Tính cấp thiết của đề tài
Lượng từ tiếng Hán và loại từ tiếng Việt là một nhóm từ đặc biệt trong từ vựng của hai ngôn ngữ này Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về nhóm từ này, góp phần vào việc hoàn thiện lý luận về lượng từ tiếng Trung và loại từ tiếng Việt Những nghiên cứu này làm sáng tỏ bản chất của lớp từ đặc biệt này Tuy nhiên, do tính phức tạp trong ngữ pháp và sự đa dạng trong ngữ nghĩa, ngữ dụng, vẫn còn nhiều không gian cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm làm rõ hơn về hai nhóm từ này.
Tại Trường Đại học Thương mại, học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc đã được giảng dạy từ năm học 2018 – 2019, trong đó Lượng từ là một phần kiến thức quan trọng Sinh viên thường mắc nhiều lỗi khi sử dụng Lượng từ, như dùng sai, thiếu hoặc xác định không chính xác vị trí Ví dụ, với danh từ 花 – hoa, có thể dùng lượng từ 朵 – bông, nhưng đôi khi lại cần sử dụng 束 – bó hoặc 枝 – cành Sự phong phú trong cách sử dụng Lượng từ khiến nhiều người học cảm thấy bối rối, đặc biệt trong các tình huống như “一件件往事浮现在他眼前” và “这些姑娘们,个个都很出息” Việc mắc lỗi khi sử dụng Lượng từ trong giao tiếp và viết văn bản tiếng Trung là khá phổ biến Sau khi hoàn thành giáo trình Hán ngữ 2, sinh viên đã làm quen với 23 Lượng từ cơ bản, nhưng khi học phần Ngữ pháp học, số lượng này vẫn chưa đủ để tránh những sai sót.
Lượng từ đã tăng lên 70, với số lượng câu chứa Lượng từ tăng từ 90 lên 337 câu (phụ lục 1), cùng với các cách sử dụng khó khăn của Lượng từ.
Trong quá trình giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Trung Quốc tại Trường Đại học Thương mại, tác giả nhận thấy rằng sinh viên Trung Quốc gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng loại từ trong tiếng Việt Cụ thể, với cụm từ “一个农民”, sinh viên
Trung Quốc thường thắc mắc về việc tại sao trong tiếng Việt có nhiều cách diễn đạt khác nhau cho cùng một khái niệm, chẳng hạn như “một người nông dân”, “một anh nông dân” hay “một bác nông dân”.
Các vấn đề mà người học gặp phải thường xuất phát từ sự hiểu biết chưa đầy đủ về lượng từ tiếng Trung và loại từ tiếng Việt Mặc dù lượng từ tiếng Hán được giới thiệu sớm và là trọng tâm trong giảng dạy ngữ pháp tiếng Trung, nhưng ấn tượng ban đầu của người học chỉ đơn giản là chúng dùng để định lượng danh từ Thực tế, đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa của lượng từ rất phức tạp, với số lượng lớn và phạm vi sử dụng rộng rãi Do đó, khi tiến sâu vào các học phần nâng cao, người học thường cảm thấy bối rối hơn về cách sử dụng lượng từ.
Từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đối chiếu
Nghiên cứu về Lượng từ trong tiếng Trung và Loại từ trong tiếng Việt trong học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc không chỉ mang lại giá trị tham khảo lý luận mà còn nâng cao hiệu quả giảng dạy kiến thức Lượng từ và Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc tại trường Đại học Thương mại.
Tổng quan nghiên cứu về đề tài
Tình hình nghiên cứu Ngoài nước
Tiếng Trung, với tư cách là ngôn ngữ mẹ đẻ, có một hệ thống ngữ pháp độc đáo, trong đó Lượng từ là một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Hán tại Trung Quốc và các khu vực có cộng đồng người Hoa sinh sống trên toàn cầu đang tích cực khám phá nội dung này.
3 hành khảo sát, nghiên cứu khá rộng rãi Có thể thấy các nghiên cứu này tập trung ở các hướng sau:
Nghiên cứu lượng từ trong tiếng Trung là một hiện tượng ngôn ngữ quan trọng, tập trung vào việc mô tả, phân tích và hệ thống hóa các khía cạnh ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của lượng từ.
Nghiên cứu “现代汉语量词研究” (2008) của tác giả Hà Kiệt, Nhà xuất bản Đại học ngôn ngữ Bắc Kinh, đã thống kê 789 Lượng từ trong tiếng Hán hiện đại Tác giả tiến hành khảo sát và phân tích các vấn đề nổi bật của Lượng từ, bao gồm quá trình phát triển, tiêu chí và cách phân loại, đặc điểm ngữ pháp, và ngữ nghĩa của Lượng từ Nghiên cứu đã xây dựng một bức tranh tổng thể về Lượng từ và đưa ra những giải thích hợp lý cho các vấn đề gây tranh cãi như Lượng từ trùng điệp, ý nghĩa tình thái, và ý nghĩa miêu tả của Lượng từ.
Trong nghiên cứu “现代汉语量词研究综述 (1997)” của tác giả Vương Đông Mai, đã xem xét các khía cạnh như tên gọi, phân loại và chức năng của Lượng từ tiếng Hán hiện đại Tác giả cho rằng việc coi Lượng từ là một loại danh từ đặc biệt là không hợp lý, vì nhóm từ này có những đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa khác biệt Tác giả đồng tình với quan điểm của Chu Đức Hy và Lưu Thế Nho về việc định danh Lượng từ là một loại từ độc lập Về phân loại, Lượng từ được chia thành hai nhóm lớn: danh Lượng từ và động Lượng từ, dựa trên khả năng kết hợp với các loại từ khác Tác giả cũng nêu ra các quan điểm khác nhau về chức năng tu sức của Lượng từ, đặc biệt là khả năng kết hợp với danh từ.
Lượng từ là một loại từ có số lượng lớn và phạm vi ứng dụng rộng rãi, thường được sử dụng để định nghĩa các cụm danh từ.
Lượng từ cần được kết hợp chặt chẽ với Lượng, vì chức năng ngữ pháp và đặc điểm ngữ nghĩa của Lượng từ rất phức tạp Từ góc độ ngữ pháp, Lượng từ giúp cấu trúc danh từ trở nên khoa học và chặt chẽ Trong khi đó, từ góc độ ngữ dụng, Lượng từ hỗ trợ người nói trong việc biểu đạt các ý nghĩa tình thái, miêu tả, hình tượng hóa và tu từ hóa.
Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào các Lượng từ trong tiếng Trung, đặc biệt là những Lượng từ có tần suất sử dụng cao Một ví dụ điển hình là luận văn thạc sĩ "现代汉语量词 '张' 的研究" của Qin Zhiming (2015) tại Đại học Sư phạm Thẩm Dương, nghiên cứu về Lượng từ 'zhang' trong tiếng Hán hiện đại.
( 2015), tác giả Tần Chí Minh, luận văn thạc sỹ Đại học sư phạm Thẩm Dương [34]; 汉语
Nghiên cứu về lượng từ "种" trong tiếng Hán được thực hiện bởi Đàm Gia Huệ vào năm 2020 tại Đại học Sư phạm Uyên Luận văn thạc sỹ này tập trung vào việc phân tích và làm rõ vai trò của lượng từ "种" trong ngữ pháp tiếng Hán.
Nam [38]; 现代汉语量词 “ 只 ” 的认知研究( 2016 )史天冠,黑龙江教育学院学报 –
Nghiên cứu về lượng từ 'zhi' trong tiếng Hán hiện đại của tác giả Sử Thiên Quan (2016) tập trung vào các khía cạnh như tiến trình phát triển, đặc điểm sử dụng và ngữ nghĩa của từ này Các nghiên cứu này thường có phạm vi hẹp, nhưng đi sâu vào các phương diện như nghiên cứu đồng đại, nghịch đại và tri nhận, nhằm quy nạp và hệ thống hóa các đặc trưng ngữ pháp liên quan đến lượng từ Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng so sánh và đối chiếu với các lượng từ tương đồng để làm nổi bật những đặc trưng riêng của lượng từ 'zhi'.
Nghiên cứu “ 现代汉语个体量词语法特点的认知研究 ” ( 2001 ),范伟,南京
Trong bài viết "Nghiên cứu tri nhận đặc điểm ngữ pháp của nhóm Lượng từ cá thể trong tiếng Hán hiện đại" của tác giả Phạm Vĩ, được đăng trên Tạp chí ngữ Văn Đại học Sư phạm Nam Kinh, đã tổng kết rõ ràng ba đặc điểm chính của nhóm từ cá thể Thứ nhất, nhóm từ này bắt buộc phải được sử dụng trong cụm danh từ Thứ hai, sự hiện diện hay vắng mặt của chữ "de" trong cụm danh – Lượng từ cá thể chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ giữa các thành phần biểu thị khái niệm Cuối cùng, cụm từ (Số từ + Lượng từ) có thể được bổ sung bằng tính từ.
