Ngoài ra, việc tạo ra các thị phần và thị trờng mới, tăng sáng kiến chỉ đạo bán hàng, dễ dàng thâm nhập thị trờngmới hơn - đặc biệt các thị trờng có vị trí địa lý xa - cho phép gia nhập
Trang 1Mục Lục
Chơng 1
Khái quát chung về thơng mại điện tử và thanh toán
trong giao dịch thơng mại điện tử điện tử.
1 Khái niệm thơng mại điện tử và thanh toán điện tử: 3
1.2.1 World wide web nh là một kênh có hiệu quả 5 1.2.2 Web nh một mô hình hoạt động của hệ thống thông tin
maketing
6
1.2.3 Web với vai trò là một công cụ thơng mại 6
1.3.1 Thơng mại điện tử gây rủi ro cho các thị trờng tài chính 10 1.3.2 Thơng mại điện tử gây trở ngại cho ngời tiêu dùng: 10 1.3.3 Vấn đề bảo mật cho Thơng mại điện tử: 11
1.4 Các đòi hỏi đối với một hệ thống thơng mại điện tử: 16
1.4.5 Hệ thống thanh toán tài chính tự động 19
1.4.8 Tác động văn hoá xã hội của Internet 22
2.2.2 Những đòi hỏi về cơ sở hạ tầng của thanh toán điện tử 32
2.2 Sự cần thiết của thanh toán điện tử ở việt nam trong xu
thế thơng mại điện tử toàn cầu
35
Chơng II:
Phát triển thơng mại điện tử ở việt nam và vấn đề thanh toán điện tử.
1.1 Cần có chiến lợc kinh doanh có bài bản 38
Trang 21.2 Động lực phát triển TMĐT chủ yếu là từ các doanh nghiệp 40 1.3 Cơ sở pháp lý để đa thơng mại điện tử vào hoạt động 42 1.4 Phát triển TMĐT những điều còn thiếu ở Việt nam: 43
2 Tình hình hoạt động thanh toán điện tử ở Việt nam. 44 2.1 Thanh toán bằng thẻ tín dụng điện tử 44 2.2 Thanh toán điện tử qua máy di động kỹ thuật số nối mạng
toàn cầu
45
2.4 Thanh toán bằng các hoá đơn điện tử 45
3 Tình hình thanh toán điện tử của các ngân hàng ở Việt
Nam.
47
3.3 Khả năng tiếp cận và phát triển thanh toán điện tử tại các
Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hơn nữa về phát
triển thơng mại điện tử và thanh toán trong giao dịch TMĐT ở việt
nam.
1 Giải pháp để sử dụng và phát triển TMĐT có hiệu quả: 64
2.5 Tiến hành cùng lúc hai hệ thống thơng mại 69 2.6 Tạo tốc độ truy cập Website nhanh hơn 69
2.13 Sử dụng e-mail để lôi kéo khách hàng 71
3.1 Mục tiêu định hớng tiếp cận và phát triển thanh toán điện
tử ở Việt Nam
72
3.2 Một số giải pháp nhằm tiếp cận và phát triển hình thức 73
Trang 3thanh to¸n ®iÖn tö ë ViÖt Nam
Trang 4Lời mở đầu.
Vào khoảng nửa đầu thế kỷ XX, con ngời đã biết dùng kỹ thuật số hoá đểmã hoá các dữ liệu và thông tin Nhờ đó, tất cả các dạng thông tin đã đợc mãhoá đợc lu giữ trong môi trờng từ, truyền đi và đọc bằng điện tử với tốc độ ánhsáng Kỹ thuật số hoá đợc áp dụng đầu tiên trong lĩnh vực sản xuất máy tính.Chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời trên thế vào năm 1946 Trong thập kỷ 70,mạng máy tính đầu tiên ra đời ở Mỹ, nó đợc ít ngời biết đến và chỉ đợc ứngdụng vào việc nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động quân sự Ngày nay, do sựphát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và sự hoàn thiện của kỹ thuật số,nhiều loại máy tính đã ra đời với nhiều chức năng đa dạng, đặc biệt là trongthập kỷ vừa qua Máy tính giờ đây cũng dần trở nên gần gũi với con ngời hơn và
đợc ứng dụng rộng rãi hơn trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Giờ đây,mạng máy tính cũng phát triển không ngừng, không chỉ bó hẹp trong phạm vimạng nội bộ nh trớc nữa mà đã đợc mở rộng thành mạng diện rộng và mạngxuyên quốc gia – mạng Internet
Kỹ thuật số hoá vẫn phát triển không ngừng làm cho tính năng của máytính và công nghệ thông tin ngày càng phát triển Do vậy, internet cũng pháttriển rộng rãi và thu hút đợc sự quan tâm, chú ý của nhiều ngời hơn Máy tính
và mạng Internet giờ đây không chỉ đơn thuần là công cụ phục vụ cho việc họctập, tra cứu, tính toán mà nó còn có thể tham gia vào nhiều hoạt động khác củacon ngòi nh gửi th điện tử, nghe nhạc, xem truyền hình, đặc biệt là trong cáclĩnh vực về kinh tế Sự hoàn thiện các chức năng của máy tính và sự phát triểnnhanh của mạng Internet thúc đẩy sự ra đời của kinh tế số hóa và xã hội thôngtin mà thơng mại điện tử là một bộ phận hợp thành
Khoa học công nghệ ngày càng phát triển, việc ứng dụng các thành tựukhoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết
đối với các quốc gia Để có thể hội nhập với nền kinh tế thế giới thì việc nghiêncứu, ứng dụng và phát triển thơng mại điện tử và thanh toán điện tử ở Việt nam
đang ngày càng trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết Những thành tựu ban đầu vềphát triển thơng mại điện tử và thanh toán điện tử ở thật đáng khích lệ Tuynhiên, bên cạnh những điều đạt đợc còn nhiều vấn đề bất cập cần phải bàn đếnnh: Vấn đề bảo mật, cập nhật sự phát triển của công nghệ, đào tạo nhân lực,nghiên cứu và phát triển, những ảnh hởng xấu của internet đến đời sống hàngngày và vấn đề phổ cập thơng mại điện tử cũng nh thanh toán điện tử đến mọitầng lớp nhân dân còn là một thách thức lớn đối với Việt nam
Xuất phát từ thực tiễn trên, với mục đích nghiên cứu về phát triển thơngmại điện tử và thanh toán điện tử - những u điểm và nhợc điểm của nền kinh tế
Trang 5số hoá nói trên Với sự hớng dẫn tận tình của Thầy Lê Thế Bình – Giảng viên
bộ môn Thanh toán quốc tế, tôi đã chọn đề tài: Th“Th ơng mại điện tử và vấn đề Thanh toán trong giao dịch thơng mại điện tử ở Việt nam” cho bài khoá luận
tốt nghiệp của mình Bài khoá luận bao gồm những nội dung chính nh sau:
Chơng I: Khái quát chung về thơng mại điện tử và thanh toán trong giao dịch thơng mại điện tử.
Chơng II: Phát triển thơng mại điện tử và thanh toán điện tử ở Việt nam.
Chơng III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hơn nữa về phát triển thơng mại điện tử và thanh toán trong giao dịch TMĐT ở Việt nam.
Hy vọng bản luận văn này sẽ đóng góp một phần nhỏ bé cho việc tiếp cậnphát triển TMĐT và TTĐT ở Việt nam, góp phần đa ra một hành lang pháp lý
an toàn cho hoạt động TMĐT và TTĐT, đầu t và sử dụng tối đa hiệu quả gópphần pháp triển kinh tế đất nớc và hội nhập với nền kinh tế thế giới
Trang 6
-******** -Chơng 1Khái quát chung về thơng mại điện tử và thanh toán trong giao dịch thơng mại điện tử điện tử.
1 - Khái niệm thơng mại điện tử và thanh toán điện tử:
1.1 - Thơng mại điện tử là gì.
Có thể định nghĩa TMĐT là việc sử dụng các phơng pháp, phơng tiện điện
tử để thực hiện mọi trao đổi thông tin thơng mại, trong đó thông tin là bất cứthứ gì có thể truyền gửi bằng phơng tiện điện tử, và thơng mại bao gồm khôngchỉ việc mua bán hàng hoá dịch vụ mà cả các giao tiếp xã hội khác Chấp nhận
định nghĩa TMĐT theo cách rộng nh vậy là điều rất quan trọng để tránh quanniệm một chiều phổ biến nh hiện nay coi TMĐT chỉ là việc dùng các phơng tiện
điện tử để thực hiện các tác vụ buôn bán truyền thống Hiểu một chiều nh vậy
dễ dẫn tới xem nhẹ tác động TMĐT lên toàn xã hội
Giao dịch TMĐT đợc thực hiện theo nhiều kiểu (ngời với ngời, ngời vớimáy tính và máy tính với máy tính), và dới nhiều dạng thức (giao dịch điện tửngân hàng, buôn bán điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử, th tín điện tử, truyền tinqua máy fax, lập catologue điện tử, hội nghị qua truyền hình, truyền thông đaphơng ), diễn ra giữa ngời tiêu thụ, doanh nghiệp, cơ quan nhà nớc ở các cấp
độ khác nhau và nhằm những mục đích khác nhau TMĐT gây tác động tới toànxã hội và sâu tới từng con ngời, rồi đây sẽ khiến cho phơng thức vận hành xãhội thay đổi triệt để, cách thức giáo dục con nguời cũng thay đổi theo và đa tớichuyển hoá lối sống theo hớng số hoá TMĐT đợc xem nh một phơng thức hoạt
động chứ không đơn thuần là mục tiêu kinh doanh
1.2 - lợi ích của thơng mại điện tử:
Sự phát triển khủng khiếp của Internet và đặc biệt là WWW đã dẫn đến sựgia tăng số lớn ngời tiêu dùng và các hãng kinh doanh tham gia vào một thị tr-ờng mạng trực tuyến Việc mọi ngời nhanh chóng chấp nhận Internet nh mộtcông cụ thơng mại là nguyên nhân khiến cho các hãng phải tiến hành một cuộcthử nghiệm, bằng cách thay đổi đờng lối tiếp thị đến ngời tiêu dùng thông quamột môi trờng trung gian đó là những chiếc máy tính nối mạng Những sự pháttriển này trên Internet đang đợc mở rộng để tiến đến việc sử dụng Internet nhmột công cụ thơng mại, đem đến một cái nhìn quan trọng về Internet nh một thịtrờng mới Internet là một mạng toàn cầu rộng lớn của các mạng máy tính đợc
