Nhiệm vụ, chức năng, cơ cấu sản xuất kinh doanh của Công ty
1 Chức năng nhiệm vụ của Công ty.
Công ty kim khí Hà Nội cam kết thực hiện hiệu quả việc mua bán kim khí, đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, quốc phòng và các nhu cầu khác của nền kinh tế tại thủ đô Đồng thời, công ty cũng hướng tới việc mở rộng thị trường trên toàn quốc và phục vụ mọi thành phần kinh tế.
Xây dựng và bảo vệ kế hoạch sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ quan trọng nhằm báo cáo cho cấp trên quản lý trực tiếp, từ đó thực hiện hiệu quả mục đích và nội dung hoạt động của công ty Đồng thời, việc quản lý và sử dụng nguồn vốn đúng mục đích không chỉ bảo toàn mà còn tăng trưởng vốn, đảm bảo công ty tự trang trải tài chính và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi.
Để cải tiến tổ chức và kinh doanh sản xuất, cần nắm bắt khả năng sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của thị trường, từ đó tạo ra nhiều sản phẩm kim khí phù hợp với thị hiếu Đồng thời, việc tuân thủ các hợp đồng đã ký kết là yếu tố quan trọng để đảm bảo tín nhiệm trong xã hội.
+ Đa tiến bộ khoa học vào việc cải tiến tổ chức quản lý kinh doanh sản xuất, bảo quản, bảo vệ vật t hàng hoá.
Công ty cam kết chấp hành nghiêm túc các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước liên quan đến hoạt động kinh doanh sản xuất, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động Một số mặt hàng kinh doanh của công ty bao gồm
Công ty mua bán các mặt hàng kim khí trong nền kinh tế quốc dân bao gồm:
+ Nhập khẩu các nguyên liệu thép, phôi thép.
+ Sản xuất thép, các kim loại khác từ sản phẩm thép.
+Kinh doanh và dịch vụ kinh doanh thép, các loại kim khí, nguyên vật liệu thép.
Các sản phẩm của Công ty
Dựa vào mục tiêu hoạt động, nhiệm vụ của Công ty Các sản phẩm của Công ty bao gồm:
- Thép thờng tròn các loại CT3, CT5.
- ThÐp h×nh: ThÐp gãc, thÐp chi÷ U, Y, H.
2 Cơ cấu sản xuất kinh doanh của công ty sơ đồ cơ cấu sản xuất kinh doanh của Công ty
Công ty Kim khí Hà Nội hiện có 6 xí nghiệp trực thuộc và một chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, tất cả đều là các đơn vị hạch toán phụ thuộc với tư cách pháp nhân không đầy đủ Các bộ phận kế toán, thống kê, thủ quỹ, thủ kho và nhân viên kinh doanh tại các đơn vị này có mối quan hệ mật thiết về kinh tế, tài chính và tiêu thụ thông tin trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Xí nghiệp kinh doanh khai thác vật t Trụ sở giao dịch tại số 20- Tôn Thất Tùng – Quận Đống Đa Hà Nội.
+ Xí nghiệp gia công kim khí
XÝ nghiệp kinh doanh vËt t
XÝ nghiệp gia công kim khÝ
XÝ nghiệp kim khÝ Đức Giang
XÝ nghiệp kim khÝ V¨n §iÓn
XÝ nghiệp kinh doanh kim khÝ sè 1
XÝ nghiệp kinh doanh kim khÝ sè 2
+ Xí nghiệp gia công chế biến kim khí Đức Giang
+ Xí nghiệp gia công chế biến kim khí Văn Điển
+ Xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số 1, tại Văn Điển
+ Xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số 2, tại Đức Giang
*Chức năng nhiệm vụ của các đơn vị:
- Tiếp nhận, quản lý, bảo quản, xuất cấp và điều chuyển các mặt hàng kim khí theo điều lệnh của Công ty.
- Kinh doanh các mặt hàng kim khí, nguyên liệu phục vụ cho nghành thép theo kế hoạch đợc công ty giao.
Công ty chuyên cung cấp dịch vụ giao nhận và vận chuyển kho bãi, hỗ trợ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng với việc quản lý các đại lý ký gửi hàng hóa trong lĩnh vực kinh doanh của mình.
Công ty sở hữu một mạng lưới cửa hàng trực thuộc các đơn vị xí nghiệp, với hệ thống cửa hàng được phân bố rộng rãi tại khu vực Hà Nội, chủ yếu tập trung xung quanh trụ sở công ty và các khu vực như Đức Giang, Văn Điển.
+ Xí nghiệp kinh doanh khai thác vật t: cửa hàng số 13, 17
+ Xí nghiệp khai thác gia công kim khí: Cửa hàng 19, 20
+ Xí nghiệp gia công chế biến kim khí Đức Giang cửa hàng số 23
+ Xí nghiệp gia công chế biến kim khí Văn Điển: không có cửa hàng. + Xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số1: Cửa hàng 3, 4, 5, 8
+ Xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số 2: Cửa hàng số 25, 26, 27, 28
Các cửa hàng này có thể phục vụ nhu cầu của nhân dân cũng nh các công trình xây dựng về mặt hàng mà công ty kinh doanh.
Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty
Để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, công ty đã tổ chức bộ máy ngày càng hoàn thiện theo nguyên tắc tiết kiệm và giảm thiểu các bộ phận không cần thiết, dẫn đến việc bỏ phòng quản lý kỹ thuật.
Hiện nay, mô hình tổ chức của công ty gồm có:
Mô hình tổ chức Công ty
1 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban, các bộ phận trực thuộc.
