi đầu vào sản xuất Ngoài ra, nhiều sản phân của
CNHC được tiêu thụ theo phương thức đại lý và trả chậm (nhất là các loại phân
bón, săm lốp, v.v ) vì thế ảnh hưởng của việc thiếu vốn càng trằm trọng
5 Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định trong giá thành sản phẩm đối với các day
chuyển đã hết khấu hao thường thấp, nhưng đối với các dây chuyền mới đầu tư thường khá cao Lý do được đưa ra là do sức ép cần tăng ty lệ trích khấu hao để
nhanh thu hồi vốn nhằm sớm đổi mới máy móc thiết bị hoặc đầu tư thêm thiết bị
mới
Trang 156 Gia tăng các chi phi liên quan đến bảo vệ môi trường, bao gồm chỉ phí di chuyển nhà máy, chi phí xử lý chất thải tại nhiều doanh nghiệp trong ngành Đặc
biệt trong thời gian qua, các công ty như Supephôtphat và Hoá chất Lâm Thao,
Phân bón Bình Điền, Phân bón miền Nam, Hoá chất cơ bản miền Nam, Hơi Kỹ nghệ- Que hàn, v.v đã phải chi phí rất lớn để thực hiện chuyên đổi công nghệ sản
xuất, di chuyển cơ sở sản xuất hoặc xử lý môi trường
7 Tất cả các doanh nghiệp trong ngành, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước còn phải có nghĩa vụ xã hội như các khoản đóng góp cho chính sách xã hội, cứu trợ thiên tai bão lụt, trách nhiệm góp phần xây dựng địa phương, v.v Các khoản đóng góp này được lấy từ quỹ phúc lợi, nhưng suy cho cùng, thì cũng là từ sản xuất nên vẫn góp phần làm cho giá thành sản phẩm bị dâng cao
1I.2 một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ phí đầu vào sản xuất
Trong sản xuất công nghiệp, chỉ phí đầu vào sản xuất bao gồm nhiều yếu tố
Trong đó có các yếu tố tương đối “tĩnh” như khấu hao thiết bị, hạ tầng (liên quan
đến vốn đầu tư ) và các yếu tố “động” như chỉ phí về nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng và chỉ phí tiền công lao động, thuế, công tác thị trường (liên quan đến sự
vận động của vốn lưu động)
Ngoài ra các doanh nghiệp còn có những khoản chi phí khác như chi phí cho
áp dụng tiêu chuẩn, bản quyền, môi trường và thực hiện các công tác xã hội, v.v
Trang 16Tuy nhiên việc phân chia như trên chỉ mang tính tương đối vì tuỳ theo điều kiện sản xuất kinh doanh của từng sản phẩm và trong từng giai đoạn cụ thể mà tác động của một số yếu tố nào đó sẽ nỗi trội hơn
Ở đây chúng tôi chỉ xem xét đến tác động của một số yếu tố như giá nguyên
liệu, nhiên liệu và năng lượng và cước phí vận tải đối với chi phi đầu vào của sản
phẩm Vì các yếu tố này là những yếu tố quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và tính hiệu quả của một đây chuyền sản xuất, nhất là đối với các ngành công nghiệp sử
dụng nhiều năng lượng (sản xuất xi măng, thép, hóa chất, V.V ), giá sản phẩm thấp (sản xuất phân bón, xi măng) hoặc có tỷ trọng về giá nguyên liệu cao trong
giá thành sản phẩm (sản xuất giấy, một số hóa chất cơ bản, phân bón, ac quy, chất giặt rửa, săm lp cao su, v.v )
HII.2.1 Ảnh hưởng của giá điện
Điện là một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của nhiều lĩnh vực công nghiệp vi dạng năng lượng này tạo nguồn động lực trong hầu hết
các hoạt động của cơ sở sản xuất Điện có vai trò trong các hoạt động sau đây của một cơ sở sản xuất công nghiệp: phát động và vận hành các hoạt động cơ học của
các dây chuyền sản xuất, chiếu sáng, thông gió và đảm bảo môi trường sản xuất,
đo lường và kiểm soát hoạt động của các thiết bị và dây chuyền sản xuất, phục vụ sinh hoạt của người lao động, v.v
Tuỳ theo từng ngành công nghiệp mà chi phí chung về điện có thê rất khác
nhau trong giá thành sản phâm
Trang 17Thực tế trong thời gian qua, sự thay đổi (tăng) giá điện đã khiến hầu hết các
ngành sản xuất nước ta bị ảnh hưởng Giá nhiều sản phẩm công nghiệp tăng
Chúng ta đã biết, theo phương án giá điện bình quân tăng lên 842 đồng/kWh