Năm vào giữa phản ánh đặc điểm hoạt động của chuỗi nhận thức trong bộ não con người Lượng từ cá thể được trùng điệp thể hiện nhu cầu gia tăng ý nghĩa của khái niệm.
Nghiên cứu về Lượng từ trong giảng dạy tiếng Trung, một ngoại ngữ phổ biến tại các trường đại học ở Trung Quốc và nhiều quốc gia, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giảng dạy Các nhà nghiên cứu và giảng viên tiếng Hán đã thực hiện nhiều nghiên cứu để đạt được mục tiêu này.
Nghiên cứu này phân tích các sai sót phổ biến trong việc sử dụng lượng từ cá nhân của sinh viên Thái Lan học tiếng Trung, tập trung vào đối tượng là sinh viên đại học tại trường Chulalongkorn.
Nghiên cứu của智英 (Pattarawadee Pokawanwit) (2019) tại重庆师范大学 phân tích lỗi sai trong việc sử dụng Lượng từ cá thể tiếng Hán của sinh viên Thái Lan, đặc biệt là sinh viên trường Đại học Chulalongkorn Tác giả đã hệ thống hóa các đặc điểm chung của các Lượng từ như 个, 支, 把, 条, 张, 片, 本, 头, 只, và 篇, đồng thời so sánh với Lượng từ tiếng Thái Qua khảo sát, nghiên cứu đã chỉ ra các loại lỗi sai phổ biến, bao gồm nhầm lẫn Lượng từ, sử dụng sai Lượng từ ‘ge’, và lỗi trong cụm danh từ Các nguyên nhân dẫn đến những lỗi này chủ yếu là do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, sự chưa nắm vững ngữ pháp của Lượng từ, và các yếu tố bên ngoài Từ đó, tác giả đề xuất các kiến nghị về giảng dạy và thiết kế giáo án nhằm cải thiện việc dạy và học Lượng từ cá thể.
Nghiên cứu “ 对外汉语教学初级阶段量词与名词的搭配研究( 2019 ),席艳红,硕
Luận văn thạc sĩ của Tịch Diễm Hồng tại Đại học Dân tộc Tây Nam (2019) nghiên cứu sự kết hợp giữa lượng từ và danh từ trong giảng dạy tiếng Hán đối ngoại ở giai đoạn sơ cấp Tác giả đã thống kê 97 lượng từ từ "đề cương từ vựng giai đoạn sơ cấp tiếng Hán đối ngoại" và sử dụng ngữ liệu từ ba giáo trình phổ biến: 《发展汉语》, 《博雅汉语》, và 《成功之路》 Nghiên cứu chỉ ra rằng sự kết hợp giữa lượng từ và danh từ trong tiếng Hán bị ảnh hưởng bởi ngữ pháp, ngữ âm, ngữ nghĩa và hoàn cảnh sử dụng.
Tình hình nghiên cứu trong nước 4 6 3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu về loại từ đã được thực hiện bởi nhiều nhà ngôn ngữ học, trong đó có Nguyễn Tài Cẩn với tác phẩm "Từ loại trong danh từ tiếng Việt hiện đại" (1975).
Các nghiên cứu của Cao Xuân Hạo trong “Tiếng Việt, mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa” (1998) và “Nghĩa của Loại từ” (1999), cùng với tác phẩm của Nguyễn Phú Phong “Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt – Loại từ và chỉ thị từ” (2002), chủ yếu tập trung vào các vấn đề ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa trong tiếng Việt.
Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn, loại từ được phân loại vào tiểu loại của danh từ đơn vị và chia thành ba nhóm chính: nhóm loại từ chỉ người (như đứa, thằng), nhóm loại từ chỉ sự vật, hiện tượng, đồ đạc (như cái, chiếc), và nhóm loại từ chỉ động vật, thực vật (như con, cây, quả).
Hoàng Tất Thắng phân loại từ thành 6 loại chính: từ chỉ người, từ chỉ động vật, từ chỉ thực vật, từ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên, từ miêu tả hành động, và các loại từ khác.
Loại từ không thể sử dụng đơn độc, nhưng trong từng ngữ cảnh cụ thể, nó có thể đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp như chủ ngữ, định ngữ, tân ngữ, và bổ ngữ Vấn đề vị trí của Loại từ trong cụm danh từ cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập như một hiện tượng ngữ pháp thú vị và phức tạp.
Đặc trưng ngữ nghĩa của Loại từ trong tiếng Việt là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng và gây nhiều tranh cãi Các nhà nghiên cứu đều đồng thuận rằng đặc điểm ngữ nghĩa cơ bản nhất của Loại từ là khả năng đo lường.
Có 7 thể hoá hoặc phân loại danh từ Nhiều nghiên cứu cho rằng, loại từ không mang ý nghĩa thực, vì nghĩa của loại từ gắn chặt với nghĩa của danh từ.
1.2.2 Các nghiên cứu về đối chiếu Lượng từ tiếng Trung và Loại từ tiếng Việt
Nghiên cứu đối chiếu giữa Lượng từ và Loại từ chủ yếu được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu Hán ngữ và giáo viên dạy tiếng Trung cho sinh viên Việt Nam.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Diện “ Nghiên cứu đối chiếu cụm số Lượng từ tiếng
Bài viết "Hán và tiếng Việt" (2006) đã tiến hành so sánh hai nhóm từ dựa trên hình thức kết cấu, loại ngữ nghĩa và chức năng ngữ pháp Nghiên cứu này đã tổng hợp những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai loại từ trong hai ngôn ngữ, nhưng chưa đi sâu vào từng nhóm từ cụ thể như Lượng từ và Loại từ.
Nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Cương (2017) về "Đặc điểm Lượng từ tiếng Hán hiện đại trong sự đối chiếu với Loại từ tương đương tiếng Việt" đã phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa Lượng từ và Loại từ qua các khía cạnh ngữ pháp và ngữ nghĩa Nghiên cứu cũng khảo sát lỗi sai của sinh viên trong việc sử dụng Lượng từ tiếng Hán và tìm hiểu nguyên nhân gây ra những lỗi này, tập trung vào nhóm Lượng từ cá thể trong hệ thống Lượng từ của tiếng Trung và tiếng Việt.
Các nghiên cứu đối chiếu Lượng từ và Loại từ đã đạt được nhiều thành tựu, với phạm vi rộng lớn bao quát các khía cạnh ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Những nghiên cứu này chỉ ra nhiều điểm tương đồng và khác biệt giữa hai từ loại, làm phong phú thêm bức tranh nghiên cứu ngôn ngữ Trung – Việt Tuy nhiên, cần nghiên cứu sâu hơn dựa trên lí thuyết tri nhận ngôn ngữ để hiểu cách mà hai dân tộc quan sát và đánh giá sự vật qua việc lựa chọn Lượng từ và Loại từ Ngoài ra, nghiên cứu này cũng có thể ứng dụng trong giảng dạy tiếng Hán đối ngoại, thông qua việc xây dựng giáo trình phù hợp với đối tượng học viên cụ thể, nhằm giải quyết những vấn đề mà người học thường gặp phải.
Bài viết này tập trung vào việc áp dụng kiến thức về Lượng từ từ bộ giáo trình, nhằm đưa ra các kiến nghị và chiến lược giảng dạy cụ thể, thiết thực Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu đối chiếu giữa Lượng từ và Loại từ.
Mục tiêu chung
Nghiên cứu này chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về ngữ pháp, cách dùng, và ngữ nghĩa của các lượng từ trong tiếng Trung so với các loại từ tương đương trong tiếng Việt Dựa trên những phân tích này, nghiên cứu sẽ được áp dụng vào việc giảng dạy lượng từ trong học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc, nhằm giúp người học khắc phục những lỗi sai liên quan đến kiến thức này.
Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu lượng từ trong tiếng Trung và loại từ trong tiếng Việt từ góc độ ngữ pháp và ngữ nghĩa, nhằm so sánh và đối chiếu để xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này.