Trang 7kết nối với nhau trên cơ sở lu chuyển các gói thông tin KROL và HOTFMAN
đề nghị xác định rõ ba định nghĩa về Internet
Thứ nhất: Một mạng bao gồm các mạng cơ sở dựa trên giao thức TCP/
IP
Thứ hai: Những mạng mà mọi ngời có thể sử dụng và phát triển nó
Thứ ba: Những mạng chứa những nguồn tài nguyên lớn mà mọi ngời cóthể sử dụng đợc
Lu ý rằng các định nghĩa ở trên không hoàn toàn đợc mọi ngời chấp nhậnbởi vì Internet hiện nay đang ở vị trí là một giao thức chung, một sự tập hợp tựnhiên của các bộ dọn đờng và các đờng truyền, các tài nguyên đợc phân bổ vàthậm chí là một sự trao đổi giữa các hệ thống liên lạc và thông tin
Phần lớn sự kích thích phát triển thơng mại đang xảy ra trên từng phần nào
đó của Internet đã đợc biết đến, chẳng hạn nh là www WWW là một siêu
ph-ơng tiện thông tin đã đợc phân chia bên trong Internet và nó bắt đầu đợc pháttriển bởi CERN (trung tâm năng lợng hạt nhân châu Âu) Các siêu phơng tiệnthông tin cho phép các phơng tiện thông tin ở một nơi nào đó trên mạng máychủ toàn cầu đợc liên hệ với nhau hoặc cho phép một ngời nào đó truyền đinhững thông tin từ nơi này đến nơi khác bằng cách nhấn vào các siêu liên kết.Một vài hình thức siêu liên kết có thể trỏ tới một vài tệp dữ liệu ở bất kì chỗ nàotrên Internet Ngời sử dụng – những khách hàng quen - có thể xây dựng chomình một trang chủ của WWW ở nhà để tận dụng hệ thống siêu liên kết nhằm
đơn giản hoá công việc hớng dẫn, kể cả những đề nghị trên Internet Việc hiệnnay WWW đang dợc sử dụng một cách phổ biến nh là một công cụ thơng mại,
là nhờ nó có khả năng phân phối các nguồn tài nguyên và thông tin một cáchthuận lợi và tiềm năng của nó đối với việc cung cấp một kênh thông tin có hiệuquả cao cho việc quảng cáo, tiếp thị và hớng dẫn phân phối một cách công bằngnhững dịch vụ thông tin và hàng hoá nào đó
1.2.1- World wide web nh là một kênh có hiệu quả
Trang 8là "chỉ bằng 1/10 ngân quỹ quảng cáo họ đã bán đợc một số lợng sản phẩm gấp
10 lần" (Potter 1994) Nh vậy, chi phí cho việc thực hiện tiếp thị trực tiếp thôngqua mạng Internet rẻ hơn 1/4 lần so với việc tiếp thị trên các phơng tiện thôngtin đại chúng bình thờng khác (Verity & Hof, 1994) Sự kiện này trở thành mộthiện tợng đặc biệt trong bộ mặt của quá trình rút ngắn công nghệ và chu kỳsống của sản phẩm và tạo ra sự phát triển của những công nghệ phức tạp Xem
nh ví dụ về SunSolve Online, hệ thống Sun Microystems đã từng tiết kiệm đợctrên 4 triệu đô la chỉ riêng ở trong FAQs kể từ khi họ "thực hiện việc tái điềukhiển thông tin xung quanh WWW"
1.2.2- Web nh một mô hình hoạt động của hệ thống thông tin maketing
Các hãng sử dụng các phơng tiện khác nhau để truyền đạt về luồng kháchhàng hiên tại và tiềm năng của họ Hệ thống thông tin maketing thực hiện bachức năng: cung cấp dữ liệu, nhắc nhở và thuyết phục (Anderson và Rubin,1986) Mô hình thông tin Maketing one - to - many cổ điển dành cho các phơngtiện thông tin đại chúng đợc trình bày ở bên dới, trong mục 1 Trong cái môhình bị động này, các hãng (denoted by F) cung cấp những nội dung thông quamột phơng tiện thông tin đại chúng đến một thị trờng chung của ngời tiêu dùng(denoted by C) Hai chức năng đầu tiên của hệ thống thông tin maketing có lẽ
đợc thực hiện bởi một mô hình hệ thống thông tin cổ điển Tuy nhiên, nhữngchức năng đáng tin cần thiết cho việc phân biệt một sản phẩm hay hàng hoá đợcgiới hạn bởi sự quản lý duy nhất của phơng tiện thông tin đại chúng cổ điển
1.2.3- Web với vai trò là một công cụ thơng mại
Nh một trung gian thơng mại, Web tạo ra nhiều lợi ích quan trọng đối vớikhách hàng và các hãng Nh vậy ta có thể đề cập đến cả cung và cầu Trớc hết
ta đề cập đến lợi ích từ phía khách hàng và sau đó là các hãng Lợi ích của ngờimua có đợc chủ yếu do các đặc tính về kết cấu của trang Web đó là: cung cấp
đầy đủ thông tin, công cụ tìm kiếm và thử sản phẩm trên mạng điều đó làmgiảm sự không chắc chắn khi quyết định mua hàng Về phía hãng nhận đợc lợiích từ tiềm năng của Web đó là:
Trang 91.2.4- Lợi ích của khách hàng:
Một lợi ích quan trọng của ngời tiêu dùng liên quan đến việc Maketingtrên mạng, đó là việc tiếp cận với một lợng lớn hơn về thông tin và trả lời nhiềucâu hỏi hơn khi quyết định mua hàng Một cuộc khảo cứu về Web cho thấynhững thông tin đợc a chuộng nhất là những thông tin liên quan đến mua bán.Ngoài ra, mối liên kết tự nhiên của Web và môi trờng siêu văn bản cho phép bắt
đầu những cuộc tìm kiếm (nhiều chiều hơn) phi tuyến và sâu sắc hơn Vì vậycác thông tin Maketing trên Web hấp dẫn khách hàng hơn việc sử dụng các ph-
ơng tiện truyền thông truyền thống Ngoài ra, các ứng dụng giải trí khác đi kèmthực chất đã khuyến khích khách hàng đến với Web nhiều hơn Khả năng tíchluỹ, phân tích, kiểm soát các thông số chuyên môn lớn cho phép so sánh quátrình mua sắm và tốc độ của quá trình tìm kiếm mặt hàng Web cho phép thử dễdàng và cung cấp hình ảnh trực tiếp sẽ kích thích khách hàng mua sắm, cũng
đồng thời cho phép khách hàng tìm kiếm một cách dễ dàng hơn những sảnphẩm khó tìm và tạo ra một sự lựa chọn phong phú hơn về mặt hàng do cónhiều kênh thông tin hơn Ngoài ra, những lợi ích cho nhà mua hàng côngnghiệp là giảm chi phí đối với ngời mua do có lợi thế cạnh tranh hơn trong việc
“Thdẫn dắt” khách hàng nhờ vào “Ththị trờng ảo” Sự cạnh tranh dẫn đến việc tăngchất lợng và chủng loại hàng do sự mở rộng thị trờng và khả năng sản xuất sảnphẩm tiêu dùng phù hợp hơn
là các nhà cung cấp dịch vụ xuất bản, thông tin và sản phẩm kĩ thuật số, ví dụ:các sản phẩm kĩ thuật số có thể đợc phân phối ngay lập tức, vì thế dẫn đến sựtriệt tiêu các nhà môi giới (và trung gian)
Ngoài ra, ngời bán và ngời mua có cũng thể tiếp cận trực tiếp với nhau,
nh vậy có thể bỏ qua chi phí Maketing và các rào cản trong quan hệ quốc tế
Điều này có thể tác động đến việc thu nhỏ kênh phân phối và làm cho thị trờngphân phối có hiệu quả hơn (chủ yếu là do giảm chi phí phụ nhờ các kết quảsau):
+ Đồng bộ hoá
+ Tự động hoá
+ Sự hội nhập quy mô.)
Trang 10Thời gian hoàn thành hợp đồng cũng giảm, cũng làm tăng thêm hiệu quảcho hãng Tuy nhiên, những công dụng đó phải phù hợp với thực tế thị trờng Thứ hai, Thơng Mại Điện Tử mang lại nhiều khả năng bán hàng thông quaviệc đặt lệnh và điền vào mẫu trên mạng, do vậy giao dịch dễ kết thúc hơn Đó
là lợi ích thứ ba xét dới dạng Khoa Học Công Nghệ (KHCN) cho phép hãng tậphợp thông tin và điều khiển sự lựa chọn của khách hàng thông qua hành vi muabán, tìm kiếm các sở thích trên Web Tuy nhiên, chú ý rằng còn nhiều vấn đềtrở ngại về mặt pháp lý, KHCN và xã hội, với trình độ / mức độ công nghệ hiệnnay cha cho phép các hãng tối đa hoá lợi nhuận
Các địa chỉ Web có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng với số giờphục vụ là 24h/ngày Mối quan hệ tơng tác giữa các phơng tiện thông tin nhWeb có thể đợc những nhà nghiên cứu thị trờng sử dụng nhằm thu hút sự chú ýcủa khách hàng bằng những cuộc hội thoại không đồng bộ, nh vậy nó đem lạilợi ích cho cả hai bên Công dụng của Web là rất lớn, nó đã tạo ra cơ hội chatừng có cho việc chuyển đổi thông tin một cách chính xác đến từng khách hàng,cho phép họ thu thập đợc thông tin nh mong muốn Ngoài ra nó cho phép cácdoanh nghiệp có thông tin chính xác từ phía khách hàng nhằm phục vụ cho mục
đích, kinh doanh ngày càng hiệu quả hơn trong tơng lai Một ứng dụng đơn giản
là việc kết nối với khách hàng thông qua các địa chỉ gửi Email, đựơc đặt mộtcách có chủ ý, phức tạp hơn là việc dùng các mẫu điền sẵn và các công cụ kíchthích khách hàng đến với hãng Mục tiêu của việc xây dựng mối quan hệ thờngxuyên với khách hàng, đó là sự tạo lập mối quan hệ tơng tác hai chiều, đa thôngtin đến với khách hàng và nhận lại sự phản hồi từ họ Vì vậy, lợi ích thứ năm màWeb mang lại là quảng cáo, xúc tiến và phục vụ khách hàng một cách hiệu quảhơn Quan trọng hơn cả, Web đã tạo ra cơ hội cạnh tranh nhờ vào tính đặc biệtcủa sản phẩm thay vì cạnh tranh nhờ giá Xét về khía cạnh Maketing, hiếm khihiệu quả nh mong muốn đạt đợc nếu nh chỉ nhờ cạnh tranh bằng giá Thay vào