(cao hơn 7,6% so với trước đó) và các ngành sản xuất đặc thù như luyện thép, sản xuất nước sạch, phân urê, hóa chất đã không được trợ giá điện từ 1/1/2007 Khi
đó các doanh nghiệp sử dụng nhiều điện thuộc các ngành sản xuất trên đã phải xem xét ngay tác động của tăng giá điện tới lĩnh vực sản xuất của mình
Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả Ngô Trí Long, việc tăng giá điện trong thời kỳ đó đã dẫn đến việc tăng giá thành sản xuất của nhiều mặt hàng thiết yếu như xi măng, sắt thép, phân bón, hóa chất, v.v Tuy nhiên, việc tăng giá sẽ tùy thuộc vào đặc thù của từng loại sản phâm do tỉ lệ sử dụng khác nhau về điện năng trong sản xuất
Để làm rõ tác động của giá điện đối với sản xuất công nghiệp ở nước ta, ở đây xin nêu một vài trường hợp điển hình có liên quan nhiều đến chỉ phí về điện
Sản xuất thép :
Ông Phạm Chí Cường - Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, trước đây
sản xuất phôi thép được hưởng giá điện ưu đãi, nhưng từ 1/1/2007 không còn nữa Theo quy định của ngành Điện, giá điện dành cho sản xuất tăng 20% vào giờ cao
điểm Điều này sẽ có tác động nhiều đến sản xuất phôi thép Lý do là phôi thép phải nấu luyện liên tục, không thê chỉ làm vào giờ thấp điểm và ngừng vào giờ cao
điểm, vi vậy khi giá điện tăng thi chi phí cho giá thành phôi cũng tăng theo, theo
đó giá thép cũng tăng
Trang 18Theo tính toán của Hiệp hội Thép Việt Nam, các doanh nghiệp đang tiêu thụ bình quân 700 kWh điện cho 1 tấn phôi Như vậy với giá mới, chỉ phí điện trong
giá thành sẽ tăng khoảng 100 nghìn đồng/ tấn phôi Năm 2007 các doanh nghiệp sản xuất 1,§ triệu tấn phôi, như vậy chỉ phí tiền điện cho riêng phôi thép sẽ tăng
thêm khoảng 180 tỷ đồng Ngoài ra ở khâu cán thép, chỉ phí về điện cũng tăng
thêm 10 nghìn đồng/tấn Năm 2007 ngành thép cũng dự kiến cán 4 triệu tấn thép, chi phí về điện sẽ tăng thêm 40 tỷ đồng Tổng cộng, ngành thép sẽ phải chỉ thêm
220 tỷ đồng tiền điện
Sản xuất xi măng và gốm xây dựng :
Đối với sản xuất xi măng, chỉ phí về điện cũng lớn Theo tính toán của Tổng
công ty Xi măng Việt Nam, để sản xuất 1 tấn xi măng, ngoài tiêu hao về than đốt
lò, còn cần phải tiêu hao hết 120 kWh điện Năm 2007 với sản lượng xi măng của
toàn Tổng Công ty là 14 triệu tấn, do giá điện tăng 20% vào giờ cao điểm nên mỗi tấn xi măng phải chỉ phí thêm hơn 10 nghìn đồng tiền điện và sẽ ting chi phí sản xuất lên trên 100 tỉ đồng so với trước đó
Ông Trần Đình Thê - Chủ tịch Hội đồng quán trị Tổng công ty Thuỷ tinh và Gốm xây dựng cho biết, năm 2006, Tổng Công ty này đã sử dụng hết 128,9 triệu kWh điện với giá bình quân 881 đồng/kWh Tổng chỉ phí cho điện hết 114 ty
đồng, chiếm khoảng 5% chỉ phí sản xuất Năm 2007, Tổng công ty sử dụng hết
140 triệu kWh điện Với mức tăng giá điện vào giờ cao điểm là 20%, chỉ phí cho
phần tăng này năm 2007 của Tổng Công ty đã tăng thêm 3% so với trước
Sản xuất của một số ngành trong CNHC:
Ngoài những vai trò quan trọng tương tự như trong các ngành sản xuất công
nghiệp khác, trong một số lĩnh vực sản xuất thuộc CNHC, năng lượng điện có vai
Trang 19trò đặc thù và không thê thay thế được bằng các dạng năng lượng khác, chẳng hạn: tạo các phản ứng điện hoá trong sản xuất theo phương pháp điện phân như sản xuất xút-clo, sản xuất một số hóa chất theo phương pháp oxyhóa khử bằng dòng
điên, hoá thành acquy, v.v , hoặc tạo chế độ nhiệt chính xác và linh hoạt cho các thùng phản ứng, v.v Giá điện tăng sẽ trực tiếp nâng cao giá thành sản xuất đối
với các sản phẩm trong ngành, đặc biệt đối với những sản phẩm thuộc các ngành cần dùng nhiều điện và có tỷ trọng về giá điện lớn trong giá thành sản phẩm
Trong năm 2007, VINACHEM đã nhiều lần họp để xem xét tác động của giá điện lên sản xuất Một số sản phẩm của Tổng Công ty như sản xuất xút - clo, phốt pho vàng, đất đèn, acquy, phân bón, v.v sử dụng nhiều điện và tỷ trọng giá điện trong chỉ phí đầu vào khá cao Thực tế cho thấy có những trường hợp chỉ cần thay