Căn cứ vào quyết định số 255/TTg ngày 29/4/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty Thép Việt Nam và điều lệ tổ chức, hoạt động của Tổng công ty được phê chuẩn tại nghị định số 03/CP, Hội đồng quản trị Tổng công ty Thép Việt Nam đã ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty Kim khí Hà Nội.
Giám đốc được Hội đồng quản trị Tổng công ty bổ nhiệm và chịu trách nhiệm về các quyết định khen thưởng, kỷ luật theo đề xuất của Tổng giám đốc Là đại diện pháp nhân của công ty, Giám đốc có trách nhiệm trước Tổng công ty và pháp luật về mọi hoạt động của Công ty Với quyền điều hành cao nhất, Giám đốc nắm giữ các nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng trong công ty.
Tổng giám đốc Tổng công ty có trách nhiệm ký nhận vốn, đất đai và các nguồn lực khác từ Nhà nước, đồng thời quản lý và sử dụng chúng một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ mà tổng công ty giao.
Điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, xây dựng kế hoạch sản xuất hàng năm và các dự án đầu tư cơ bản Đề xuất các định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá tiền lương, phương án huy động vốn và liên doanh liên kết Quản lý tổng biên chế bộ máy quản lý và kinh doanh, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Phòng kế toán tài vụ
Phòng tổ chức hành chÝnh
Phòng kế hoạch kinh doanh
Phòng thanh tra bảo vệ
Pg® kinh doanh Pg® tài chính thực hiện các kế hoạch, định mức, đơn giá, phơng án đã đợc tổng công ty phê duyệt.
Tổng công ty cần quyết định về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và nâng xếp bậc lương cho các chức vụ như Phó giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng các phòng nghiệp vụ chuyên môn, cùng các đơn vị trực thuộc Những quyết định này liên quan đến hoạt động kinh doanh sản xuất và các chức danh từ chuyên viên chính, kỹ sư chính trở lên, cũng như các chức danh khác thuộc quyền quản lý của Công ty.
+ Chịu sự kiểm tra giám sát của Tổng công ty và các cơ quan quản lý nhà nớc có thẩm quyền theo quy định cuả pháp luật.
Trong trường hợp khẩn cấp như thiên tai, dịch hoạ, hoả hoạn hoặc sự cố, cần áp dụng các biện pháp vượt thẩm quyền và chịu trách nhiệm về những quyết định đó Đồng thời, phải báo cáo ngay cho Tổng công ty và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được giải quyết tiếp.
Phó giám đốc công ty được bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng hoặc kỷ luật bởi Tổng giám đốc Tổng công ty, dựa trên đề nghị của giám đốc công ty và sự phê duyệt của hội đồng quản trị Vai trò của phó giám đốc là hỗ trợ giám đốc điều hành trong một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của công ty theo sự phân công, và phải chịu trách nhiệm trước giám đốc cũng như pháp luật về các nhiệm vụ được giao hoặc công việc được ủy quyền.
1.2 Các phòng chuyên môn nghiệp vụ
Các phòng chuyên môn nghiệp vụ của công ty có chức năng tham mu, giúp việc giám đốc trong quản lý điều hành công việc.
Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ:
+Xắp xếp và quản lý lao động nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả lực lợng lao động của Công ty.
+ Nghiên cứu, xây dựng các phơng án nhằm thực hiện việc trả lơng, tiền thởng hợp lý trình Giám đốc.
+ Tổ chức các hình thức khen thởng, kỷ luật.
+ Làm công tác hành chính phục vụ.
Phòng kế toán tài vụ:
Quản lý toàn bộ tài sản, các loại vốn quỹ của công ty, bảo toàn và sử dụng vốn có hiệu quả.
+ Tham gia ký kết hợp đồng kinh tế với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nớc và thanh quyết toán với khách hàng.
Tham gia kiểm tra và xét duyệt các định mức, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm công trình Hướng dẫn các đơn vị thực hiện chế độ hạch toán kế toán và quản lý tài chính, đồng thời thiết lập quan hệ với ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh.
Tổ chức thực hiện công tác hạch toán kế toán và thống kê phân tích hoạt động kinh tế theo pháp lệnh kế toán thống kê Đồng thời, tổng hợp kế toán định kỳ và thực hiện quyết toán cuối năm với nhà nước.
+ Làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách theo luật thuế của nhà nớc.
+ Xét duyệt quyết toán và tham gia quyết định phân phối lợi nhuận của Công ty
Phòng kế hoạch kinh doanh:
+ Tìm kiếm khách hàng, ký kết các hợp đồng kinh tế
+ tham gia xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về sản xuất, kỷ thuật, tài chính, xuất nhập khẩu theo mục tiêu kinh doanh của công ty.
Giao kế hoạch sản xuất kinh doanh cho các đơn vị trực thuộc và điều phối hoạt động của các đơn vị nhằm đảm bảo sự cân đối hiệu quả và đồng bộ trong quá trình thực hiện.
+ Xây dựng kế hoạch kinh doanh của công ty căn cứ vào khả năng và nhu cầu thị trờng.
+ Tham gia xét duyệt hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty và báo cáo với các cơ quan quản lý nhà nớc theo quy định.
Phòng thanh tra bảo vệ:
Tham mưu cho lãnh đạo công ty trong việc kiểm tra và giám sát các hoạt động nội bộ, bao gồm cả các xí nghiệp và đơn vị trực thuộc, là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả và sự phát triển bền vững của tổ chức.