đó, các nhà hoạch định Maketing, cố gắng thoả mãn nhu cầu trên nền tảng lợi
Trang 11ích, nghĩa là chiến lợc giá phụ thuộc vào lợi ích mang lại cho khách hàng, chứkhông phải dựa trên chi phí (trên cơ sở của Maketing Mix) Điều này dẫn đếnviệc tạo ra quá nhiều lợi ích cho khách hàng, Vídụ: sự cung cấp sản phẩm phầnmềm giải trí thông qua các Web site hấp dẫn, vì thế giá cả không phải là yếu tốquan trọng nhất để khách hàng lựa chọn
c) Lợi ích từ kinh doanh
Các lợi ích kinh doanh mà Web mang lại cho các nhà buôn công nghiệp làgiảm lỗi, thời gian và chi phí gián tiếp của quá trình xử lý thông tin, giảm chiphí đối với nhà cung cấp các cơ sở dữ liệu đợc chào bán trên mạng, những lờigợi ý trực tiếp và cả sự phê bình từ nhiều phía Ngoài ra, việc tạo ra các thị phần
và thị trờng mới, tăng sáng kiến chỉ đạo bán hàng, dễ dàng thâm nhập thị trờngmới hơn - đặc biệt các thị trờng có vị trí địa lý xa - cho phép gia nhập thị trờngnhanh hơn, đó là do khả năng tiếp cận khách hàng tiềm năng dễ và rẻ hơn, loại
bỏ sự trì hoãn giữa các bớc của một tiến trình kinh doanh kinh doanh
1.3- Hạn chế của thơng mại điện tử
1.3.1- Thơng mại điện tử gây rủi ro cho các thị trờng tài chính
Các tiến bộ trong công nghệ, đặc biệt là sự ra đời của Internet, đang làmthay đổi bộ mặt các dịch vụ tài chính và làm tăng các khả năng thay đổi bất ngờtrong các thị trờng tài chính toàn cầu
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết mặc dù tài chính điện tử(e-finance) và các tiến bộ công nghệ khác sẽ thúc đẩy sự phát triển của ngànhtài chính và giảm bớt quy định chung nhng trong một thời gian trớc mắt, cácnhà chức trách sẽ phải cảnh giác hơn
Một vấn đề nữa là việc truyền tải các thông tin dễ dàng sẽ làm cho giá củatài sản và dòng vốn không ổn định hơn
Việc hạn chế các tài khoản vốn trên thị trờng tài chính điện tử sẽ trở nênkhó khăn nhiều hơn, đặc biệt tại các thị trờng mới nổi
Tuy nhiên, theo báo cáo này, việc phát triển tài chính điện tử sẽ là mộtcông cụ tài chính phục vụ cho các nhà cung cấp Việc gia tăng tài chính điện tử
sẽ cho phép các nhà cung cấp tạo ra các sản phẩm với chi phí rẻ và thời giannhanh chóng Tự do hóa các kênh phân phối sẽ cho phép các công ty khôngphải là công ty tài chính, nh các công ty viễn thông và điện, tham gia thị trờngtài chính điện tử Giao dịch điện tử và các hoạt động thông tin liên lạc sẽ giúpcho các giao dịch cổ phiếu, tài sản cố định và hàng hóa trên phạm vi toàn cầuchứ không gắn riêng với một thị trờng nào
Trang 121.3.2- Thơng mại điện tử gây trở ngại cho ngời tiêu dùng:
Tổ chức Quốc tế Ngời Tiêu dùng (CI) cho biết, khách mua hàng quaInternet hiện đang bị các đại lý bán lẻ và các nhà chức trách phục vụ thiếu chu
đáo CI cũng kêu gọi việc sớm ban hành các quy định quốc tế về Thơng mại
định thơng mại quốc tế vào cuối năm nay để lấy lại niềm tin của ngời tiêu dùng
đối với thơng mại điện tử nh: đảm bảo tính riêng t, an ninh và tiền bồi thờngcho ngời tiêu dùng, tăng cờng việc chống quảng cáo bừa bãi bằng th điện tử và
mở thêm các hợp đồng trên mạng
Theo dự báo của Công ty Dữ liệu Quốc tế, International Data Corp (IDC),thì đến năm 2003, trị giá thơng mại điện tử trên Internet sẽ là 1.000 tỷ USD dongày càng có nhiều ngời mua sẵm trên mạng hơn và Internet sẽ trở thành nơi
"đất lành chim đậu" cho các doanh nghiệp trong việc ký kết các hợp đồng làm
ăn
CI cũng nói rằng việc giới doanh nghiệp còn nhiều phản đối là một trongnhững nguyên nhân chính cản trở việc thực hiện các quy định mà OECD đangthảo luận trong vòng 2 năm qua OECD dự định tranh luận các quy định này tạicuộc họp của Uỷ ban Chính sách Ngời tiêu dùng tại Pari vào ngày 8/9
1.3.3- Vấn đề bảo mật cho Thơng mại điện tử:
Cùng với việc đa hoạt động kinh doanh lên mạng, các công ty đồng thờinhận ra rằng triển vọng tuyệt vời của thơng mại điện tử không phải là không córủi ro Rủi ro hàng đầu, đó là tính bảo mật Điều nguy hiểm là ở chỗ nhiều rủi
ro tiềm ẩn của thơng mại điện tử vẫn hoàn toàn dấu mặt Một trong nhữngnguyên nhân khiến giới quản lý công ty bực mình là họ phải công bố nhữngthông tin thơng mại, thậm chí sản xuất có giá trị nếu muốn lên Intemet và do đólàm tăng khả năng bị theo dõi, hay tệ hơn, bị can thiệp Gần đây, với sự xuấthiện của hàng loạt virus theo đờng th điện tử, mối bận tâm về tính an toàn củaInternet lại trở nên nóng bóng hơn bao giờ hết Quả thật, cha lúc nào thông tin
về các doanh nghiệp lại cởi mở và dễ tiếp cận nh bây giờ Để lắng nghe kháchhàng và giảm chi phí, Internet là giải pháp tốt nhất Điều này đồng nghĩa vớitiết lộ các thông tin kinh doanh trên mạng Khách hàng càng cảm thấy dễ chịu,
Trang 13thông tin cần cung cấp càng nhiều Đây chính là nghịch lý mà mỗi công ty đangphải đối mặt: càng tăng tính cạnh tranh, càng bất ổn và rủi ro Rủi ro này baohàm các cuộc tấn công của virus hay can thiệp của một hacker mà hậu quả cóthể khiến toàn bộ hoạt động sản xuất của công ty bị ngng trệ hay các dữ liệu bị
đánh cắp Ngay cả nếu trờng hợp xấu nhất này không xảy ra thì nỗi ám ảnh bất
an vẫn luôn thờng trực khi khách hàng đợc phép tiếp cận và tìm kiếm các đơn
đặt hàng hay dự trữ kho của công ty "Phần lớn các công ty cảm thấy khó khănthích nghi với kiểu cởi mở mới này, xét trên phơng diện bảo mật và do có quánhiều lựa chọn kênh bán hàng" theo lời của James Martin, tác giả "Cybercorp",một best-seller về thơng mại điện tử Thách thức bảo mật tiếp theo đến từIntemet không dây Nói cách khác, Internet truy cập qua điện thoại di động
Điện thoại di động thế hệ mới cho phép kết nối tới máy chủ hay chơng trình th
điện tử của công ty, và đó chính là yếu điểm trớc sự tấn công của virus Virus
có thể dễ dàng đợc gửi tới máy di động và qua đó len lỏi tới máy chủ của công
ty ngời có máy điện thoại Tuy nhiên, trên tất cả, mối lo ngại lớn nhất khôngphải đến từ bên ngoài mà từ bên trong công ty Nhân viên nói chung có nhiềucơ hội hơn, nhiều hiểu biết hơn và nhiều động cơ hơn để làm tổn hại tới công ty.Thêm vào đó, ý thức bảo mật của nhân viên thờng không đầy đủ nên dễ trởthành mục tiêu bị lợi dụng Trên thực tế, cách dễ nhất để thâm nhập vào hệthống nội bộ là gọi điện cho một nhân viên, đóng giả là ngời hỗ trợ kỹ thuật vàxin mật khẩu Chính vì thế, các công ty đang phải đối phó bằng cách phân loạithông tin nào có thể cung cấp cho khách hàng, đối tác hay các nhà đầu t, khôngdựa trên cách thức chúng đợc cung cấp Ngoài ra việc nâng cao nhận thức củanhân viên về tính bảo mật cũng vô cùng quan trọng Mark Bregman, trởng bộphận máy tính của hãng IBM cho rằng "các công ty cần hiểu nhân viên kỹ thuậtthôi cha đủ để đảm bảo an toàn cho hệ thống thông tin cần đợc xử lý nh mộtvấn đề chính sách" Rủi ro của kinh doanh điện tử luôn hiện hữu và không kémphần nguy hiểm so với các rủi ro khác Song sử dụng Intemet trong kinh doanhkhông còn là s lựa chọn mà là sự bắt buộc đối với mọi công tỵ Và không phảimọi rủi ro đều xấu Về khía cạnh nào đó, rủi ro quản lý lại có mặt tốt vì không
có rủi ro đó công ty của bạn không thể tạo ra lợi thế cho mình qua việc là ngờithích ứng nhanh nhất và thành công nhất Vì vậy, hãy nhìn an toàn nh là mộtvấn đề tổng thể hơn là cố gắng giải quyết dứt điếm nó
1.3.4- Gian lận thơng mại điện tử
Ngày nay các cửa hàng đều là những nơi đợc trang bị nhiều thiết bị phòngchống trộm Những chiếc gơng đặt ở các góc, thiết bị báo động giấu trong hànghoá và những nhân viên an ninh hộ pháp đi lại trên các tầng Mỗi khi bạn muavật gì cũng phải trình thẻ căn cớc Các cửa hàng đều là những nơi rất an toàn
Trang 14Nhng còn các cửa hàng trên mạng thì sao? Những ngời bán hàng ảo có phảicũng phòng ngừa nh vậy không? Họ phải đối mặt với những thủ đoạn lừa đảonào?