đổi không nhiều về giá điện, sản xuất đã có thể từ lãi thành lỗ
Cũng tương tự như ở ngành Thép, khi sản xuất một số sản phẩm thuộc CNHC, dây chuyền sản xuất phải chạy liên tục không kế giờ cao điểm hay thấp điểm về cấp điện, ví dụ sản xuất xúf-clo, phân lân nung chảy, đất đèn, phốt pho vàng, v.v Vì vậy không thể tránh được giá điện cao vào giờ cao điểm Mặt khác khi giá điện tăng thì các nhà cung cấp nguyên liệu cũng tăng giá bán do chính họ
cũng bị ảnh hưởng của việc tăng giá điện Như vậy là một số sản phẩm của CNHC
bị hai hoặc nhiều tang tăng giá về điện chứ không phải một tầng Tại đây chỉ nêu
lên một vài ngành hàng tiêu biểu của CNHC bị tác động trực tiếp của giá điện
Phân bón là một trong những ngành sản xuất chịu sức ép cao từ việc tăng giá điện Theo tính toán của một số nhà sản xuất trong ngành, nếu giá điện tăng thêm trung bình 7,6% sẽ khiến đầu vào sản xuất phân bón tăng khoảng 8-9 % hoặc hơn,
có lẽ do chịu 2 tầng tăng giá về năng lượng như đã trình bày Chẳng hạn, trong
Trang 20năm 2007 giá điện tăng 20% vào giờ cao điêm đã làm tăng đầu vào sản xuất phân bón khoảng 10% riêng vì giá điện tăng
Các cơ sở sản xuất xút-clo, sản xuất ac quy là những cơ sở sản xuất “nhạy
cảm” nhất đối việc tăng giá điện
Trong công nghệ điện phân xút-clo, trung bình chi phí điện năng cho khâu điện phân/ tấn xút (quy khô) theo công nghệ thùng điện phân diaphram là 2700 kWh, còn theo công nghệ thùng điện phân màng trao đôi ion (membrane) là 2000-
2400 kWh Tại nhiều cơ sở sản xuất hoá chất ở Việt Nam hiện nay, do được đầu tư
nâng cấp thùng điện phân, nên tiêu hao điện trong quá trình điện phân không vượt
quá 2450-2550 kWh/ tắn xút đối với loại thùng điện phân diaphram, còn đối với
loại thùng điện phân membrane thì tiêu hao điện năng thấp hơn một chút Tuy nhiên nếu cộng cả phần điện tiêu hao cho các hoạt động khác trong dây chuyền
sản xuất thì chỉ phí về giá điện có thê chiếm trên dưới 30 % giá thành sản xuất sản
phâm xút Khi giá điện tăng bình quân 7,6 % thì đương nhiên giá thành sản phẩm xút cũng phải tăng gần 2,5% tương ứng riêng vì tiền điện tăng
Với các công nghệ sản xuất phôt pho vàng, đất đèn và các dẫn xuất từ đất
đèn (axetylen, muội axêtylen) và một số sản phẩm khác thuộc CNHC cũng có các
kết quả tính toán tương tự về sự phụ thuộc của giá thành sản phẩm vào giá điện
II.2.2 Ảnh hưởng của giá nhiên liệu (than, xăng dầu va khi dot)
Hiện tại, trong nhiều ngành công nghiệp ở nước ta, mức sử dụng nhiên liệu
(than, dầu, khí tự nhiên, v.v ) vẫn khá lớn nên giá nhiên liệu đã ảnh hưởng trực
tiếp đến giá thành sản phẩm của các ngành này
Trang 21Than là nhiên liệu vô cùng quan trọng đối một số loại hình sản xuất công
nghiệp, đặc biệt là đối với những loại hình sản xuất cần nhiều năng lượng nhiệt
như luyện kim, phát nhiệt điện, sản xuất xi măng và gốm xây dựng, v.v Than sử dụng trong công nghiệp gồm nhiều loại như than cốc, than đá, v.v , mỗi loại than
lại được chia ra nhiều chủng loại và cỡ hạt có giá và ứng dụng khác nhau
Về than cốc, do thiếu nguồn nguyên liệu than mỡ cho công nghiệp than cốc, nên nước ta chỉ có công nghệ sản xuất than cốc rất nhỏ bé thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam Cũng vì vậy phần lớn lượng than cốc sử dụng trong nước đều
phải nhập khẩu, chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc, vì vậy giá than cốc ở Việt
Nam đất hơn nhiều loại than khác và phụ thuộc vào nguồn nhập khâu
Về than đá, nước ta tương đối sẵn Chất lượng than đá nước ta đã được đưa
vào tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), theo đó người sử dụng có thể dễ dàng lựa chọn
Thậm chí một số hộ sử dụng còn lựa chọn than theo cả xuất xứ của mỏ than Than