Khảo sát các lỗi sai phổ biến của người học trong việc sử dụng Lượng từ tiếng Trung và xác định nguyên nhân gây ra những lỗi này Ứng dụng những phát hiện này vào giảng dạy Lượng từ trong môn Ngữ pháp tiếng Trung, cũng như trong các học phần tổng hợp của chương trình, nhằm giúp người học khắc phục lỗi sai và sử dụng chính xác các Lượng từ trong tiếng Trung.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận
Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ các góc độ sau:
Bài viết này tiếp cận từ cơ sở lý luận và tổng quan về Lượng từ trong tiếng Trung và Loại từ trong tiếng Việt Đồng thời, nó khảo sát và đánh giá thực trạng sử dụng kiến thức Lượng từ tiếng Trung, cũng như những lỗi sai thường gặp, đặc biệt là những lỗi do ảnh hưởng của Loại từ tiếng Việt của sinh viên trong học phần Ngữ pháp học Trung Quốc, đang được giảng dạy trong chương trình tiếng Trung thương mại tại trường.
Tiếp cận từ định hướng, mục tiêu giảng dạy hiệu quả kiến thức Lượng từ trong học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc.
Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu: Đối với dữ liệu sơ cấp: Chúng tôi đã sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi để tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp nhằm phân tích lỗi sai của sinh viên trong việc sử dụng Lượng từ ( Phụ lục 4) Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành thu thập và tập hợp các bài tập của sinh viên liên quan đến nội dung nghiên cứu Đối với dữ liệu thứ cấp: Chúng tôi đã thu thập các tài liệu là các nghiên cứu của các nhà ngữ pháp học trước đây về Lượng từ và Loại từ dưới dạng các giáo trình, các bài báo khoa học, luận văn khoa học từ các thư viện số Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi cũng sử dụng một lượng lớn các ngữ liệu tiếng Trung và tiếng Việt làm ví dụ minh chứng cho các luận điểm Các ngữ liệu này chủ yếu lấy từ
1) giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại” của tác giả Lư Phúc Ba
2) giáo trình tiếng Hán Thương mại thực dụng cơ bản, tác giả Quan Đạo Hùng
3) giáo trình tiếng Hán Thương mại quốc tế, tác giả Trương Thái Bình
4) Từ điển 现代汉语八百词
5) Giáo trình Hán Ngữ 2, Nhà xuất bản đại học ngôn ngữ Bắc Kinh
6) Một số tác phẩm thơ Việt Nam
7) Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh
8) Tuyển tập truyện kể cho bé trước giờ đi ngủ
9) Một vài trích dẫn từ các trạng mạng Việt Nam, Trung Quốc
5.2.2 Phương pháp xử lí dữ liệu: Đề tài sử dụng hai phương pháp phổ biến trong nghiên cứu ngôn ngữ học là:
Phương pháp miêu tả là kỹ thuật sử dụng các thủ pháp như phân tích thành tố nghĩa, phân tích phân bổ và thống kê phân loại để xem xét và miêu tả một đơn vị ngôn ngữ ở nhiều bình diện, cấp độ và thuộc tính khác nhau Trong nghiên cứu này, phương pháp miêu tả được áp dụng để đạt được những mục tiêu cụ thể.
+ Miêu tả đặc điểm ngữ pháp, cách dùng, ý nghĩa của Lượng từ tiếng Trung và Loại từ tiếng Việt
+ Thống kê, phân loại những lỗi sai thường gặp của người học khi học Lượng từ tiếng Trung
+ Dựa vào kết quả khảo sát thống kê, tiến hành miêu tả, phân tích lỗi sai thường gặp của người học khi học Lượng từ tiếng Trung
Phương pháp so sánh đối chiếu là kỹ thuật dùng để so sánh một đối tượng chuẩn với một đối tượng khác, nhằm phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt Qua đó, phương pháp này giúp làm rõ hơn các đặc trưng của các đối tượng được so sánh Trong nghiên cứu này, phương pháp đối chiếu so sánh được áp dụng để
Lượng từ trong tiếng Trung được sử dụng làm cơ sở để so sánh với các loại từ tương đương trong tiếng Việt Việc này giúp phân tích các đặc điểm ngữ pháp, cách dùng và ý nghĩa của chúng, từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
Kết cấu của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận về Lượng từ trong tiếng Trung và Loại từ trong tiếng Việt Chương 2 so sánh sự khác biệt giữa Lượng từ trong tiếng Trung và Loại từ trong tiếng Việt Chương 3 khảo sát các lỗi sai trong việc sử dụng Lượng từ tiếng Trung của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành tiếng Trung thương mại trong học phần ngữ pháp.
CƠ SỞ LÍ LUẬN
Lí luận về đối chiếu ngôn ngữ
Ngôn ngữ đối chiếu, theo Hứa Dư Long, là một nhánh của ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu so sánh và đối chiếu đồng đại giữa hai hoặc nhiều ngôn ngữ Mục tiêu của nó là tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ, từ đó ứng dụng kết quả nghiên cứu vào các lĩnh vực liên quan.
Ngôn ngữ đối chiếu là một nhánh của ngôn ngữ học, cho thấy mối quan hệ mật thiết với các ngành khác trong lĩnh vực này Các nghiên cứu trong ngôn ngữ học so sánh không chỉ bổ sung mà còn hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên một hệ thống kiến thức phong phú và đa dạng.
Thứ hai, pháp pháp chủ yếu được áp dụng trong ngôn ngữ học đối chiếu chính là sự mô tả so sánh hai hoặc nhiều hơn hai ngôn ngữ
Ngôn ngữ học đối chiếu là một lĩnh vực nghiên cứu đồng đại, tập trung vào việc phân tích trạng thái của các ngôn ngữ tại một giai đoạn phát triển nhất định, thay vì xem xét toàn bộ tiến trình phát triển của chúng.
Mặc dù ngôn ngữ học đối chiếu chủ yếu nhằm mô tả sự tương đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ, nhưng thường chú trọng vào những điểm khác biệt Qua quá trình đối chiếu, nhiều đặc điểm quan trọng của các ngôn ngữ được phát hiện, giúp các nhà nghiên cứu xác định rõ hơn các đặc điểm riêng biệt của từng ngôn ngữ, những điều này thường không được chú ý khi chỉ nghiên cứu trong phạm vi mỗi ngôn ngữ.
Ngôn ngữ học đối chiếu được chia thành hai nhánh chính: ngôn ngữ học đối chiếu lý thuyết, nhằm xây dựng mô hình lý thuyết để phân tích các vấn đề ngôn ngữ học đại cương, loại hình học, và văn hóa; và ngôn ngữ học đối chiếu ứng dụng, phục vụ cho nhu cầu thực tiễn như dạy học ngoại ngữ và dịch thuật Dù nghiên cứu thuộc lĩnh vực lý thuyết hay ứng dụng, việc nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ cần được thực hiện một cách đầy đủ và toàn diện.
Không thể đối chiếu các ngôn ngữ như những tổng thể mà chỉ có thể tiến hành đối chiếu từng bộ phận trên tất cả các bình diện của hai ngôn ngữ.
1) Đối chiếu những đơn vị tương đương trong hai ngôn ngữ, chẳng hạn như đại từ, động từ, hệ thống nguyên âm, v.v
2) Đối chiếu những kết cấu tương đương trong hai ngôn ngữ, chẳng hạn kết cấu nghi vấn, kết cấu phủ định, kết cấu bị động, v.v
3) Đối chiếu các qui tắc tương đương trong hai ngôn ngữ, như quy tắc bị động hoá, đảo trật tự trong kết cấu nghi vấn, v.v.
Vấn đề tên gọi Lượng từ, Loại từ
1.2.1 Tên gọi Lượng từ và vị trí của Lượng từ trong hệ thống thực từ tiếng Hán
Lượng từ là một từ loại đặc biệt trong hệ thống thực từ tiếng Hán, nhưng sự quan tâm và nghiên cứu về nó xuất hiện muộn hơn so với các thực từ khác Trước năm 1979, Lượng từ chưa được công nhận là một từ loại độc lập, dẫn đến việc thiếu một cách định danh thống nhất trong các nghiên cứu ngữ pháp Tác giả Mã Kiến Trung trong tác phẩm “Mã Thị Văn Thông” (1898) đã gọi Lượng từ là “记数之别称 – tên gọi riêng để đếm”.
Trong tác phẩm “Ngữ pháp hiện đại Trung Quốc”, tác giả 王力 Vương Lực đề cập đến Lượng từ với các thuật ngữ “单元名词 - danh từ đơn vị” và “单位词 - đơn vị từ” Tương tự, tác giả 高明凯 Cao Minh Khải trong “Lí luận Ngữ pháp tiếng Hán” gọi Lượng từ là “数位词 - số vị từ” Ngoài ra, còn có các tên gọi khác như 助名词 - trợ danh từ của tác giả 陆志韦 Lục Chí Vỹ và “辅名词 - phụ danh từ, số lượng”.