Đã có nhiều bài viết về những ngời khai thác Web không có đạo đức đã lừa
đảo những công ty hợp pháp, ăn cắp mã thẻ tín dụng hay bán những mặt hàngkhông đảm bảo chất lợng Đồng thời họ cũng phải đối mặt với những kẻ sửdụng thẻ tín dụng ăn cắp hay họ phải trả tiền cho những hàng hoá mà ngời tacho không
Nhờ có SSL, SET và các công nghệ bảo mật khác mà Internet đã trở thànhmột nơi khá an toàn cho ngời mua hàng Nhng nó có thực sự là một thị trờng tốt
để rao bán sản phẩm? Cuộc thăm dò về nguy cơ lừa đảo trên mạng doCyberSource, một nhà cung cấp dịch vụ giao dịch thơng mại điện tử và là mộttrong số những công ty đi đầu trong lĩnh vực tìm kiếm gian lận thơng mại điện
tử, đã đa ra những con số đáng kinh ngạc Trong khi hầu hết những thơng gia
điện tử đều thừa nhận rằng vấn đề ăn cắp mã thẻ tín dụng là rất đáng lo ngại,41% không hề biết rằng họ rất dễ bị lừa đảo tài chính trên Internet Cuộc thăm
dò cho thấy 4,6 - 7,8% những nỗ lực mua bán các sản phẩm vật chất hoàn toàn
có khả năng là lừa đảo trong khi con số này là 14,4 - 23,5% đối với những sảnphẩm kỹ thuật số Đấy là cha kể đến công nghệ chặn và sàng lọc dữ liệu để lừa
đảo
Nhng điều đó đợc thực hiện nh thế nào? Giả sử một ngời mua hàng muamột đôi tất chân từ Web sites của bạn Khách hàng này dễ dàng liên hệ vớicông ty thẻ tín dụng của anh ta và nói rằng anh ta không nhận đợc hàng và yêucầu đòi lại tiền Việc hoàn trả tiền đợc thực hiện và tài khoản của ngời bán bịgiảm một khoản tơng đơng, đồng thời ngời bán phải chịu phí hoàn trả lên đến
25 USD Ngời mua cứ thế ung dung ra đi với món hàng của bạn Trong trờnghợp khác, những kẻ bất lơng thờng sử dụng mã thẻ tín dụng ăn cắp hay yêu cầugửi hàng hoá về hòm th bí mật Những mánh khoé khác còn phải kể đến nh làmgiả thẻ căn cớc, tạo thẻ tín dụng giả (sử dụng một loại phần mềm đặc biệt) vànhững giao dịch qua bu điện với điều khoản "gửi đến" rất dễ bị những kẻ ăn cắpgửi một th yêu cầu đến ngời giao nhận và làm thay đổi đích đến của món hàng.Việc gửi trả lại tiền xảy ra khi ngời sở hữu thẻ không chấp nhận việc trảtiền, ngân hàng buộc phải thu hồi lợng tiền đã trả, ghi có vào tài khoản của chủthẻ tín dụng, ghi nợ vào tài khoản ngời bán Quy trình này đợc tạo ra để bảo vệngời mua khỏi những món tiền phải trả đáng ngờ cũng nh khi ngời bán giaohàng sai quy cách, phẩm chất hay không giao hàng Nhng hệ thống này cũng đã
bị lợi dụng
Theo lời ông Tracy Wilk, phó phòng quản lý sản phẩm của CyberSourcethì những vụ đòi trả lại tiền này thờng xảy ra trong lĩnh vực điện thoại, đặt hàng
Trang 15qua th hay những vụ giao dịch trực tuyến vì ngời mua không cần phải ra mặt.Tồi tệ hơn, khi bạn không xác nhận tính hợp lệ của thẻ tín dụng của ngời muathì chính bạn chứ không phải là nhà băng phải chịu trách nhiệm đối với bất cứ ý
định lừa đảo (nếu có)
* Làm thế nào để giảm thiểu rủi ro
CyberSource (www cybersource com) đã kết hợp với Visa USA để đa raCyberSource Internet Fraud Screen, một dịch vụ tính toán rủi ro theo từng hợp
đồng, và cho kết quả bằng điểm sau 5 giây Dịch vụ này kiểm tra hơn 150 nhân
tố liên quan đến mỗi vụ giao dịch đợc đa ra CyberSource hoạt động nh một nhàcung cấp dịch vụ ứng dụng ASP với chi phí cài đặt 500 USD trả trớc và phí theomỗi giao dịch từ 21, 5 - 39 cents tuỳ theo độ lớn của hợp đồng CyberSource đ-
ợc sử dụng nh một ASP và nó chỉ yêu cầu cài đặt thêm một vài thứ cho chứcnăng giao dịch CyberSource tơng thích với một vài máy chủ thơng mại nhBroadvision, Interworld và Microsoft Site Server Nếu bạn muốn sử dụngCyberSource với một máy chủ thơng mại khác, bạn phải tải xuống một số script
đã có sẵn cho phép địa chỉ của bạn kết nối một cách an toàn và đợc mã hoá vớisite CyberSource Có thể bạn phải thay đổi một số thông số cho phù hợp nhng
đối với hầu hết các thơng nhân thì chơng trình có thể tải xuống và chạy ngaychỉ trong vòng một ngày
Việc hoạt động là hoàn toàn liền mạch Khi bạn nhận đợc một đơn đặthàng thì nó đã chạy qua CyberSource (thông qua một giao thức truyền tin antoàn và độc quyền) rồi đến chỗ của bạn với số điểm về độ "rủi ro" Độ "rủi ro"này do một công nghệ trí thông minh nhân tạo của CyberSource tính toán.Thậm chí bạn có thể đặt ra những ngỡng "rủi ro" tuỳ theo tập quán công ty củabạn (có thể cụ thể theo mặt hàng hoặc loại hợp đồng)
Một dịch vụ hữu dụng khác là dịch vụ "không hoàn lại tiền" (NoChargeBacks) (www nochargebacks com) Hệ thống này cung cấp đờng dẫncho các thơng gia truy cập vào một cơ sở dữ liệu về mã thẻ tín dụng đã đợc sửdụng trong những giao dịch "tồi" qua các các đơn đặt hàng qua th hay các côngviệc kinh doanh trên Internet Với CyberSource bạn cần có kỹ năng về CGIhoặc HTLM để có thể tích hợp dịch vụ này vào Web sites của bạn nhng hầu hếtnhững nhà phân phối Web có thể giải quyết vấn đề này một cách dễ dàng Bên cạnh đó, không nên coi nhẹ những dịch vụ do ngân hàng của bạn cungcấp Với một tài khoản buôn bán tiêu chuẩn bạn có quyền giao dịch nếu thẻ tíndụng đó không đợc thông báo là bị mất cắp và có khả năng thanh toán Nhnghầu hết các ngân hàng dịch vụ thẩm tra địa chỉ (AVS) cho bạn biết địa chỉ ngờimua cung cấp có phù hợp với tài liệu ở ngân hàng phát hành hay không Đây là
Trang 16một cách khá đơn giản để phát hiện một số trong các giao dịch có yếu tố lừa
đảo
* Phơng pháp trực quan đơn giản
Trái ngợc với những gì mà phần lớn mọi ngời tin tởng, khách hàng khôngphải lúc nào cũng đúng Trong nhiều trờng hợp khách hàng lại là kẻ lừa đảo Cónhiều công cụ giúp phát hiện điều này nhng cảm giác trực quan cũng khá quantrọng Nếu bạn bán một số lợng không lớn sản phẩm nào đó, hãy kiểm tra kỹmọi thông tin trớc khi giao hàng Để tránh những phàn nàn sau này rằng hànghoá không đến, hãy yêu cầu chữ ký dới hoá đơn nhận Nếu bạn giao hàng quaphơng thức UPS, bạn có thể nhận đợc giấy xác nhận nhận hàng trực tuyến
Đừng bao giờ chấp nhận những đơn đặt hàng không có đầy đủ họ tên, địa chỉ và
số điện thoại Một số thơng gia còn thậm chí từ chối những đơn đặt hàng quanhững địa chỉ th điện tử miễn phí nh Hotmail vì chúng là những địa chỉ nặcdanh Tóm lại, để kết thúc vấn đề muôn thuở này, các thơng gia phải cẩn trọnghơn với mọi đề nghị giao dịch trên mạng
1.4- Các đòi hỏi đối với một hệ thống thơng mại điện tử:
Qua việc tìm hiểu các thành phần và các phơng tiện, chúng ta thấy để chohoạt động thơng mại điện tử diễn ra một cách hiệu quả thì phải đáp ứng nhữngyêu cầu sau:
1.4.1 - Hạ tầng cơ sở công nghệ
Thơng mại điện tử không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là hệ quảtất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hóa, của công nghệ thông tin, mà trớc hết là
kỹ thuật máy tính điện tử Vì thế, chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành th
-ơng mại điện tử có nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một hạ tầng cơ sởcông nghệ thông tin vững chắc (bao gồm 2 nhánh: tính toán điện tử và truyềnthông điện tử)
Hạ tầng cơ sở công nghệ ấy bao gồm từ các chuẩn của doanh nghiệp, củacả nớc, và sự liên kết của các chuẩn ấy với các chuẩn quốc tế, tới kỹ thuật ứngdụng và thiết bị ứng dụng; và không chỉ của riêng từng doanh nghiệp, mà phải
là một hệ thống quốc gia, với t cách nh một phân hệ của hệ thống công nghệthông tin khu vực và toàn cầu (trên nền tảng của Internet hiểu theo nghĩa rộng,nghĩa là bao gồm cả các phân mạng, và hệ thống liên lạc viễn thông toàn cầu),
và hệ thống ấy phải tới đợc từng cá nhân trong hệ thống thơng mại (cho tới từngcá nhân ngời tiêu thụ)
Trang 17Hạ tầng cơ sở công nghệ không chỉ có nghĩa là tính hiện hữu (availability;nay cũng thờng dùng chữ "tính thờng hữu" để diễn đạt cả sắc thái ổn định), màcòn hàm nghĩa có tính kinh tế sử dụng (afordability); nghĩa là chi phí trang bịcác phơng tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính, modem v.v.) và chiphí dịch vụ truyền thông (chi phí điện thoại, phí nối mạng và truy cập mạng)phải đủ rẻ để đông đảo ngời sử dụng có thể tiếp cận đợc Điều này có ý nghĩa
đặc biệt to lớn đối với các nớc đang phát triển, mức sống nói chung còn thấp.Cũng cần lu ý thêm rằng hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin chỉ có thể có vàhoạt động đáng tin cậy trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng vững chắc,
đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định, và với mức giá hợp lý
tế, mà còn có ý nghĩa an ninh quốc gia
1.4.2 - Hạ tầng cơ sở nhân lực
Thơng mại trong khái niệm "thơng mại điện tử" động chạm tới mọi con
ng-ời, từ ngời tiêu thụ tới ngời sản xuất, phân phối, tới các cơ quan chính phủ, tớicả các nhà công nghệ và phát triển
áp dụng thơng mại điện tử tất yếu làm nảy sinh hai đòi hỏi: một là mọi
ng-ời đều quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng, hai là cómột đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thờng xuyên bắt kịp các công nghệ thôngtin mới phát triển ra để phục vụ cho kinh tế số hoá, tránh bị động lệ thuộc hoàntoàn vào nớc khác
Ngoài ra, nếu sử dụng Internet/Web, thì một yêu cầu tự nhiên nữa của kinhdoanh trực tuyến là tất cả những ngời tham gia đều phải giỏi Anh ngữ, vì tớinay (và có lẽ còn tới một thời điểm rất xa nữa), ngôn ngữ chủ yếu sử dụng trongthơng mại nói chung, và thơng mại điện tử qua mạng Internet nói riêng, vẫn làTiếng Anh (đơng nhiên, đây chủ yếu chỉ là "vấn đề" đối với các nớc ít pháttriển)
Trang 18Đòi hỏi này của thơng mại điện tử dẫ tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáo
dục và đào tạo
và kẻ xấu sẽ lợi dụng mà rút tiền, ngời bán thì lo ngời mua không thanh toáncho các hợp đồng đã đợc "ký kết theo kiểu điện tử" qua Web Trong các lĩnhvực khác, điều đáng ngại nhất là an toàn và bảo mật dữ liệu Điều lo sợ ấy là cócăn cứ, vì số vụ tấn công vào Internet ngày càng tăng, kể cả vào những mạng đ-
ợc bảo vệ nghiêm ngặt (cuối năm 1996, trang Web của Bộ T pháp Mỹ và củaCIA bị truy cập và thay đổi một số nội dung, đầu năm 1997 một loạt địa chỉInternet của Mỹ phải ngừng dịch vụ Web và E-mail trong một tuần vì bị "tintặc" tấn công) "Tin tặc" (hacker) dùng nhiều thủ đoạn khác nhau: mạo quan hệ,
bẻ mật khẩu (nhất là mật khẩu yếu), vi rút và các chơng trình "phá từ bên trong"(gọi lóng là "con ngựa thành Tơ-roa), giả mạo địa chỉ Internet (IP Spoofing),phong toả dịch vụ (DOS-denial of service)
Kỹ thuật mã hoá (cryptography) hiện đại (trong đó có kỹ thuật " mã hoákhoá công khai/bí mật" đã nói ở trên), với khoá dài tối thiểu tới 1024, thậm chí
2048 bit, cộng với các công nghệ SSL (Secure Sockets Layer), SET (SecureElectronic Transaction) đang giúp giải quyết vấn đề này, trong đó có vấn đề
"chữ ký điện tử", hay "chữ ký số hoá" (digital signature), là chữ ký biểu diễnbằng các bit điện tử, và đợc xác thực thông qua giải mã Song bản thân các mãmật cũng có thể bị khám phá bởi các kỹ thuật giải mã tinh vi, nhất là kỹ thuậtcủa bên có đẳng cấp công nghệ cao hơn hẳn Cho nên một chiến lợc quốc gia vềmã hoá, kèm theo các chơng trình bảo vệ an toàn thông tin của các cơ quan,doanh nghiệp và của cá nhân đang trở thành một vấn đề rất lớn
Trên quan điểm giao lu quốc tế, vấn đề bảo mật và an toàn còn có thêmmột khía cạnh nữa: ngày càng có nhiều nớc áp dụng các luật ngăn cản khôngcho dữ liệu đợc truyền tới các nớc không có phơng tiện thích đáng để bảo vệ
Trang 19thông tin, nhằm tránh rò rỉ (nhất là các thông tin liên quan đến an ninh quốcgia, vũ khí giết ngời hàng loạt, quan hệ quốc tế ) Vì vậy, nếu không có cácluật và phơng tiện tốt để bảo vệ thông tin, thì một nớc rất có thể sẽ bị cách lykhỏi hoạt động thơng mại điện tử quốc tế.