đá ở nước ta chủ yếu là loại than gầy (antraxit) và than ở vùng mỏ than Đông Bắc
(Uông Bí, Vàng Danh, v.v ) là các loại than tốt nhất do có nhiệt trị cao và hàm
lượng xi, lưu huỳnh thấp Một số mỏ than nội địa (ngoài vùng than Đông Bắc)
cũng có chất lượng tốt nhưng cũng có một số loại có hàm lượng lưu huỳnh cao
(trên 3%) hoặc hàm hượng xỉ cao (trên 20%)
Mỗi một công nghệ hoặc dây chuyền sản xuất lại đòi hỏi sử dụng một loại than khác nhau Hiện tại ở nước ta giá các loại than tương đối khác nhau, và nhìn
chung giá các loại than có cỡ hạt lớn trên 25 mm (than cục) có giá cao hơn gấp đôi
than cỡ hạt nhỏ (than cám) cùng loại Vì vậy công nghệ nào sử dụng được than
cám sẽ có nhiều khả năng cạnh tranh hơn so với công nghệ phải sử dụng than cục
Trang 22Đề giảm chi phi về than, trên thế giới người ta có xu hướng nghiên cứu các
dây chuyền công nghệ sử dụng được các loại than cám giá rẻ, hạn chế sử dụng than cục giá cao hoặc nghiên cứu đóng bánh than từ than cám cho các dây chuyền
bắt buộc phải sử dụng than cục
Ngoài ra tại nhiều dây chuyền sản xuất quy mô lớn, người ta sử dụng công
nghệ khí hóa than, chuyên than đá thành khí tổng hợp (syngas) Syngas (chứa CO
và H;) được sử dụng làm nhiên liệu (để phát điện, tạo hơi ), hoặc trở thành nguyên liệu cho tổng hợp hóa học (sản xuất phân đạm, metanol và một số hóa chất
khác) Phương pháp khí hóa cho phép sử dụng linh hoạt năng lượng từ than và trong một số trường hợp còn thu được tỷ suất năng lượng cao hơn so với sử dụng
năng lượng nhiệt từ đốt than trực tiếp và góp phần hạ giá sử dụng than
Trong vài thập kỷ gần đây, việc dùng xăng dầu và các loại khí tự nhiên làm
nguồn phát năng lượng cho hoạt động sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và đây than vào vị trí thứ yếu Tuy nhiên do gần đây
giá dầu mỏ ngày càng tăng (đầu năm 2008 có lúc đã đạt mức trên 120 USD/thùng)
nên than đá đang được quan tâm trở lại và giá than cũng đang tăng mạnh trên thị
trường thế giới
Các nhiên liệu có nguồn gốc dầu mỏ hiện vẫn là nguồn nhiên liệu quan trọng nhất trong sản xuất công nghiệp và đời sống của thế giới Nước ta là nước
xuất khâu đầu mỏ nhưng do chưa có công nghiệp lọc dầu nên vẫn phải nhập mỗi
năm hàng chục triệu tấn xăng dầu Ngoài ra ở nước ta còn phải nhập khâu thêm khí hóa lỏng từ các nước trong khu vực do nguồn cung trong nước còn hạn chế
Nhìn chung, các loại nhiên liệu (than, sản phẩm dầu khí) có vai trò trong các
hoạt động sau đây của một cơ sở sản xuất công nghiệp: tạo ra năng lượng nhiệt và
Trang 23nhiệt độ cần thiết cho các quá trình sản xuất (gia công, xử lý vật liệu) và các quá
trình xử lý nhiệt thường được tiến hành trong các thiết bị đặc biệt (các loại lò nung, lò sấy, thùng phản ứng, v.v ; tạo ra năng lượng cơ học để phát động và vận
hành các hoạt động cơ học của các dây chuyền sản xuất và quá trình này phải thông qua các quá trình chuyển hoá nhiệt-cơ có sử dụng nồi hơi hoặc không sử
dụng nổi hơi (động cơ đốt trong, dong co diezen, v.v ).; phục vụ sinh hoạt của người lao động (tạo nước nóng, hệ thống sưởi hơi ở các xứ lạnh, v.v )
Cũng như đối với năng lượng điện, tuỳ theo từng ngành công nghiệp cụ thể
mà chỉ phí chung về nhiên liệu có thể rất khác nhau trong giá thành sản phẩm
Việc tăng giá than, dầu mỏ, khí đốt sẽ trực tiếp đánh vào giá thành sản xuất đối với
sản xuất công nghiệp nói chung và nhất là đối với các ngành sản xuất cần dùng
nhiều nhiên liệu, hoặc có tỷ trọng về chỉ phí nhiên liệu cao trong giá thành sản
phẩm như các ngành Điện, Xi măng, Thép, Phân bón và Hóa chất, v.v
Sau đây chúng ta chỉ xem xét ảnh hưởng của giá nhiên liệu đối với một số ngành có sử dụng nhiều than đá ở nước ta Còn ảnh hưởng của giá xăng dầu
thường lại liên quan đến chỉ phí vận tải
Sản xuất thép:
Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, đối với sản xuất thép, với mức tăng giá bán than theo kế hoạch trong năm 2007, giá thành của thép thành phâm đã tăng 0,6- 1,0% chưa kế các nguyên nhân tăng chỉ phí đầu vào khác (như giá phôi thép tăng)
Đối với sản xuất từ phôi thép có nguồn gốc trong nước, thì trong giá phôi thép cũng có phần tăng giá của than nên thực tế thép thành phẩm sản xuất trong nước cũng phải chịu tác động kép của việc tăng giá than
Trang 24Thực tế trong thời gian gần đây, giá thép trong nước đã tăng đột biến từ dưới
10 triệu đồng/tấn vào cuối năm 2006 đã lên gần 15 triệu đồng/ tắn vào giữa năm
2007 và nhảy lên gần 19 triệu đồng/tắn vào đầu năm 2008 Trong sự tăng giá thép
có yếu tố tăng do giá than tăng khá rõ ràng
Sản xuất xi măng:
Theo tin từ Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Than- Khoáng sản Việt Nam), giá than cho sản xuất xi măng đã chính thức được Tổng Công ty
này tăng giá kể từ 1/1/2005 Đây là đợt tăng giá nằm trong chủ trương nâng giá
than bán cho 4 hộ tiêu thụ lớn trong nước như Xi măng, Điện, Phân bón, Giấy
Trong đợt này, giá than bán cho ngành sản xuất xi măng và các ngành khác có
mức tăng đề xuất là 20% Sau khi tăng giá than, nhiều bài báo và ý kiến xã hội đã cho rằng đây là những lý do cơ bản khiến việc tăng giá hàng hóa vào năm 2007
Trước tình hình giá than tăng, Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, một khách hàng lớn của Tổng Công ty Than, đã chịu sức ép rất lớn
Lý đo là theo tính toán của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, loại than chủ yếu mà các nhà máy của ngành sử dụng là than cám 3b Hòn Gai Loại than này đã
tăng thêm tăng tới 17,7% (65,5 nghìn đồng/tấn) so với mức giá năm 2004 (369,5 nghìn đồng/tấn) Đây là đợt tăng giá than cao nhất tới thời điểm đó Theo giá than mới thì giá thành của xi măng sản xuất thời gian đó sẽ tăng thêm 9.700 đồng/tấn,
tức là khoảng 1,5% Theo Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, chỉ phí riêng về than dùng làm nhiên liệu cho sản xuất xỉ măng năm 2005 so với năm 2004 tăng thêm
90 tỷ đồng
Hiệp hội Xi măng Việt Nam nhận định, ngành Xi măng đã gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện các phương án điều chỉnh giá than và điện, hai nguồn đầu vào
Trang 25quan trọng nhất trong sản xuất xi măng Một tính toán khác của ngành Xi măng
cho biết kế cả do tăng giá điện và than, thời gian đó bình quân mỗi tan xi măng đã phải tăng chỉ phí sản xuất thêm 30 nghìn đồng
Để đối phó với giá than tăng khiến giá thành sản phẩm xi măng tăng theo, ngành Xi măng đã có tờ trình lên Thủ tướng Chính phủ đề nghị nâng giá xi măng trong giai đoạn 2005-2010 lên khoảng 60 USD/tấn (tức là lên khoảng I,2 triệu
déng/tan) dé dam bao cé tích lũy phục vụ tái đầu tư trong kỳ
Theo Hiệp hội XI măng Việt Nam, từ tháng 1/2008 ngành Than đã tăng giá than bình quân đối với sản xuất xi măng khoảng 70% so với giá than năm 2007 Chỉ tính riêng việc tăng giá than đợt tháng 1/1/2008, thì chỉ phí sản xuất một tấn ximăng bình quân đã phải tăng tiếp lên khoảng 30 nghìn đồng/tắn nữa riêng vì giá
than mà chưa tính đến yếu tố tăng giá khác (xăng dầu, cước vận tải và các vật liệu
nhập khẩu khác như clinker, giấy và hạt nhựa làm vỏ bao, v.v )
Sau đợt tăng giá lan 1 vào 1/1/2008, ngành Than lại đề xuất tăng giá than
bán trong nước một số đợt nữa trong năm 2008 và đợt 2 ngay từ 1/4/2008 Do yêu
cầu kiềm chế lạm phát nên Chính phủ đã phải chỉ đạo tạm ngừng tăng giá một số
mặt hàng, trong đó có giá than đợt 1/4/2008 Nếu như kịch bản tăng gía than vẫn
tiếp tục được thực hiện thì giá bán than cho các hộ tiêu thụ lớn, trong đó có sản
xuất xi măng, sẽ phải mua than theo giá bình quân tăng 82% Khi đó dự kiến giá
than cho sản xuất xi măng (như than cám 4a Hòn Gai sẽ tăng tới 1,15 triệu