+ Giữ gìn bảo vệ vật t tài sản, an ninh cho các phòng ban.
+ Thực hiện các lệnh về quốc phòng, hậu cần địa phơng, tuyển quân
Tổ chức nhân sự trong Công ty
Công ty nổi bật trong việc tổ chức mạng lưới bán hàng và hoạt động bằng cách giảm thiểu các khâu không cần thiết, từng bước hoàn thiện bộ máy tổ chức.
Tổng Công ty đã thành lập hai xí nghiệp kinh doanh kim khí và dịch vụ số 1 và 2, dựa trên nền tảng từ hai cửa hàng Đức Giang và Văn Điển, đồng thời xây dựng quy chế hoạt động cho các xí nghiệp này.
Sát nhập 2 phòng kế hoạch kinh doanh và thị trờng thành phòng kế hoạch kinh doanh.
Công ty đã tiến hành sắp xếp lại hệ thống cửa hàng bán lẻ, xác định những cửa hàng hoạt động không hiệu quả Từ 27 cửa hàng vào năm 2000, công ty đã giải thể và chỉ còn lại 13 cửa hàng vào năm 2002.
Chúng ta có thể thấy tình hình tổ chức lao động tiền lơng của Công ty qua các năm đợc thể hiện qua các bảng sau:
Bảng 1:Cơ cấu lao động trong Công ty thời gian qua đ ơn vị: ngời
-Lao động có mặt (đầu năm)
-Lao động có mặt(cuối năm)
-Số lao động giảm trong kỳ
+Chấm dứt hợp đồng lao động nghỉ 1 lần
+Nghỉ hu trí theo chiế độ
3 Nghỉ chờ việc hởng 50% l- ơng
4 Thực tế số lao động đi làm
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Bảng 2: Tiền lơng trong Công ty đơn vị: nghìn đồng
-Tổng quỹ lơng thực hiện 12 tháng
-Thu nhËp b×nh qu©n/ n/th
-Tổng thu nhập thực hiện 12 tháng
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Trong những năm qua, Công ty đã không ngừng tinh giảm đội ngũ cán bộ công nhân viên và đồng thời nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động.
Lực lượng lao động có trình độ đại học và cao đẳng đang gia tăng cả về số lượng lẫn tỷ trọng, hiện chiếm khoảng 25,3% trong tổng số lao động của Công ty.
Lực lượng lao động có trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuật vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động của công ty, nhưng đang có xu hướng giảm cả về số lượng lẫn tỷ trọng Cụ thể, tỷ lệ người có trình độ trung học khoảng 49,6% vẫn là cao, trong khi công nhân kỹ thuật chỉ chiếm khoảng 25,1%, thấp hơn so với các doanh nghiệp khác.
Sở dĩ lực lợng lao động của công ty có sự biến động về cơ cấu trình độ nh trên là do:
Công ty chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, với hoạt động sản xuất không đáng kể Do đó, nhu cầu về lực lượng công nhân kỹ thuật là ít, trong khi đó, cần một đội ngũ lớn các nhà quản lý và nhân viên ở các phòng ban chức năng chuyên môn, những người này yêu cầu có trình độ chuyên môn nhất định.
Do yêu cầu của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cần có đội ngũ cán bộ công nhân viên hợp lý Trước đây, đội ngũ quản lý chủ yếu được đào tạo ở bậc trung cấp, nhưng hiện nay, nhiều cán bộ đã đến tuổi nghỉ hưu hoặc không còn phù hợp Do đó, cần thay thế bằng lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao hơn Công ty đã thiết lập quy chế tuyển dụng ưu tiên lao động trẻ có chuyên môn cao và áp dụng các hình thức đào tạo đa dạng như đào tạo tại chỗ, mở lớp huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn và đào tạo hàm thụ đại học tại chức.
Nhờ những nỗ lực không ngừng, công ty đã xây dựng được đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và thực hiện tốt các kế hoạch đề ra.
Tính đến ngày 31/12/2002 tổng lao động của công ty là 317 ngời, trong đó:
- Cán bộ công nhân viên trong biên chế là 210 ngời chiếm 65,4%.
- Lao động hợp đồng 100 ngời chiếm 34,6%.
Trong những năm gần đây, lực lượng lao động của Công ty đã có sự thay đổi đáng kể để thích ứng với điều kiện của nền kinh tế thị trường Công ty đã thực hiện việc tinh giảm và nâng cao trình độ của lực lượng lao động Cụ thể, sự biến động của lực lượng lao động theo cơ cấu trình độ trong những năm qua đã được ghi nhận.
Bảng 3: Cơ cấu trình độ lao động trong Công ty Đơn vị: ngời
% -Đại học và cao đẳng
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Bảng 4: Số lợng lao động làm việc trong các phòng ban Đơn vị: ngời
Các phòng ban trong công ty
Số lợng lao động trong biên chÕ
Sè lao động thùc sù đi làm
Số lao động dôi d chờ xếp lại Chê hu
-XN kinh doanh khai thác vật t
-XN khai thác và gia công kim khí
XN gia công chế biến Đức Giang
-XN gia công chế biến Văn Điển
-XN kinh doanh và dịch vụ số 1
-XN kinh doanh và dịch vụ số 2
-Chi nhánh công ty tại T.P HCM
Công ty đang đối mặt với một số vấn đề trong công tác lao động, với 40 người, chiếm 17,5%, vẫn chưa có việc làm hoặc đang chờ xếp lại Trong số đó, 10 người nhận 50% lương, trong khi số còn lại vẫn được trả lương đầy đủ hàng tháng Điều này tạo ra gánh nặng cho công tác tiền lương và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Đặc điểm cơ sở vật chất, kỹ thuật, máy móc thiết bị
Công ty kim khí Hà Nội hiện đang là đơn vị hàng đầu tại khu vực Hà Nội, chuyên cung cấp các sản phẩm kim khí với khối lượng lớn và đa dạng về quy cách, chủng loại Chúng tôi cam kết đáp ứng nhu cầu sử dụng kim khí một cách đồng bộ, nhờ vào cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại và đội ngũ cán bộ công nhân viên chuyên nghiệp.