Trong nghiên cứu của谭正壁 - Đàm Chính Bích, quan điểm về "số lượng từ" giai đoạn đầu chưa coi Lượng từ là một loại từ độc lập, mà xem nó như một nhóm "danh từ đặc biệt" thuộc danh từ Quan điểm này chịu ảnh hưởng từ nguồn gốc danh từ của Lượng từ và ngữ pháp Âu – Mỹ, nơi không có hệ thống từ loại cho Lượng từ Mặc dù vậy, các nghiên cứu vẫn tiếp tục phát triển.
13 thống nhất những đặc điểm riêng có Lượng từ – lớp từ thêm vào sau số từ, làm đơn vị đo lường cho người, vật nói chung
Thuật ngữ "Lượng từ" lần đầu tiên được giới thiệu trong nghiên cứu của tác giả Đinh Thanh Thụ về ngữ pháp tiếng Hán hiện đại Tác giả không chỉ thống nhất sử dụng thuật ngữ này mà còn phân tích Lượng từ như một loại từ độc lập, mở ra một chương mới trong nghiên cứu Lượng từ trong ngữ pháp tiếng Hán hiện đại.
Thuật ngữ "Lượng từ" trong hệ thống thực từ tiếng Hán đã trải qua nhiều tranh luận từ những đề cập đầu tiên trong "Mã Thị Văn Thông" cho đến thập niên 50 và tiếp tục đến những năm 70 Trong suốt quá trình này, thuật ngữ này đã có 10 tên gọi khác nhau trước khi được sử dụng thống nhất và phổ biến trong giới nghiên cứu ngữ pháp học.
Các tên gọi khác nhau của Lượng từ được khái quát trong bảng sau:
STT Tên gọi Tác giả Nghiên cứu Thời gian xuất bản
1 记数之别称 – đơn vị biệt xưng dùng để tính đếm”
2 表示数量名词- Danh từ biểu thị số lượng
新著国语文法 1924
3 单位词 – Đơn vị từ 呂叔湘
《中国文法要略》 1924
4 单位名词 Danh từ đơn vị
《中国现代文法》
《中国语法理论》
《有关人物和行为的
5 数位词 – Số vị từ 高名凱
《汉语语法论》 1948
6 副名词 – Phó danh từ 呂叔湘
《语法修辞讲话》 1953
7 助名词 – trợ danh từ 陸志伟
北京华单位词词集》 1956
8 辅名词 – phụ danh từ, 谭 正 壁 - Đàm
9 数量词 – số Lượng từ 张志公
语法和语法教学 1960
10 量词 -Lượng từ 丁声树 Đinh Thanh Thụ
现代汉语语法讲话 1961
量词 – Lượng từ 黄伯荣
(Bảng 1.1: Tên gọi của Lượng từ)
1.2.2 Tên gọi Loại từ và vị trí của Loại từ trong hệ thống thực từ tiếng Việt
Loại từ trong tiếng Việt, tương tự như trong tiếng Hán, là một trong những từ loại được nghiên cứu và tranh luận sôi nổi trong giới ngữ pháp học Có nhiều ý kiến trái ngược về tên gọi và cách định vị lớp từ loại này.
Nhóm ý kiến đầu tiên xếp Loại từ là một nhóm thuộc danh từ, với các tên gọi như
Trong nghiên cứu về danh từ trong tiếng Việt, tác giả Nguyễn Tài Cẩn (1975) và Cao Xuân Hạo (1982) đã đề cập đến khái niệm “danh từ đơn vị” và tính đếm được cùng hai loại danh từ Hồ Lê (1983) đã giới thiệu thuật ngữ “danh từ đơn vị đối tượng”, trong khi Nguyễn Hữu cũng đóng góp vào việc phân loại danh từ với khái niệm “danh từ chỉ loại”.
Theo Quỳnh (2001) và tác giả Phan Khôi trong "Việt Ngữ nghiên cứu", thuật ngữ "tiền danh từ" được sử dụng để chỉ một loại từ cụ thể Ngoài ra, các tác giả như Nguyên Lân trong "Ngữ pháp Tiếng Việt" cũng đề cập đến khái niệm "phó danh từ".
[12]; Nguyễn Kim Thản trong “nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt [19]
Nhóm ý kiến thứ hai, bao gồm các đại diện như Nguyễn Hiến Lê, Đinh Văn Đức và Phan Ngọc, đã xác định Loại từ là một từ loại độc lập trong hệ thống tiếng Việt và chính thức sử dụng thuật ngữ này để chỉ lớp từ đặc biệt này Mặc dù thuật ngữ Loại từ đã được phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ và áp dụng, nhưng việc xác định vị trí của Loại từ trong lớp từ tiếng Việt vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược.
15 Các tên gọi khác nhau của Loại từ được khái quát trong bảng sau:
STT Tên gọi Tác giả Nghiên cứu Thời gian xuất bản
1 tiền danh từ Phan Khôi nghiên cứu tiếng Việt 1955
2 Phó danh từ Nguyễn Lân
Nguyễn Kim Thản ngữ pháp Tiếng Việt nghiên cứu về ngữ pháp Tiếng Việt, tập 1
3 danh từ đơn vị Nguyễn Tài
Từ Loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
4 danh từ đơn vị đối tượng
Hồ Lê Tính đếm được và hai loại danh từ trong tiếng Việt
1983, Tạp chí ngôn ngữ số 1
5 Đơn vị từ Nguyễn Hữu
NXB từ điển Bách Khoa
Ban Nguyến Hiến Lê, Đinh Văn Đức,
Khảo luận ngữ pháp Việt Nam
Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt – thử trở lại câu chuyện loại từ
2005, NXB Giáo dục Hà Nội
(Bảng 1.2: Tên gọi của Loại từ)
Định nghĩa
1.3.1 Định nghĩa Lượng từ tiếng Trung
Lượng từ trong hệ thống thực từ tiếng Trung được định nghĩa bởi các tác giả, dù có tranh luận về tên gọi và vị trí của nó Dù được xem là nhóm từ thuộc danh từ hay là lớp từ độc lập, điểm chung là Lượng từ chỉ đơn vị cho số lượng người, sự vật hoặc hành vi, thường đứng sau đại từ chỉ thị hoặc số từ và trước danh từ.
Dựa trên những nhận định đã nêu, để thuận tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi áp dụng định nghĩa từ giáo trình “Ngữ pháp thực dụng giảng dạy tiếng Hán đối ngoại” của tác giả Lô Phúc Ba, hiện đang được sử dụng trong học phần Ngữ pháp học tiếng Trung Quốc tại trường Đại học Thương mại Theo đó, lượng từ được định nghĩa là những từ biểu thị đơn vị số lượng của sự vật hoặc động tác, và được chia thành hai nhóm lớn: danh lượng từ và động lượng từ.
Các tác giả đồng thuận nghiên cứu Loại từ như một nhóm từ độc lập, tách biệt khỏi danh từ, nhằm đưa ra định nghĩa rõ ràng về Loại từ Theo tác giả Đinh Văn Đức, Loại từ được hiểu là “một số hoặc một lượng đơn vị của cái mà danh từ đi sau nó biểu thị”, với các ví dụ như cái, cân, miếng, bát, gói, bó, đôi, gánh.
Theo Diệp Quang Ban, loại từ là từ đứng trước danh từ để chỉ định danh từ thuộc về loại nào Điều này cho thấy loại từ có chức năng cá thể hóa, phân định và đơn vị hóa danh từ, giúp xác định rõ danh từ đó thuộc loại nào.
Theo Nguyễn Tài Cẩn, Loại từ chỉ một lớp từ đứng trước danh từ, dùng để kiểm đếm, xếp loại và định danh cho danh từ [2]
Các nhà ngữ pháp học tiếng Việt đã xác định hai đặc tính cơ bản để định nghĩa loại từ: đặc tính đầu - kiểm đếm, tức là định lượng, và hai đặc tính tiếp theo - xếp loại, định danh, tức là định tính.
Loại từ trong Tiếng Việt là từ có chức năng định đơn vị cho danh từ đi sau, không phải là đơn vị thuần toán học, mà mang theo một tính chất đặc trưng nào đó.