đồng/tấn, than cám 4b Hon Gai sé ting 1,1 triệu đồng/tấn ) Theo Hiệp hội
Ximăng Việt Nam, giá than mới này sẽ làm cho giá thành mỗi tấn ximăng bình quân sẽ phải tăng tiếp thêm 40 - 50 nghìn đồng/tấn nữa
Trang 26Việc tăng giá vào thời điêm nhạy cảm đầu năm 2008 khi chỉ số lạm phát đã
ở mức 9% rất có thể đã tạo theo một làn sóng tăng giá của hàng loạt sản phẩm
khác
Hiệp hội XI măng Việt Nam cho biết, các đơn vị trong ngành XI măng một
mặt phải cam kết không tăng giá bán theo chỉ đạo của Chính phủ, trong khi bị tăng
chỉ phí sản xuất rất lớn do việc tăng giá than thì áp lực đối với ngành này cũng
đang rất lớn
Sản xuất của một số ngành trong CNHC:
Trong lĩnh vực CNHC, tùy từng ngành hàng sản xuất mà than, dầu và khí thiên
nhiên có thê vừa đóng những vai trò làm nhiên liệu, vừa lại có vai trò là nguyên
liệu cho sản xuất như trong một số lĩnh vực sản xuất thuộc công nghiệp hữu cơ- hoá dầu, sản xuất đất đèn (CaC;), amôniac (NH;), phân đạm urê và một số dẫn xuất khác
Ở nước ta, thực tế trong sản xuất một số sản phẩm như sản xuất phân bón,
sản xuất đất đèn (CaC;), axetylen, muội axetylen (qua con đường sản xuất CaC;)
và nhiều quá trình khác, than có vai trò quyết định và việc tăng giá than sẽ trực tiếp làm tăng mạnh chỉ phí đầu vào sản xuất
Toàn bộ năng lượng và nguyên liệu hoạt động của Nhà máy Phân đạm Hà
Bắc (trừ không khí, nước) đều dựa vào than Do hệ thống phát điện của Nhà máy
chạy bằng than cám đủ đảm báo năng lượng điện cho hoạt động của tất cả các dây
chuyền sản xuất của Nhà máy nên yếu tố tăng giá điện của hệ thống điện lưới quốc
gia không ảnh hưởng trực tiếp đến giá điện đầu vào sản xuất, nhưng giá than lại có
tác động trực tiếp đến giá đầu vào Theo ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Công
ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, thì phí vé gia than cám hiện chiếm 65-70% chỉ
Trang 27phí đầu vào của sản phẩm urê Các tính toán sơ bộ tại Công ty cho biết nếu giá than bán cho sản xuất phân đạm urê tại Công ty tăng 20% thì giá thành phân bón
sẽ tăng khoảng trên 10 % Phần than sử dụng trong lò khí hóa trong dây chuyền
sản xuất là than cục giá cao nên việc tăng giá than càng gây ảnh hưởng tiêu cực
đến hạch toán sản xuất của Nhà máy
Trong sản xuất phân lân nung chảy (PLNC), trước đây để chạy lò cao người
ta phải dùng than cốc nhập ngoại với giá cao Sau rất nhiều cải tiến về trắc đồ lò và công nghệ chạy lò, than cốc được thay thế hoàn toàn bằng than antraxit Vàng
Danh, Uông Bí dạng cục có giá rẻ hơn (chỉ bằng 30-40% giá than cốc), cộng với
việc đóng bánh tận dụng toàn diện quăng vụn nên hiện nay giá thành sản phẩm PLNC đã trở nên có tính cạnh tranh nhất trong số các sản phâm phân bón chứa lân
ở nước ta
Trên cơ sở các thỏa thuận và hợp đồng cung cấp than cho sản xuất PLNC giữa các doanh nghiệp sản xuất phân bón của VINACHEM và các doanh nghiệp thuộc ngành Than, mà trong mấy năm qua giá PLNC giữ được tương đối bình ổn Tuy nhiên trong bối cảnh giá than cho sản xuất phân bón tăng theo lộ trình tiến tới giá
thị trường thì chắc chắn giá PLNC và các loại phân bón liên quan sẽ phải thay đổi
Đối với sản xuất các loại phân bón khác như phân supelân, phân NPK, mức
phụ thuộc và giá phân than ít hơn đo than chủ yếu chỉ dung đề sấy sản phẩm hoặc nguyên liệu Theo tính toán, giá than trong những trường hợp này chỉ chiếm
khoảng 3-5 % giá thành sản phẩm
Tùy theo mức sử dụng than trong từng ngành sản xuất phân bón cụ thê mà tỷ
lệ tăng giá thành sản phẩm do giá than tăng có khác nhau Tại các doanh nghiệp sản xuất phân bón của VINACHEM, từ năm 2005 trở lại đây do ảnh hưởng của
Trang 28một số yếu tố đầu vào, trong đó có ảnh hưởng của tăng giá than, các loại phân lân,
nhất là PLNC và một số loại phân NPK, đã phải tăng giá vài lần, mỗi lần vài phần