Từ khi thành lập vào năm 1961 cho đến 1989, Công ty đã giữ vị trí độc quyền trong lĩnh vực kim khí tại khu vực trung ương và Hà Nội Gần đây, do sự thay đổi trong chính sách và cơ chế, một số đơn vị dịch vụ đã bắt đầu kinh doanh kim khí, tuy nhiên, họ chỉ tập trung vào một số quy cỡ kim khí nhất định, chủ yếu là thép xây dựng quy cỡ nhỏ.
Các công ty kim khí điện máy tại Hà Nội chủ yếu kinh doanh các sản phẩm điện máy như ti vi, tủ lạnh và các sản phẩm kim khí được sản xuất bởi các nhà máy, xí nghiệp Nguồn vật tư chính cho các sản phẩm này chủ yếu được cung cấp từ Công ty kim khí Hà Nội.
Với sự quản lý lỏng lẻo của Nhà nước đối với nguồn nhập khẩu, Công ty đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt Nhằm cải thiện tình hình kinh doanh, các nhà hoạch định chiến lược đã đề ra kế hoạch mở thêm một dây chuyền sản xuất mới, giúp Công ty tăng cường khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp kim khí khác trong khu vực.
Công ty Kim khí Hà nội có trụ sở chính hiện nay tại D2-Tôn Thất Tùng
Công ty tại Đống Đa, Hà Nội, đang đối mặt với nhiều khó khăn do cơ sở vật chất kém chất lượng và lạc hậu Hầu hết các phòng ban và lãnh đạo làm việc trong điều kiện không đảm bảo, với nhà xưởng và kho tàng không phù hợp để bảo quản hàng hóa, dẫn đến chất lượng hàng hóa giảm sút Hàng hóa nhập kho sau một thời gian trở nên kém phẩm chất, ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ trên thị trường, thường chỉ có thể bán với giá thấp, gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất kinh doanh Sự gia tăng hàng tồn kho trong khi kho tàng có hạn đã tạo ra áp lực lớn cho công ty Hơn nữa, dây chuyền sản xuất đã cũ, với máy móc thiết bị sử dụng trên 20 năm mà không được bảo trì thường xuyên, càng làm trầm trọng thêm tình hình.
Trong thời gian tới, Công ty Kim khí Hà Nội sẽ được xây dựng lại với quy mô lớn nhằm đáp ứng yêu cầu của Công ty và các chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Tổng công ty Thép Việt Nam đã lên kế hoạch đầu tư lớn cho dự án này, bao gồm xây dựng trụ sở mới, cải tạo kho tàng để bảo quản hàng hóa tốt hơn, và mua sắm dây chuyền sản xuất mới Nhu cầu về tấm lợp kim loại đang gia tăng trên thị trường, điều này càng khẳng định sự cần thiết của dự án.
Công ty đang lên kế hoạch đầu tư máy móc thiết bị để thực hiện hoạt động dập định hình tấm lợp kim loại, với mục tiêu ra mắt sản phẩm mới trong thời gian ngắn Điều này hứa hẹn sẽ cải thiện kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong tương lai, đáp ứng mong muốn của ban lãnh đạo và người lao động Trong những năm gần đây, ngành thép, đặc biệt là Công ty kim khí Hà Nội, đã hợp tác với Nhà nước để đầu tư nâng cấp dây chuyền công nghệ và nghiên cứu khoa học, nhằm nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả sản xuất gang thép.
Dây chuyền công nghệ sản xuất thép là một hệ thống phức tạp và cồng kềnh, trong đó công nghệ đóng vai trò quyết định năng lực sản xuất Việc sản xuất thép không thể thực hiện thủ công mà phải dựa hoàn toàn vào máy móc trong một dây chuyền khép kín Do đó, để nâng cao năng lực sản xuất, ngành thép cần đầu tư nhiều vốn và công nghệ.
Công ty đang tập trung vào việc xây dựng dây chuyền sản xuất mới và tu bổ, sửa chữa hệ thống kho tàng để duy trì khả năng phục vụ cho kế hoạch sản xuất kinh doanh Đảm bảo chất lượng hàng hóa, công ty tiếp tục thực hiện dự án dây lưới thép Đức Giang và lắp đặt hệ thống máy kéo dây Công ty cũng xin ý kiến Tổng Công ty về dây chuyền mạ để phù hợp với tình hình kinh tế và nhu cầu thị trường Bên cạnh đó, công ty chú trọng nâng cấp kho bãi nhằm mở rộng dịch vụ, bảo quản hàng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời đăng ký chất lượng sản phẩm với cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng Nhà nước.
Công tác quản lý vốn
Vốn là yếu tố thiết yếu trong sản xuất kinh doanh, chủ yếu hình thành từ ngân sách Nhà nước, vốn vay ngân hàng và vốn tự bổ sung Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp Nhà nước, không thể phụ thuộc vào nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước hay vay ngân hàng với số lượng lớn, mà cần phải tự huy động vốn để duy trì hoạt động.