1.3.3 Đối chiếu khái niệm Lượng từ và loại từ
Lượng từ trong ngữ pháp tiếng Hán nhấn mạnh đặc trưng định lượng, thể hiện đơn vị số lượng của sự vật hoặc động tác, dùng để tính đếm và đo lường Ngược lại, Loại từ trong ngữ pháp tiếng Việt không chỉ có chức năng đo lường mà còn giúp phân loại, mô tả sự vật theo các đặc trưng nhất định, thể hiện chức năng phân loại và định tính.
Vấn đề phân loại
1.4.1 Phân loại Lượng từ tiếng Trung
Trong việc phân loại Lượng từ, các nhà ngữ pháp học dựa trên hai tiêu chí chính: (1) khả năng kết hợp với các từ loại khác và (2) ngữ nghĩa cùng chức năng tổ hợp ngữ nghĩa của Lượng từ Nghiên cứu này áp dụng phương pháp phân loại được nhiều nhà ngữ pháp học hiện đại, như 黄伯, công nhận.
Hoàng Bá Vinh và Lư Phúc Ba ủng hộ nghiên cứu ứng dụng vào giảng dạy tiếng Hán đối ngoại, phân loại theo khả năng kết hợp với các từ loại khác Lượng từ tiếng Hán được chia thành hai loại chính: Danh Lượng từ và Động Lượng từ Dựa vào khả năng kết hợp về mặt ngữ nghĩa với các từ loại khác, chúng có thể được chia nhỏ hơn theo sơ đồ cụ thể.
(Sơ đồ 1.1: Sơ đồ phân loại Lượng từ)
名量词 Danh Lượng từ
专用名量词 danh Lượng từ chuyên dùng
个体量词 Lượng từ cá thể 集体量词 Lượng từ tập thể 度量衡量词 Lượng từ đo lường
借用名量词 Danh Lượng từ mượn dùng
借自名词 Mượn từ danh từ 借自动词 Mượn từ động từ
动量词 Động Lượng từ
专用动量词 động Lượng từ chuyên dùng
动作数 Số lần của động tác 动作时量 Thời lượng của động tác
借用动量词 Động Lượng từ mượn dùng
借自名词 Mượn từ danh từ借自动词 Mượn từ động từ
1.4.2 Phân loại Loại từ tiếng Việt
Theo định nghĩa về Loại từ, các nhà ngữ pháp học đã giới hạn Loại từ chỉ là nhóm từ kết hợp với danh từ, tức là phạm vi Loại từ tiếng Việt chỉ bao gồm các nhóm Loại từ danh từ Điều này không bao hàm các nhóm từ đơn vị có khả năng kết hợp với động từ, tương tự như động Lượng từ trong tiếng Trung Để phù hợp với cách thức lấy tiếng Trung làm cơ sở đối chiếu và thuận lợi trong quá trình so sánh giữa hai loại từ này, chúng tôi quyết định lựa chọn cách phân loại Loại từ tiếng Việt của tác giả Vũ Thị Huệ.
[46] Theo đó, loại từ tiếng Việt có thể được phân loại như sau:
(Sơ đồ 1.2: Sơ đồ phân loại Loại từ)
1.4.3 Đối chiếu phân loại Lượng từ - Loại từ và phạm vi nghiên cứu
Từ hai sơ đồ phân loại trên, chúng tôi thấy nổi bật lên một vài điểm sau:
Lượng từ tiếng Trung được chia thành hai loại chính: Danh Lượng từ và Động Lượng từ, dựa trên khả năng kết hợp với các từ loại khác Trong khi đó, loại từ tiếng Việt không bao gồm các nhóm từ đơn vị có khả năng kết hợp với động từ như Động Lượng từ trong tiếng Trung Do đó, phạm vi của loại từ tiếng Việt chỉ tương đương với Danh Lượng từ.
Lượng từ tiếng Trung và Loại từ tiếng Việt được phân chia thành hai loại chính: chuyên dùng và mượn dùng (tạm thời), dựa trên tính chất và tần suất sử dụng Khi xem xét các tiểu loại nhỏ hơn, tiêu chí phân loại Lượng từ trong tiếng Trung và Loại từ trong tiếng Việt sẽ được làm rõ hơn.
Loại từ chỉ động vật
Loại từ chỉ vật ( bao gồm chỉ thực vật)
Loại từ đo lườngLoại từ mượn các từ xưng hô chỉ quan hệ thân thuộc
Trong tiếng Việt, có nhiều điểm khác biệt so với tiếng Trung, đặc biệt là trong việc phân loại danh lượng từ Danh lượng từ trong tiếng Trung được chia thành ba tiểu loại: lượng từ cá thể, lượng từ tập thể và lượng từ đo lường, dựa trên khả năng kết hợp ngữ nghĩa với danh từ Trong khi đó, loại từ chuyên dùng trong tiếng Việt cũng cần được phân loại rõ ràng để làm sáng tỏ định nghĩa về loại từ.
“ lượng đơn vị” dùng để đếm mà còn giúp phân định, xác định rõ danh từ đó thuộc loại nào – chỉ người, chỉ động vật hay chỉ vật
Dựa trên các phân tích đã thực hiện và lấy tiếng Trung làm tiêu chuẩn đối chiếu, chúng tôi đã xác định phạm vi đối chiếu trong nghiên cứu của mình một cách cụ thể.
Lượng từ trong tiếng Hán bao gồm các Danh Lượng từ chuyên dụng và Danh Lượng từ mượn, được nghiên cứu trong các giáo trình tiếng Trung phục vụ cho giảng dạy các học phần thuộc chuyên ngành tiếng Trung thương mại.
1) Giáo trình Hán ngữ tập 1, tập 2 - 汉语教程第一、二册( 2019), Đại học ngôn ngữ Bắc Kinh do Dương Ký Châu chủ biên
2) Giáo trình Tiếng Hán thương mại thực dụng cơ bản – 基础实用商务汉语 (2012), Đại học bắc Kinh do Quan Đạo Hùng chủ biên
3) Giáo trình Ngữ Pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại – 对外汉语教学实用语法(2008), Đại học ngôn ngữ Bắc Kinh do Lư Phúc Ba chủ biên
Sau khi thống kê, chúng tôi đã tổng hợp được 70 lượng từ xuất hiện trong ba giáo trình Cụ thể, lượng từ trong giáo trình Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại được trình bày chi tiết trong phụ lục 1.
Giáo trình Ngữ Pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại
Số Lượng từ: 70 Số câu chứa Lượng từ: 337 câu
1 把 2 15 堆 2 29 件 26 43 米 2 57 套 2
2 帮 3 16 朵 4 30 节 3 44 面 2 58 条 7
3 杯 3 17 份 5 31 斤 3 45 名 3 59 头 4
4 本 19 18 封 10 32 句 6 46 枚 1 60 丸 1
5 部 4 19 幅 3 33 棵 1 47 匹 2 61 碗 1
6 层 2 20 副 2 34 颗 2 48 批 4 62 位 7
7 场 1 21 个 86 35 口 3 49 片 6 63 线 1
8 串 2 22 根 1 36 块 4 50 篇 2 64 项 6
9 打 2 23 公斤 3 37 款 2 51 群 1 65 张 5
10 道 3 24 公里 1 38 筐 1 52 束 1 66 只 6
11 顶 3 25 股 1 39 粒 2 53 双 2 67 支 3
12 栋 1 26 家 6 40 辆 4 54 丝 1 68 枝 2
13 段 2 27 架 2 41 列 2 55 所 1 69 种 15
14 对 3 28 间 4 42 轮 2 56 台 1 70 座 7
( Bảng 1.3: Bảng thống kê 70 Lượng từ của nghiên cứu)
Loại từ tiếng Việt bao gồm các Loại từ chuyên dùng và Loại từ tạm thời, có ý nghĩa tương đồng với các Lượng từ tiếng Hán.
ĐỐI CHIẾU LƯỢNG TỪ TRONG TIẾNG TRUNG VÀ LOẠI TỪ TRONG TIẾNG VIỆT
Đối chiếu đặc trưng ngữ pháp của Lượng từ - Loại từ
Lượng từ thường đứng sau số từ để tạo thành cụm số, làm định ngữ cho danh từ Số từ được sử dụng để kiểm đếm và thống kê, giúp định lượng chính xác cho sự vật hiện tượng, trong khi Lượng từ biểu thị đơn vị của số từ Do đó, Lượng từ và số từ kết hợp chặt chẽ theo cấu trúc: (Số từ + Lượng từ) + Danh từ trong cụm danh từ biểu thị số lượng Ngay cả các danh từ trừu tượng trong tiếng Trung cũng cần Lượng từ làm đơn vị khi biểu thị số lượng.