trăm Trong khí đó phân đạm urê có số lần tăng giá ít hơn và có trường hợp vẫn cố giữ được giá bán ngay cả khi giá than tăng vì giá bán phân urê trên thị trường còn phụ thuộc vào giá urê nhập khẩu và mức tăng giá đầu vào do giá than vẫn nằm
trong tầm doanh nghiệp còn có thê điều chỉnh được
Tuy nhiên, từ năm 2007 trở lại đây do giá than tăng quá nhanh cộng với giá các nguyên liệu sản xuất khác cũng tăng nên buộc giá tất cả các loại phân bón đều phải tăng mạnh và sẽ còn tiếp tục được điều chỉnh khi giá than cho sản xuất phân bón vẫn tiếp tục tăng
Hiện nay do thực hiện chủ trương chống lạm phát theo yêu cầu của Chính
phủ, giá than không tăng đến hết tháng 6/2008 để góp phần bình ổn giá một số mặt
hàng, trong đó có phân bón Tuy nhiên do giá than chỉ là một phần của cơ cầu giá thành sản phẩm phân bón, nhất là các loại phân supe lân, NPK, là các loại phân
bón có tỷ trọng giá nguyên liệu cao và tỷ trọng giá than thấp trong giá thành sản
phẩm, thì việc cố giữ giá bán sản phẩm lẫy lý do là giá than, giá điện vẫn được kiềm chế là không lôgic và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng ổn định
cũng như hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp khi giá các nguyên liệu sản xuất tăng mạnh
II.2 3 Ảnh hướng của chỉ phí vận tải
Như chúng ta đã biết, các dây chuyền sản xuất trong hàng rào nhà máy mới chi thực hiện công đoạn sản xuất sản phẩm bao gồm nhiều chi phi khác nhau Chỉ phí vận chuyển nguyên liệu, sản phẩm bên trong hàng rào nhà máy thường được tính chung với chỉ phí sản xuất Để có thể đảm bảo toàn bộ quá trình sản xuất, còn
Trang 29cần nhiều hoạt động bên ngoài hàng rào nhà máy, trong đó không kém phần quan
trọng và dé thay nhất là hoạt động vận tải
Có thể dễ dàng nhận ra rằng ngành sản xuất nào có khối lượng sản phẩm càng lớn và giá sản phẩm càng thấp thì càng lệ thuộc vào giá cước vận tải Các sản phẩm thuộc các ngành sản xuất như xi măng, phân bón, khai khoáng, v.v thường năm trong sô đó
Dù cơ sở sản xuất dùng loại hình vận tải gì (tự vận tải hoặc thuê khoán vận tải, v.v ), nhưng rõ ràng chi phí cho quá trình vận tải luôn tác động trực tiếp đến
giá thành và giá bán sản phẩm
Tuy nhiên, cũng phải lưu ý rằng giá cước vận tải còn do rất nhiều yếu té tác động đến, kể cả khách quan và chủ quan, nên trong nhiều trường hợp giá này
không hoàn toàn phản ánh đúng chỉ phí thực về vận tải sản phâm
Để là rõ tác động của chỉ phí vận tải đối với sản xuất công nghiệp ở nước ta,
ở đây chỉ xin nêu một vài trường hợp điển hình có liên quan nhiều đến chỉ phí vận
tải
Sản xuất xi măng:
Trong thời gian qua, giá cước vận tải, với lý do là giá xăng dầu tăng, cũng được điều chỉnh tăng cao Tuy nhiên, các chuyên gia trong ngành Xi măng lại cho rằng đúng là giá cước vận tải nhìn chung tăng theo giá nhiên liệu nhưng trong thực
tế ở nước ta việc thay đôi giá vận tại trong ngành lại rất phức tạp, có liên quan đến
cả những yếu tô chủ quan
Trang 30Hiệp hội Xi măng Việt Nam dẫn ra trường hợp một số đơn vị sản xuất xi
măng trong ngành phải chuyên chở than (từ cảng), đá, đất sét (từ mỏ khai thác) về nhà máy và chở sản phẩm xi măng đến các nơi (đại lý) tiêu thụ Vì vậy tính toán
về chỉ phí vận tải luôn là vẫn đề được các đơn vị quan tâm sát sao và rất cu thé dé chọn được giải pháp tối ưu Hiệp hội này đã so sánh trường hợp chuyên chở than
từ cảng Ninh Bình về Xí nghiệp Xi măng Nho Quan (30km) theo phương án tự chuyên chở thì do giá nhiên liệu tăng mà bộ phận chuyên chở của Xí nghiệp tính với giá 98 nghìn đồng/ tắn, trong khi cũng với đoạn đường 30km đó, Xí nghiệp di
thuê chuyên chở thuê chỉ hết 30-35 nghìn đồng/tấn Một trường hợp khác khi thuê
vận tải than cám từ cảng Ninh Bình về Nhà máy xi măng Hệ Dưỡng (chỉ cách
11km) mà ngành Than tính cước với giá hơn 70 nghìn đồng/ tấn Theo các đơn vị