Tổng số vốn kinh doanh của Công ty trong năm 2001 đạt 76.941 triệu đồng, chủ yếu được huy động từ nguồn vốn Nhà nước, trong khi vốn vay và vốn tự huy động rất hạn chế Là doanh nghiệp kim khí đầu ngành, Công ty nhận được sự quan tâm và hỗ trợ từ Nhà nước Tuy nhiên, tình hình kinh doanh trong năm 2001 không hiệu quả, với lợi nhuận chỉ đạt 1.400 triệu đồng, dẫn đến vốn chủ sở hữu không tăng trưởng đáng kể Thực trạng này cho thấy cần thiết phải có biện pháp đổi mới cơ chế hoạt động để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty.
Gần đây, Công ty đang mở rộng quy mô và gặp phải vấn đề về vốn, do đó việc huy động vốn trở nên rất quan trọng Công ty không thể hoàn toàn phụ thuộc vào nhà nước mà cần tự huy động vốn, điều này rất khó khăn vì phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của các dự án đầu tư Nếu kinh doanh hiệu quả, Công ty sẽ có lợi, nhưng nếu không, sẽ phát sinh nhiều vấn đề khó khăn như việc trả lãi định kỳ và trả lương cho công nhân Vì vậy, cần có một chiến lược và kế hoạch kinh doanh cụ thể, khả thi để tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và sử dụng vốn.
Lợi nhuận của Công ty Kim khí Hà Nội đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường nguồn vốn lưu động Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, Công ty gặp nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh hoạt động để phù hợp với tình hình mới Điều này dẫn đến hiệu quả kinh doanh kém Trong những năm gần đây, mặc dù Công ty đã nỗ lực điều chỉnh để thích ứng với thị trường, nhưng vẫn gặp phải nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, khiến hoạt động kinh doanh vẫn còn yếu kém.
Vào năm 1999, Công ty đạt lợi nhuận 700 triệu đồng, năm 2000 là 950 triệu đồng, và năm 2001 là 1400 triệu đồng Để duy trì vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường, Công ty cần đổi mới và điều chỉnh cơ chế hoạt động, đồng thời yêu cầu sự can thiệp tích cực từ Nhà nước.
Tình hình kinh doanh của Công ty trong thời gian qua
1 Thực trạng cung cầu trên thị trờng đối với sản phẩm của Công ty
Công ty đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể trong nguồn nhập khẩu, đặc biệt là các sản phẩm và nguyên liệu kim khí trong những năm gần đây Nhờ vào các kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, các cơ sở sản xuất cũng đã nâng cao năng suất, tạo ra nhiều sản phẩm hơn so với các năm trước.
Nhu cầu về sản phẩm thép đang gia tăng mạnh mẽ, phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Sự cần thiết này không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực xây dựng mà còn lan rộng ra các ngành công nghiệp khác, đặc biệt là trong ngành ôtô, đóng tàu và cơ khí Thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh trong các đơn vị cũng cho thấy tầm quan trọng của thép trong các lĩnh vực này.
Chúng ta có thể thấy thực trạng cung cầu của Công ty qua các năm nh sau:
Bảng5: Tình hình cung cầu kim khí thời gian qua Đơn vị: tấn
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Thị trường tiêu thụ của Công ty Kim Khí Hà Nội chủ yếu nằm trong nước, với trọng tâm là hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Minh( Hà Nội chiếm gần 60% lợng thép tiêu thụ, thành phố Hồ Chí Minh chiếm 30% lợng thép tiêu thụ).
Trong những năm qua, nhu cầu thép toàn cầu tăng chậm và giá thép có xu hướng giảm, đặc biệt vào quý IV năm 2000, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực Sự gia tăng giá trị đồng Dollar đã làm tăng chi phí nguyên liệu nhập khẩu và kim khí từ nước ngoài Thị trường thép luôn trong tình trạng cung vượt cầu Tuy nhiên, trong giai đoạn 1999 – 2000, sản lượng của Công ty vẫn tăng so với năm trước nhờ nỗ lực của cán bộ công nhân viên và sự gia tăng nhu cầu thị trường đối với sản phẩm kim khí trong nước.
Trong những năm gần đây, Công ty chủ yếu hoạt động tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh Để phát triển trong tương lai, Công ty dự định mở rộng thị trường ra các tỉnh, thành phố khác Tuy nhiên, do hạn chế về vốn đầu tư trong giai đoạn hiện tại, thị trường sản phẩm của Công ty vẫn chưa được mở rộng Do đó, Công ty cần được đầu tư thêm về vốn và công nghệ để nâng cao sản xuất kinh doanh và mở rộng thị trường.
Hiện nay, nhu cầu về kim khí ngày càng tăng do sự phát triển của sản xuất, dẫn đến khối lượng kim khí nhập khẩu gia tăng Từ năm 1999 đến năm 2001, Công ty Kim khí Hà Nội đã nhập tổng cộng 239.270 tấn, trong đó năm 2001 ghi nhận mức tăng 81,15% so với năm 2000, và năm 2002 tiếp tục tăng 43,9% so với năm 2001.
Bảng 6: Biểu tốc độ tăng nhập khẩu Kim khí Đơn vị: tấn
Năm Khối lợng nhập Tốc độ tăng%
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Ngành Kim khí tại Việt Nam phụ thuộc nhiều vào nguồn hàng nhập khẩu, đặc biệt là từ Liên Xô cũ, nơi cung cấp một lượng lớn sản phẩm hàng năm Điều này khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành Kim khí chịu ảnh hưởng lớn từ thị trường quốc tế.