1) 两颗心 (không nói: 两心)
2) 一张桌子 (không nói: 一桌子)
3) 一个语言现象 (không nói: 一语言现象)
4) 一个难题 (không nói: 一难题)
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
Trong cụm danh từ chỉ thị có sử dụng đại từ 这/那, lượng từ phải được kết hợp với đại từ này theo cấu trúc (这/那 + Lượng từ) + Danh từ để xác định rõ đơn vị của danh từ Ví dụ:
5) 这批订单 – đơn hàng này (không nói: 这订单)
6) 那个报盘 – báo giá đó (không nói: 那报盘)
( Giáo trình “ Tiếng Hán thương mại 1.3)
Khi cụm danh từ số lượng làm tân ngữ và số từ là “一 một”, người nói có thể lược bỏ “一 - một” Do đó, về mặt hình thức, cụm danh từ được viết dưới dạng Lượng từ + Danh từ, nhưng thực chất vẫn là cụm số Lượng từ với sự kết hợp của Số từ “一” và Lượng từ.
7) 那时,他只是个农民。
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
Lượng từ không thể hoạt động độc lập trong câu mà cần kết hợp với số từ để tạo thành cụm (Số từ + Lượng từ) hoặc với đại từ chỉ thị 这/那 để hình thành cụm.
( 这 / 那 + Lượng từ), sau đó mới có thể làm các thành phần câu như định ngữ, chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, tân ngữ, bổ ngữ, Ví dụ:
8) 前边开过来一辆汽车。 (làm định ngữ)
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
9) 这批货的起运港为旧金山,终点港为天津新港。 ( làm chủ ngữ)
(Giáo trình tiếng Hán Thương mại)
10) 房租一个月三千块。 (làm vị ngữ)
11) 鹅毛大雪一片片地飘落下来。 ( làm trạng ngữ)
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
12) 他想当一个记者。 ( làm tân ngữ)
13) 坐飞机比坐火车快十五个小时。 ( làm bổ ngữ)
( Giáo trình tiếng Hán Thương mại)
Lượng từ trong cụm danh từ thường đứng ngay sau số từ hoặc đại từ chỉ thị 这 / 那, thể hiện số lượng hoặc chỉ thị Vị trí của Lượng từ thường ổn định, tiến gần kết hợp chặt chẽ với số từ và đại từ 这, 那, đặc biệt trong các cụm danh từ có nhiều thành phần định ngữ.
14) 我的一个朋友
15) 我的一个美国朋友
16) 我的一个很特别的朋友
17) 我的一个很特别的
Trong tiếng Trung, cấu trúc câu thường sử dụng đại từ (的) kết hợp với số từ, lượng từ và danh từ Cụ thể, có thể có các dạng như: đại từ (的) + số từ + lượng từ + danh từ, đại từ (的) + số từ + lượng từ + danh từ + danh từ theo thứ tự, và đại từ (的) + số từ + lượng từ + cụm tính từ + danh từ Ngoài ra, còn có dạng đại từ (的) + số từ + lượng từ + cụm tính từ + danh từ + danh từ theo thứ tự.
Vị trí của Lượng từ 个 trong các cụm danh từ nhiều tầng định ngữ có xu hướng di chuyển xa khỏi danh từ trung tâm và gần gũi hơn với số từ, đại từ Điều này càng làm nổi bật đặc trưng ngữ pháp đầu tiên của Lượng từ.
Tuy nhiên, vẫn có thể gặp một số trường hợp cụm (Số từ + Lượng từ) bị tách ra như các ví dụ dưới đây:
18) 一大块面包 ( Số từ+ 大+ Lượng từ)+ Danh từ
19) 一长排椅子 ( Số từ+ 长+ Lượng từ)+ Danh từ
20) 一小包衣服 ( Số từ+ 小+ Lượng từ)+ Danh từ
21) 一满杯水 ( Số từ+ 满+ Lượng từ)+ Danh từ
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
Các trường hợp biểu đạt như trên thường hiếm và có điều kiện ràng buộc Hình dung từ thêm vào trong cụm (Số từ + Lượng từ) thường là các hình dung từ đơn âm tiết như 大, 小, 长, 段, 满 Danh từ trung tâm thường biểu thị sự vật có thể chia nhỏ, như 面 trong ví dụ 18, hoặc Lượng từ tập thể 排 như trong ví dụ 19, hoặc Lượng từ mượn từ danh từ như 包, 杯 trong ví dụ 21.
Lượng từ có thể trùng điệp: Đây là một đặc điểm ngữ pháp độc đáo của Lượng từ
Lượng từ trung điệp thường có nghĩa là “mỗi”, “nhiều” hoặc “dần dần” Trong một số trường hợp, sau khi trùng điệp, lượng từ có thể trở thành thành phần độc lập trong câu, như chủ ngữ, định ngữ, trạng ngữ hoặc vị ngữ.
22) 这些姑娘,个个都很出息。 (个个 làm chủ ngữ, biểu thị ý nghĩa “mỗi”)
23) 天气突变,刮起了阵阵狂风。(阵阵làm định ngữ, biểu thị ý nghĩa “nhiều”)
24) 敌人步步紧逼,战士们毫不畏惧。( 步步làm trạng ngữ, biểu thị ý nghĩa “dần dần”
25) 会场里掌声阵阵。 (阵阵làm vị ngữ, biểu thị ý nghĩa “nhiều”)
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
Lượng từ có thể đứng sau danh từ để tạo thành các danh từ tập thể, trong đó từ tố đứng sau chính là lượng từ của danh từ từ tố đứng trước Ví dụ như 车辆, 河条, 书本, 船只, và 纸张.
24 được cấu tạo theo phương thức kết hợp này không nhiều, do đó đây không phải là một đặc điểm ngữ pháp nổi bật ở Lượng từ
2.1.2 Đặc trưng ngữ pháp của Loại từ
Loại từ có khả năng kết hợp linh hoạt với các từ loại khác, thường đứng sau số từ trong cấu trúc Số từ + Loại từ + Danh từ Ngoài ra, loại từ cũng có thể kết hợp với đại từ như này, kia, ấy, nào theo cấu trúc Loại từ + Danh từ + này/kia/ấy/nào.
Trong một số trường hợp, khi cụm danh từ số lượng làm tân ngữ và số từ là “một”, có thể lược bỏ số từ Ví dụ dưới đây cho thấy người nghe có thể ngầm hiểu số lượng mà người nói đang đề cập.
31) Quê hương tôi có con sông xanh biếc
( Thơ “ Nhớ con sông quê hương, Tế Hanh)
32) Tôi mới mua quyển sách rất hay
Trong tiếng Việt, có nhiều cụm danh từ biểu thị số lượng hoặc chỉ thị mà không cần Loại từ Điều này có nghĩa là số từ hoặc đại từ chỉ thị có thể kết hợp trực tiếp với danh từ theo cấu trúc Số từ + Danh từ hoặc Danh từ + này/ kia/ ấy/ nào.
35) phương pháp học tập này
36) không bỏ qua một chi tiết nào Mặt khác, trong tiếng Việt, trường hợp Loại từ kết hợp trực tiếp với Danh từ mà không cần sự xuất hiện của Số từ hoặc đại từ từ chỉ thị khá phổ biến Ví dụ:
37) Con mèo đang nghịch cuộn len của bà
(Truyện “Con mèo nhỏ và cuộn len hồng”, caphethubay.net)
38) Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
( Thơ Đồng Chí, Chính Hữu)
39) Người mẹ khóc đến nỗi hai mắt theo dòng lệ rơi xuống hồ
( Truyện cổ tích “ người mẹ”, Andecxen)
40) Chiếc áo đối với tôi hơi rộng
( Truyện “chiếc áo”, Thiền sư Thích Nhất Hạnh)
Loại từ có chức năng ngữ pháp quan trọng trong việc kết hợp với số từ và đại từ chỉ thị để làm định ngữ cho danh từ trung tâm Ngoài ra, trong các ngữ cảnh cụ thể, cụm Số lượng + Loại từ, Loại từ + danh từ + này/kia/ấy/nào có thể đảm nhận vai trò định ngữ, chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ hoặc bổ ngữ trong câu.