sản xuất ximăng, đây gần như là một hình thức ép giá buộc người cần than phải
chịu đựng một cách bất công, chứ nếu đúng giá vận tải trên thị trường thì chỉ bằng
một nửa
Sản xuất của một số ngành trong CNHC:
Ở nước ta có một số ngành sản xuất thuộc CNHC cũng có chỉ phí về vận tải cao trong cơ cấu giá thành và giá bán sản phẩm Đặc trưng nhất là ngành sản xuất phân bón và khai khoáng (apatit và các quặng khoáng khác) do các ngành này có giá sản phẩm thấp và khối lượng vật liệu cần vận tải lớn Trong sản xuất xút-clo,
do giá muối nguyên liệu cũng khá thấp nên tác động của giá cước vận tải cũng tương đối rõ Tuy nhiên yếu tố đặc thù của ngành sản xuất này là yếu tố về điện
như đã xét ở trên
Trang 31Tác động trực tiếp của yếu tố giá vận tải đối với sản xuất phân bón là chỉ phí
cho: vận tải nguyên liệu khoáng (apatit, secpentin ) trong sản xuất phân lân chế
biến, vận tải than trong sản xuất PLNC, vận tải các nguyên liệu chiếm khối lượng
lớn trong sản xuất phân NPK, và chỉ phí để chuyên chở sản phẩm phân bón đến các thị trường tiêu thụ
Người ta đã tính toán và thấy rằng chỉ phí vận tải các nguyên liệu giá rẻ
(quặng, than) trong sản xuất phân lân chế biến có thể chiếm đến 5-10% giá thành
sản xuất của sản phẩm, còn chỉ phí vận tải đến nơi tiêu thụ có thể chiếm 1-5% giá bán sản phẩm (tùy theo thị trường) Đê giảm tối đa chi phí vận tải, các cơ sở sản
xuất phải sử dụng các phương tiện vận tải giá rẻ như đường sắt và đường thủy Tuy nhiên để vận tải sản phâm thì phương tiện hay được sử dụng lại là xe ô tô tải
vì phương tiện này tuy có giá cước cao hơn nhưng lại linh hoạt hơn, đáp ứng được các yêu cầu đa dạng của thị trường
Đối với sản xuất phân NPK, đặc biệt các loại phân NPK hàm lượng cao, tác
động của chỉ phí vận tải đến giá thành và giá bán sản phẩm thường ít hơn so với trường hợp sản xuất phân lân chế biến vì giá các loại nguyên liệu và sản phẩm đều
cao hơn nhiều (5-10 lần) so với nguyên liệu và sản phâm phân lân chế biến
Trong tình hình giá xăng dầu tăng cao hiện nay, cước phí vận tải đang ngày
càng thể hiện tác động mạnh của mình Các đơn vị sản xuất phân bón của
VINACHEM đều cố gắng tận dụng khả năng vận tải theo đường sắt và đường thủy
để chuyên chở các nguyên liệu quặng, than và cả sản phẩm phân bón đến các thị trường tiêu thụ Tuy nhiên chuyên chở bằng phương tiện ô tô vẫn được sử dụng
khi thật cần thiết
Trang 32Dé ổn định năng lực và cước phí vận tải, VINACHEM đã hỗ trợ và chỉ đạo
cho các đơn vị có yêu cầu vận tải hàng năm ký kết các hợp đồng vận tải với ngành Đường sắt
11.2.4, Ảnh hưởng của giá nguyên liệu
Trong tất cả các ngành công nghiệp, nguyên liệu sản xuất đóng vì trò quyết
định nhất đến sự tồn tại và hiệu quả của bất kỳ một dây chuyền sản xuất nào
Trong thực tế, có một số ngành sản xuất mà ở đó một loại vật liệu vừa đóng
vai trò là nhiên liệu sinh năng lượng nhưng lại vừa đóng vai trò nguyên liệu Ví
dụ:
- Trong sản xuất phân đạm urê, than (hoặc dầu, khí tự nhiên) vừa là nhiên
liệu cấp năng lượng tạo nhiệt độ cao cho lò khí hoá, đồng thời lại chính là nguồn
nguyên liệu cung cấp cacbon để tạo syngas và CO; cho các quá trình tổng hợp
NH; va uré
- Trong san xuất CaC; (đất đèn), năng lượng chính để tạo nhiệt độ cao của
lò nung là năng lượng điện nhưng than cho vào lò cũng tạo ra nguồn năng lượng
bổ sung, đồng thời lại là chất phản ứng để khử CaO (do đá vôi phân huỷ ra) và tạo
CaC; ở nhiệt độ cao
- Trong sản xuất gang, than cốc vừa là nhiên liệu tạo năng lượng nhiệt
nhưng cũng vừa là chất khử để khử sắt oxit thành gang
- Trong sản xuất axit sunfuric theo công nghệ đi từ nguyên liệu lưu huỳnh, thì lưu huỳnh là là nguyên liệu cung cấp nguyên tố S cho quá trình sản xuất Tuy
nhiên năng lượng đốt lưu huỳnh (S+O;=SO;) và oxy hoá SO;(SO;+ 0,5O;= SO3)