Từ năm 1991 đến nay, nguồn hàng ngoại nhập của nước ta đã bị hạn chế đáng kể do nhiều khó khăn Việc nắm bắt nhu cầu thị trường vẫn chưa chính xác, dẫn đến tình trạng nhiều mặt hàng không đủ cung ứng cho khách hàng, trong khi một số sản phẩm lại không tiêu thụ được Điều này đã tạo ra lượng hàng hóa tồn kho lớn, gây ứ đọng vốn cho các công ty kinh doanh kim khí, đặc biệt là Công ty Kim khí Hà Nội.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, các nhà sản xuất gặp nhiều khó khăn do nhu cầu về kim khí thay đổi về số lượng, quy cách, và giá cả Điều này gây bối rối cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Tình hình kinh doanh kim khí của các doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng, đặc biệt là Công ty Kim khí Hà Nội, khi phải đối mặt với xu hướng chung của thị trường vật liệu hiện nay.
Trong giai đoạn 1885 - 2000, Công ty Kim khí Hà Nội đã gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi sang cơ chế thị trường, vẫn phải chịu sự quản lý của nhà nước Hiện nay, công ty phải sử dụng ngoại tệ mạnh để nhập khẩu vật tư, dẫn đến việc phụ thuộc vào nguồn hàng từ Tổng Công ty thép Việt Nam Thị trường Kim khí đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt và tình trạng cung vượt cầu, trong khi tâm lý ưa chuộng hàng ngoại vẫn phổ biến Chất lượng thép sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ tiêu chuẩn, khiến cho việc tiêu thụ gặp khó khăn Mặc dù các nhà máy thép liên doanh vẫn tiếp tục sản xuất, nhưng lượng hàng nhập khẩu cũng gia tăng, dẫn đến giá bán bằng hoặc thấp hơn giá thép nhập khẩu Nhu cầu Kim khí đã giảm so với các năm trước, ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, hàng hóa trong công ty trở nên phong phú và đa dạng hơn Nguồn hàng hiện tại của công ty bao gồm nhiều loại sản phẩm khác nhau.
- Nguồn Tổng công ty phân phối.
- Nguồn nhập khẩu trực tiếp.
- Nguồn thép sản xuất trong nớc.
Nguồn hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Công ty, nhưng thường bị động và thiếu hụt Từ năm 1990 đến 2001, nguồn hàng không đáp ứng kế hoạch, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả năm 2002, mặc dù năm đó nguồn hàng vượt kế hoạch 20% Những năm gần đây, từ 2003 đến đầu năm 2002, kế hoạch nguồn hàng đã được cải thiện nhờ vào việc Công ty tăng cường nhập khẩu và hoàn thiện hệ thống cung ứng Công ty hiện có 4 nguồn hàng chính.
Công ty luôn phụ thuộc vào nguồn hàng từ Tổng công ty phân phối, chiếm khoảng 50% tổng nguồn cung Điều này dẫn đến việc không chỉ thiếu hụt về số lượng mà còn về quy cách mặt hàng, cùng với thời gian giao hàng không được đảm bảo Do đó, Công ty gặp khó khăn trong việc chủ động trong sản xuất và kinh doanh.
Trong những năm gần đây, Công ty đã có những cải tiến đáng kể về nguồn cung Tổng công ty hiện đang phụ thuộc vào nguồn phân phối thấp, với nguồn cao nhất đến từ nhập khẩu trực tiếp và sản xuất trong nước Điều này chứng tỏ rằng Công ty đã chủ động xây dựng nguồn hàng, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Trong thời kỳ bao cấp, Công ty chủ yếu nhập khẩu hàng hóa từ các nước xã hội chủ nghĩa Gần đây, Công ty đã nâng cao khả năng nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu trong nước Dưới đây là bảng số liệu về việc nhập khẩu kim khí của Công ty trong những năm gần đây, với giá mua là 3900đ/kg.
Bảng 7: Tình hình nhập khẩu của Công ty
Tổng giá trị nhập khẩu
Tỷ trọng trong tổng giá trị mua ( %)
Tổng giá trị hàng nhập
Hiệu quả kinh doanh của Công ty
1.1.Hiệu quả kinh tế tổng hợp
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế tổng hợp.
Khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cần dựa vào một hệ thống tiêu chuẩn mà doanh nghiệp phải phấn đấu đạt được Việc đạt được các chỉ tiêu này là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu kinh tế Hiệu quả kinh tế tổng hợp của công ty trong thời gian qua có thể được mô tả như sau:
Bảng 11: Bảng thực hiện các chỉ tiêu kinh tế hàng năm Đơn vị:triệu đồng
Chỉ têu Năm Tỷ lệ %
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Theo bảng thực hiện chỉ tiêu kinh tế hàng năm, Công ty cho thấy hiệu quả kinh doanh kém Cụ thể, năm 2000, Công ty chỉ đạt mức lợi nhuận thấp.
Vào năm 2001, công ty đạt lợi nhuận 700 triệu đồng từ số vốn 350 triệu đồng, và năm 2002, lợi nhuận tăng gấp đôi lên 1.400 triệu đồng Mặc dù có lãi, mức lợi nhuận này vẫn được coi là quá thấp, gây khó khăn trong việc huy động vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Công ty chứng tỏ hoạt động kém hiệu quả trong bối cảnh thị trường Kim khí diễn biến không thuận lợi trong những năm gần đây Điều này phản ánh sự thiếu khả năng thích nghi của Công ty với những biến động của thị trường, dẫn đến vai trò chủ đạo trong nền kinh tế bị suy giảm và kinh doanh không đạt hiệu quả cao.