1.4.5- Hệ thống thanh toán tài chính tự động
Thơng mại điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế khi tồn tại một hệ thốngthanh toán tài chính (financial payment) phát triển cho phép thực hiện thanhtoán tự động (trong đó, thẻ khôn minh có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinhdoanh bán lẻ); khi cha có hệ thống này, thì thơng mại điện tử chỉ ứng dụng đợcphần trao đổi thông tin, buôn bán vẫn phải kết thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặcbằng các phơng tiện thanh toán truyền thống, khi ấy hiệu quả của thơng mại
điện tử bị giảm thấp, và có thể không đủ để bù lại các chi phí trang bị côngnghệ đã bỏ ra
Hệ thống thanh toán tài chính đi liền với việc mã hoá toàn bộ hàng hoá,hay "đánh số sản phẩm" (product numbering) là vấn đề không chỉ có tính quốcgia, mà có tính quốc tế, trên cơ sở của các chuẩn và định chế EAN International
và Uniform Code Council, thể hiện dới dạng các vạch, gọi là mã vạch code); theo đó tất cả các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều đợc mã hoá bằngmột số 13 con số, và tất cả các công ty đều có địa chỉ của mình bằng một mã có
(bar-từ 100 đến 100.000 con số (mã vạch là hệ thống mã dùng các vạch đen, trắng,màu, có độ rộng khác nhau để biểu diễn con số; một máy quét dùng tế bàoquang điện sẽ nhận dạng các vạch này, biến đổi thành con số, rồi tự động đavào máy tính để tính toán) Việc hội nhập vào và thiết lập toàn bộ hệ thống mãsản phẩm và mã công ty (gọi chung là mã hóa thơng mại: commercial coding)cho một nền kinh tế (đặc biệt là nền kinh tế của nớc đang phát triển) nói chungcũng không đơn giản
1.4.6- Bảo vệ sở hữu trí tuệ
Càng ngày, giá trị sản phẩm càng cao ở khía cạnh “Thchất xám” của nó, màkhông phải là bản thân nó, tài sản cơ bản của từng đất nớc, từng tổ chức, vàtừng con ngời đã và đang chuyển thành “Th tài sản chất xám” là chủ yếu; thôngtin trở thành tài sản, vào bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có nghĩa là bảo vệ thôngtin Vì lẽ đó, nổi lên vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền của các thông tin
Trang 20đó trên Web (các hình thức quảng cáo, các nhãn hiệu thơng mại, các cơ sở dữliệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng v.v.).
Riêng đối với dung liệu, vấn đề đợc đặt ra là bản thân việc số hoá nhị phâncác dữ liệu văn bản, hình ảnh, âm thanh để thành dung liệu truyền gửi đã là mộthành động “Thsao chép”, “Thphiên dịch” và phải đợc tác giả đồng ý (giống nh khidịch một tác phẩm ra một ngôn ngữ khác), nhng vì đa lên mạng nên “Thsố bản in”không thể biết đợc là bao nhiêu (có thể coi là vô hạn), nên việc thoả thuận và xử
ợc phân phối nh thế nào cho các thành phần tham gia chơng trình Từ đây bắt
đầu nảy sinh các định nghĩa mới, cụ thể hơn, chi tiết hơn và mang tính pháp lýhơn về “Ththế nào là tác giả”, và khái niệm “Ththanh toán vi phần” (micro payment)
mà sẽ phải xử lý bằng các công cụ kỹ thuật cao cấp
1.4.7- Bảo vệ ngời tiêu dùng
Hoạt động thơng mại điện tử thực chất chỉ diễn ra giữa khách hàng và ngờibán thông qua các phơng tiện điện tử Do đó, ngời mua không đợc dùng thửhàng mua trớc khi mua nên khả năng hàng hoá không đáp ứng đợc nh cầu củangời mua về chất lợng là rất lớn, cha kể đến khả năng bị nhầm lẫn các cơ sở dữliệu, bị lừa gạt bởi các thông tin và các tổ chức phi pháp trên mạng Vì thế đangxuất hiện nhu cầu phải có một trung gian đảm bảo chất lợng mà hoạt động hữuhiệu và ít tốn kém đây là một cơ chế đáng quan tâm của thơng mại điện tử mà
đang đợc chú ý ngày càng nhiều trớc thực tế các rủi ro ngày càng gia tăng, đảkích vào quyền lợi của ngời tiêu thụ Cơ chế bảo đảm chất lợng đặc biệt có ýnghĩa với các nớc đang phát triển, nơi mà dân chúng cho tới nay vẫn có tậpquán tiếp xúc trực tiếp với hàng hoá để kiểm tra (nhìn, sờ, nếm, ngửi ), để thử(mặc thử, đội thử, đi thử ) trớc khi mua
1.4.8- Tác động văn hoá xã hội của Internet.
Tác động văn hoá xã hội của Internet đang là một mối quan tâm quốc tế, vìhàng loạt tác động tiêu cực của nó đã xuất hiện: Internet trở thành một “Thhòm th-
” giao dịch mua bán dâm, ma tuý, buôn lậu, các lực lợng phản xã hội đa lênInternet phim con heo, các tuyền truyền kích dục có đích đối với trẻ em, các h-
Trang 21ớng dẫn làm bom th, làm chất nổ phá hoại, các loại tuyên truyền kích động bạolực, phân biệt chủng tộc, kỳ thị tôn giáo v.v ở một số nơi (nh Trung Quốc,Trung Đông ) Internet đã trở thành một phơng tiện thuận lợi cho các lực lợngchống đối sử dụng để tuyên truyền, kích động lật đổ chính phủ và / hoặc gây rốiloạt trật tự xã hội.
Ngoài ra, phải tính tới tác động cuốn hút thanh niên theo các lối sốngkhông phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc, là vấn đề đang đợc đặc biệt quantâm ở Châu á
Mặc dù công nghệ đánh giá dung liệu (content rating), dọc dung liệu(content filtering) đã và đang phát triển, nhng về cơ bản, tới nay vẫn cha có cha
có biện pháp đủ hữu hiệu để chống trả các mặt trái nói trên của Internet/Web
1.4.9- Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý
Nh đã nói ở phần trên, Internet ngày nay giống nh “Thcon đờng tơ lụa” mộtnghìn năm trớc “ThCon đờng tơ lụa” tồn tại và vận hành đợc an toàn chính là nhờgiới cầm quyền ở tất cả các nớc và các địa phơng mà con đờng vạn dặm ấyxuyên qua đều đồng ý hoặc bị thuyết phục đồng ý cho phép, tạo điều kiện, vàbảo vệ cho luồng vận chuyển xuyên lục địa đó; nói cách khác, cách đây mộtnghìn năm, ngời ta đã từng thành công rực rỡ trong việc đạt đợc một thoả thuậnmang tính đa biên, tính quốc tế, về buôn bán Đó là một hình ảnh sống động vềkhía cạnh pháp lý của vấn đề thơng mại điện tử ngày nay mà ở Australia đợcgọi bằng tên lóng là “Thcon đờng tơ lụa mới” (the New Silk Road)
* Môi trờng quốc gia
Trớc hết, chính phủ từng nớc phải quyết định xem xã hội thông tin nóichung và Internet nói riêng là một hiểm hoạ hay là một cơ hội Quyết định đókhông dễ dàng, ngay một nớc hiện đại nh Pháp cũng phải tới năm 97-98 mớiquyết định đợc và tuyên bố rằng “Thđây là cơ hội” (sau một thời gian dài chốnglại Internet vì nó chiếm mất vị trí của mạng Minitel vốn rất phổ biến trong nội
bộ nớc Pháp) Từ khẳng định mạng tính nhận thức chiến lợc ấy mới quyết địnhthiết lập môi trờng kinh tế, pháp lý và xã hội (kể cả văn hoá, giáo dục) cho nềnkinh tế số hoá nói chung và cho thơng mại điện tử nói riêng (ví dụ quyết định đ-
a mạng các dịch vụ hành chính, các dịch vụ thu trả thuế, và các dịch vụ khác
nh th tín, dự báo thời tiết, thông báo giờ tàu xe v.v.) và đa các nội dung của kinh
tế số hoá vào văn hoá và giáo dục các cấp
Riêng về pháp lý có các vấn đề:
Trang 22- Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch thơng mại điện tử
- Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử (tức chữ ký dới dạng số đặtvào một thông điệp dữ liệu) và chữ ký số hoá (tức biện pháp biến đổi nội dungthông điệp dữ liệu, khi dùng mã khoá để giải mới thu đợc nội dung thật củathông điệp dữ liệu); và có các thiết chế pháp lý, các cơ quan pháp lý thích hợpcho việc xác thực/chứng nhận (authentication/certification) chữ ký điện tử vàchữ ký số hoá
- Bảo vệ pháp lý các hợp đồng thơng mại điện tử
- Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả việc pháp chế hoá cáccơ quan phát hành các thẻ thanh toán)
- Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ từ Nhà nớc (các cơ quanchính phủ và trung ơng), chính quyền địa phơng, doanh nghiệp nhà nớc (trong
đó có các vấn đề phải giải quyết nh: Nhà nớc có phải là chủ nhân của các thôngtin có quyền đợc công khai hoá và các thông tin phải giữ bí mật hay không?Ngời dân có quyền đòi công khai hoá các số liệu của chính quyền hay không?Khi công khai hoá thì việc phổ biến các số liệu đó có đợc xem là một nguồn thucho ngân sách hay không? v.v.)
- Bảo vệ pháp lý đối với sở hữu trí tuệ (bao gồm cả bản quyền tác giả) liênquan đến mọi hình thức giao dịch điện tử
- Bảo vệ bí mật riêng t một cách "thích đáng" (để ngăn cản các bí mật đời
t bị đa lên mạng một cách phi pháp, không chỉ tên tuổi, dung mạo mà còn cảcác bí mật khác liên quan đến sức khoẻ, tôn giáo, quan điểm chính trị, giới tính,tình dục v.v.)
- Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập với cácmục đích bất hợp pháp nh thu thập tin tức mật, thay đổi thông tin trên các trangWeb, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền vi-rútphá hoại v.v.; tới nay từng nớc rất có thể đã có các luật đơn hành về các tội này,vấn đề là sẽ phải đa vào khuôn khổ của bộ luật hình sự, một khi kinh tế số hoá
đợc thừa nhận trên tầm quốc gia
Tất cả những việc trên đây chỉ có thể thực hiện đợc trên cơ sở mỗi quốcgia trớc hết phải thiết lập một hệ thống "mã nguồn" cho tất cả các thông tin sốhoá, bắt đầu từ chữ cái của ngôn ngữ nớc đó trở đi; tiếp đó Nhà nớc sẽ phải địnhhình một chiến lợc chung về hình thành và phát triển một nền kinh tế số hoá,tiếp đó đến các chính sách, các đạo luật, và các quy định cụ thể tơng ứng, đợcphản ánh trong toàn bộ chỉnh thể của hệ thống nội luật
* Môi trờng quốc tế
Trang 23Các vấn đề môi trờng kinh tế, pháp lý và xã hội quốc gia cũng sẽ in hìnhmẫu của nó vào vấn đề môi trờng kinh tế, pháp lý và xã hội quốc tế, cộng thêmvới các phức tạp khác của kinh tế-thơng mại qua biên giới, trong đó khía cạnhquan trọng nhất là thơng mại điện tử mang tính không có biên giới, do đó làmmất đi tính ranh giới địa lý vốn là đặc tính cố hữu của ngoại thơng truyền thống,dẫn tới những khó khăn to lớn về luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng, về thanhtoán và đặc biệt là về thu thuế.
Ví dụ: một dữ liệu với t cách là một dịch vụ đợc chuyển từ nớc A đến một
địa chỉ Internet ở nớc B, tiếp đó lại đợc chuyển tới một ngời nhận thực sự ở nớc
C (rất có thể cơ sở kinh doanh của ngời chủ địa chỉ Internet ở nớc B đợc đặt ở
n-ớc C); vậy việc thu thuế sẽ thực hiện bằng cách nào, và dùng luật của nn-ớc nào
để điều chỉnh thơng vụ này Một ví dụ khác: một ngời Đức đang đi du lịch bên
Mỹ đặt mua qua mạng một lô rợu vang của Australia giao tới một nơi nghỉ mát
ở Pháp mà anh ta sắp du hành tới; thuế của thơng vụ này sẽ do nớc nào thu vàthu bằng cách nào
Vấn đề còn khó khăn hơn nữa là đánh thuế các dung liệu, tức là các hànghoá "phi vật thể" (nh âm nhạc, chơng trình truyền hình, chơng trình phầnmềm giao trực tiếp giữa các đối tác thông qua mạng)
Ngoài ra, cũng nảy sinh các khó khăn khác nh: thu thuế trong trờng hợpthanh toán vô danh (anonimous payment) bằng thẻ khôn minh; vấn đề cáchkiểm toán các công ty buôn bán bằng phơng thức thơng mại điện tử; vấn đề bảo
vệ sở hữu trí tuệ, bảo vệ chính trị, và bảo vệ bí mật riêng t trong thông tin xuyênquốc gia trên mạng Internet giữa các nớc có hệ thống luật pháp và hệ thốngchính trị khác nhau; vấn đề pháp luật quốc tế về sử dụng không gian liên quan
đến việc phóng và khai thác các vệ tinh viễn thông v.v
Tất cả những vấn đề ấy đòi hỏi phải có các nỗ lực tập thể đa biên nhằm đạttới các thoả thuận quốc tế làm căn bản cho "con đờng tơ lụa" mới, và trớc hết lànhằm bảo vệ quyền lợi của các nớc đang phát triển, còn ở tầm thấp về côngnghệ thông tin, về cơ chế thuế khoá, và về bảo mật và an toàn
1.4.10- Vấn đề lệ thuộc công nghệ
Không thể không thừa nhận rằng nớc Mỹ đang khống chế toàn bộ côngnghệ thông tin quốc tế, cả phần cứng cũng nh phần mềm (phần mềm hệ thốngcũng nh phần mềm ứng dụng), chuẩn bị công nghệ Internet cũng là chuẩn của
Mỹ, các phần mềm tầm cứu và "võng thị" (Web) chủ yếu cũng là của Mỹ, nớc
Trang 24Mỹ cũng đi đầu trong kinh tế số hoá và thơng mại điện tử (Mỹ hiện chiếm trênmột nửa tổng doanh số thơng mại điện tử toàn cầu, chủ yếu là buôn bán trong n-ớc).
ở một tầm cao hơn, có thể nhận xét rằng, từ nhiều chục năm nay, trong khi
đa số các nớc còn đang vật lộn trong nền "kinh tế vật thể", thì Mỹ đã vợt lên vàtiến nhanh trong nền "kinh tế ảo", lấy "kinh tế tri thức", "sở hữu trí tuệ", "giá trịchất xám" làm nền móng; đó là sự khác biệt căn bản giữa Mỹ và các nớc khác;
sự khác biệt ấy bộc lộ ngày càng rõ theo tiến trình nền kinh tế toàn cầu chuyểnsang "kỷ nguyên số hoá" nh đi theo một xu hớng tất yếu khách quan Điều nàygiải thích vì sao trong đàm phán thơng mại của Mỹ với bất cứ nớc nào, vấn đề
"sở hữu trí tuệ" luôn luôn nổi lên hàng đầu: đó chính là giá trị thực của nớc Mỹ
Điều này cũng giải thích vì sao Mỹ là nớc biện hộ, cổ vũ, và thúc đẩy mạnh mẽnhất cho thơng mại điện tử: một khi thơng mại đợc số hoá thì toàn thế giới trênthực tế sẽ nằm trong tầm khống chế công nghệ của Mỹ, Mỹ sẽ giữ vai trò là ng-
ời bán công nghệ thông tin cho toàn thế giới, với công nghệ đợc đổi mới hàngngày, và thuần tuý ở "nền kinh tế ảo", "kinh tế tri thức"; các nớc khác tiếp tụcsản xuất các "của cải vật thể" phục vụ cho nớc Mỹ Bức tranh ấy nay đã khá rõnét, và để thay đổi nó chắc chắn phải cần đến những nỗ lực chiến lợc lớn lao từphía các đối thủ của Mỹ trong những quãng thời gian lịch sử, mà trong nhữngquãng thời gian ấy bản thân nớc Mỹ cũng không lùi lại hay đứng yên Những n-
ớc ít phát triển hơn, đã chậm chân, rất có thể mãi mãi phải ở một tầm thấp dới,
và bị phụ thuộc hoàn toàn về công nghệ vì điều kiện thực tế vĩnh viễn khôngcho phép họ đuổi kịp nữa
Sự phụ thuộc ấy không chỉ thể hiện ở những thiệt thòi về kinh tế, mà ở tầmcao hơn: Mỹ và các nớc tiên tiến gần với Mỹ vê công nghệ thông tin có thể
"biết hết" thông tin của các nớc thuộc đẳng cấp công nghệ thấp hơn Nhiều cơquan nghiên cứu đánh giá rằng rất có thể đây sẽ là một trong những nét đặc trngcơ bản của trật tự thế giới mới trong thế kỷ 21, và đã lên tiếng cảnh báo các n ớccòn yếu kém về công nghệ thông tin
Vì lẽ đó, thơng mại điện tử đang đợc các nớc xem xét một cách chiến lợc:
sự du nhập vào nó là không thể tránh đợc, hơn nữa còn là cơ hội; nhng nếu chỉvì bị bức bách mà tham gia, hay chỉ tham gia vì các lợi ích kinh tế vật chất cụthể thì không đủ, mà còn phải có một chiến lợc thích hợp để khỏi trở thànhquốc gia thứ cấp về công nghệ
Trang 252 - Thanh toán điện tử:
Mục tiêu cuối cùng của mọi cuộc mua bán là ngời mua nhận đợc hàng vàngời bán nhận đợc tiền trả cho số hàng đó Thanh toán, vì thế, là khâu quantrọng bậc nhất của thơng mại, và thơng mại điện tử không thể thiếu đợc công cụthanh toán điện tử thông qua các hệ thông thanh toán điện tử và chuyển tiền
điện tử mà bản chất là các phơng tiện tự động chuyển tiền từ tài khoản này sangtài khoản khác (nay đã xuất hiện cả hình thức tự động chuyển tiền mặt thôngqua các túi tiền điện tử: electronic purse) Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãicác máy rút tiền tự động (ATM: Automatic Teller Machine), thẻ tín dụng(credit card) các loại, thẻ mua hàng (purchasing card), thẻ thông minh (smartcard: thẻ từ có gắn vi chíp điện tử mà thực chất là một máy tính điện tử rấtnhỏ) Ngày nay với sự phát triển vợt bậc của thơng mại điện tử, thanh toán
điện tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới mà đáng chú ý là:
* Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính – Finacial Electronic Data Intercharge– gọi tắt là FEDI chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công tygiao dịch với nhau bằng điện tử
* Giao dịch ngân hàng số hoá - digital banking – và giao dịch chứngkhoán số hoá - digital securities trading Hệ thống thanh toán điện tử của ngânhàng là một đại hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống thực hiện giao dịch ngânhàng số hoá nh sau:
- Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểmbán lẻ, các ki ốt, giao dịch cá nhân tại nhà, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giaodịch qua internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng
- Thanh toán giữa các ngân hàng với đại lý thanh toán (nh nhà hàng, cửahàng, siêu thị)
- Thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng
- Thanh toán giữa các hệ thống ngân hàng với nhau
Các thể thức, hình thức thanh toán trong đó có TTLH sẽ bị quá tải nếuchúng ta không ứng dụng thêm công nghệ hiện đại và đa dạng hoá các hìnhthức thanh toán Trong xu thế phát triển công nghệ ngân hàng nh hiện nay cầnphải có phơng tiện thanh toán hiện đại đảm bảo nhanh chóng chính xác, an toàn
và bí mật Vì vậy, NHNN đã xây dựng phần mềm “Ththanh toán chuyển tiền điệntử”, chính thức đợc triển khai từ đầu năm 1999, nhằm bổ sung và thay thế hệthống thanh toán liên hàng
Trang 26Đến nay hình thức chuyển tiền điện tử đã đợc áp dụng rộng rãi ở các hệthống NHTM Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam do
đặc điểm của hệ thống ngân hàng này trải rộng, có nhiều chi nhánh ở vùng sâu,vùng xa nên vẫn dùng hình thức TTLH qua mạng máy tính và cha đầu t, ápdụng hình thức chuyển tiền điện tử
Do đặc điểm hoạt động và cơ chế điều hoà vốn của từng hệ thống ngânhàng là khác nhau nên việc áp dụng các hình thức thanh toán này ở các ngânhàng cùng khác nhau Điều này đợc thể hiện trong tên gọi, cách sử dụng tàikhoản và phơng thức kiểm soát đối chiếu liên hàng nh:
- NHNN Việt nam với tên gọi là chuyển tiền điện tử, tài khoản sử dụng làchuyển tiền điện tử và áp dụng phơng thức kiểm soát tập trung, đối chiếu tậptrung tại vụ kế toán – tài chính NHNN
- Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt nam với tên gọi là thanh toán tậptrung, việc kiểm soát, việc thanh toán và đối chiếu đợc thực hiện tập trung ởNHĐT & PTNT
- NHNN & PTNT Việt nam với tên gọi: Thanh toán liên hàng, tài khoản sửdụng là thanh toán liên hàng, áp dụng phơng thức kiểm soát tập trung đối chiếuphân tán
- Ngân Hàng Công thơng Việt nam với tên gọi: Thanh toán điện tử, tàikhoản sử dụng là điều chuyển vốn, áp dụng phơng thức kiểm soát và đối chiếutập trung tại phòng thanh toán NHCT Việt nam
Để áp dụng phơng thức thanh toán điện tử một số qui định đã đợc ban hànhhớng dẫn thực hiện nh:
- Quyết định 196TTg ngày 1/4/1997 cua Thủ tớng Chính phủ về việc sửdụng các dữ liệu thông tin trên vật mang tin để làm chứng từ kế toán của cácngân hàng và các tổ chức tín dụng
- Quyết định số 308-QĐ/NH2 ngày 16/9/1997 của Thống đốc NHNN banhành “ThQuy chế về lập, sử dụng, kiểm soát, sử lý, bảo quản và lu trữ chứng từ
điện tử của các ngân hàng và tổ chức tín dụng
- Quyết định số 353-QĐ/NH2 ngày 22/10/1997 của Thống đốc NHNN banhành quy chế chuyển tiền điện tử đã tạo môi trờng pháp lý cho việc triển khaithực hiện phơng thức thanh toán điện tử
Trang 272.1- Đặc điểm của thanh toán điện tử
2.1.1- Ưu điểm của thanh toán điện tử
Nhờ sự ứng dụng những thành công vợt bậc trong khoa học kỹ thuật vàcông nghệ thông tin mà thanh toán điện tử đã đem lại cho những ngời sử dụng
nó những lợi ích vô cùng to lớn
Tiết kiệm thời gian
Thanh toán điện tử có thể giúp khách hàng cũng nh ngân hàng tiết kiệm
đ-ợc rất nhiều thời gian Với hình thức thanh toán điện tử, nếu ngời chuyển tiền vàngời nhận có quan hệ với cùng một ngân hàng thì cho dù ở bất kỳ đâu, chỉ cầnvài phút sau là ngời nhận có thể biết đợc tiền đã vào tài khoản của mình hay chabằng cách truy cập vào máy chủ Ngoài ra, thời gian cho mỗi cuộc thanh toán
điện tử chỉ mất từ 10 – 15 giây trong khi với những giao dịch thanh toántruyền thống thì thời gian là 7 đến 10 ngày
Tiết kiệm chi phí
Chi phí là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của mọihoạt động kinh tế Nhờ những thành tựu của khoa học mà thanh toán điện tử
đã “Thgiải quyết tốt” yếu tố đó, cả đối với khách hàng cũng nh ngân hàng, vớinhững ngời trực tiếp cũng nh những ngời gián tiếp tham gia vào hoạt độngnày
*Về phía khách hàng
Các cuộc tấn công của Internet ngày nay do nền kinh tế phát triển vànhững nhu cầu phát sinh về dịch vụ phục vụ của khách hàng điều khiển mà chủyếu là chi phí phân phối và sự thuận tiện cho khách hàng Vì thanh toán điện tửgiúp họ giảm đợc chi phí cho mỗi cuộc giao dịch nên ngày càng có nhiều cánhân cũng nh các doanh nghiệp quan tâm đến hình thức thanh toán đầy mới mẻnày
*Về phía ngân hàng
Với hình thức thanh toán điện tử, các ngân hàng có thể tiết kiệm đợc chiphí do không phải lập quá nhiều chi nhánh ở trong nớc cũng nh ở các nớc trênthế giới nh hiện nay Các ngân hàng sẽ phải đứng trớc sự lựa chọn chi phí750.000 UDS vào một năm để xây dựng một chi nhánh có khả năng đạt đợc100.000 khách hàng tiềm năng hoặc khả năng thực hiện tiếp xúc với 10.000.000khách hàng tiềm năng vơí chi phí thấp hơn 350.000 trong nửa thời gian Khôngchỉ có vấn đề về chi phí, thời gian và số lợng khách hàng đạt đợc, ngày nay
Trang 28những toà nhà kiên cố của gạch ngói sẽ không làm đợc gì nhiều cho khách hàngquen thuộc của ngân hàng, ngợc lại sự thuận tiện của khách hàng sẽ là điều kiệntiên quyết và đợc tăng gấp bội do các thiết bị điện tử có thể phục vụ 24 giờ/24giờ Các loại chi phí khác nh chi phí nhân sự, chi phí huấn luyện nhân công, chiphí điều hành các thiết bị điện tử cũng sẽ giảm đi rất nhiều
Thuận tiện trong giao dịch
Thanh toán điện tử thật sự là một hình thức giao dịch mới đầy thuận tiệntrong các ngân hàng hiện nay Ngời chuyển tiền trong trờng hợp sử dụng e -banking sẽ có thể chỉ phải soạn lệnh “Thtại nhà” theo mẫu của chơng trình rồi tựgửi đi, không cần thiết phải đích thân đến các trụ sở hay chi nhánh ngân hàng.Hơn nữa, thanh toán điện tử cho phép tiến hành giao dịch các thơng vụcũng nh thực hiện hoạt động thanh toán điện tử cho thơng vụ đó ở mọi lúc, mọinơi một cách thuận tiện Ngày nay ngân hàng cấp tín dụng và các dịch vụ khácthông qua hệ thống điện tử, khách hàng chỉ cần một máy tính cá nhân nối mạngInternet là có thể giao dịch với ngân hàng mà không cần phải trực tiếp đến ngânhàng Chủ thể tham gia các hoạt động này có thể truy cập các dịch vụ từ vănphòng, nhà ở, trên phơng tiện giao thông… vào bất kỳ thời điểm nào vào bất kỳ thời điểm nào
Độ chính xác cao
So với giao dịch thông thờng thông qua hệ thống telex hay SWIFT - hệthống thông tin quốc tế cho các tổ chức tài chính- thì thanh toán điện tử có độchính xác cao hơn do các lệnh đợc thực hiện tự động trên mạng từ đầu đến cuối,tránh đợc việc trùng lặp công việc Chẳng hạn, với việc chuyển tiền truyềnthống, khách hàng sẽ phải điền vào một mẫu đơn, dựa theo đó ngân hàng tiếnhành trừ tài khoản và tiếp tục soạn các lệnh dạng telex hay SWIFT chuyển chocác ngân hàng đại lý nớc ngoài Điều này làm việc xử lý thông tin bị trùng lặpnhiều lần và có thể bị sai sót do xử lý bằng tay Do đó, u điểm của thanh toán
điện tử là đem lại độ chính xác cao cho các nghiệp vụ thanh toán, tạo sự tin ởng cho khách hàng về loại dịch vụ ngân hàng mới này
t-2.2.2- Những đòi hỏi về cơ sở hạ tầng của thanh toán điện tử
Vì là hình thức thanh toán mới và hiện đại nên chỉ có thể tiến hành thực tế
và một cách có hiệu quả thanh toán điện tử khi đã có các hạ tầng cơ sở đủ nănglực
Cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật
Thơng mại điện tử cũng nh thanh toán điện tử không phải là một sáng kiếnngẫu hứng mà là hệ quả tất yếu của sự phát triển của kỹ thuật số hoá, của côngnghệ thông tin nên chỉ thực sự có và thực sự tiến hành thanh toán điện tử một
Trang 29cách có hiệu quả đích thực khi có một hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vữngchắc bao gồm hai nhánh tính toán điện tử và chuyển thông điện tử trên một nềncông nghiệp điện lực vững mạnh Đòi hỏi về hạ tầng công nghệ bao gồm haimặt: một là tính tiên tiến, hiện đại về công nghệ và thiết bị, hai là tính phổ cập
về kinh tế (đủ rẻ tiền để đông đảo dân chúng có thể thực tế tiếp cận đợc)
Ngoài ra thanh toán điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế khi đã tồn tại một
hệ thống thanh toán tài chính phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động
Hệ thống thanh toán tài chính đó còn phải đi liền với việc mã hoá, mã vạch toàn
bộ hàng hoá Bên cạnh đó thanh toán điện tử còn đòi hỏi phải có hệ thống bảomật, an toàn đợc thiết kế trên cơ sở kỹ thuật mã hoá hiện đại đó và một cơ chế
an ninh hữu hiệu
đòi hỏi cả nhân viên ngân hàng cũng nh khách hàng sử dụng dịch vụ này đềuphải giỏi tiếng Anh
Bên cạnh những vấn đề trên, thanh toán điện tử còn đòi hỏi một nền kinh
tế đủ mạnh để có thể ứng dụng những thành tựu tiên tiến hiện đại của thế giới,mức sống của ngời dân phải tơng đối cao… vào bất kỳ thời điểm nào
Song song với môi trờng kinh tế thì môi trờng chính trị cũng phải ổn định
và có thể “Thchấp nhận” những đòi hỏi mang tính “Thmở” của thanh toán điện tử
Nh vậy xét về toàn diện để đạt đợc đầy đủ các cơ sở hạ tầng cơ bản trêncho thanh toán điện tử phát triển không phải là một vấn đề dễ dàng Chínhnhững đòi hỏi đó của thanh toán điện tử là những nhợc điểm của nó
Các văn bản pháp luật liên quan đến thanh toán điện tử
Do có nhiều hiệu quả to lớn nên tuy là phơng thức tơng đối mới nhng
th-ơng mại điện tử cùng với thanh toán điện tử đã phát triển rất nhanh với tốc độngày càng cao Vì thế có rất nhiều văn bản pháp luật liên quan đến phơng thứcmới này đã ra đời nhằm điều chỉnh cũng nh kiểm soát các hoạt động theo mộtquy định nhất định và hợp lý
* Văn bản pháp luật của thế giới và khu vực về thanh toán điện tử
Trang 30Thơng mại điện tử cũng nh thanh toán điện tử đang đợc cả thế giới và các
khối kinh tế, các nớc riêng lẻ đặc biệt quan tâm Uỷ ban liên hợp quốc về Luậtthơng mại quốc tế- UNCITRAL- đã soạn thảo Đạo luật mẫu về thơng mại điện
tử và Đạo luật mẫu về chuyển tiền quốc tế, đợc thông qua vào năm 1992 Trong
Đạo luật mẫu về chuyển tiền quốc tế của UNCTRAL, quyền hạn và trách nhiệmcủa các bên khi tham gia chuyển tiền quốc tế đợc quy định rõ ràng Đạo luậtcũng đề cập rất cụ thể các bớc chuyển tiền cũng nh hậu quả của việc chậm trễ,sai sót… vào bất kỳ thời điểm nào trong việc chuyển tiền sẽ đợc giải quyết ra sao
Đạo luật mẫu này là sự chuẩn bị nhằm đáp ứng cho sự thay đổi lớn trênnhững cách thức chuyển nhợng vốn lan rộng trên toàn thế giới Sự thay đổi nàybao gồm hai nhân tố chính sau đây: việc sử dụng các lệnh thanh toán đợc gửibằng điện đang gia tăng nhanh hơn so với sử dụng trên giấy tờ, cùng với đó là
sự thay đổi trong việc thanh toán tiền bằng hình thức chuyển tiền ngày càngtăng Kết quả trớc đó cũng đã chỉ ra rằng những nỗ lực trong việc thống nhất
điều Luật chi phối việc chuyển tiền bằng việc ban hành văn bản đợc soạn thảonhằm đáp ứng nhu cầu kỹ thuật chuyển giao vốn hiện đại trong xu thế thơngmại điện tử