41) Neru bị một con chim cú bắt đi (làm định ngữ)
( Truyện Báu vật của Neru và Mari, Akiko Komeoka)
42) Hai con sóc ngậm hai khúc bánh mỳ (làm chủ ngữ)
(Tuyển tập Truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh)
43) Mỗi người một cây, trồng khắp buôn làng (làm vị ngữ)
( Bài viết“Thêm một cây xanh - Thêm sự trong lành”, baobariavungtau.com.vn)
44) Neru tặng cho bạn mình một chiếc vòng rất đẹp ( làm tân ngữ)
( Truyện Báu vật của Neru và Mari, Akiko Komeoka)
45) Thằng em giờ đã cao hơn anh một cái đầu ( làm bổ ngữ)
(Tuyển tập Truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh)
Đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của Lượng từ - Loại từ
2.2.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của Lượng từ Đặc trưng ngữ nghĩa của từ vừa phản ánh quan hệ giữa loại từ đó với sự vật hiện tượng khách quan, đồng thời cũng phản ánh quan hệ kết hợp về mặt ý nghĩa của từ loại đó với các từ loại khác
Lượng từ là đơn vị định lượng cho danh từ, nhưng mỗi danh từ phản ánh các sự vật khác nhau sẽ có lượng từ tương ứng Sự kết hợp giữa lượng từ và danh từ phụ thuộc vào ngữ nghĩa của chúng, đảm bảo sự phù hợp.
59) 一张床 – một chiếc giường (không nói: 一条床) vì 张 mới là Lượng từ định lượng cho những danh từ có dạng mặt phẳng như giường, tờ giấy, bản đồ
60) 一辆车 – một chiếc xe hơi (không nói: 一把车) vì 辆 mới là Lượng từ định lượng cho danh từ chỉ các loại xe cộ nói chung
61) 两封信 – hai bức thư (không nói: 两本信) vì 封 mới là Lượng từ định lượng cho danh từ bức thư
62) 这本词典 – quyển từ điển này (không nói: 这只词典) vì 本mới là Lượng từ định lượng cho danh từ có thể đóng thành quyển như sách, tạp chí, từ điển
Lượng từ trong tiếng Hán chủ yếu xuất phát từ danh từ hoặc động từ, và đã phát triển thành các từ biểu thị khái niệm đơn vị định lượng cho danh từ Quá trình này phản ánh sự quan sát sự vật hiện tượng từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến việc mỗi danh từ có thể được định lượng bằng nhiều Lượng từ khác nhau Sự khác biệt trong việc sử dụng Lượng từ tạo ra các cụm danh từ với ý nghĩa khác nhau, thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau.
- Khác nhau về lượng Ví dụ:
63) 一朵花 (một bông hoa) 一束花( một bó hoa)
64) 一本书(một quyển sách) 一套书(một bộ sách)
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
- Khác nhau về phạm trù Ví dụ:
65) 一件礼物 (một món quà) 一份礼物 ( một phần quà)
66) 一块皮 ( một mảnh da) 一层皮 ( một lớp da)
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
- Khác nhau về hình dạng Ví dụ:
67) 一片肉 ( một miếng thịt ) 一块肉 ( một viên thịt)
68) 一条狗 ( một con chó – hình dáng dài) 一只狗 (một con chó – hình dáng nhỏ bé)
(Giáo trình “Ngữ pháp thực dụng tiếng Hán đối ngoại”)
Qua việc quan sát và nhận thức các sự vật hiện tượng, ta dễ dàng nhận thấy nhiều nhóm có đặc điểm tương đồng về hình dáng, tính chất sử dụng và tính cách Nhờ vào các hình thức liên tưởng như ẩn dụ và hoán dụ, chúng ta có thể phân loại và nhóm các sự vật có chung đặc tính nổi bật vào một đơn vị định lượng Do đó, trong tiếng Trung, một lượng từ có thể làm đơn vị định lượng cho nhiều danh từ khác nhau có cùng đặc điểm.
Lượng từ Đặc điểm ngữ nghĩa của Lượng từ Ví dụ
条 Lượng từ cho danh từ động vật, thực vật, vật có hình dáng dài
一条蛇、一条龙 一条黄瓜
一条绳子、这条街
头 Lượng từ cho danh từ động vật có bộ phần đầu đặc biệt nổi bật
一头牛、一头羊、一头猪
颗 Lượng từ cho danh từ vật, thực vật có hình dáng hạt
A tooth, a grape, a list, a pearl, a star, a drop of sweat, a heart, and a peanut.
根 Lượng từ cho danh từ chỉ vật có hình dáng dạng thân, đốt
一根竹竿、一根火柴、一根草 一根水管、一根香烟、
把 Lượng từ cho các danh từ công cụ có thể cầm bằng tay
一把刀子、一把钥匙、一把椅 子、一把茶壶、一把米、一把剑
Lượng từ không chỉ định lượng mà còn ảnh hưởng đến nghĩa của danh từ, làm cho danh từ mang thêm đặc trưng ngữ nghĩa của Lượng từ Chẳng hạn, Lượng từ “串 – chuỗi” thường gợi liên tưởng đến các vật nhỏ có thể xâu lại, như ngọc trai hay kẹo hồ lô Khi nói “一串羊肉 - một xiên thịt dê”, người nghe hiểu rằng 羊肉 – thịt dê được cắt thành miếng nhỏ hình tròn và được xiên lại Hơn nữa, khi 串 kết hợp với danh từ trừu tượng 笑声 trong cụm “一串笑声 – một chuỗi tiếng cười”, đặc trưng ngữ nghĩa của 串 đã chuyển sang danh từ 笑声, giúp nó từ ý nghĩa trừu tượng trở nên cụ thể và hữu hình.
Chúng tôi đã phân loại 70 Lượng từ thành 4 nhóm dựa trên sơ đồ 1.1 và lý thuyết tri nhận, bao gồm: (1) Nhóm Lượng từ cá thể; (2) Nhóm Lượng từ tập thể Mục đích của việc này là để phục vụ cho việc đối chiếu.
Nhóm lượng từ được chia thành hai loại chính: nhóm lượng từ đo lường và nhóm danh lượng từ mượn Mỗi nhóm này sẽ được phân loại theo các phạm trù ngữ nghĩa và tiểu phạm trù ngữ nghĩa Đặc biệt, nhóm lượng từ phạm trù chỉ vật là nhóm có số lượng lớn nhất và phong phú nhất.
Chúng tôi mô tả đặc điểm ngữ nghĩa của Lượng từ qua các khía cạnh như hình dáng, chức năng, công cụ và phương tiện mà Lượng từ biểu thị.
Tiểu phạm trù Đặc điểm cụ thể về ngữ nghĩa
Người Sắc thái bình thường
Người – nhân khẩu 口 Sắc thái trang trọng
Người – trang trọng, lịch sự
Sắc thái văn phong viết
Người – vị trí, tư cách
Bình thường Đặc điểm đặc biệt
(gia cầm, hình dáng nhỏ nhắn, nhanh nhẹn, đáng yêu)
Hình dáng dài 条 bộ phận đầu nổi bật 头 bộ phận miệng nổi bật
Yếu tố khác yếu tố văn hoá 匹 Thực vật thực vật các bộ phận của cây - cây, lá, quả, hạt
Vật, sự vật thông thường cụ thể hoặc trừu tượng
个、种 2 hình dáng tròn 轮 25 dài hoặc dạng sợi 条 、 道 、 丝 、 线
股、串 phẳng 张 、 片 、 面 、 层
幅 dạng ống, dạng que, đốt
枝 dạng hạt 颗、粒、枚、丸 khối vật thể 堆、块、栋、座 chức năng công cụ cầm nắm bằng tay
把 1 phương tiện giao thông
辆 、 部 、 列 、 条 只、架
6 máy móc, thiết bị 台、部 2
32 quần áo, trang phục 件 、 条 、 套 、 款
6 không gian địa điểm chung 个、家、间 4 văn phong viết 所 vật khác sách, báo, thư từ, khoản mục
本、篇、份、封 项、款、条
Người hai người 对、双 2 nhiều người 群、帮、股 3
Vật hai 双、对、副 3 nhiều 批、套、部、群 4
Lượng từ đo lường độ dài, độ cao, cân nặng, tiền tệ, số lần, đơn vị khác
公 斤 、 块 、 场 、 打、段
Mang nghĩa cụ thể của danh từ 杯、碗、句、筐 4
(Bảng 2.2: Đặc trưng ngữ nghĩa của Lượng từ - Trích phụ lục 1)
Lượng từ và Danh từ có mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc vào độ tương thích ngữ nghĩa Một Danh từ có thể kết hợp với nhiều Lượng từ để định lượng, trong khi một Lượng từ cũng có thể áp dụng cho nhiều Danh từ khác nhau Việc lựa chọn Lượng từ cho Danh từ là quá trình hai chiều, trong đó đặc trưng ngữ nghĩa của Danh từ trong ngữ cảnh cụ thể quyết định Lượng từ phù hợp, và ngược lại, đặc trưng ngữ nghĩa của Lượng từ cũng ảnh hưởng đến sự kết hợp với Danh từ Trong quá trình này, Danh từ giữ vai trò trung tâm và chủ đạo.