Tình hình kinh doanh của Công ty trong năm qua kém hiệu quả do thiếu nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin và cơ hội trên thị trường Một nguyên nhân quan trọng khác là sự phụ thuộc quá mức vào Nhà nước và cấp trên, khiến Công ty không thể tự do quy định giá cả theo cơ chế thị trường Công ty phải chịu giá bán buôn Kim khí nhập khẩu do Uỷ ban Vật giá Nhà nước quy định, và Tổng công ty cũng áp dụng mức giá chuẩn bán lẻ tối thiểu cho một số mặt hàng Hệ thống giá bán này đã làm cho hoạt động kinh doanh trở nên đa dạng và phức tạp Thêm vào đó, Công ty còn gặp khó khăn do thiếu ngoại tệ mạnh để nhập khẩu hàng hóa cần thiết, không đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường.
1.2.Hiệu quả sử dụng vốn cố định
- Hệ số sử dụng số lợng tài sản cố định( H1 )
- Sức sản xuất của vốn cố định ( H2)
- Sức sinh lời của vốn cố định( H3)
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn cố định tạo ra đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Ta có thể thấy rõ hơn các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản cố định qua bảng sau:
Bảng 12: Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội 1.3 Hiệu quả sử dụng vốn lu động:
+ Sức sản xuất của vốn lu động( H1)
Chỉ tiêu này cho thấy số doanh thu tạo ra từ một đồng vốn lu động trong kỳ Sự gia tăng của chỉ tiêu này qua các kỳ cho thấy hiệu quả sử dụng vốn lu động đang được cải thiện.
+ Sức sinh lợi của vốn lu động( H2)
Chỉ tiêu này cho thấy số lợi nhuận mà một đồng vốn lưu động có thể tạo ra trong kỳ Chỉ số càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng tốt.
Tốc độ luân chuyển vốn là yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi nguồn vốn lu động liên tục chuyển động dưới nhiều hình thức như tiền, hàng hóa, vật tư và bán thành phẩm Việc tăng tốc độ chu chuyển vốn giúp giải quyết tình trạng ách tắc và đình trệ, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và cải thiện hiệu quả kinh doanh tổng thể Để đánh giá tốc độ luân chuyển vốn trong doanh nghiệp, thường sử dụng các chỉ tiêu cụ thể.
+ Số vòng quay của vốn lu động ( H3)
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay của vốn lưu động bình quân trong kỳ Một chỉ số cao cho thấy vòng quay vốn tăng nhanh, chứng tỏ việc sử dụng vốn lưu động hiệu quả Ngược lại, chỉ số thấp cho thấy hiệu quả sử dụng vốn không cao.
+ Số ngày luân chuyển bình quân 1 vòng quay( H4)
Chỉ tiêu này cho thấy thời gian cần thiết để vốn lưu động quay một vòng Thời gian càng ngắn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, và ngược lại.
+ Hệ số đảm nhiệm của vốn lu động( H5)
Ta có thể xem xét một số kết quả đạt đợc của Công ty trong quá trình thự hiện việc sử dụng vốn lu động qua bảng sau:
Bảng 13: Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lu động
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Các chỉ tiêu tài chính trong bảng cho thấy sự tăng trưởng nhẹ so với năm trước, với sức sản xuất của vốn lưu động năm 2002 đạt 2,5, tăng từ 0,23 năm 2001 Tuy nhiên, điều này cho thấy Công ty gặp khó khăn trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả Sức sinh lợi của vốn lưu động cũng không cao, do đó, cần điều chỉnh các chỉ tiêu một cách hợp lý để tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn cho Công ty.
1.4.Hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp:
+ Hệ số sử dụng lao động( H)
= Tổng số lao động đợc sử dụng
Tổng số lao động hiện có phản ánh trình độ sử dụng lao động của doanh nghiệp, cho biết liệu số lao động đã được sử dụng hết hay chưa, từ đó giúp nhận diện việc tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực lao động Qua đó, doanh nghiệp có thể tìm ra các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động.
+ Chỉ tiêu năng suất lao động( W )
= Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Tổng số lao động trong kỳ + Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân cho 1 lao động( L )
Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận mà mỗi lao động tạo ra trong kỳ, cho phép so sánh mức tăng hiệu quả lao động qua các thời kỳ.
Bảng 14: Bảng thực hiện các chỉ tiêu sử dụng lao động
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Hệ số sử dụng lao động Năng suất lao động Bảng 15: Biểu Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
2 Hiệu quả kinh tế - xã hội.
Công ty kim khí Hà Nội, một doanh nghiệp Nhà nước, đã gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh do chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường Mặc dù hiệu quả kinh doanh không cao, công ty vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước, với số tiền nộp lần lượt là 5.300 triệu đồng năm 1999, 5.600 triệu đồng năm 2000, 4.664 triệu đồng năm 2001 và 3.196 triệu đồng năm 2002 Điều này cho thấy công ty là một nhân tố quan trọng trong việc tăng thu ngân sách, giúp Chính phủ có khả năng đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội.
2.2 Nâng cao đời sống cho ngời lao động
Trong những năm gần đây, thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên trong Công ty đã tăng đáng kể, điều này đã khuyến khích người lao động làm việc hăng say, nhiệt tình và sáng tạo Bên cạnh đó, Công ty cũng đã thành lập các quỹ như quỹ BHXH, quỹ khen thưởng và phúc lợi, giúp người lao động yên tâm công tác.