* Văn bản pháp luật của Việt Nam về thanh toán điện tử
Để hoà nhập vào xu thế điện tử hoá của thế giới, Chính phủ Việt Nam cũng
đã ban hành một số văn bản liên quan đến thanh toán điện tử để tạo môi trờngpháp lý hoàn thiện góp phần thúc đẩy việc áp dụng thanh toán điện tử ở ViệtNam nh:
- Quyết định 196/TTg ban hành ngày 01/04/1997 quy định về việc sử dụng
các dữ liệu thông tin trên vật mang tin để làm chứng từ kế toán và thanh toáncủa các ngân hàng và tổ chức tín dụng Ngoài ra, văn bản này cũng quy định rõtrách nhiệm của các ngân hàng và Tổ chức tín dụng trong việc sử dụng cácchứng từ điện tử Đây là văn bản cơ sở pháp lý quan trọng trong việc áp dụngchứng từ điện tử từ đó làm cơ sở cho việc thực hiện chuyển tiền điện tử
- Quyết định 153/1997/QĐ- NHNN2 ban hành ngày 22/10/1997 quy định
về quy chế chuyển tiền điện tử Quyết định này có những quy định cụ thể liênquan đến quy trình chuyển tiền điện tử ở các ngân hàng, quyền lợi và tráchnhiệm của ngân hàng trong việc chuyển tiền… vào bất kỳ thời điểm nào
- Quyết định 371/QĐ-NHNN1 ban hành ngày 19/10/1999 về Quy chế phát
hành và sử dụng thẻ ngân hàng- một công cụ thanh toán hiện đại và còn mới ở
Trang 31Việt Nam Quyết định này sẽ góp phần tạo điều kiện để hình thức thanh toán
điện tử trong các ngân hàng sớm đợc triển khai, thực hiện
Trên đây là một số văn bản pháp lý đối với tiền và chứng từ điện tử để thựchiện trong thơng mại điện tử Đó thực sự là những văn bản quan trọng trongviệc tạo môi trờng pháp lý cho thanh toán điện tử phát triển ở Việt Nam Tuynhiên để điều chỉnh các quan hệ vô cùng phức tạp trong thanh toán điện tử màchỉ có những văn bản đó thôi thì cha đủ
2.2- Sự cần thiết của thanh toán điện tử ở việt nam trong xu thế thơng mại điện tử toàn cầu
Thế kỷ 21 đợc coi là thế kỷ của công nghệ thông tin Đứng trớc sự pháttriển ào ào nh vũ bão của làn sóng cách mạng thông tin nh vậy, các nớc trên thếgiới đã nhanh chóng áp dụng công nghệ này vào trong hoạt động thơng mạicũng nh hoạt động thanh toán của mình Vì thế phát triển thanh toán điện tử làmột đòi hỏi đối với bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là các nớc đang phát triển nhViệt Nam để phù hợp và theo kịp với xu thế chung của thế giới - thơng mại
điện tử toàn cầu Và việc phát triển thanh toán điện tử càng có ý nghĩa hơn,mang tính tất yếu đối với Việt Nam khi mà chúng ta đang đặt mục tiêu hoànhập và hội nhập vào các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới, khi màchúng ta đang tham gia vào APEC, ASEAN - các tổ chức đang thực hiện thơngmại điện tử rất sôi nổi
Bên cạnh đó, áp dụng thanh toán điện tử cho các giao dịch thơng mại điện
tử sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho Việt Nam Nếu so với các phơng thức thanhtoán trớc đây nh tín dụng chứng từ- L/C, ghi sổ, nhờ thu, chuyển tiền, séc… vào bất kỳ thời điểm nào thìthời gian thực hiện cho toàn bộ quá trình thanh toán điện tử nhanh hơn rất nhiềulần, chỉ mất khoảng 15- 20 giây xử lý Đó chính là hiệu quả của thanh toán điện
tử đem đến cho các bên tham gia giao dịch, ngời bán, ngời mua và các ngânhàng Ngoài ra, thanh toán điện tử còn đem lại cho họ chi phí thấp nhất với chấtlợng thanh toán tốt nhất, tính an toàn cao Thông qua sự phát triển của côngnghệ thông tin, thanh toán điện tử đã đem lại cho mọi ngời sự tiện lợi, thoải máivì khách hàng từ một máy tính cá nhân nối mạng Internet có thể giao dịch đ ợcvới ngân hàng và thực hiện các cuộc thanh toán mà không cần trực tiếp đếnngân hàng
Trang 32Có một thực tế là, hệ thống thanh toán của Việt Nam không thể không thay
đổi để trở thành một hệ thống hiện đại bởi nếu không nó sẽ bị xoá sổ hoặc thấtbại trong việc chiếm lĩnh thị trờng trong một vài năm tới Các hình thức thanhtoán truyền thống hiện nay đang đứng trớc tơng lai bị cạnh tranh khốc liệt bởicác tổ chức phi tài chính nh hệ thống các siêu thị, các cửa hàng, thậm chí cả cácnhà sản xuất cũng đã bắt đầu đa ra các sản phẩm tài chính nh thẻ mua hàng tíndụng… vào bất kỳ thời điểm nào Các công ty này đang có lợi thế về mạng lới phân phối sản phẩm đếntận tay ngời tiêu dùng Đồng thời các thủ tục cấp tín dụng của họ đơn giản vàlinh hoạt hơn nhiều so với hệ thống ngân hàng truyền thống "Làm tốt hơn việcphân phối các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hay là không tồn tại", Internet và th-
ơng mại điện tử đã trở thành con đờng tất yếu của thế giới, hiển nhiên đó là con
đờng kinh doanh của các Ngân hàng trên thế giới cũng nh các ngân hàng ViệtNam ngày nay
Nh vậy, việc nghiên cứu và triển khai thanh toán điện tử trong thơng mại
điện tử đặc biệt quan trọng vì trong lĩnh vực này chúng ta đang ở trình độ thấp
so với các nớc trong khu vực Chúng ta muốn nắm lấy cơ hội và năng cao hiệuquả kinh doanh để đủ sức cạnh tranh thì cần triển khai sớm thanh toán điện tử
Đối với lĩnh vực ngân hàng thơng mại Việt Nam thì đây không chỉ là con đờngtất yếu mà có thể nói là con đờng duy nhất để theo kịp các hoạt động ngân hàngquốc tế bởi quốc gia nào áp dụng các hình thức giao dịch thơng mại điện tửcũng nh thanh toán điện tử càng nhiều với trình độ càng cao thì nớc đó càng cólợi thế phát triển và trở thành ngời dẫn đầu trong một nền kinh tế số hoá trong t-
ơng lai không xa
Nếu nh trớc đây thanh toán là một khâu quan trọng, không thể thiếu trongthơng mại quốc tế thì ngày nay với sự phổ cập và phát triển mạnh mẽ của th ơngmại điện tử thì thanh toán càng đóng một vai trò quan trọng hơn Khi mà các n-
ớc cùng tham gia thơng mại điện tử và thực hiện thanh toán điện tử thì nớc nàokhông tham gia vào các hoạt động thì sẽ bị thụt hậu và khó có khả năng pháttriển nền kinh tế của mình, nớc nào không có hệ thống thanh toán thích ứng sẽgặp khó khăn trong việc giao dịch cũng nh giành đợc sự thắng lợi trong cáccuộc cạnh tranh thơng mại vô cùng khốc liệt hiện nay Còn nếu xét trong phạm
vi một quốc gia thì cùng với sự mở cửa của nền kinh tế, các ngân hàng nớcngoài, ngân hàng liên doanh cũng đã đợc phép hoạt động ở Việt Nam làm tăngtính cạnh tranh của các ngân hàng Do đó các ngân hàng Việt Nam đều phảitrăn trở cải tiến dịch vụ để thu hút khách hàng, đặc biệt là hiện đại hoá hệ thốngthanh toán, sớm triển khai thanh toán điện tử để có thể đứng vững trong cuộc
Trang 33cạnh tranh khốc liệt khi Việt Nam đã tiếp cận đợc với thơng mại điện tử Vìvậy, bình thờng thanh toán là một khâu không thể thiếu đợc đối với bầt kỳ cuộcgiao dịch thơng mại nào, đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, ở bất kỳ quốc gianào thì trong thời đại thơng mại hoá điện tử nh ngày nay vẫn vậy.
Nói tóm lại, thanh toán điện tử là vô cùng cần thiết đối với thơng mại điện
tử và sự đi lên của nền kinh tế Việt Nam nên việc triển khai và phát triển nótrong các ngân hàng ở Việt Nam là một tất yếu trong xu thế ngày nay
Trang 34Chơng II:
Phát triển thơng mại điện tử ở việt nam
và vấn đề thanh toán điện tử.
1 Phát triển thơng mại điện tử ở Việt nam:
Phát triển thơng mại điện tử ở Việt nam (TMĐT) đang là một trong cácvấn đề đợc nhiều doanh nghiệp quan tâm Có những doanh nghiệp đã thu đợcnhững thành công nhất định những cũng có không ít doanh nghiệp đã thất bại.Vậy mấu chốt của vấn đề là ở đâu?
1.1 Cần có chiến lợc kinh doanh có bài bản.
Theo các chuyên gia công nghệ thông tin của VCC – Công ty phụ tráchmạng Phơng Nam – thì mấu chốt của vấn đề là ở chỗ các doanh nghiệp Việtnam khi tham gia TMĐT thờng cha có chiến lợc cụ thể Ngoài ra, họ cũng cókhá nhiều thiếu sót cần chú ý để sửa chữa khi thực hiện e-commerce
Một chiến lợc phát triển TMĐT đòi hoi doanh nghiệp phải phân tích hoạt
động kinh doanh, xác định mục đích và mục tiêu, phân khúc thị trờng và kháchhang mục tiêu, xác định mô hình kinh doanh và chiến lợc thực hiện, sau đó mớilàm kế hoạch thực hiện Trong đó có xem xét các thông tin, dịch vụ và tiện íchcần thiết, xem xét các vấn đề bảo mật, xem xét cơ sở hạ tầng và các yếu tốkhác từ đó hình thành nhóm phát triển web và tự thực hiện bằng bộ phận IT(CNTT) của họ hay giao cho bên ngoài Kế đó phải đánh giá công việc
Về mặt mục dính làm TMĐT, doanh nghiệp cần đa ra các mục tiêu cơ bản
nh tăng cờng hiểu biết về sản phẩm, dịch vụ và hoạt động của doanh nghiệp,
đẩy mạnh thơng hiệu, duy trì mối quan hệ với khách hàng thông qua giải quyếtcác khiếu nại, thắc mắc, giúp đỡ Thúc đẩy và phát triển hoạt động chào hàng,bán hàng qua mạng và đặt hàng cũng nh thanh toán qua mạng Cũng nên quantâm đến việc chia sẻ nội bộ các doanh nghiệp vảtong cộng đồng cũng nh liênkết các doanh nghiệp với các nhà cung ứng, đối tác nhằm hỗ trợ thông tin vàgiảm thiểu thời gian trong các chu kỳ cung ứng, sản xuất và tiếp thị sản phẩmdịchvụ
Các mục tiêu để ra có thể là giảm chi phí, gia tăng doanh thu, giá trị haygiảm thời gian và tiết kiệm nhân lực Phân khúc thị trờng có thể là khách hàngmới, khách hàng hiện hữu, khách hàng truyền thống, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ hayngời tiêu dùng, ngời sản xuất và đối tác kinh doanh Để thành công doanh