2.2.2 Đặc trưng ngữ nghĩa của Loại từ
Theo Lê Ni La, loại từ có những đặc trưng ngữ nghĩa liên quan đến hình thức, kích thước, hàm nghĩa số và tính phân định của danh từ mà nó định lượng Sự kết hợp giữa loại từ và danh từ không phải là ngẫu nhiên, mà phải dựa trên sự tương thích ngữ nghĩa giữa hai loại từ này.
69) một miếng bánh ( Không nói: một miếng thư)
70) một tấm vải ( Không nói: một tấm báo)
71) một manh chiếu ( Không nói: một manh đá)
( Truyện kể cho bé trước giờ đi ngủ, NXB Văn học)
Sự lựa chọn loại từ cho danh từ không chỉ dựa vào sự tương thích ngữ nghĩa mà còn phụ thuộc vào góc nhìn chủ quan của người nói Người nói có thể nhấn mạnh vào các đặc điểm khác nhau của sự vật, dẫn đến việc một danh từ có thể đi kèm với nhiều loại từ khác nhau Mỗi loại từ sẽ mang lại ý nghĩa khác nhau cho cụm danh từ, tạo ra sự phân định rõ ràng về mặt ý nghĩa Đây là đặc điểm "định tính" của loại từ trong tiếng Việt.
Đối chiếu đặc trưng ngữ dụng của Lượng từ - Loại từ
Phân tích các ví dụ ngữ nghĩa cho thấy Lượng từ và Loại từ có những đặc trưng ngữ dụng tương đồng Việc lựa chọn Lượng từ hoặc Loại từ cho Danh từ không chỉ tạo ra sự khác biệt về ý nghĩa "lượng", mà còn ảnh hưởng đến sắc thái miêu tả sự vật, cảm xúc và thái độ của người nói trong từng ngữ cảnh cụ thể.
Lượng từ và Loại từ chủ yếu có nguồn gốc từ danh từ, do đó chúng vẫn giữ lại nhiều đặc trưng ngữ nghĩa của danh từ, đặc biệt là đặc trưng miêu tả Việc sử dụng các Lượng từ và Loại từ khác nhau sẽ tạo ra những sắc thái miêu tả đa dạng cho danh từ mà chúng định lượng, làm cho sự vật mà danh từ biểu thị trở nên sống động hơn.
80) 每一串笑声,都是最动听的音符
81) 他还抱着一线希望,希望她能收到他的消息
82) Đường lên xứ Lạng bao xa, Cách một trái núi với ba quãng đồng
83) Quê em có dải sông Hàn
Có hòn Non Nước có hang Sơn Trà
Trong ca dao Việt Nam, lượng từ "串" thường được sử dụng để định lượng cho các vật nhỏ có thể xâu thành chuỗi như ngọc trai hay kẹo hồ lô Khi kết hợp với danh từ "笑声" (tiếng cười), nó giúp cụ thể hóa ý nghĩa trừu tượng, tạo hình ảnh về tiếng cười liên tiếp thành từng chùm Tương tự, danh từ "线" (sợi) khi chuyển thành lượng từ cho "希望" (hy vọng) đã miêu tả rõ hơn về hy vọng, thể hiện sự ngắn ngủi và nhỏ bé như hình ảnh của sợi chỉ Cuối cùng, loại từ "trái" và "dải" không chỉ định lượng mà còn giúp mô tả hình dáng của núi và sông Hàn, khiến người nghe dễ hình dung núi xứ Lạng nhỏ nhắn, xinh xắn như trái quả, và sông Hàn dài nhỏ, uốn lượn như dải lụa mềm.
Lượng từ/Loại từ thể hiện rõ rệt sắc thái tình cảm Việc lựa chọn Lượng từ/Loại từ cho Danh từ giúp người nghe nhận biết dễ dàng các sắc thái ý nghĩa như tích cực, tiêu cực, yêu ghét, tôn trọng và coi thường.
84) 前面有一位小姐与一个女仆。
( Từ điển 现代汉语八百词 )
85) 一名前来庆祝万佛节的男子为一尊佛像贴金箔,以表达对佛陀的敬意
(http://www.xinhuanet.com/world/2016-02/23/c_128744104.htm)
86) 女主人信佛,想在自己的堂屋里立一个佛像。
(Truyện ngắn 梦在路上,陈晓辉 )
87) Ba đồng một mớ đàn ông, Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một vị đàn bà, Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi
Lượng từ đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện sắc thái tôn trọng và trung tính trong ngữ cảnh Ví dụ, lượng từ 位 cho danh từ 小姐 thể hiện sự tôn trọng, trong khi 个 cho danh từ 女仆 mang sắc thái trung tính Tương tự, lượng từ 尊 cho danh từ 佛像 thể hiện sự tôn kính, phù hợp với văn phong miêu tả dáng vẻ tôn nghiêm của 男子 Ngược lại, lượng từ 个 cho 佛像 lại thể hiện thái độ khách quan của người kể chuyện đối với 女主人 Cuối cùng, việc sử dụng loại từ mớ cho đàn ông và vị cho đàn bà cho thấy sự coi thường đối với đàn ông và tôn trọng đối với phụ nữ trong tác phẩm dân gian.
Trong tiếng Việt, việc sử dụng các đại từ nhân xưng hoặc danh từ chỉ quan hệ thân thuộc để định lượng cho động vật là một hiện tượng phổ biến, thể hiện rõ sắc thái tình cảm của người nói.
88) Con mèo mà trèo cây câu Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
89) Chú trâu vàng ơi, trông chú kềnh càng nhưng sao quá lẹ làng
( Lời bài hát Chú trâu vàng, Nguyên Văn Hiên)
90) Hổ xám được dân làng thờ cúng và tôn là ông hổ
(Bài viết, văn hoá thờ “Thần Hổ” trong đời sống dân gian, https://mekongsean.vn
91) Trong một cái sân nhỏ có một cô Gà Mái sống cùng ba bạn Gà con
( Truyện kể cho bé trước giờ đi ngủ, NXB Văn học)
Khi sử dụng các loại từ như "chú", "cô" để chỉ động vật như "chú chuột", "chú chó Buck", "chú trâu", "cô gà mái", người nói thể hiện tình cảm yêu quý, thương mến Ngược lại, việc dùng "ông" trong "ông hổ" thể hiện sự tôn trọng, kính nể Sự khác biệt trong việc sử dụng lượng từ/loại từ cho cùng một danh từ tạo ra sắc thái phong cách ngôn ngữ khác nhau, phù hợp với ngữ cảnh và phạm vi giao tiếp.
STT Danh từ Văn phong viết Văn phong khẩu ngữ
92) trường đại học 一所大学 一个大学
93) bộ sách 一部书 一套书
94) hy vọng 一丝希望 一个希望
95) biệt thự một ngôi biệt thự một cái biệt thự
96) huy chương một tấm huy chương một cái huy chương
97) thư một lá thư một bức thư
Trong tiếng Trung và tiếng Việt, Lượng từ và Loại từ có những đặc điểm ngữ dụng khác nhau Lượng từ trong tiếng Trung, như 只, 条, và 头, có khả năng miêu tả sắc thái hình dáng động vật phong phú hơn, giúp người nghe nhận biết đặc trưng của chúng Ví dụ, 只 được dùng cho động vật nhỏ biết bay, trong khi 条 dành cho động vật nhỏ dài, và 头 cho những động vật có bộ phận đầu nổi bật Ngược lại, Loại từ "con" trong tiếng Việt chỉ định lượng cho tất cả động vật một cách quy ước, không gợi lên sắc thái miêu tả cụ thể Tuy nhiên, Loại từ tiếng Việt lại mang ý nghĩa sắc thái tình cảm và thái độ phong phú hơn nhờ vào việc sử dụng nhiều đại từ nhân xưng.
Trong tiếng Việt, có 41 danh từ thể hiện các mối quan hệ thân thuộc trong gia đình như anh, chị, em, cô, chú, bác, ông, bà, cậu, mợ, ả, gã, chàng, nàng, tên, mụ, lão Ngược lại, trong tiếng Trung chỉ sử dụng một lượng từ cá thể "位" để thể hiện thái độ tôn trọng và lịch sự của người nói.