Đánh giá - Nhận xét
1 Đánh giá kết quả hoạt động bán hàng.
Trong những năm qua, hoạt động bán hàng của Công ty đã không đạt được kế hoạch đề ra Một số vấn đề tồn tại trong Công ty đã ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh.
Công ty hiện đang chiếm khoảng 40% thị phần tại Hà Nội, cho thấy sự phục hồi và chủ động trong kinh doanh Điều này chứng tỏ Công ty đang dần chiếm lĩnh lại thị trường và giữ vai trò chủ đạo trong ngành thép tại khu vực này.
Trong thời gian qua, Công ty đã chủ động trong hoạt động kinh doanh, không còn hoàn toàn phụ thuộc vào Tổng Công ty Trước đây, nguồn hàng chủ yếu do Tổng Công ty phân phối, nhưng hiện nay, nguồn hàng tự tạo đã chiếm một phần lớn trong tổng số hàng hóa của Công ty Điều này cho thấy sự phát triển tích cực và khả năng tự chủ trong kinh doanh của Công ty.
Qua phân tích trên chúng ta thấy rằng tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty Kim Khí Hà Nội đã có nhiều tiến bộ.
Kể từ khi thành lập Công ty cho đến nay, hoạt động kinh doanh cuả Công ty đã mang lại nhiều lợi nhuận cho Tổng công ty.
Hoạt động kinh doanh của Công ty có những u nhợc điểm sau:
Công ty đã xây dựng được uy tín vững chắc trong lòng người tiêu dùng vật tư kim khí tại Hà Nội, trở thành một nhà bán hàng đáng tin cậy Các cửa hàng của công ty hoạt động liên tục, đảm bảo chất lượng và trọng lượng sản phẩm Để đạt được mục tiêu mua bán nhanh chóng và hiệu quả, công ty đã phát triển mạng lưới bán lẻ rộng khắp nội ngoại thành, đồng thời áp dụng chế độ khuyến khích cho các cửa hàng có doanh số cao và kết quả tốt nhất.
Công ty đã thiết lập tổ chức và hoạt động ổn định, với mạng lưới bán hàng và kho tàng chủ động, đủ sức chi phối thị trường Kỷ luật trong sản xuất kinh doanh được tăng cường nhờ sự hỗ trợ từ Bộ công nghiệp và sự điều hành kịp thời của Tổng công ty thép Việt Nam Sự hợp tác chặt chẽ với các công ty sản xuất thép trong nước và các ngành địa phương đã giúp công ty vượt qua khó khăn trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Bên cạnh những kết quả đạt đợc trong điều hành và sản xuất kinh doanh, Công ty còn có những yếu kém tồn tại:
Công tác nghiên cứu thị trường chưa hiệu quả, dẫn đến nguồn vật tư kim khí tại Hà Nội không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Sự thiếu hụt vật tư đã gây ra căng thẳng và sốt giá trên thị trường Cần chấn chỉnh công tác quản lý và giám sát để nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh Hiện tại, việc đầu tư trang thiết bị cho hoạt động bán lẻ kim khí tại các cửa hàng và kho còn thiếu thốn Tổ chức sắp xếp hàng hóa và theo dõi nhập - xuất - bảo quản trong kho gặp nhiều khó khăn Công tác hạch toán còn phân tán và chồng chéo, ảnh hưởng đến tính chính xác và kịp thời trong sản xuất kinh doanh Lãnh đạo Công ty cần tìm hiểu nguyên nhân và biện pháp để khắc phục những khó khăn này.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, nhiều cơ hội và thách thức đã xuất hiện, khiến tình hình sản xuất của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước, gặp khó khăn Trong bối cảnh sôi động của nền kinh tế thị trường, Công ty Kim khí Hà Nội đang chịu ảnh hưởng lớn từ xu hướng chung của thị trường vật tư kim khí hiện nay.
Thị trường đang trải qua một sự chuyển biến quan trọng, từ việc bị hình thành và duy trì một cách áp đặt, chủ yếu thông qua các biện pháp hành chính, đến việc được tôn trọng như một chủ thể khách quan.
Thị trường vật tư hiện nay đã chuyển từ việc chỉ phục vụ người bán sang phục vụ người mua Mặc dù một số ngành hàng vẫn còn bị Nhà nước độc quyền, nhưng tỷ lệ này không đáng kể Nhiều ngành hàng khác đã có sự tham gia đa dạng từ các thành phần kinh tế khác nhau.
Thị trường vật tư trong nước hiện nay phụ thuộc nhiều vào thị trường nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực kim khí và một số sản phẩm như xăng dầu, phân đạm và hóa chất, vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Điều tiết vĩ mô của Nhà nước về thị trường kim khí hiện còn yếu kém và thiếu hiệu quả, dẫn đến diễn biến thị trường phức tạp và khó dự đoán Hệ thống thông tin về thị trường không đầy đủ, không được cập nhật và thường xuyên sai lệch Bên cạnh đó, dự trữ vật tư trong nền kinh tế quốc dân rất mỏng, khả năng huy động thấp, và kế hoạch dự trữ chưa được xây dựng một cách khoa học và chính xác do thiếu vốn, cùng với việc tổ chức và quản lý vật tư dự trữ còn lỏng lẻo.
Sáu là, hệ thống công cụ pháp luật làm cơ sở định hớng và tổ chức quản lý kinh doanh thơng mại của nớc ta cha hoàn thiện.